CHƯƠNG
II.
Tiết
VII. XẢ A-LẠI-DA[1]
1.
CỨU CÁNH XẢ
Thức
này, từ vô thủy, hằng chuyển như dòng thác, cho đến giai
vị nào thì hoàn toàn được xả? Cho đến địa vị A-la-hán
nó mới hoàn toàn bị xả. A-la-hán là các Thánh giả khi đã
đoạn tận một cách rốt ráo các phiền não chướng.[2] Lúc
bấy giờ các phiền não thô trọng của thức này vĩnh viễn
bị diệt trừ, đó gọi là xả.
1.
Trong đây,[3] nói là A-la-hán, là chỉ chung cho quả vị vô
học của cả ba thừa. Vì giặc phiền não đã vĩnh viễn bị
sát hại.[4] Vì xứng đáng nhận sự cúng dường tuyệt diệu
của thế gian.[5] Vì vĩnh viễn không còn thọ nhận sự sinh
phần đoạn nữa.[6]
Làm
sao biết được như vậy?
Vì
“Quyết trạch phần”[7] nói, các A-la-hán, Độc giác Như
lai, thảy đều không thành tựu A-lại-da. Tập luận[8] cũng
nói, các Bồ tát khi chứng đắc bồ đề, đồng loạt các
phiền não và sở tri chướng đều bị đoạn trừ, thành A-la-hán
và Như lai.
Nạn
vấn: Nếu vậy, Bồ tát mà chưa vĩnh viễn đoạn tận các
chủng tử phiền não, không phải là A-la-hán; Bồ tát ấy
hẳn đều thành tựu thức A-lại-da; vì sao chính trong Quyết
trạch phấn đó nói Bồ tát bất thối[9] cũng không thành
tựu thức A-lại-da?
Đáp:
Theo “Quyết trạch phần”, ở quả vị vô học của Nhị
thừa mà xoay chuyển hướng đến đại bồ đề, lẽ tất
nhiên không thối lui để khởi phiền não, và vì thú hướng
bồ đề, do đó tức thì chuyển đổi tên được gọi là
Bồ tát bất thối.[10] Vị ấy không thành tựu thức A-lại-da,
tức được kể trong hàng A-la-hán. Như vậy, văn của Luận
không mâu thuẫn với ý nghĩa này.
2.
Lại nữa,[11] Bồ tát từ Bất động địa trở lên mới được
gọi là Bồ tát bất thối, vì ở đó hết thảy phiền não
vĩnh viễn không còn hiện hành; vì vận chuyển một cách tự
nhiên trong dòng chảy của pháp; vì có thể khởi lên các hành
trong các hành;[12] và vì càng lúc càng tăng tiến trong từng
sát na.
Bồ
tát này tuy chưa đoạn tận các chủng tử của phiền não
trong thức dị thục, nhưng khi duyên đến thức này, các thứ
ngã ái v.v. không còn chấp tàng nó như là tự ngã nội tại;
do đó tên gọi a-lại-da vĩnh viễn được loại bỏ. Theo đó
mà nói là không thành tựu thức a-lại-da. Bồ tát ấy vì
vậy cũng được gọi là A-la-hán.
3.
Giải thích khác[13] nói, vì rằng Bồ tát từ Sơ địa trở
lên đã chứng chân lý hiển hiện bởi hai Không; và vì đã
đạt được hai loại trí thù thắng;[14] và vì đã đoạn
hai trọng chướng của phân biệt; và vì có thể phát khởi
các hành trong hết thảy hành; Bồ tát ấy, tuy vì lợi ích
mà hiện khởi các phiền não, nhưng không gây những tai hại
do bởi phiền não,[15] do đó cũng được gọi là Bồ tát bất
thối.
Hạng
Bồ tát này tuy chưa đoạn tận loại phiền não câu sinh, nhưng
duyên đến thức này mà các thứ ngã kiến, ngã ái v.v. của
phân biệt không chấp tàng nó như là tự ngã nội tại; do
bởi đó tên gọi A-lại-da vĩnh viễn bị loại bỏ, nên nói
là không thành tựu thức A-lại-da. Ở đây Bồ tát này cũng
được gọi là A-la-hán. Đó cũng là điều được nói trong
Tập luận,[16] theo đó, Bồ tát thập địa tuy chưa đoạn
tận hết thảy phiền não, nhưng phiền não này, cũng như độc
tố bị áp chế bởi thuốc, chú thuật, không gây ra những
tác hại của phiền não. Vì vậy, Bồ tát trong tất cả các
địa, như A-la-hán đã đoạn tận phiền não, cũng được
gọi là A-la-hán.
4.
Nạn vấn:[17] Giải thích này phi lý. Bồ tát thất địa về
trước vẫn còn ngã kiến, ngã ái các thứ thuộc loại câu
sinh chấp tàng thức này làm tự ngã nội tại, làm sao có
thể nói là xả tên gọi A-lại-da?
Đáp:[18]
Nếu do bởi ngã kiến, ngã ái các thứ thuộc loại phân biệt
không còn chấp tàng nữa mà gọi là xả, thì các hàng hữu
học như Dự lưu lẽ ra cũng xả tên gọi A-lại-da. Như vậy
là trái nghịch với những điều được nói bởi các Luận.
Phiền não được dấy khởi nơi Bồ tát trên các địa là
do bởi chính tri nên không gay tác hại. Hàng Dự lưu v.v. không
thể có được trường hợp như vậy, đâu có thể lấy đó
mà điển hình cho Bồ tát.
