CHƯƠNG
I.
II.
CÁC QUAN ĐIỂM VỀ PHÁP
Vì
sao ngoài thức không thể có quan niệm về tính thực hữu
của các pháp? Vì pháp ngoại tại mà Ngoại đạo và các Thừa
khác quan niệm không được chứng minh là thực hữu.
A.
CÁC HỌC THUYẾT NGOẠI ĐẠO
Vì
sao ngã được quan niệm bởi các ngoại đạo là không tồn
tại?
1.
SỐ LUẬN
Vã,
Số luận[1] cho rằng ngã là tư[2] thọ dụng 23 pháp gồm Đại[3]
các thứ được tác thành bởi tát-đỏa, lặc-xà, đáp-ma.[4]
Đại các thứ tuy là hợp thành của ba sự nhưng là thực
chứ không phải giả, được tiếp nhận bằng hiện lượng.[5]
Chủ
trương ấy phi lý. Vì sao?
i.
Về các yếu tố
Các
pháp như đại các thứ được hợp thành[6] bởi nhiều sự,
như đoàn quân hay đám rừng,[7] hẵn là giả chứ không phải
thực. Thế thì, làm sao có thể nói chúng được tiếp nhận
bằng hiện lượng?
Lại
nữa, các pháp như đại các thứ, nếu là thực hữu, chúng
phải như là bản sự,[8] không phải là hợp thành của 3 sự.
ii.
Về ba đức
Vì
ba sự, tát-đỏa các thứ, chính là đại các thứ, tất cũng
như đại các thứ, cũng phải do ba sự hợp thành.[9]
Chuyển
biến không thường hằng,[10] cũng lý luận như trên.
Lại
nữa, trong ba bản sự, mỗi một sự có nhiều công năng[11]
nên cũng phái có nhiều tự thể. Vì công năng và tự thể
phải đồng nhất.
Ba
tự thể ấy đã là phổ biến,[12] thì khi một nơi chuyển
biến, các nơi khác cũng vậy. Vì tự thể không dị biệt.
Cho
rằng thể và tướng của ba sự đều dị biệt, thế thì
làm sao chúng hòa hiệp để cùng tác thành một tướng? Không
thể nói khi hiệp thì chúng trở thành một tướng, vì tự
thể vẫn không dị biệt với khi chưa hiệp.
Nếu
cho rằng thể của ba sự thì dị biệt nhưng tướng của chúng
thì tương đồng, như vậy tự mâu thuẫn với tông nghĩa của
mình vì theo đó thể và tướng vốn đồng nhất. Thể tất
phải như tướng, mặc nhiên là một; tướng cũng phải như
thể, hiển nhiên có ba.
Như
vậy, không thể nói ba hiệp thành một.
iii.
Ba đức và các yếu tố
(1)
Lại nữa, ba sự là biệt, đại các thứ là tổng. Vì tổng
và biệt là một, cho nên, hoặc không thể là một, hoặc không
thể là ba.
(2)
Ba sự này khi chuyển biến, nếu không hoà hiệp thành một
tướng,[13] chúng phải như trước khi chưa chuyển biến. Vậy,
vì sao sắc được nhận thức hiện tiền như là một?[14]
Nếu
ba sự hoà hiệp thành một tướng, chúng phải mất đi tướng
dị biệt nguyên thuỷ, và như vậy thể của chúng cũng mất.
(3)
Không thể nói mỗi ba sự đều có hai tướng, là tổng tướng
và biệt tướng. Vì tổng cũng chính là biệt, như vậy tổng
phải là ba, làm sao được thấy như là một?
(4)
Nếu cho rằng thể của ba sự, mỗi sự có ba tướng mà sự
hoà hiệp hỗn tạp của chúng khó nhận ra cho nên được nhận
thức như là một:
a.
Nhưng, đã có ba tướng, đâu có thể thấy là một.[15]
b.
Và rồi làm sao có thể biết được có sự dị biệt của
ba sự?[16]
c.
Nếu mỗi một sự đều có đủ ba tướng, thế thì mỗi một
sự có thể tác thành sắc các thứ, vì sao phải hội đủ
ba sự hoà hiệp chứ không thể thiếu bớt một?
d.
Mỗi sự cũng phải có ba thể, vì thể chính là tướng.
e.
Lại nữa, các pháp như đại các thứ đều do ba sự hiệp
thành, sẽ không có sự sai biệt giữa pháp này và pháp kia,
thế thì sẽ không có sự sai biệt giữa nhân và quả; giữa
các duy lượng, các đại, các căn.[17] Nếu vậy, bằng một
căn mà có thể tiếp nhận được tất cả mọi cảnh; hoặc
một cảnh có thể được tiếp nhận bởi tất cả các căn.
Và như vậy, nhưng gì được nhận thức trong thế gian, hữu
tình và phi tình, các vật tịnh hay uế, hiện lượng hay tỉ
lượng, vân vân, tất cả sẽ không có gì sai biệt. Thế thì
hết sức sai lầm.
Do
đó, pháp mà học thuyết ấy quan niệm là thực hữu chỉ
là hiện hữu do suy diễn bởi tưởng tượng cá nhân
thôi.
2.
THẮNG LUẬN
Các
cú nghĩa,[18] thực v.v., mà Thắng luận[19] quan niệm, vốn
đa thù, thực hữu tính,[20] được nhận thức bằng hiện
lượng.[21]
Quan
điểm của phái ấy phi lý. Vì sao?
1.
Tổng phá.
(1)Trong
các cú nghĩa,[22] những cú nghĩa được cho là thường trú,[23]
(a) nếu chúng có khả năng sinh quả,[24] tất phải vô thường,
vì có tác dụng; như quả được sinh. (b) Nếu không sinh quả,[25]
chúng không có tự tánh thực hữu tồn tại ngoài thức, như
sừng thỏ v.v.[26]
(2)
Những cú nghĩa được cho là vô thường, (a) nếu có tính
chất ngại,[27] tất phải có phương phần,[28] và có thể
bị phân tích, như đoàn quân, khu rừng v.v., không có tính
thực hữu. (b) Nếu không có tính chất ngại,[29] như tâm và
tâm sở,[30] tất không thể ngoài đây[31] mà thực hữu tự
tính.
2.
Thực và đức.[32]
a.
Lại nữa, đất, nước, lửa, gió mà phái ấy quan niệm không
thể là những cái có tính cản ngại được bao hàm trong cú
nghĩa thực,[33] vì được xúc chạm bởi thân căn;[34] như
cứng, ướt, nóng, động.[35]
b.
Hoặc, các tính chất cứng, ướt, nóng, v.v.,[36] mà phái ấy
quan niệm không thể là những thứ có tính không cản ngại
được bao hàm trong cú nghĩa đức, vì được xúc bởi thân
căn,[37] như đất, nước, lửa, gió.
c.
