CHƯƠNG
II.
Tiết
IV TÂM SỞ TƯƠNG ƯNG
1.
NĂM TÂM SỞ
Thức
này tương ưng với bao nhiêu tâm sở?
Nó
thường xuyên tương ưng với xúc, tác ý, thọ, tưởng và
tư.
Kể
từ vô thủy cho đến trước khi được chuyển y, trong tất
cả mọi giai đoạn, thức này thường xuyên tương ưng với
năm tâm sở này. Vì chúng thuộc các tâm sở biến hành.
a.
Xúc
Xúc,
đó là sự phân biệt biến dị trong tổ hợp ba, mà tự tính
là làm cho tâm và tâm sở tiếp xúc với cảnh; chức năng
là làm sở y cho thọ, tưởng các thứ.[1]
Tổ
hợp ba là sự hỗ tương tùy thuận của căn, cảnh và thức.[2]
Xúc y trên chúng nó mà phát sinh, làm cho chúng hòa hiệp, do
đó nói “chúng nó.”[3] Trong trạng thái hoà hiệp, ba sự
đều có công năng dẫn đến sự sinh khởi của tâm sở; đó
gọi là “biến dị.”[4] Xúc sinh khởi tương tợ với sự
biến dị ấy được gọi là “phân biệt.”[5] Khi xúc được
dẫn khởi, hiệu lực biến dị của căn hơn hẳn thức và
cảnh của nó, do đó các luận như Tập luận[6] chỉ nói đến
phân biệt về sự biến dị của căn.[7] Tự tính của xúc
là sự hòa hiệp tất cả tâm và tâm sở khiến cho chúng đồng
tiếp xúc cảnh.[8]
Bởi
vì nó tương tợ công năng dẫn đến phát khởi tâm và tâm
sở, nên chức năng (nghiệp) của nó là làm sở y cho thọ,
v.v. Kinh Khởi Tận nói: Các uẩn, thọ, tưởng, hành, tất
cả đều lấy xúc làm duyên.[9] Do ý nghĩa đó mà nói, thức,
xúc, thọ các thứ phát sinh nhân bởi sự hòa hiệp của hai,
ba và bốn.[10]
Du-già[11]
chỉ nói nó làm sở y cho thọ, tưởng và tư; ấy là vì trong
hành uẩn tư là chủ đạo,[12] là ưu thắng.[13] Chỉ nêu nó
mà bao hàm luôn các cái khác.
Các
luận như Tập luận nói nó làm sở y cho thọ, vì xúc sinh
thọ là sự kiện gần và ưu thắng. Nghĩa là các hình thái
khả ý v.v. được tiếp nhận bởi xúc cùng với các hình
thái thuận ích được tiếp nhận bởi thọ rất là gần gũi
nhau, bởi vì sự dẫn phát[14] của nó ưu thắng.
Nhưng
tự tính của xúc là thật chứ không phải giả.[15] Vì nó
là tâm sở tính trong sáu pháp sáu.[16] Vì nó được kể trong
thực phẩm.[17] Vì nó làm duyên.[18] Không phải như thọ tính
v.v. mà đồng nhất với tổ hợp ba.[19]
b.
Tác ý
Tác
ý, có bản chất là cảnh giác tâm; chức năng là dẫn tâm
hướng đến đối tượng.[20] Nghĩa là, nó cảnh giác chủng
tử của tâm cần được phát khởi,[21] hướng dẫn nó nhắm
đến cảnh; đó gọi là tác ý. Mặc dù nó cũng dẫn khởi
tâm sở, nhưng vì tâm là chủ nên chỉ nói đến sự dẫn
khởi tâm.
Cũng
có quan điểm cho rằng nó khiến cho tâm quay hướng đến đối
tượng khác.[22] Hoặc cho rằng, trong một đối tượng, nó
duy trì tâm an trụ; đó gọi là tác ý.[23] Các gải thích này
đều phi lý. Vì như vậy, nó không phải là biến hành;[24]
và vì không có gì khác với định.[25]
c.
Thọ
Thọ,
tự tính của nó là lãnh nạp[26] các hình thái đối tượng
thuận, nghịch, hay phi cả hai;[27] chức năng của nó là làm
trổi dậy ái; vì nó khơi dậy sự ham muốn hiệp, ly[28] hay
phi cả hai.
