TIẾT
2. TỔNG KẾT
I.
TỔNG KẾT NGÃ PHÁP
Ngã
và pháp mà ngoại đạo và Tiểu thừa quan niệm như là ngoài
thức như vậy thảy đều không phải là thực hữu. Do đó,
Tâm, tâm sở không lấy các pháp ngoại tại như sắc v.v. làm
điều kiện như là đối tượng.[1] Vì hoạt dụng của đối
tượng tất phải y trên thể thực hữu.[2]
Hiện
tại tụ tâm và tâm sở pháp kia[3] không phải là tụ điều
kiện làm đối tượng trực tiếp ẩy thức này,[4] như phi
đối tượng,[5] vì thuộc về tụ khác.[6]
Đồng
tụ[7] tâm sở cũng không phải là đối tượng trực tiếp,[8]
vì tự thể dị biệt, như các phi sở thủ khác.
Do
vậy, nên biết, thực không tồn tại ngoại cảnh; duy chỉ
nội thức phát sinh tợ như là ngoại cảnh. Cho nên, già-tha
trong Kinh[9] nói, “Như được phân biệt bởi kẻ ngu, ngoại
cảnh thực không tồn tại. Tâm bị tập khí vẩn đục, do
đó chuyến biến tợ như kia.”
II.
Ý NGHĨA GIẢ THUYẾT
1.
Nạn vấn
Nạn
vấn[10] sau đây được nêu lên: Nếu không tồn tại thực
ngã, thực pháp bên ngoài thức, cái giả[11] cũng không tồn
tại. Vì cái giả được khái niệm phải y trên cái chân,
trên sự tương tợ và trên tính chất chung.[12] Như giả thuyết
“Người này là lửa,”[13] tất phải có lửa chân thực,
có người tương tợ lửa, có tính chất nóng và đỏ.[14]
Giả thuyết bò v.v. cũng vậy.
Ngã
và pháp nếu không tồn tại, y trên cái gì mà giả thuyết?
Không có cái giả thuyết, cái tương tợ cũng bất thành. Làm
sao có thể nói tâm chuyển hiện tương tợ như ngoại cảnh?
2.
Giải thích
Nạn
vấn ấy phi lý.
Như
trên kia đã bác bỏ ngã pháp tồn tại ngoài thức.[15]
Vã,
y trên chủng loại, y trên thực vật, để giả thuyết lửa
v.v., cả hai đều bất thành.[16]
a.
Y loại để giả thuyết, lý bất thành. Vì các phẩm chất
nóng và đỏ không có cùng chủng loại.[17] Nếu không có phầm
tính cộng thông[18] mà giả thuyết cái kia, thế thì đối
với nước v.v. cũng có thể giả thuyết tên gọi là lửa.
Nếu
cho rằng tính nhạy bén v.v. tuy không phải là phẩm tính của
loại nhưng vì không tách rời nhau nên có thể giả thuyết;
điều này cũng phi lý. Tính nhạy bén v.v. nơi chủng loại
người được kinh nghiệm thấy là cũng có sự tách rời nhau.[19]
Nơi loại đã không tồn tại phẩm tính, lại tách rời nhau;
nhưng có khi đối với người mà giả thuyết là lửa v.v.,
như vậy nên biết rằng sự giả thuyết không y trên loại
mà thành.
b.
Y thực để giả thuyết, lý cũng bất thành. Vì các phảm
tính nhạy bén, đỏ, v.v., không phải là cộng hữu.[20] Nghĩa
là, tính nhạy bén, đỏ, v.v., nơi lửa và nơi người, tự
thể của chúng khác biệt nhau, vì sở y dị biệt.
Không
có tính cộng thông mà giả thuyết, sai lầm như đã nói trên.
Nếu
nói, vì phẩm tính của lửa và của người tương tợ nên
có thể giả thuyết, điều này cũng không hợp lý. Vỉ nói
lửa nơi người chứ không nói ở nơi phẩm tính.[21] Do vậy,
giả thuyết này không y trên thực mà thành.
3.