Ba thực thể đất, nước, lửa, đối màu xanh các thứ[38]
đều được thấy bởi mắt, chuẩn theo đó mà phê bình.
Do
đó biết rằng, không có thực thể đất, nước, lửa, gió
tồn tại với tự tính riêng biệt ngoài cứng, ướt, v.v.,
cũng không phải mắt thấy thực thể đất, nước, lửa.
3.
Tái nghiệm xét cú nghĩa.
a.
Lại nữa, trong cú nghĩa thực mà phái ấy quan niệm, những
cái thường hằng,[39] có tính cản ngại, vì thảy đều có
tính cản ngại, như đất thô, tất phải là vô thường.
b.
Trong các cú nghĩa khác, các pháp không chất ngại được nhận
thức bởi sắc căn[40] tất phải có tính ngại, vì cho rằng
được nhận thức bởi sắc căn,[41] như đất, nước, lửa,
gió.
c.
Các cú nghĩa không phải là thực như đức v.v. [42] theo quan
niệm của phái ấy tất không có tự tánh riêng biệt ngoài
thức, vì thuộc về phi thực, như con của thạch nữ.
d.
Những gì phi hữu, như thực, v.v.,[43] tất không thể lìa thức
mà có tự tính riêng biệt, vì thuộc về phi hữu, như hoa
đốm giữa trời.
4.
Phủ định hữu tánh
a.
Đại hữu tánh[44].-
Hữu
mà phái ấy quan niệm không thể có tự tánh riêng biệt tách
ngoài thức, vì cho rằng phi vô, như thức, đức, v.v.[45]
Nếu
tách rời thực các thứ tất không phải là hữu tánh, vì
được cho rằng dị biệt với thực các thứ, như cái vô
tuyệt đối, v.v.[46]
Cũng
như hữu không phải là vô, không có tự tánh riêng biệt,[47]
tại sao thực, v.v., có tự tánh riêng biệt?
Vậy,
hữu tánh ấy chỉ là sự suy diễn theo tưởng tượng.
b.
Đồng dị tánh[48].-
Lại
nữa, Thắng luận quan niệm rằng thực tánh, đức tánh, nghiệp
tánh dị biệt với thực, đức, nghiệp;[49] quan niệm này
không hợp lý. Không nên cho rằng đây cũng không phải là
thực tánh, đức tánh, nghiệp tánh, vì bị biệt thực, v.v.,
như đức, nghiệp, v.v.[50]
Lại
nữa, thực v.v. không thể được bao hàm trong thực v.v. Vì
dị biệt thực tánh v.v. Như đức, nghiệp, thực.[51]
Địa
tánh v.v. đối chiếu thể của địa v.v. để trưng cật lẫn
nhau, chuẩn theo trên mà lập luận.
Cũng
như thực tánh v.v.[52] không khác biệt thực tánh v.v., thực
v.v. cũng không khác biệt thực tánh.
Nếu
tách ngoài thực các thứ mà có thực tánh các thứ, thì cũng
nên tách ngoài phi thực các thứ mà có phi thực tánh các thứ.
Trường
hợp kia mà có thể, sao đây lại không thể? Vậy, đồng dị
tánh chỉ là khái niệm giả lập.
c.
Hòa hiệp cú.-
Cú
nghĩa hòa hiệp mà Thắng luận quan niệm[53] quyết định không
phải là thực hữu. Vì được bao hàm trong các pháp phi hữu,
phi thực các các thứ.[54] Như cái tuyệt đối không tồn tại.
Thắng
luận quan niệm rằng thực các thứ, được nhận thức bằng
hiện lượng,[55] theo lý mà suy trưng, cũng còn không phải
là thực hữu, huống gì cú nghĩa hòa hiệp, mà phái ấy cho
rằng không được nhận thức bằng hiện lượng, lại có
thể thực hữu?
5.
Giải thích của Duy thức
a.
Nhưng, thực v.v. của Thắng luận không phải là cái đạt
được bằng hiện lượng do lấy tự thể thực hữu ngoài
thức làm đối tượng.[56] Vì được cho là sở tri. Như lông
rùa các thứ.
b.
Lại nữa, trí lấy thực làm đối tượng không thuộc trí
(nhận thức) bằng hiện lượng lấy tự thể của cú nghĩa
thực tồn tại ngoài thức làm đối tượng. Vì phát sinh từ
giả hợp.[57] Như trí (nhận thức) đức v.v. Nói rộng ra,
cho đến, trí lấy hòa hiệp làm đối tượng không thuộc
trí hiện lượng lấy làm đối tượng là tự thể của hoà
hiệp tồn tại ngoài thức. Vì phát sinh từ sự giả hợp.
Như trí lấy thực làm đối tượng.
Vậy,
các cú nghĩa của Thắng luận, thực v.v., chỉ là những suy
diễn do tưởng tượng sai lầm.
3.
ĐẠI TỰ TẠI THIÊN GIÁO[58]
Có
thuyết cho rằng có một vị Đại Tự Tại Thiên mà tự thể
là thực, phổ biến, thường hằng, sinh ra các pháp.
Quan
niệm ấy phi lý. Vì sao? Vì pháp nào mà sinh sản (các pháp
khác), pháp ấy tất không phải là thường hằng. Và vì, cái
gì không thường hằng, cái ấy không phổ biến. Cái gì không
phổ biến, cái ấy không chân thật.
Nếu
tự thể thường hằng, phổ biến, sẵn đủ các công năng,
tất phải trong mọi thời đồng loạt đột sinh tất cả mọi
pháp. Nếu cần phải có dục và duyên mới sinh sản, thế
thì mâu thuẫn với nhất nhân luận.[59] Hoặc dục và duyên
cũng phát nhất thời đột hiện, vì nguyên nhân luôn luôn
hiện hữu.
4.
BẢY LUẬN SƯ NGOẠI ĐẠO
Các
thuyết khác chấp có một Đại Phạm,[60] thời,[61] phương,[62]
bản tế,[63] tự nhiên,[64] hư không,[65] ngã. Những cái này
thường trú, thực hữu, đủ các phẩm tính, sinh sản tất
cả các pháp. Chúng cũng bị bác bỏ như trên.
5.
THANH LUẬN SƯ[66]
Thuyết
khác chủ trương rằng chỉ riêng âm thanh của Minh luận là
thường hằng, là tiêu chuẩn để biểu thị các pháp.
Thuyết
khác cho rằng tất cả âm thanh đều thường hằng, nhưng cần
hội đủ duyên mới hiển hiện hay phát sinh.[67]
Cả
hai thuyết đều phi lý. Vì sao?
a.
Vã, âm thanh của Minh luận được cho là khả năng biểu thị,
tất phải là không thường trú. Như các thanh khác.
b.