Có
giải thích nói rằng, thọ có hai:[29] thọ (lãnh nạp) cảnh
giới, tức lãnh nạp sở duyên; và thọ (lãnh nạp) tự tính
tức sự lãnh thọ câu hữu với xúc. Chỉ có tự tính thọ
là đặc tính riêng của thọ, vì cảnh giới thọ có chung
các đặc tính khác.[30]
Giải
thích này phi lý. Một cách xác định, thọ không duyên đến
đối tượng là xúc câu sinh. Nếu vì nó sinh khởi tương tợ
xúc mà nói là lãnh nạp xúc, thế thì quả tương tợ nhân
đều có tự tính là thọ. Lại nữa, xúc đã là nguyên nhân
của thọ, thì nên nói thọ là thọ của nhân,[31] sao lại
nói là tự tính? Nếu nói, cũng như nói “nhà vua ăn (hưởng
thụ) các quốc ấp,”[32] cũng vậy, thọ lãnh nạp xúc, do
đó thể của thọ được sản sinh ấy được nói là thọ
thuộc tự tính.” Nói như vậy cũng không hợp lý; vì tự
mâu thuẫn với tông phái mình, theo đó, không có tự chứng.[33]
Nếu không xả tự tính mà nói đến thọ (lãnh nạp) tự tính;
nói thế thì hết thảy pháp đều có tự tính là thọ. Cho
nên, thí dụ được nêu chỉ có thể gạt trẻ nhỏ thôi.
Tuy
nhiên, cảnh giới thọ không cùng với các tâm sở khác có
chung đặc tính. Sự lãnh nạp các đặc tính, thuận nghịch
v.v. được xác định thuộc bản thân, sự lãnh nạp ấy được
gọi là cảnh giới thọ, vì không chung với các tâm sở khác.[34]
d.
Tưởng
Tưởng,
tự tính là tiếp thu ảnh tượng nơi đối tượng.[35] Chức
năng của nó là quy ước[36] các loại danh ngôn khác nhau. Nghĩa
là, cần phải ấn định hình thái giới hạn của đối tượng
mới có thể tùy theo đó phát khởi các thứ danh ngôn khác
nhau.
e.
Tư
Tư,
tự tính là khiến tâm tạo tác.[37] Chức năng là sử dịch
tâm nơi các phẩm chất thiện, v.v.[38] Tức là, nó tiếp nhận
các hình thái chính nhân[39] nơi đối tượng rồi thúc đẩy
tâm tạo các thứ thiện, bất thiện,v.v.
Năm
tâm sở này thuộc biến hành, do đó một cách xác định chúng
tương ưng với tàng thức. Đặc tính của biến hành sẽ giải
thích sau.
Xúc,
v.v., năm tâm sở này tuy có đặc tính khác nhau với dị thục
thức, nhưng thời và y tương đồng, sở duyên và sự tương
đẳng,[40] do đó nói là tương ưng.[41]
2.
DUY XẢ THỌ
Hành
tướng của thọ này cực kỳ không rõ ràng, không thể phân
biệt các hình thái đối tượng nghịch hay thuận; nó vi tế,
đồng nhất loại, tiếp nối nhau chuyển; do đó, nó chỉ tương
ưng với xả thọ.
Lại
nữa, thọ tương ưng này duy chỉ là dị thục; nó hoạt động
tùy theo nghiệp dẫn độ, không cần hội đủ duyên, vì vận
chuyển theo thế lực của nghiệp thiện ác một cách tự nhiên.
Vì vậy, duy chỉ là xả thọ.
Hai
thọ khổ và lạc là dị thục sinh,[42] không phải là dị
thục thực thụ, vì chúng cần đủ duyên cho nên không tương
ưng với thức này.
Lại
nữa, do sự kiện thức này thường không chuyển biến nên
hữu tình chấp nó xem như ngã tự nội.[43] Nếu tương ưng
với hai thọ khổ và lạc, nó hẳn có chuyển biến, vậy là
sao chấp làm tự ngã? Do đó, nó chỉ tương ưng với xả thọ.
Nếu
vậy, làm sao thức này cũng là dị thục của nghiệp ác?[44]
Đã cho rằng nghiệp thiện cũng chiêu cảm xả thọ; ở đây
(nghiệp bất thiện) sao lại không? Vì xả thọ không trái
nghịch với các phẩm chất khổ lạc. Như pháp vô ký dẫn
đến cả hai thiện và ác.
3.
CÁC TÂM SỞ KHÁC
Vì
sao thức này không tương ưng các tâm sở biệt cảnh, và v.v.?
Vì hỗ tương mâu thuẫn.
Nghĩa
là, dục hoạt động với hy vọng về sự thể được ưa
thích. Thức này vận chuyển tùy tiện,[45] không có hy vọng
điều gì.