Vã, giả tất y trên chân sự[22] mà lập, điều này cũng không
hợp lý. Chân, chỉ cho tự tướng; nó không phải là đối
tượng của giả trí và biểu đạt.[23] Nghĩa là, giả trí[24]
và sự biểu đạt không đạt được tự tướng, mà chỉ
hoạt động trên cộng tướng[25] của các pháp. Nhưng cũng
không tách rời khỏi những cái này (giả trí và ngôn thuyết)
để có khái niệm về tự tướng, làm sở y cho giả.[26]
Tuy
nhiên, giả trí và biểu đạt tất y nơi âm thanh mà phát khởi.
Nơi nào mà thanh không đến được, chúng cũng không hoạt
động. Cái biểu đạt và cái được biểu đạt[27] đều
không phải là tự tướng.
Do
đó biết rằng giả thuyết không y trên chân sự. Theo đó,
chúng chỉ y trên tợ sự mà chuyển hiện.
Tợ,
nghĩa là sự thêm thắt[28] chứ không phải là đặc tướng
thực hữu. Thanh y trên đặc tướng tương tợ được thêm
thắt mà hoạt động,[29] cho nên không thể nói giả tất y
chân. Vì vậy, không thể nói giả tất phải y chân. Cho nên,
nạn vấn kia không phù hợp chính lý.
4.
Nhưng, y trên biến thái của thức, để đối trị loại trừ
quan niệm sai lầm về ngã pháp chân thật, nên nói giả tợ.
Do
đây, già-tha trong Kinh[30] nói, “Vì để dối trị loại trừ
ngã pháp mà kẻ phàm ngu cho là chân thật cho nên nơi sự biến
thái của thức mà giả thuyết tên gọi ngã và pháp.”
III.
THỨC BIẾN
1.
Hình thái biến thái của thức[31] tuy vô lượng, nhưng loại
biệt của thức năng biến chỉ có ba: 1. Dị thục,[32] tức
thức thứ tám, vì phần lớn tự tính của nó là dị thục.[33]
2. Tư lương, tức thức thứ bảy, vì thường xuyên thẩm sát
và tư lương.[34] 3. Liễu cảnh,[35] tức sáu thức đầu, vì
nhận biết đối tượng với hình thái thô phù.[36]
Từ
“và”[37] nêu rõ sáu thức hợp thành một nhóm.
2.
Ba loại này đều được gọi là thức năng biến. Năng biến
có hai loại:
1.
Năng biến bởi nhân[38]: đó là đẳng lưu và dị thục, hai
tập khí như là nhân ở trong thức thứ tám. Tập khí đẳng
lưu[39] sinh trưởng do sự huân tập thiện, ác, vô ký trong
thức thứ bảy. Tập khí dị thục[40] sinh trưởng do sự huân
tập thiện, ác, hữu lậu trong thức thứ sáu.
2.
Năng biến bởi quả[41]: do ảnh hưởng của hai loại tập
khí nói trên, thức thứ tám sinh khởi, xuất hiện thành nhiều
hình thái khác nhau.[42]
Do
tập khí của đẳng lưu làm điều kiện như là nhân, thức
thứ tám sinh khởi với thể và tướng sai biệt, được gọi
là quả đẳng lưu. Vì quả tương tợ nhân.
Tập
khí của dị thục làm điều kiện như là tăng thượng để
chiêu cảm thức thứ tám, do đáp ứng thế lực của nghiệp
dắc dẫn[43] và do thưòng hằng tương tục, nên được gọi
là dị thục.[44] Nếu chiêu cảm sáu thức trước để đáp
ứng nghiệp được thành mãn,[45] xuất hiện từ dị thục,
được gọi là dị thục sinh[46] chứ không gọi là dị thục.
Vì có gián đoạn.
Tức
là, dị thục và dị thục sinh[47] được nói trước đó gọi
là quả dị thục. Vì quả dị biệt nhân. Trong đó chỉ nói
cái được chấp tàng cho ngã ái, duy trì chủng tử tạp nhiễm,
cái đó biến thái thành quả là thức, nên gọi là dị thục,
chứ không nói là tất cả (thức).[48]
[1]
Sở duyên duyên; Skt. ālambana-pratyaya.