Các loại thanh khác cũng không thể là tự thể âm thanh thưòng
hằng, như bình, vải các thứ, vì cần hội đủ các duyên.
6.
THUẬN THẾ NGOẠI ĐẠO[68]
Có
thuyết ngoại đạo cho rằng cực vi của đất, nước, lửa,
gió là thực, thường hằng, sinh thô sắc.[69] Lượng của
thô sắc không vượt qua lượng của nhân,[70] tuy là vô thường
nhưng tự thể là thực hữu.[71]
Thuyết
này phi lý. Vì sao?
a.
Cực vi mà phái ấy chấp nếu có phương phần,[72] như hàng
kiến các thứ, tất không phải là tự thể thực hữu. Nếu
không có phương phần, như tâm và tâm sở, tất không thể
tụ tập để sinh quả thô là sắc.
b.
Đã có thể sinh quả, hẵn như các được sinh kia, làm sao
có thể nói cực vi là thường trú?
c.
Lại nữa, lượng của quả được sinh không vượt quá lượng
của nhân, vậy nó phải bằng như cực vi, không thể gọi
là thô sắc. Và như vậy, sắc của quả ấy tất không thể
được nhận thức bởi căn con mắt các thứ. Như thế thì
trái với lập trường của mình.
Nếu
cho rằng[73] sắc quả kết hợp với phẩm tính lượng trong
cú nghĩa đức, nên không phải là thô mà tương tợ như thô,
được tiếp nhận bởi sắc căn. Nhưng nếu lượng của sắc
quả đã bằng với lượng của nhân, thế thì nó phải như
cực vi, không thể kết hợp với phẩm tính thô trong cú nghĩa
đức. Hoặc cực vi[74] cũng có thể kết hợp với phẩm tính
thô, như thô quả sắc. Vì không có không gian riêng biệt.[75]
d.
Nếu cho rằng sắc quả phổ biến khắp trong nhân của nó,
vì nhân không phải là một[76] nên có thể nói là thô. Thế
thì, thể của quả sắc này không thể là một, như nhân sở
tại, vì không gian riêng biệt.[77] Đã thế thì quả ấy không
thành thô, và do vậy cũng không thể được tiếp nhận bởi
sắc căn.
e.
Nếu nói quả do nhiều bộ phận hợp thành nên thành thô.
Nhiều cực vi làm nhân để kết hợp, thế thì không phải
là vi tế; như vậy đủ thành căn, cảnh, cần gì đến quả?
Đã là có nhiều bộ phận thì không thể là thực hữu. Như
vậy, quan điểm của ông trước sau mâu thuẫn nhau.
f.
Lại nữa, quả và nhân đều có tính chất ngại, tất không
thể đồng xứ, như hai cực vi.
Nếu
cho rằng thể của quả và của nhân thiệp nhập nhau, như
cát hút nước, như dược liệu hoà tan trong dung dịch đồng,
ai bảo thể của cát và lọ hút nước và thuốc? [Cực vi]
hoặc bị tách rời,[78] hoặc bị biến đổi,[79] không phải
nhất thể, không phải thường hằng.
g.
Lại nữa, nếu thể của thô quả sắc là nhất thể,[80] thế
thì khi được một bộ phận cùng là được toàn thể, vì
cái này và cái kia là một. Không chấp nhận thì trái lý.
Chấp nhận thì trái sự.
Do
đó, quan điểm ấy tiến hay thối đều bất thành, chỉ là
sự suy diễn theo tưởng tượng sai lầm.
7.
TỔNG PHÁ NGOẠI ĐẠO
Các
thuyết ngoại đạo tuy có nhiều phẩm loại, nhưng pháp mà
các phái ấy chủ trương không quá 4 khuynh hướng.[81]
i.
Cho rằng thể của hữu pháp và hữu tánh[82] các thứ[83] quyết
định là đồng nhất, như Số luận, v.v.[84]
Thuyết
này phi lý. Vì sao?
a.
Không thể nói tất cả pháp cũng chính là hữu tánh, vì thảy
đều như hữu tánh, không có tự thể sai biệt. Như vậy mâu
thuẫn với quan điểm nói ba đức và ngã có tự thể dị
biệt. Và cũng mâu thuẫn với thế gian, theo đó các pháp sai
biệt nhau.
b.
Lại nữa, nếu sắc tức sắc tánh, sẽ không có sự khác
nhau của các sắc xanh, vàng các thứ.
ii.
Quan niệm thể của hữu pháp và của hữu tánh quyết định
dị biệt, như Thắng luận, v.v.[85]
Thuyết
này phi lý. Vì sao? Không nên nói tất cả pháp không phải
là hữu tánh, như vô thể của cái đã diệt,[86] không thể
nhận thức được. Như vậy mâu thuẫn với tự giáo, theo
đó tự thể của thực (cú nghĩa) các thứ không phải không
hiện hữu. Và cũng trái với tri giác hiện thực của thế
gian là có vật thể hiện hữu.
b.
Lại nữa, nếu sắc không phải là sắc tánh, thế thì nó
như thanh, không phải là đối tượng của con mắt.
3.
Quan niệm hữu pháp và hữu tánh vừa đồng nhất, vừa dị
biệt.[87] Như phái Vô tàm, vv.[88]
Thuyết
này phi lý. Vì sao? Nhất và dị, cũng sai lầm như nhất và
dị đã nói trên kia. Và vì hai đặc tướng mâu thuẫn nhau,
thì tự thể của chúng cũng phải khác nhau. Và vì, nhất thể
và dị thể cùng tồn tại thì không thành. Không nên nói tất
cả các pháp đều đồng một thể. Hoặc cái vừa nhất vừa
dị chỉ là giả chứ không thực, nhưng quan niệm là thực
thì nhất định không hợp lý.
4.
Thuyết thứ tư, quan niệm hữu pháp và hữu tánh v.v. không
phải đồng nhất cũng không phải dị biệt, như pháp Tà mạng.[89]
Thuyết
này phi lý. Vì sao? Phi nhất cũng đồng với dị; phi dị cũng
đồng với nhất.
Câu
nói “phi nhất dị” là phủ định hay khẳng định? Nếu
chỉ là khẳng định, thì không thể phi bác cả hai.[90] Nếu
chỉ là phủ định, thế thì không có gì được chủ trương.[91]
Nếu vừa khẳng định vừa phủ định, thế thì mâu thuẫn
lẫn nhau. Nếu vừa không phải khẳng định, vừa không phải
phủ định, thế thì thành hý luận.
Lại
nữa, phi nhất dị thì trái với nhận thức chung của thế
gian là có vật vừa nhất vừa dị;[92] và cũng mâu thuẫn
với tông nghĩa của mình theo đó hữu pháp, sắc v.v., quyết
định thực hữu.
