IV.
ĐIỀU KIỆN HUÂN TẬP
Theo
ý nghĩa nào mà nói là huân tập?[1] Cái được huân tập và
cái huân tập cần hội đủ bốn nghĩa.
1.
Sở huân
Bốn
nghĩa cho cái được huân tập[2] là gì?
(1)
Tính kiên trụ. Tính bền lâu. Pháp mà thủy chung đồng một
loại tiếp nối nhau liên tục để duy trì tập khí; pháp ấy
chính là cái được huân tập. Ý nghĩa này loại ra các chuyển
thức, và âm thanh, gió, v.v.,[3] vì tính chất không bền lâu
nên chúng không thể bị xông ướp (huân tập).
(2)
Tính vô ký. Tính trung hòa. Pháp bình đẳng, không có tính
kháng cự khả năng dung nạp tập khí; pháp ấy mới có thể
được huân tập.[4] Ý nghĩa này loại ra ngoài các pháp thiện
ô nhiễm, do thế lực cường thịnh nên không dung nạp bất
cứ cái gì; do đó chúng không thể bị huân tập.
Do
ý nghĩa này, thức thứ tám của Như lai, vốn là tịnh thức,
duy chỉ mang chứa chủng tử cố cựu chứ không dung nạp sự
huân tập mới.
(3)
Tính khả huân. Tính hấp thu. Pháp nào có tính tự tại (tự
do), không chặt cứng (như đá) để có khả năng dung nạp
tập khí, pháp đó mới có thể bị huân tập. Ý nghĩa này
lọai ra ngoài tâm sở và vô vi pháp, vì y tha và chặt cứng
nên không thể bị huân tập.
(4)
Tính cộng đồng hòa hiệp với năng huân. Pháp nào cùng đồng
thời và đồng xứ với cái huân tập, pháp ấy mới được
huân tập. Ý nghĩa này loại ra ngoài tha thân, sát na trước
sau, vốn không có ý nghĩa hòa hiệp nên không thể bị huân
tập.
Duy
chỉ dị thục thức có đầy đủ bốn ý nghĩa này mới có
thể được huân tập, chứ không phải tâm sở các thứ.
2.
Năng huân
Bốn
tính chất của cái huân tập[5] là gì?
(1)
Có tính sinh diệt. Pháp mà không thường hằng, có tác dụng
sinh trưởng tập khí; pháp ấy mới là năng huân. Điều này
loại ra pháp vô vi; nó không thể là năng huân, vì trước
sau không biến đổi, không có tác dụng sinh trưởng.
(2)
Có tác dụng ưu thắng.[6] Pháp có tính sinh diệt mà thế lực
tăng thịnh để dẫn sinh tập khí; pháp ấy mới là năng huân.
Điều này loại ra tâm, tâm sở thuộc dị thục[7]; vì thế
lực yếu kém nên chúng không thể là năng huân.
(3)
Có tăng giảm. Pháp có tác dụng ưu thắng, lại có tăng có
giảm, duy trì tập khí; pháp ấy mới là năng huân. Điều
này loại trừ pháp thiện viên mãn nới Phật quả; vì không
tăng không giảm nên không thể là năng huân. Nếu nó là năng
huân thì không phải là viên mãn; vì như vậy Phật quả trước
sau có ưu có khuyết.
(4)
Cùng với sở huân hòa hiệp mà chuyển. Nếu cùng với cái
được huân tập mà đồng thời, đồng xứ, không tương tức,
không tương ly; pháp ấy mới là năng huân. Điều này loại
trừ tha thân, sát na tước sau, vốn không có ý nghĩa hòa hiệp;
cho nên nó không phải là năng huân.
Duy
bảy chuyển thức cùng với các tâm sở của chúng có thế
lực, tác dụng nhưng có tăng giảm, đủ bốn nghĩa này mới
có thể nói là năng huân.
Cái
năng huân và thức được huân tập cùng sinh cùng diệt như
vậy, ý nghĩa huân tập được xác chứng. Làm cho chủng tử
tăng trưởng trong cái được huân tập, như ướp mùi cho vừng,
đó gọi là huân tập.