[2]
Nghĩa đăng 2 (tr.15a29): “Pháp ngoài thức trong quan điểm của
Tiểu thừa, giả hay thật đều không tồn tại nên không thể
làm điều kiện sở duyên. Sở duyên theo quan điểm Đại thừa
là cái không ngoài thức, vì giản trừ biến kế, do đó đều
có thể nói là thực, và có thể làm điều kiện sở duyên.”
[3]
Tụ tâm, tâm sở làm đối tượng cho tha tâm trí.
[4]
Xem cht. 361 trên. Đối tượng của tha tâm trí là bất thực.
[5]
Phi sở duyên. Như âm thanh là phi sở duyên đối với con mắt.
[6]
Thuật ký (tr. 294b1): “Tha tụ, chỉ tha thân. Hoặc tám thức
trong tự thân đối nhau cũng được gọi là thức của tha
tụ.”
[7]
Đồng tụ, pháp tương ưng tâm cùng một tụ. Các luận sư
Câu-xá: tương ưng, tức tương ưng với tụ của tâm
khởi lên đồng thời. Tâm sát-na trước và tâm sát-na sau
không đồng thời nên nói là không tương ưng. Cf. Nghĩa đăng
2 (tr. 715c6).
[8]
Tì-bà-sa 9 (tr. 42c12): “Đại chúng bộ nói, vì bản chất
của trí là nhận thức nên nhận thức được chính nó và
cái khác, như ánh đèn tự chiếu đồng thời chiếu sáng cái
khác....Pháp mật bộ nói, tuệ v.v. có thể nhận thức được
thọ tương ưng... Hoá địa bộ chủ trương tâm, tâm sở pháp
có thể nhận thức pháp câu hữu...”
[9]
Thuật ký (tr.294c8): kinh Hậu nghiêm. Thuật ký tập thành 12
(tr.254b28): “Hậu nghiêm kinh, tức Mật nghiêm kinh. Dẫn trong
bản dịch của Huyền Trang cùng với kinh Mật nghiêm hiện
hành (T16n681, 682) không đồng bản.”
[10]
Thuật ký (tr. 294c13): nạn vấn của Phệ-thế-sư (Vaiśeṣika).
Diễn bí (tr.854c7): Cũng có thể kể luôn Độc tử bộ và
các thuyết chấp ngã. Sthiramati: anyasvāha. asaty ātmani
mukhye dharmeṣu copacāro na yujyate. “Có vị khác nói, nếu tự
ngã không tồn tại, sự giả thác trong các pháp hiện tiền
không thể có.”
[11]
Skt. upacāra: giả thuyết hay giả thác, giả thi thiết. Xem cht.
15 trên.
[12]
Ba yếu tố để thành giả thác: chân sự (mukhyapadārtha), tợ
sự (tatsadṛśa-viṣaya), và cộng pháp (sādhāraṇa-dharma).
[13]
Sthiramati: agnir māṇavaka ity upacāraḥ kṛyate, giả thác
rằng “Thiếu niên này là lửa.”
[14]
Hán: mãnh xích 猛赤. Sthiramati: kapilatve tīkṣṇatve vā, tính
chất vàng (màu da) hay nóng.
[15]
Bác bỏ chân sự.
[16]
Bác bỏ tợ sự và cộng pháp. Sthiramati: ubhayathāpy (jātir
dravyam) upacārābhāvaḥ, không tồn tại sự giả thác như là
chủng loại và thực vật. Thuật ký (tr. 295b9): “Loại (Skt.
jāti), tức tính, tức chỉ đồng dị (=dị cú nghĩa: viśeṣa-padārtha,
Thắng luận), chứ không phải cú nghĩa đại hữu (tức đồng
cú nghĩa: sāmānypadārtha, Thắng luận)... Thực, tức thực
cú nghĩa (dravya-padārtha) như đất, nước,v.v.” Xem cht.
98 trên.