Vậy,
những điều phái ấy nói chỉ là để tránh né sai lầm. Những
người có trí không nên nhầm lẫn mà chấp nhận.
[1]
Thuật ký: Số luận, Phạn âm là Tăng-khư (Skt. Samkhyā), dịch
là số, tức trí tuệ số. Do tính đếm căn bản của các
pháp, theo đó mà đặt tên... Người sáng lập là Kiếp-tỉ-la,
phiên âm cũ là Ca-tì-la, dịch là Huỳnh Sắc. Tiểu sử truyền
thuyết, xem Kim thất thập luận 1 (tr.1245a8).
[2]
ibid., (tr.
1245c5):
ngã là tri giả (skt. cit, cetana, caitanya, jñā).
[3]
Số luận là triết thuyết nhị nguyên luận, với hai bản
thể: Thần ngã (Puruṣa), bản thể tâm linh; và Tự
tánh (Prakṛti), bản thể của vật chất. Từ tự tánh, khi
kết hợp với Thần ngã, phát sinh 23 sự thật, theo thứ tự:
đại (mahat), ngã mạn (ahaṃkāra); từ ngã mạn phát sinh 16
thứ: 11 căn (indriyāni) và năm duy (pañca tanmātrāṇi); từ
5 duy phát sinh 5 đại (pañca mahābhūtāni); ibid., (tr.1250b30).
Trong đó, một nguyên lý duy bản chất là tự tánh; duy biến
thái gồm có 5 đại và 11 căn vì được sinh từ cái khác
chứ tự thân không làm bản chất để phát sinh cái khác;
vừa bản vừa biến gồm đại, ngã mạn và 5 duy vì được
sinh từ cái khác và cùng phát sinh ra cái khác. Thần ngã phi
bản, phi biến. ibid., (tr.245c90). Tổng thể, có tất cả 25
nguyên lý, từ đó phát sinh tất cả mọi hiện tượng.
[4]
Ba đức (tri-guṇa), 3 yếu tính trong tự tánh (prakṛti). Thuật
ký, tát-đỏa (Sk. sattva), dịch là hữu tình, dũng kiện;
lặc-xà (Sk. rajas), dịch là vi (tế), như lông bò, hạt bụi;
đáp-ma (Sk. tamas) dịch là ám, tức ám độn. Ba yếu tính này
còn chỉ cho, theo thứ tự, hỉ, ưu, ám; nhiễm, thô, hắc (đen);
vàng, đỏ, đen. Cf. Kim thất thập, tr. 247c15. Do tỉ lệ hòa
hiệp khác nhau của 3 yếu tính này mà xuất hiện các yếu
tố khác nhau.
[5]
Kim, ibid. tr. 245c23: có ba công cụ nhận thức: chứng, tỷ và
Thánh ngôn. Tức hiện lượng (pratyakṣa-pramāṇa), nhận thức
bởi trực giác; tỷ lượng (anumāna), nhận thức bằng loại
suy hay luận lý học; Thánh giáo lượng (āgama), nhận thức
được truyền bởi Thánh giáo.
[6]
Thuật ký: nói là thành, chứ không nói là sinh, để không
trái với tông nghĩa của Số luận.
[7]
Thuật ký: không lấy bình làm thí dụ; vì tuy cũng do nhiều
thứ hiệp thành nhưng các thứ này không rời nhau. Trong khi,
đoàn quân do nhiều lính và đám rừng do nhiều cây, chúng
biệt lập nhau.
[8]
Như bản sự, như ba đức nguyên thủy, tức như bản tự tánh.
[9]
Trừ Thần ngã và Tự tánh, 23 yếu tố còn lại đều là hợp
thành của ba đức. Kim thất thập (tr. 1247b19): biến dị có
3 đức. Biến dị là đại (mahat), ngã mạn (ahaṃkāra), cho
đến 5 đại (mahābhūtāni).
[10]
Phản luận, ba đức cũng chuyển biến vô thường như đại
các thứ. Nêu mâu thuẫn ngay trong chủ trương của Số luận.
Thuật ký (tr. 253c24): nói chuyển biền phi thường để tránh
lỗi năng biệt bất cực thành, và không có đồng dụ. Vì
Số luận không quan niệm vô thường theo nghĩa hoại diệt,
mà theo nghĩa chuyển biến. Cf. Kim thất thập, tr.1247a28: tự
tánh thưòng hằng, ibid., tr. 1247b8: tự tánh không chuyển biến.
[11]
Công năng phát sinh đại các thứ.
[12]
ibid., tr. 1247b1: tự tánh và ngã phổ biến khắp mọi nơi.
[13]
ibid., (tr.1248a26): ba đức, tự thể, theo thứ tự, là hỷ,
ưu, ám; ba tướng: khinh quang (sáng và nhẹ), trì động (hưng
phấn và xung động), trọng phú (nặng nề và mù quáng).
[14]
Sắc được thấy thành ba, thay vì là một, vì có ba tự thể,
như ba sự.
[15]
Thuật ký (tr.255a07): như vậy, một đại (mahat) phải được
thấy thành 9 thay vì chỉ một, vì mỗi sự đều có 3 sự.
[16]
ibid., (tr.255a13): Vì tát-đỏa cũng do 3 sự như lặc-xà,
nên không thể khác nhau.
[17]
Tức 5 duy (lượng), 5 đại và 11 căn. Xem trên.
[18]
Skt. padārtha: phạm trù (thực tại). Căn bản có 6 (Vaiśeṣika-sūtra):
thực (dravya), đức (guṇa), nghiệp (karma), đồng (sāmānya),
dị (sādṛśya), hòa hiệp (samavāya). Về sau, chỉnh lý và
triển khai thành 10: 6 cú nghĩa đầu, như trên, thêm 4: hữu
năng (śakti), vô năng (aśkati), câu phần (sādṛśya: tương
tợ), vô thuyết (abhāva). Bách luận và Thành duy thức
chỉ đề cập 6. Xem, Thắng tông thập cú nghĩa luận (T54n2138).
Tác giả: Thắng giả Huệ Nguyệt; Hán dịch: Huyền Trang. Skt.
Vaiśeṣika-nikāya-daśapadārtha-śāstra, bản Phạn thất lạc.
[19]
Skt. Vaiśeṣika. Thuật ký 1 (tr. 255b26): “Phệ-thế-sư-ca, đây
dịch là Thắng . Sáng lập lục cú luận, mà không có học
thuyết nào hơn nỗi, nên gọi là Thắng. Hoặc do Thắng nhân
sáng lập nên gọi là Thắng luận.” Vaiśeṣịka-sūtra 1.1:
“Mọi hiện tượng sai biệt (dharmaviśeṣa) phát sinh từ chân
trí, vốn quan hệ với đồng tướng và dị tướng của sáu
cú nghĩa.” Bách luận 1 (T30n1569, tr.171b7): “Đệ tử của
Ưu-lâu-ca (Skt. Ulūka) tụng kinh Vệ-thế-sư...”