Thắc
năng huân khi sinh khởi từ chủng tử, ngay lúc đó nó làm
nhân để huân tập trở lại thành chủng tử. Ba pháp lần
lượt,[8] nhân quả đồng thời. Như bấc đèn sinh ngọn lửa.
Ngọn lửa đốt trở lại bấc đèn. Cũng như bó lau, các cọng
lau nương tựa lẫn nhân. Nhần và quả cùng tồn tại trong
một thời; điều này không làm đảo lộn lý tính.
Cái
năng huân sản sinh chủng tử; chủng tử phát khởi hiện hành;
như nhân câu hữu đạt được quả sĩ dụng.[9] Chủng tử
cùng với đồng loại trứoc sau sinh sản nhau, như nhân đồng
lọai dẫn đến quả đẳng lưu.[10] Cả hai cái này là nhân
duyên tính cho kết quả. Trừ đó ra, các pháp còn lại đều
không phải là nhân duyên. Nhưng đặt tên là nhân duyên, nên
biết, đó chỉ là giả thuyết.
Như
vậy, đã tóm tắt các đặc tướng của chủng tử.
[1]
Nhiếp luận thích (TTh) 2 (tr. 328a01): “Luận: Thế nào là huân
tập (vāsanā)? …Cái y nơi pháp kia mà cùng sinh cùng diệt;
trong đó nó mang tính chất của nhân để sản sinh pháp kia;
cái đó là sự huân tập. Như vừng được ướp hoa;
vừng và hoa cùng sinh cùng diệt. Vừng mang trong nó cái tự
thể làm nguyên nhân cho mùi thơm xuất hiện. Thích: Y nới
các pháp tạp nhiễm kia, cùng sinh cùng diệt, thức a-ại-da
sản sinh pháp kia, là nhân tính của các pháp. Đó gọi là
huân tập.”
[2]
Sở huân; Skt. vāsya.
[3]
Nhiếp luận thích, ibid., bản tính của gió là lưu động,
không thể mang theo mùi được xông ướp đi đến một do-tuần.
Tinh dầu của hoa chiêm-băc (champaka) có thể mang theo nó mùi
xông ướp xe đên một do tuần.
[4]
ibid., không quá thơm cũng không quá hôi. Như tỏi, vì quá hôi,
không thể được xông ướp bangừ mùi khác.
[5]
Năng huân; Skt. vāsaka.
[6]
Thuật ký: thắng dụng có hai: 1. năng duyên thế dụng, loại
trừ hững gì là sắc không thể là năng huân; 2. cường thịnh
thắng dụng, loại trừ tâm tâm sở dị thục tức thức thứ
tám và các tâm sở tương ưng.
[7]
Di thục tâm tâm sở: các yếu tố tâm lý hoàn toàn bị chi
phối bởi hậu quả của nghiệp quá khứ.
[8]
Thuật ký (tr. 310b09): “Ba pháp: Chủng tử và hiện hành làm
nhân duyên sản sinh chủng tử mới nữa.”
[9]
Sĩ dụng quả (puruṣakārahetu). Tì-bà-sa 121 (tr. 630b01): “Pháp
mà dược tác thành do bởi hành vi của con người, pháp ấy
được gọi là sĩ dụng quả.” Câu-xá 6 (35a28): “Pháp mà
tác động của nó như hành vi của con người, pháp ấy được
gọi là sĩ dụng quả. Cung như người ta gọi mô0jt loại
dược thảo là chân quạ (kākajaṅghā) vì nó giống chân quạ;
hoặc gọi vị tướng quân là voi say vì ông dũng cảm như
con voi say.” Ibid. (tr. 35a27): Nhân câu hữu (sahabhūhetu) va nhân
tương ưng (saṁprayuktaka-hetu) cho kết quả sĩ dụng.
[10]
Ibid (tr. 35a26): nhân đồng loại (sabhāgahetu) và nhân biến
hành (sarvatragahetu) cho quả đẳng lưu (niṣyandaphala).
Vì cả hai đều cho quả tương tợ nhân.