[17]
Hán: loại hữu, Skt. jāteḥ sādhāraṇa: đồng hữu, hay tính
chất cộng thông, cộng hữu, của chủng loại Sthiramati: na
jāteḥ sādhāraṇaṃ kapilatvaṃ tīkṣṇatvaṃ vā, “tính
chất vàng và nhạy bén không phải là tính chất chung của
chủng loại.” Hán: mãnh (Skt. tīkṣṇa: nhạy bén hay hay mãnh
lợi) tức hành và xích (Skt. kapilatva: màu vàng) tức sắc,
2 trong 24 cú nghĩa đức (guṇa-padārtha) của Thắng luận. Thuật
ký (295b19): mãnh xích là đức (guṇa) của thực (dravya) hỏa,
không phải đức của đồng dị (viśeṣa). Xem đoạn phê bình
Thắng luận trên.
[18]
Cộng đức: tính mãnh xích có chung nơi cả hai. Nhưng trong
thí dụ: “Người này như lửa;” phẩm tính đỏ và nóng
của lửa không có nơi người, như nước.
[19]
Người khi giận thì đỏ mặt và nóng nảy như lửa; nhưng
khi vui thì những phẩm tính này không có nơi người.
[20]
Sthiramati: nāpi dravyopacāraḥ sāmānyadharmābhāvāt, sự giả
thác y trên thực cũng không có, vì không tồn tại pháp đồng
hữu (= đồng cú nghĩa, Thắng luận; xem đoạn phê bình Thắng
luận ở trên).
[21]
Thuật ký (tr.296a17): Người đời nói, “người như lửa,”
chứ không nói “đỏ như đỏ.” Nóng, đỏ, là phẩm tính
(đức) của lửa.
[22]
Skt. mukhya-padārtha, cú nghĩa cố hữu (=bản nhiên).
[23]
Sthiramati: tatsvarūpasya sarvajñānābhidhānaviṣayāti-
krāntatvāt,
tự thân của chân sự ấy vốn siêu việt cảnh vực của
hết thảy nhận thức và ngôn thuyết.
[24]
Thuật ký tập thành 12 (tr. 257c26): tỉ lượng hữu lậu gọi
là giả trí; chỉ nhận thức được cộng tướng.
[25]
Cộng tướng (Skt. sādhāraṇa), nhưng Sthiramati: pradhāna: thắng
nhân, bản thể hay tự tính; pradhāne hi guṇarūpeṇaiva jñānābhidhāne
pravartate tatsvarūpāsaṃsparśāt, do sắc thái phẩm tính mà
nhận thức và ngôn ngữ vận hành trong bản thể chứ không
xúc chạm đến tự thân của bản thể.
[26]
Sthiramati: na hi jñānābhidhānavyatirikto’ nyapadārtha
-svarūpaparicchitty
upāyo’ sti, “nếu không có nhận thức và ngôn ngữ, không
có phương tiện nào để phán định bản chất của hiện
thực nơi các khác.”
[27]
Năng thuyên và sở thuyên. Sthiramati: evaṃ yāvac chabde sambandhābhāvāj
jñānādhānābhāva evaṃ cābhidhānā-
bhidheyābhāvān
naiva mukhyaḥ padārtho’ sti, cũng như không có chuỗi liên tục
nơi âm thanh thì không có nhận thức và ngôn ngữ, cũng vậy,
năng thuyên và sở thuyên không tồn tại nên cú nghĩa hiện
thực của bản nhiên cũng không tồn tại. Thuật ký (297a15):
Như khi nghe một tên gọi nào đó bèn duyên vào đó mà khởi
lên nhận thức, hoặc khởi lên ngôn thuyết.
[28]
Hán: tăng ích. Thuật ký (297c04): “Cộng tướng được thêm
vào (tăng ích) trên tự tướng, là hữu pháp có tính y tha.
Nghĩa là, một đặc tướng của sắc được gắn lên chung
cho các sắc, gọi là tăng ích.”