Thắng
giải hoạt động nhắm ghi dấu ấn [46] và quyết định sự
thể. Thức này thì mông muội, không ghi dâu ấn cái gì.
Niệm
hoạt động chỉ để ghi nhận rõ ràng những sự thể đã
từng trải nghiệm. Thức này muội lược không thể ghi nhớ
sáng suốt.
Định
là tập trung tâm chuyên chú trên một đối tượng. Thức này
vận chuyển tùy tiện, duyên đối tượng từng sát-na riêng
biệt.[47]
Huệ
duy chỉ hoạt động với sự giản trạch các sự thể như
đức, v.v.[48] Thức này vi tế, muội lược, không thể giản
trạch.
Do
vậy, thức này không tương ưng các biệt cảnh.
Thức
này vì duy chỉ là tự thể dị thục cho nên cũng không tương
ưng với thiện hay nhiễm ô.
Bốn
vô ký tính, ác tác, v.v.,[49] vì có tính gián đoạn, đương
nhiên không phải là dị thục.[50]
[1]
Sthiramati: “Trong đây, xúc, đó là sự phán đoán về biến
đổi của căn y trên tổ hợp ba (trikasaṃnipāte indriyavikāraparicchedaḥ);
chức năng của nó là sở y của thọ (vedanāsaṃniśrayakarmakaḥ).”
Hiển dương Thánh giáo 1 (T31n1602, tr. 481a21): “Xúc, tự thể
là phân biệt hoà hiệp của ba sự.” Cf. Tạp 3 (18a11): “Do
bởi duyên là mắt và sắc, thức con mắt phát sinh. Sự hòa
hòa hiệp của ba sự làm phát sinh xúc. Do duyên là xúc, thọ
phát sinh.” Cf. Pali, S. iv. 68: cakkhuñca paṭicca rūpe
ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ. … imesaṃ tiṇṇaṃ
dhammānaṃ saṅgati sannipāto samavāyo,
ayaṃ vuccati cakkhusamphasso. Duyên nơi mắt
và sắc, thức con mắt phát sinh… Sự hòa hiệp, tập hợp,
kết hợp của ba pháp này được gọi là xúc.
[2]
Sthiramati: indriyaviṣayavijñānāni trīṇy eva trikaṃ tasya kāryakāraṇabhāvena
samavasthānaṃ trikasaṃnipātaḥ: trong trạng thái là nhân cũng
như trong trạng thái là quả, sự cộng đồng tồn tại của
căn, cảnh và thức là tổ hợp ba.
[3]
Hán: bỉ 彼, không có trong văn trên.
[4]
Biến dị 變異, Skt. vikāra, chỉ sự biến thái hay biến dạng.
Sthiramati: “Khi tổ hợp ba đang tồn tại, đồng thời
với nó là sự biến dạng của căn tùy theo các cảm thọ
khổ lạc v.v..”
[5]
Phân biệt 分別. Skt. pariccheda: phân tích, phán đoán, phán
định. Sthiramati: “Tương tợ với sự biến dạng ấy
là sự phán đoán về hình thái (ākāra: hành tướng)
cảm thọ khổ lạc v.v. của đối tượng; sự phán đoán ấy
chính là xúc.” Thuật ký: phân biệt là từ đồng nghĩa với
“lãnh tợ 領似 (nhận thức bằng tương tợ).” Như con tương
tợ cha, gọi là “phân biệt phụ 分別父.”
[6]
Tạp tập luận 1 (T31n1606, tr. 697b1): “Xúc, tự thể là sự
phân biệt về biến dị của căn y trên hòa hiệp của
ba sự.”
[7]
Căn biến dị 根變異: sự biến dạng của căn. Sthiramati:
“Sự kiện mà do bởi đó căn xuất hiện như là nguyên nhân
của khổ lạc các thứ; sự kiện đó là sự biến dạng của
căn (indriyaṃ punar yena viśeṣeṇa sukhaduḥkhādihetutvaṃ pratipadyate
sa tasya vikāraḥ).”
[8]
Thuật ký: Khiến cho chúng không phân tán thành các hành tướng
cá biệt, mà tập trung nhắm đến một đối tượng chung.
[9]
Sthiramati: evaṃ hy uktam sūtre sukhavedanīyaṃ sparśaṃ pratītyotpadyate
sukhaṃ veditam iti vistaraḥ, như Kinh nói, cảm thọ lạc phát
sinh do duyên xúc với cảm thọ lạc. Cf. Tạp A-hàm 17 (tr. 117c27):
“Sự hòa hiệp của ba sự làm phát sinh xúc. Duyên bởi hỷ
xúc mà lạc thọ phát sinh.” Cf. Pali, Phassamūlaka-suttaṃ, S.
iv. 215: Tisso imā, bhikkhave, vedanā phassajā
phassamūlakā phassanidānā phassapaccayā. Ba thọ này
phát sinh từ xúc, có gốc rễ là xúc, nhân duyên bởi xúc,
lấy xúc làm điều kiện.