[20]
Đa thực hữu tính, có 2 giải thích: đa phần, hoặc đa thù.
Thuật ký: “Nói là đa, để nêu rõ không phải chỉ một
pháp (tức đa thù). Từ ba pháp trở lên được nói là đa.
Trong 9 cú nghĩa, 9 cú nghĩa là thực hữu. Cú nghĩa thứ 10
là vô. Đa phần thực hữu nên nói là đa.” Nghĩa đăng (tr.
689a28): “Trong thực cú, đoàn quân, khu rừng là giả, như
luận đã nói... Những cái đó, một phần ít là giả, còn
lại đa phần là thực.”
[21]
Thuật ký, ibid., trong 6 cú nghĩa, trừ hoà hiệp, 5 còn lại
được nhận thức bởi hiện lượng. Thắng tông (tr.1263b06):
Căn cảnh khi hòa hiệp làm phát sinh nhận thức, đó gọi là
hiện lượng. Các hình thái hiện lượng: 4 hòa hiệp sinh (căn,
cảnh, ngã, ý), 3 hòa hiệp sinh (căn, ý, ngã), 2 hoà hiệp (ý
và ngã).
[22]
Các cú nghĩa, xem các cht. 111, vv., ở dưới.
[23]
Trong 10 cú nghĩa, 6 thường: đồng, dị, hòa hiệp, hữu năng,
vô năng, câu phần. Thực, đức, vô thuyết, một phần thường,
một phần vô thường. Nghiệp, duy vô thường. Trong 9 thực,
5 thường; 4 phân biệt: đất, nước, lửa gió nếu là đại
sơ bản, chúng thường hằng; nếu hợp thể, chúng vô thường.
Trong 24 đức, 14 vô thường (giác, lạc, khổ, dục, sân, cần
dũng, pháp, phi pháp, hành, ly, bĩ tánh, thử tánh, thanh, hương).
[24]
Trong thực cú, 4 đại sơ bản (đất, nước, lửa, gió), trong
đức có 10, và hữu năng, là thường và sinh quả. 5 cú
nghĩa còn lại (đồng, dị, hòa hiệp, vô năng, câu phần),
thường nhưng không sinh quả.
[25]
Xem cht. trên.
[26]
Thắng luận, cái tuyệt đối không tồn tại, thuộc cú nghĩa
vô thuyết (abhāva, vô thể), là thường trú. Do đó, dẫn sừng
thỏ làm đồng dụ.
[27]
Trong thực cú, 4 đại phái sinh (cực vi con), và ý, là vô thường,
và có tính chất ngại.
[28]
Có phương sở hay vị trí và phần vị hay thành phần.
[29]
4 trong thực cú (không, thời, phương, ngã), và 9 cú nghĩa còn
lại, không có tính chất ngại. Vô thường, không chất ngại:
gồm toàn phần 14, và một phần 10 trong 24 đức; 5 toàn phần
nghiệp; toàn phần vô thể của cái chưa sinh (prāgabhāva),
một phần vô thể của cái không hội trong cú nghĩa vô thuyết
(vô thể).
[30]
Tâm, tâm sở, tức giác, lạc các thứ trong đức cú của Thắng
luận, được quan niệm là vô thường, không chất ngại. Do
đó dược dẫn là đồng dụ.
[31]
Không ngoài thức.
[32]
Thực cú nghĩa (dravya-padārtha: phạm trù vật thể hay thực
thể) có 9: địa (pṛthivi), thủy (ap), hỏa (tejas), phong (vāyu),
không (ākāśa), thời (kāla), phương (diś), ngã (ātman), ý (manas).
Đức cú nghĩa (guṇa-padārtha), phạm trù phẩm tính, có 24:
sắc (rūpa), vị (rasa), hương (gandha), xúc (sparśa), số (saṃkhyā),
lượng (parimāṇa), biệt thể (pṛthaktva), hiệp (saṃyoga),
ly (vibhāga), bĩ thể (paratva), thử thể (aparatva), trọng thể
(gurutva), dịch thể (dravatva), nhuận (sneha), thanh (śabda), giác
(buddhi), lạc (sukha), khổ (duḥkha), dục (icchā), sân (dveṣa),
cần dũng (prayatna), pháp (dharma), phi pháp (adharma), hành (saṃskāra).
[33]
Thắng tông, (tr.1264a13): trong thực cú, 5 có chất ngại: đất,
nước, lửa, gió và ý; 4 còn lại không chất ngại.
[34]
ibid., tr. (1264a18): 4 có xúc: đất, nước, lửa, gió. Còn lại
5, vô xúc. Vì có xúc, nên nói là được tiếp nhận bởi thân
căn.
[35]
Thuật ký (tr.258c10): cứng, ướt v.v., thuộc xúc trong cú nghĩa
đức. Thắng tông, tr. 1263a09, Vaiśeṣika-sūtra 2.1.1: Xúc, đối
tượng được nhận thức bởi da, với 3 trạng thái: lạnh
(śīta), nóng (uṣṇa), và không lạnh không nóng (anuṣṇāśīta).
[36]
Thuật ký: đây là các tính chất trong xúc đức. Sūtra 2.1.1:
xúc có 3, lạnh (śīta), nóng (uṣṇa), không lạnh không nóng
(anuṣṇāśīta).
[37]
Thuật ký, (tr.258c22): theo thuyết Thắng luận, thân căn nhận
thức được 11 đức: xúc, số, lượng, biệt tánh, hiệp,
ly, bĩ tánh, thử tánh, dịch tánh, nhuận, thế dụng (tức
hành, saṃskāra).
[38]
Vaiśeṣika-sūtra 2.1.1: đất màu xanh (nīla), nước màu trắng
(śveta), lửa màu sáng chói (bhāsvara). Thắng tông, (tr.1264a20,
21): ba thực thể này có thể thấy bằng mắt. Gió không
có màu.
[39]
Trong cú nghĩa thực, bốn đại sơ bản (cực vi cha mẹ) và
ý, là thường hằng, hữu ngại. Các đại phái sinh hay hợp
thể (cực vi con), như đất thô, thảy đều vô thường.
[40]
Các pháp này, trong cú nghĩa đức, có 15: sắc, vị, hương,
xúc, thanh, số, lượng, biệt thể, hiệp, ly, bĩ thể, thử
thể, trọng thể, dịch thể, nhuận; cùng với nghiệp, đại
hữu (đồng), câu phần.