[29]
Sthiramati: sarvaś ca śabdaḥ pradhāne’ vidyamāne-
naiva
guṇarūpeṇa pravartate, hết thảy âm thanh không được tìm
thấy trong tự tính (=bản thể) nhưng hoạt động với hình
thái phẩm tính. Nghĩa là âm thanh được nhận thức với cộng
tướng chứ không với tự tướng; nhận thức trong chuỗi
liên tục của nó.
[30]
Thuật ký (298a1), kinh Hậu nghiêm. Xem cht. 381 trên.
[31]
Thức sở biến tướng; Thuật ký (tr.298a8): “Tướng trạng
của kiến phần và tướng phần mỗi mối có đến vô lượng.”
Xu yếu (tr. 629b18): “Biến hai có nghĩa: chuyển biến và biến
hiện.” Xem cht. 16 trên.
[32]
Dị thục; Thuật ký (298a19): tiếng Phạn là tì-bá-ca 毘播迦
(Skt. vipāka); tì nghĩa là đổi khác (dị); bá-ca nghĩa là chín
(thục). Câu-xá 2 (tr.9a25): “Nghiệp được tạo tác khi đưa
đến kết quả thì biến thái để chín, nên nói là dị thục.”
Bhāṣya: vipacyata iti vipāka, “nó được nấu chín muồi, gọi
là cái chín muồi.” Do động từ căn pac: nấu chín. Sthiramati:
tatra kuśalākluśalakarmavāsanāparipākavaśād yathākṣepaṃ phalābhinivṛttir
vipākaḥ, “Ở đây, do thế lực của tập khí đã chín muồi
của nghiệp thiện và bất thiện, theo đó mà dẫn đến sự
hình thành kết quả, đó là dị thục.”
[33]
Đa dị thục tính; ibid., trong 5 giai vị, từ phàm phu cho đến
Như lai vị, danh từ dị thục tồn tại suốt cả 4 giai vị;
trong 13 giai vị, nó cũng tồn tại suốt trong 12 vị. Vì vậy,
nói là “phần nhiều.”
[34]
Xu yếu (629a13): “Tư lương... vì thường xuyên duyên đến
đối tượng nên tương tục thường xuyên hiện khởi. Hành
tướng của nó với xa nên nói là thẩm.” Sthiramati: kliśṣṭaṃ
mano nityaṃ mannātmakatvāt mananākhyaṃ, ý ô nhiễm, do tự thể
của nó là thường xuyên tư duy quán sát nên nói là tư duy.
[35]
Liễu cảnh, tức liễu biệt cảnh; Skt. vijñaptir viṣayasya:
sự biểu thị của cảnh; sự thông tri về tồn tại của
đối tượng. Do vi-jñapayati, thông tri cá biệt; thể sai khiến
của động từ căn jñā: biết. Sthiramati: rūpādiviṣayapratyavabhāsatvāt
cakṣurādivijñānaṃ ṣaṭprakāram api viṣayavijñaptiḥ, do
làm hiển hiện các đối tượng như sắc v.v. sáu hình thái
nhận thức như mắt v.v. được nói là sự thông tri (khu biệt)
đối tượng (liễu biệt cảnh).
[36]
Đối tượng của sáu thức đầu được nói là thô, Thuật
ký (298b16): 1. vì đa phần; 2. vì dễ nhận biết; 3. chung cho
nhận thức của các hữu tình; 5. nội và ngoại đạo đều
quan niệm là tồn tại; 6. đối tượng bất cộng (cá biệt).
[37]
Hán: cập 及, trong bài tụng Skt. ca.
[38]
Skt. hetu-pariṇāma: sự biến thái bởi sự tồn tại của nhân
(hetubhavena). Sthiramati: tatra hetupariṇāmo yā’ layavijñāne vipākaniṣyandavāsanāparipuṣṭiḥ,
“Sự biến thái bởi nhân, đó là sự trưởng dưỡng của
hai tập khí dị thục và đẳng lưu trong thức A-lại-da.”
Thuật ký (298c04): “Nhân tức nguyên nhân, chỉ cho chủng tử...