[10]
Thức phát sinh bởi hai duyên: mắt và sắc. Xúc phát sinh bởi
ba: sắc, mắt và thức con mắt. Thọ, bởi bốn: căn, cảnh,
thức và xúc.
[11]
Quyển 55 (tr. 601c28): “Chức năng (nghiệp) của xúc là gì?
Làm sở y cho thọ, tưởng, tư.”
[12]
Tạp tập luân 1 (T31n1606, tr. 697a5): “Hành uẩn được thiết
lập như thế nào? Đó là sáu tư thân (ṣaṭ cetanā-kāyaāḥ):
tư sản sinh bởi xúc của mắt, v.v.”
[13]
Vì tư là động lực tạo nghiệp.
[14]
Thuật ký: xúc dẫn khởi phát sinh thọ ưu thắng hơn các tâm
sở khác.
[15]
Thuật ký: Đại thừa và Hữu bộ đều nói tự thể của
xúc là thật. Kinh bộ nói xúc là tổ hợp của ba, thể của
nó là giả hữu.
[16]
Câu-xá 10 (tr. 52b16): “Kinh nói, thế nào là pháp môn sáu sáu
(ṣaṭṣaṭika dharmaparyāya)? 1. Sáu nội xứ, 2. sáu ngoại
xứ, 3. sáu thức thân, 4. sáu xúc thân, 5. sáu thọ thân, 6.
sáu ái thân. Cf. Pali, Chachakkasuttaṃ, M. iii. 281: Cha ajjhattikāni
āyatanāni veditabbāni, cha bāhirāni āyatanāni veditabbāni, cha
viññāṇakāyā veditabbā, cha phassakāyā
veditabbā, cha vedanākāyā veditabbā, cha
taṇhākāyā veditabbā. Giới thân túc luận 1 (T26n1540, tr. 614b13,
614b27): sáu sáu thân: 6 thức thân, 6 xúc thân, 6 thọ thân,
6 tưởng thân, 6 tư thân, 6 ái thân.
[17]
Xúc là một trong 4 loại thức ăn.
[18]
Xúc là một trong 12 chi duyên khởi.
[19]
Kinh bộ: tổ hợp ba (tam hòa) tạo thành xúc. Xúc chính là
(đồng nhất) tổ hợp ba. Do đó, tự thể của xúc là giả
chứ không phải thật.
[20]
Sthiramati: tác ý (manaskāra) là vận dụng (ābhoga) của tâm.
Vận dụng tức chuyển hướng (ābhujanaṃ ābhogaḥ). Vì nó
hương tâm trên đối tượng (ālambane yena cittam abhimukhīkriyate).
Câu-xá 4 (19a21): Tác ý, khiến cho tâm cảnh giác (manaskāraś
cetasa ābhogaḥ).
[21]
Ưng khởi tâm chủng 警起心種. Diên bí (tr. 872a17): “Ưng,
không phải là tố từ chỉ tương lai. Tác ý hiện tại cảnh
giac chủng tử của tâm tương ứng khiến nó hiện khởi.”
Nghĩa đăng (tr. 727a03): Đại thừa có hai giải thích.
1. Y Hiển dương, hiện tại tác ý cảnh giác tâm tương ứng
đồng thời. 2. Y Thành duy thức, nó kích phát chủng tử của
tâm đang hiện khởi, và dẫn tâm đang hiện khởi ấy hướng
đến cảnh sở duyên.”
[22]
Du-già 3 (tr. 291b27): “Tác ý là gì? Đó là sự hồi chuyển
của tâm.” Chính lý 11 (tr. 389c25): “Lực của tác ý này
có thể khiến cho thức chuyển hướng đến các đối tượng
khác.”
[23]
Tạp tập luận 1 (tr. 697a28): “Tác ý, thể của nó là tâm
đã được phát động; chức năng là duy trì tâm trên cảnh
sở duyên. tức là, thường xuyên dẫn tâm ở trên cảnh này,
do đó mà tâm được định. Đó gọi là tác ý.” Sthiramati:
cittadhāraṇaṃ punas tatraivālambane punaḥ punaś cittasyāvarjanaṃ,
tác ý còn có chức năng là duy trì tâm trên đối tượng tức
thường xuyên dẫn tâm trên đối tượng. Chức năng đó quyết
định đối tượng cho dòng tương tục của tâm.