[41]
Thắng tông, (tr.1264a25): 5 trong 9 thực cú là căn, đất; tỉ
căn, nước: thiệt căn, lửa: nhãn căn, gió: bì căn, không:
nhĩ căn. ibid., (tr.1263c12): cú nghĩa đồng, bởi tất cả các
căn; tr. 1263c23: trong cú nghĩa câu phần, thực tánh (dravyatva)
được nhận thức bởi nhãn xúc (tr.1263c26); đức tánh (guṇatva)
bởi tất cả căn (tr.1263c28); nghiệp tánh (karmatva), bởi nhãn
xúc (tr.1263c29).
[42]
Thuật ký (tr.259b04): trừ thực cú, 8 cú nghĩa còn lại đều
phi thực. Thuật ký không kể vô thuyết.
[43]
Hán: phi hữu thực đẳng; Thuật ký: “Các cú nghĩa thực
v.v. ngoài giác, lạc các thứ, và không phải hữu tánh.”
Sūtra 1.2.7-9: “Nguyên nhân làm phát sinh khái niệm tồn tại
nơi thực, đức, nghiệp, đó gọi là hữu tánh (sattā). Hữu
tánh là nguyên lý ở ngoài thực, đức, nghiệp. Hữu tánh
không phải là đức, không phải là nghiệp, vì nó tồn tại
nơi đức, nghiệp.”
[44]
Cựu dịch đại hữu tánh, tân dịch là đồng (cú nghĩa).
Skt. sāmānya.
[45]
Xu yếu (tr.622c11), lập luận của Thắng luận: “Hữu tánh
có tự tánh riêng biệt tách ngoài thực cú,v.v. Vì (phái này)
cho rằng phi vô. Như đức, nghiệp.” Nhân phạm lỗi pháp
tự tướng tương vi. Cf. Nhân minh nhập chánh lý luận (T32n1630,
tr.12a15); Nhân minh nhập chánh lý luận sớ (T44n1840, tr.112a12).
[46]
Tất cánh vô (atyantābhāva), tuyệt đối không tồn tại, một
trong 5 vô thuyết (abhāva). Thuật ký: từ “đẳng,” kể luôn
vị sanh vô (prāgabhāva).
[47]
Thuật ký (tr.259c26) giải thích: “Như hữu tánh không phải
là pháp không tồn tại (vô pháp), hữu tánh không dị biệt
cái hữu của hữu tánh; vậy, thực v.v. cũn không phải là
vô, tại sao không có cái hữu riêng biệt?”
[48]
Tức dị cú nghĩa (viśeṣa-padārtha). Thuật ký (tr. 256c21):
“Cựu dịch là đồng dị tánh. Vừa đồng vừa dị, nên
nói là đồng dị tánh.”
[49]
Sūtra 1.2.5: “Thực tánh (dravyatva), đức tánh (guṇatva), nghiệp
tánh (karmatva), vừa đồng vừa dị.” ibid.1.2.2: “Thực tánh,
trong đó bao hàm đa số, cho nên nói nó là cái tồn tại ngoài
thực.” Thuật ký (tr. 260a22): “thật tánh, đức tánh, nghiệp
támh, tức đồng dị tánh.”
[50]
ibid., “Không nên cho rằng đồng dị tánh này cũng không phải
là đồng dị tánh. Tổng lập lượng: Thực tánh, đức tánh,
nghiệp tánh mà các ông quan niệm tất không phải là thực
tánh, đức tánh, nghiệp tánh. Vì dị biệt thực, đức, nghiệp.
Như hòa hiệp, v.v.”
[51]
Văn lập luận tổng hợp. Thuật ký phân tích: Thực hẵn không
phải là thực. Vì bị biệt thực tánh. Như đức, nghiệp.
Thay chủ từ trong tông chi bằng đức, nghiệp, cũng vậy. Xu
yếu (622c23): trong lập luận của Thắng luận, nhân phạm lỗi
hữu pháp tự tướng tương vi (dharmi-svarūpa-viparita-sādhana).
Tức là nói, “Đồng dị tánh quyết định tồn tại biệt
lập ngoài thực (cú nghĩa). Vì dị biệt thực. Như đức,
nghiệp.”
[52]
Thực tánh (dravyatva), v.v., tức đồng dị tánh (viśea).
[53]
Thuật ký (tr.): “Thắng luận quan niệm có một pháp thường
hằng, chân thật, có tác dụng kết hợp khiến cho thực các
thứ lệ thuộc nhau không phân ly.” Sūtra 7.2.26: Trong quan hệ
nhân quả, nguyên nhân làm phát sinh khái niệm “Cái này tồn
tại nơi cái này,” nguyên nhân đó được gọi là hòa hiệp.
Tarkasaṅgraha 75: Hòa hiệp là sự kết hợp thường hằng,
tồn tại không thể phân ly...Như đức với cái có đức là
thực, nghiệp với cái có nghiệp là thực.
[54]
Phi hữu (asat), phi thực (adravya): chỉ các thức không thuộc
hữu tánh (sattā) tức không tồn tại, và các thứ không thuộc
trong cú nghĩa thực, tức 8 cú nghĩa còn lại trừ vô thuyết.
[55]
Xem cht. 101 trên.
[56]
Hán: duyên ly thức ngoại...Thuật ký (261b08), duyên, chỉ năng
duyên là hiện lượng, để bác bỏ đối tượng được cho
là thực hữu tồn tại ngoài thức, chứ không bác bỏ đối
tượng giả hữu ở trong nội thức. Diễn bí (831c14): “Nếu
không nói đến từ duyên...phạm lỗi mâu thuẫn với tông.
Vì tự tông và tha tông đều cho rằng tâm (tâm và tâm sở
trong Duy thức; giác, lạc,v.v., trong đức cú nghĩa) đều không
tồn tại ngoài thức.” Thuật ký (tr. 261b16, 20): “Duyên...,
để xác định nhóm từ là phức hợp từ y sĩ (tatpuruṣa-samāsa),
chứ không phải là trì nghiệp (karmadhāraya).”
[57]
Giả hợp sanh: nhận thức phát sinh do lấy đối tượng là
sự giả hợp của nhiều thứ, như đại hữu, là hữu tánh
của 9 thực; hay các phẩm tính của đức xuất hiện trên
các thực.
[58]
Thuật ký (tr. 262a16): “Mạc-hê-y-thấp-phạt-la (Mahāśvara),
là Đại Tự Tại Thiên. Nếu trưòng hoá nguyên âm, đọc là
Ma-hê-y-thấp-phạt-la (Māheśvara), là người thờ Tự Tại
Thiên. Giáo thuyết chủ trương nguyên nhân bất bình đẳng...Phái
này cho rằng Pháp thân của vị Trời này là phổ biến, thường
hằng, thân lượng như hư không, không có cư xứ riêng biệt.