Biến, nghĩa là chuyển biến... Nguyên nhân trực tiếp có cùng
bản chất, gọi là đẳng lưu. Đưa đến kết quả không cùng
bản chất, gọi là dị thục” ibid., (298c14): “Nhân biến
thái thành hiện hành đồng loại với chủng loại của nó
và qủa dị thục.”
[39]
Thuật ký (298c20): “Đẳng là tương tợ; lưu là lưu loại.
Tức chủng tử đồng tính chất với quả của nó...Tập klhí
được huân tập bởi danh ngôn gọi là tập khí của đẳng
lưu.” Skt. niṣyanda (động từ căn ni-syand: tuôn xuống).
[40]
Thuật ký (298c29): “Dị thục nhân là chủng tử của tăng
thượng duyên. Tức là chủng tử được huân tập bởi hữu
phần (hữu chi tập khí).”
[41]
Skt. phalapariṇāma. Sthiramati: phalapariṇāmaḥ punar vipākavāsanāvṛttilābhād
ālayavijñānasya purvakarmāk- ṣepa-parisamāptau yā nikāyasabhāgāntareṣv
abhinir- vṛttiḥ, niṣyandavāsanāvṛttilābhāc ca yā pravṛttijñānāṃ
kliṣṭasya ca manasa ālayavijñānād abhinirvṛttiḥ, “biến
thái bởi quả, đó là sự hiện thành của thức A-lại-da
trong các chúng đồng phần được thành mãn do sự chiêu cảm
của nghiệp quá khứ, khi tập khí của dị thục đạt đến
trạng thái hoạt động. Đó cũng là sự hiện thành từ thức
A-lại-da của các chuyển thức và ý nhiễm ô (thức thứ bảy)
do tập khí của đẳng lưu đạt đến trạng thái hoạt động.”
[42]
Thuật ký (299b02): “Ở đây tự chứng phần biến hiện thành
quả là kiến phần và tướng phần...Biến, có nghĩa là biến
hiện.”
[43]
Hán: dẫn nghiệp lực; Skt. karmākṣepavaśa. Tạp tập luận
7 (T31n1606, tr.728b16): “Nghiệp thiện và bất thiện khi cảm
sinh dị thục trong các cõi thiện hay ác có hai loại khác nhau
là nghiệp chiêu dẫn và nghiệp viên mãn. Nghiệp chiêu dẫn,
do nghiệp này mà lôi kéo đến quả dị thục. Nghiệp viên
mãn, do nghiệp này, sau khi sinh lãnh thọ quả đáng ưa hay không
đáng ưa.”
[44]
Sthiramati: tatra pravṛttivijñānaṃ kuśalākuśalam ālayavijñāne
vipākavāsanāṃ niṣyandavāsanāṃ cādhatte/ avyākṛtaṃ kliṣṭaṃ
ca mano niṣyandavāsanām eva, “chuyển thức thiện và bất thiện
trầm tích trong A-lại-da thành tập khí dị thục và tập khí
đẳng lưu. Duy chỉ ý nhiễm ô (mạt-na) thuộc tính vô ký
thành tập khí đẳng lưu.”
[45]
Hán: mãn nghiệp; xem cht. 415 trên.
[46]
Tạp tập luận 5 (T31n1606, tr.716c3): “Duy chỉ A-lại-da và
các pháp tương ưng là dị thục. Ngoài ra, là dị thục sinh...
Vì xuất sinh từ dị thục.” Cf. Câu-xá 2: “Đước sản
sinh do bởi nhân là dị thục nên gọi là dị thục sinh...Hoặc
nghiệp đã được tạo tác khi đạt đến kết quả thì biến
thái để chín muồi nên gọi là dị thục. Quả được sản
sinh từ đó nên gọi là dị thục sinh.” Bhāṣya: tatra vipākahetor
jātāḥ vipākajāḥ... phalakālaprāptaṃ vā karma vipāka ity ucyate
vipacyata iti kṛtvā tasmāj jātā vipākajāḥ.