[24]
Bác bỏ Chính lý.
[25]
Phê bình Tạp tập luận: tác ý và định như vây không khác
nhau.
[26]
Sthiramati: vedanā anubhavasvabhāvā, thọ, có tự thể là cảm
nghiệm (lãnh nạp).
[27]
Tức lạc thọ, khổ thọ và phi cả hai.
[28]
Với lạc thọ thì muốn hiệp; với khổ thọ thì muốn ly.
[29]
Thuận chính lý 2 (tr. 338c26): Thọ có hai, 1. chấp thủ thọ,
tất cả tâm và tâm sở đều lãnh nạp (cảm nghiệm) cảnh
sở duyên riêng biệt của nó; 2. tự tính thọ, lãnh nạp tùy
theo xúc, là đặc tính riêng biệt của thọ.
[30]
Đặc tính chung mà các tâm sở khác đồng tiếp nhận được.
[31]
Thuật ký: Xúc sinh thọ; nó là nhân của thọ. Vậy, nếu lãnh
nạp nơi nhân, nên nói là thọ bởi nhân.
[32]
Thuật ký: thể của quốc là đất đai. Xúc như đất đai;
thọ như lúa thóc. Xúc là nhân, thọ là quả. Thọ lãnh nạp
xúc là lãnh nạp tự thân, nên nói là thọ (lãnh nạp) tự
tính.
[33]
Quan điểm Hữu bộ: tâm thức không tự cảm thọ (tự chứng).
Thuật ký: tự lãnh nạp tức tự duyên bản thân. Tự duyên
tức tự chứng.
[34]
Thuật ký thí dụ: giữa đám đông, có người nói, “Mặt
mầy là tôi tớ.” Trong đám đông ấy, kẻ nào là tôi tớ
thì nhận đó là mắng mình. Ai không phải là tôi tớ, không
nhận lời mắng ấy về mình.
[35]
Sthiramati: saṃjñā viṣayanimittidgrahaṇam.
[36]
Hán: thi thiết; Skt. prajñapti. Thuật ký: “Thi thiết 施設
là dị danh của an lập 安立. Kiến lập phát khởi cũng nói
là thi thiết.”
[37]
Sthiramati: cetanā cittābhisaṃskāro manaścteṣtā; tư, cái tác
động tâm và phát động ý.
[38]
Sthirramati: như chỗ nào có từ thạch thì các loại sắt bị
hút về đó.
[39]
Thuật ký: chính, chỉ chính hành và tà hành, các hành thiện
hay bất thiện của thân và ngữ. Nhân, chỉ nguyên nhân.
[40]
Thuật ký: đẳng tức tương tợ. Ảnh tượng tướng phần
là sở duyên. Thể của thọ là sự. Thời là sát-na. Y là
y căn.
[41]
Du-già 55 (tr. 602a24): “Do tương đẳng về sự, về xứ, về
thời và sở tác nên nói là tương ưng (samprayukta).”
[42]
Thuật ký: Trong sáu thức, thọ thuộc dị thục sinh (vipākaja)
cần phải đủ duyên mới khởi.
[43]
Giải thích ý nghĩa tương tục (liên tục chuyển) ở trên.
[44]
Thuật ký: Nạn vấn của Hữu bộ. Xả thọ vốn tịch tĩnh.
Nghiệp thiện điều hoà, dễ tương thuận nên có thể chiêu
cảm. Nhưng nghiệp ác vốn bức bách làm sao dẫn đến quả
tịch tĩnh như xả thọ?
[45]
Nhậm vận 任運: vận hành một cách tự nhiên, ngẫu nhiên.
[46]
Ấn trì 印持. Thuật ký: thăng giải ghi giữ dấu ấn của
sự thể trước đó còn mơ hồ để đưa đến chỗ xác định.
[47]
Thuật ký: thức thứ tám thường trực duyên đối tượng
là ảnh tượng hiện tại; ảnh tượng này đổi mới trong
từng sát na. Ở đây, nói nhậm vận, là nói vận chuyển theo
nghiệp.
[48]
Bản Hán, Khuy Cơ, đều đọc: đắc, thất. Tức được (đắc),
mất, v.v.
[49]
Ác tác, tức hối. Bốn tâm sở bất định, xem đoạn sau,
về sáu thức.
[50]
Phi dị thục, Thuật ký, đây nói không phải chân dị thục,
chứ không loại trừ dị thục sinh.