Thân biến hoá của ông có trú xứ riêng biệt.” Đề-bà
(Ārya-Deva), Ngoại đạo Tiểu thừa Niết-bàn luận (T32n1640,
tr.157c23): “Ma-hê-thủ-la luận sư nói như vầy, quả là cái
được tác thành bởi Na-la-diên (Nārāyaṇa). Phạm thiên là
nhân. Ma-hê-thủ-la là một thể mà có ba phần; đó là, Phạm
thiên, Na-la-diên và Ma-hê-thủ-la. Chúa cõi đất là Ma-hê-thủ-la.
Trong ba cõi, tất cả mọi vật có mạng hay không có mạng
thảy đều do Ma-hê-thủ-la thiên sinh. Nơi thân của Ma-hê-thủ-la,
đầu là hư không, thân là đất, nước tiểu là nước, phân
là núi, sâu trũng trong ruột là các loại chúng sinh, mạng
là gió, hơi ấm là lửa, nghiệp là tội phước...Tự Tại
Thiên là nguyên nhân của sinh diệt. Tất cả sinh từ Tự Tại
Thiên, diệt do Tự Tại thiên.”
[59]
Vì cần hội đủ nhiều duyên.
[60]
ibid., (T32n1640, tr.157a11): Luận sư Vi-đà (Veda) nói, từ rốn
của Thần Na-la-diên (Nārāyaṇa) sinh ra một bông sen lớn.
Từ bông sen sinh ra Phạm thiên Tổ ông. Vị Phạm thiên này
tạo tác nên hết thảy các loài có mạng và không có mạng.
Từ miệng Phạm thiên sinh ra những người thuộc giai cấp
bà-la-môn; từ hai vai, giai cấp sát-đế-lị; từ hai bắp vế,
tỳ-xá-xà; từ gót chân, thủ-đà-la. Tất cả đại địa
là giới trường tu phước. Nơi đó sinh các loại hoa cỏ làm
phẩm vật cúng dường. Lại hoá làm thú rừng, gia súc các
thứ. Nơi giới trường, giết hại chúng để hiến tế Phạm
thiên thì được sinh lên cõi kia gọi là cõi Niết-bàn.”
[61]
ibid., (tr.158a11): “Thời tán luận sư nói, thời gian chín muồi
thì mọi vật lớn lên. Thời gian tác thành mọi vật. Thời
gian làm tan rã mọi vật. Như khi bị trăm mũi tên mà thời
chưa đến thì chưa thể chết. Thời đến thì bị một cọng
cỏ chạm vào cũng chết. Tất cả mọi vật sinh bởi thời,
chín muồi bởi thời, tiêu diệt bởi thời. Không thể vượt
qua thời. Cho nên, thời luận sư nói, thời gian là cái thường
hằng, sinh sản mọi vật.” Đại trí độ 1 (tr. 65b11):”
Thời kinh nói, thời đến thì chúng sinh chín muồi; thời gian
đi thì hối thúc. Thời khiến cho người giác ngộ, Cho nên,
thời là nhân.”
[62]
ibid., (tr.157a3): “Ngoại đạo phương luận sư nói, tối sơ
sinh các phương (diśatā). Từ các phương sinh người đời.
Từ người đời sinh trời đất. Trời đất diệt tận quay
về nơi kia gọi là cõi Niết-bàn.”
[63]
Skt. pūrvakoṭi. Thuật ký (262c5): “Bản tế, tức khởi điểm
tối sơ, lúc bắt đầu sinh sản hết thảy hữu tình.”
Thuật ký tập thành 7 (T67n1266, tr. 148b13): “Bản tế, tức
Bản sinh An-trà luận sư.” Ngoại đạo Tiểu thừa Niết-bàn
luận (T32n1640, tr. 158b02): Ngoại đạo Bản sinh An-trà luận
sư (Pūrvaja-aṇḍakavādin?) nói, khởi thủy không có mặt trời,
mặt trăng, sao, hư không và đất. Khi ấy chỉ có nước phổ
biến. Từ nước sinh ra một đại an-trà (Skt. aṇḍa, quả
trứng), như gà con, tròn trịa, màu vàng ròng. Thời gian chín
muồi, quả trứng vỡ làm hai, nửa trên thành trời, nửa dưới
thành đất. Khoảng giữa, xuất sinh Phạm thiên, gọi là Tổ
phụ của hết thảy chúng sinh, tác thành hết thảy loài có
mạng và không mạng.”
[64]
Thuật ký, ibid., có một pháp riêng biệt, là thực, là thường,
gọi là tự nhiên, sinh ra hết thảy pháp. Thuật ký tập thành
7 ibid., tự nhiên, chỉ Vô nhân luận sư (Ahetu-vādin). Ngoại
đạo Tiểu thừa Niết-bàn luận (T32n1640, tr. 158b02): “Ngoại
đạo vô nhân luận sư nói, không nhân, không duyên sinh tất
cả mọi vật. Không có nhân cho nhiễm, không nhân cho tịnh.
Như gai nhọn không do ai làm ra; như khổng tước (chin công)
có nhiều màu sắc, không do ai làm ra. Chúng tự nhiên mà có,
không do nhân mà sinh.” Cf. Dīgha i, tr. 53, thuyết luân hồi
tịnh hoá (saṃsārasuddhi) của Makkhali-Gosala: natthi hetu
natthi paccayo sattānaṃ saṃkilesāya... natthi hetu natthi paccayo
sattānaṃ visuddhiyā.
[65]
Hư không, chỉ Khẩu lực luận sư. Niết-bàn luận (T32n1640,
tr. 158a24): “Ngoại đạo Khẩu lực luận sư nói, hư không
là nguyên nhân của vạn vật. Thoạt kỳ thủy, sinh hư không.
Từ hư không sinh gió. Từ gió sinh lửa. Từ lửa sinh hơi ấm.
Từ hơi ấm sinh nước. Nước đông cứng thành đất. Từ
đất sinh các thứ cỏ thuốc. Từ cây cỏ thuốc sinh ngũ cốc.
Từ ngũ cốc sinh mạng. Loài có mạng sau khi ăn, chết, quay
trở về hư không; đó gọi là Niết-bàn.”
[66]
Thuật ký (tr. 262c24): “Bà-la-môn chủ trương âm thanh của
Minh luận là thường hằng. Minh luận, trước kia nói là Vi-đà
luận 韋陀論 (Veda). Nay nói là Phệ-đà luận 吠陀論.” Thanh
thường trú luận (nityaśabdavāda) là chủ trương của phái
Mimāṃsa, theo đó, âm thanh của các từ ngữ của Thánh điển
Veda là những bản thể thường hằng.
[67]
Hán: hiển phát; Skt. abhivyati và sphoṭa, chỉ thanh hiển luận
(śabdābhivyakti-vāda) và thanh sinh luận. Lý môn luận thuật
ký (T44n1839, tr.78b5), Nhập chánh lý luận sớ 1 (T44n1840, tr.108a27):
thanh minh luận có hai; một, thanh phát sinh từ các duyên nhưng
bất diệt; hai, thanh chỉ hiển hiện tùy theo duyên, nhưng vốn
không sinh không diệt.