[47]
Thuật ký (299c24): “Nếu pháp là dị thục, sinh khởi từ
dị thục, không gián đoạn, phổ biến, được gọi là dị
thục, và dị thục sinh; ... gián đoạn, không phổ biến, được
gọi là dị thục sinh mà không gọi là dị thục;
Nếu pháp không phải là dị thục, có gián đoạn, không phổ
biến, tuy sinh khởi từ dị thục nhưng không gọi là dị thục,
cũng không gọi là dị thục sinh.”
[48]
Thuật ký (tr. 300a11): “Mặc dù cả bảy thức đều có quả
dị thục, nhưng chỉ năng biến thứ nhất là chân dị thục,
vì nó được tích luỹ thành tự ngã, và vì nó duy trì chủng
tử tạp nhiễm. Không phải tất cả nhứng gì được chiêu
cảm bởi nghiệp đều là năng biến thứ nhất (a-lại-da).”
THƯ
MỤC CHÚ THÍCH
Thành
duy thức luận, 10 quyển, Huyền Trang dịch. T 31 No 1585.
Thành
duy thức luận thuật ký, 20 quyển, Khuy Cơ. Dẫn: Thuật ký,
T43n 1830 (tr.229-607).
Thành
duy thức luận chưởng trung xu yếu, 4 quyển, Khuy Cơ. Dẫn:
Xu yếu, T43n1831 (tr. 607-659).
Thành
duy thức luận liễu nghĩa đăng, 13 quyển, Huệ Chiểu. Dẫn:
Nghĩa đăng, T43n1832 (tr.659-811).
Thành
duy thức luận diễn bí, 14 quyển, Trí Châu. Dẫn: Diễn bí,
T43n1833 (tr.811-978).
Thành
duy thức luận thuật ký tập thành biên, 45 quyển, Trạm Nhiên
(Nhật bản). Dẫn: Thuật ký tập thành, T67n2266.
Du-già
sư địa luận, 100, Huyền Trang dịch. Dẫn: Du-già, T30n1579
(tr.79883).
Nhiếp
Đại thừa luận thích (Thế Thân Nhiếp luận), 10 quyển, Huyền
Trang dịch. Dẫn: Nhiếp luận, T31n1597 (tr.321-380).
Đại
thừa a-tì-đạt-ma tạp tập luận, 16 quyển, Huyền Trang dịch.
Dẫn: Tạp tập luận, T31n1606 (tr.694-774).
A-tì-đạt-ma
đại tì-bà-sa luận, 200 quyển, Huyền Trang dịch. Dẫn: Tì-bà-sa,
T27n1545.
A-tì-đạt-ma
câu-xá luận, 30 quyển, Huyền Trang dịch. Dẫn: Câu-xá, T29n1558
(tr.1-161).
Abhidharamakośabhāṣyam
of Vasubandhu, General Editor Anantalal Thakur, Patna 1975. Ấn
bản Devanagari. Dẫn: Bhāsya.
Abhidharmakośa
& Bhāṣya of Acharya Vasubandhu ưith Sphutartha Commentary of Acarya
Sthiramati, Critically edited by Swami Dwarikadas Shastri, Varanasi 1970.
Dẫn: Sphut.
Triṃśikā
(La Trentaine) avec le Commentaire de Sthiramati, par Sylvain Lévi, Paris
1925. (Duy thức tam thập tụng, sớ giải của An Huệ, ấn bản
Devanagari). Dẫn: Sthiramati.
Sthiramati’s
Triṃśikā-bhāṣyaṃ (Sum-cu-paḥi ḥgrel-pa), by Enga Teramo; Otani
Daigaku, Tokyo Japan 1933. (Tam thập tụng sớ giải của An Huệ,
bản dịch Tây tạng).
Duy
thức tan thập tụng luận sớ của An Huệ, bản dịch Nhật
ngữ của Enga Teramoto, Otani Daigaku, Kyoto Japan 1933.
Duy
thức tam thập tụng thích luận của An Huệ, bản dịch Nhật
ngữ của Junjiro Takakusu. Không rõ nhà xuất bản. Bản photocopy.
BẢNG
TỪ VỰNG SANSKRIT-VIỆT-HÁN