[68]
Cf. Pháp hoa 5: “Chớ thân cận ... lộ-già-da-đà, nghịch lộ-già-da-đà..”
Sad. xiii, na ca lokāyatamantradhārakān na lokāyatikā sevete, không
học tập kinh chú thế tục, không thân cận những người
lokāyatika.
[69]
Bách luận thích 2 (T30n1571, tr.195c15): “Thuận thế ngoại đạo
(Lokāyatika) nói rằng, các pháp và tự ngã đều lấy đại
chủng làm tự tánh. Ngoài bốn đại chủng, không tồn tại
vật gì cả. Chính bốn đại hiệp thành tự ngã và các pháp
nội ngoại, thân, tâm. Chỉ có đời này, không có đời sau.”
[70]
Thắng luận, cf. Vaiśeṣika-sūtra 2.14.18: 2 cực vi (paramāṇu)
sơ bản, gọi là cực vi cha mẹ, từng đôi một kết hợp
thành một cực vi con, hay vi thể cấp hai (dvyaṇuka). Lượng
của vi thể con bằng với lượng cực vi cha mẹ. Hai vi thể
con kết hợp thành vi thể cấp ba (tryaṇuka).
[71]
Thắng luận và Thuận thế đều quan niệm cực vi là viên
thể thường trú (nityaṃ parimaṇḍalam).
[72]
Phương phần hay phương giác, Skt. dig-bhāga. Câu-xá 2 (T29n1558,
tr.11c28), cực vi có phương phần hay không? Duy thức nhị thập
luận (T31n1590, tr.76a17): Cực vi có phương phần, là có 6 phương
giác khác nhau, không thành nhất thể. Cf. Viṃśatika 14.
[73]
Phê bình riêng Thắng luận.
[74]
Chỉ cực vi sơ bản.
[75]
Cực vi sơ bản và vi thể phát sinh có dung lượng tương đẳng,
cùng chiếm cứ trong một điểm không gian, chúng thiệp nhập
lẫn nhau.
[76]
Vì do 2 cực vi hợp thành.
[77]
Nhân, tức 2 cực vi sơ bản ở tại 2 điểm khác nhau.
[78]
Nước (dụ vi thể phân tử) không thấm vào cát (dụ cực
vi sơ bản), mà chảy lọt giữa hai hạt cát.
[79]
Thuốc không hoà tan vào hai cực vi đồng, mà xúc tác giữa
chúng.
[80]
Cf. Duy thức Nhị thập luận: Cf. Viṃśatika 15.
[81]
Đề-bà (Āryaḍeva), Ngoại đạo Tiểu thừa tứ tông luận
(T32n1639, tr.155a18): “Có 4 tông pháp không phải là Phật pháp:
tất cả pháp là nhất (nhất thể luận), dị (dị thể luận),
câu, và bất câu.” Tông pháp thứ nhất là của Số luận
(Tăng-khư). Thứ hai, Thắng luận (Tỳ-thế sư). Thứ ba, Ni-kiền
tử (Nirgrantha). Thứ tư, Nhã-đề tử (Jñātiputra).
[82]
Hữu pháp (Skt. saddharma), pháp hiện hữu; hữu tánh (Skt. sattā),
lý tính của pháp hiện hữu. Diễn bí (tr. 833c5): đây không
phải đồng dị tánh của Thắng luận. Có hai giải thích:
3 đức là hữu tánh; 23 đế là đồng dị tánh. Hoặc, hữu
tánh là lý tánh của tất cả 25 đế. Nhưng 25 đế đều dị
biệt, đó là đồng dị tánh. Cf. Đề-bà, ibid., (tr. 155a29):
“Tăng-khư nói, ngã (puruṣa) và giác (buddhi), hai pháp là một,
vì không thể nắm bắt được sự sai biệt của hai đặc
tướng.”
[83]
Hán: hữu đẳng tánh; Thuật ký, ibid., từ đẳng, chỉ đồng
dị tánh (samāyna-viśeṣatva).
[84]
Số luận đẳng, Thuật ký (tr.265b04): Trong nội bộ của Tăng-khư
(Saṃkhyā) phân thành 18, do đó nói là đẳng. Từ đẳng cũng
có thể chỉ các phái khác có chủ trương như vậy.
[85]
Đề-bà, ibid., chủ trương nhất thiết pháp dị của Tỳ-thế
sư.
[86]
Một trong 5 vô thuyết (vô thể) của Thắng luận. Skt. pradhvaṃsābhāva.
[87]
Đề-bà, ibid., chủ trương của Ni-kiền tử, nhất thiết pháp
câu, vừa đồng nhất vừa dị biệt, như tấm lụa trắng;
lụa và trắng vừa là nhất thể vừa là dị thể. Tức xu
hướng khả dĩ luận (syād-vāda) của Kỳ-na giáo, khả dĩ
vừa tồn tại, khả dĩ vừa không tồn tại.
[88]
Vô tàm, đây chỉ cho phái Ni-kiền tử. Thuật ký (tr. 265c27):
“Ni-kiền tử, dịch là Ly hệ; nghĩa là tách lìa sự hệ
phược của tam giới. Cũng gọi là Vô tàm, vì tu hành lõa
thể, nên Phật pháp chê là không biết hỗ thẹn.” Cũng có
khi chỉ cho Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (Kakuda-Kātyāyana), một
trong 6 tôn sư ngoại đạo thời Phật. Cf. Đại bát-niết-bàn
kinh 19.
[89]
Thuật ký, ibid., “Tà mạng, Phạn âm là A-thì-phược-ca (Skt.
ājīvika), dịch đúng là Chánh mạng. Nhưng Phật pháp chê là
tà mạng, sinh hoạt không chân chánh.”
[90]
Song phi: phủ định kép, vừa không phải nhất vừa không phải
dị. Thuật ký: song phi thì không phải là khẳng định. Như
nói, “thạch nữ không có con trai cũng không có con gái.”
Hán: vô nhi vô nữ. Diễn bí (tr. 834a03): “Nói vô nhi thì đã
biết là thạch nữ rồi, cần gì nói thêm vô nữ?”
Tức là hiểu “vô nhi” là “không con cái.” Như vậy thiếu
một hạng từ, không thành phủ định kép.
[91]
Thuật ký: có một quan điểm, tức có khẳng định. Như nói,
“Thạch nữ không có con trai cũng không có con gái.” Không
thể nói tất cả chỉ là phủ định, hoàn toàn không khẳng
định một điều gì. Thế thì, có gì để tranh luận?
[92]
Nhất dị vật, Thuật ký: màu xanh là nhất thể với vật
xanh, nhưng dị thể với màu vàng.