Phiền
não khởi lên trong thức thứ sáu của Bồ tát ấy do bởi
chính tri nên không gây tác hại, nhưng thức thứ bảy trong
trạng thái của tâm hữu lậu hiện hành một cách tự nhiên
chấp tàng thức này, há không thể điển hình với hàng Dự
lưu?[19] Do vậy, nên biết, nạn vấn ấy không hợp lý.
Song,[20]
A-la-hán đoạn trừ các phiền não thuộc loại thô trọng trong
thức này dứt sạch một cách rốt ráo, không còn chấp tàng
thức A-lại-da như là tự ngã nội tại nữa; do A-lại-đã
vĩnh viễn tiêu thất như vậy nên gọi là xả, chứ không
phải xả toàn bộ thể của thức thứ tám. Không nên nói
rằng A-la-hán không có thức duy trì chủng tử,[21] lúc bấy
giờ liền nhập Niết-bàn vô dư.
2.
CÁC BIỆT DANH
Tuy
các hữu tình thảy đều thành tựu thức thứ tám, nhưng tùy
theo ý nghĩa mà lập nhiều tên gọi khác nhau.[22]
Hoặc
gọi là tâm, vì nó là nơi tích luỹ chủng tử được
huân tập của các pháp vạn thù sai biệt.[23]
Hoặc
gọi là a-đà-na,[24] vì nó nắm giữ chủng tử và các sắc
căn không để huỷ hoại.
Hoặc
gọi là sở tri y,[25] vì nó làm nơi y chỉ cho các pháp sở
tri hoặc nhiễm hoặc tịnh.
Hoặc
gọi là chủng tử thức, vì nó nhiệm trì toàn bộ các chủng
tử của thế gian và xuất thế gian.
Các
tên gọi như vậy thông cho tất cả các trình độ.
Hoặc
gọi là a-lại-da, vì nó nhiếp tàng tất cả pháp thuộc phẩm
loại tạp nhiễm không để thất tán, và vì bị ngã kiến,
ngã ái các thứ chấp tàng như là tự ngã nội tại. Tên gọi
này chỉ áp dụng cho hàng dị sinh và hữu học, vì hàng vô
học và Bồ tát bất thối[26] không có pháp tạp nhiễm để
chấp tàng.
Hoặc
gọi là dị thục thức, vì nó là quả dị thục của nghiệp
thiện và bất thiện dẫn đến sinh tử. Tên gọi này chỉ
áp dụng cho hàng dị sinh, Nhị thừa, các Bồ tát;[27] vì ở
Như lai địa không tồn tại pháp vô ký thuộc loại dị thục.
Hoặc
gọi là vô cấu thức,[28] vì là nơi sở y của các pháp vô
lậu cực kỳ thanh tịnh. Tên gọi này chỉ áp dụng cho Như
lai địa, vì Bồ tát, Nhị thừa và dị sinh vị có sự huân
tập khả ái của chủng tử hữu lậu, chưa đạt được thức
thứ tám thiện tịnh. Như Khế kinh nói, “Thức vô cấu của
Như lai, là giới tịnh vô lậu, giải thoát hết mọi chướng,
tương ưng trí viên kính.”[29]
Tên
gọi A-lại-da nặng phần tác hại, và vì được xả trước
hết, cho nên đặc biệt được nói riêng trong đây.
Thể
của thức dị thục được xả khi Bồ tát sắp chứng đắc
bồ đề. Thanh văn, Độc giác khi nhập Niết bàn vô dư y cũng
xả.
Thể
của thức vô cấu không khi nào bị xả, vì sự lợi lạc
cho hữu tình không bao giờ cùng tận.
Các
tên khác như tâm v.v., vì cộng thông, cho nên tùy theo nghĩa
mà nói.
3.
GIAI VỊ
Thức
thứ tám có hai trạng thái. Một, trạng thái hữu lậu, thuộc
bản tính vô ký, duy chỉ tương ưng với năm pháp như xúc
v.v., và chỉ chuyển đến đối tượng như chấp thọ và xứ
cảnh như đã nói trên. Hai, trạng thái vô lậu,[30] duy chỉ
thuộc bản tính thiện; nó tương ưng với 21 tâm sở, tức
5 biến hành, 5 biệt cảnh và 11 thiện. Vì nó hằng tương
ưng với tất cả tâm;[31] vì thường ưa thích[32] chứng tri
đối tượng quán chiếu; vì hằng in dấu quyết định[33]
trên đối tượng quán chiếu; vì ghi nhớ rõ ràng[34] cảnh
đã từng trải nghiệm; vì không hề có trường hợp Thế
tôn không có định tâm[35]; vì thường quyết trạch đối
với hết thảy pháp;[36] Và vì thường tương ưng với tịnh
tín v.v.;[37] vì không nhiễm ô;[38] vì không tán động;[39]
Nó cũng duy chỉ tương ưng với xả thọ, vì hằng thời vận
chuyển một cách tự nhiên và bình đẳng. Nó lấy hết thảy
pháp[40] làm cảnh sở duyên, vì trí như gương soi[41] duyên
khắp đến hết thảy pháp.
[1]
Giải thích câu tụng “A-la-hán vị xả 阿羅漢位捨.” Skt.
tasya vyāvṛttỉ arhatve/
[2]
Sthiramati: nói là A-la-hán, do đạt được tận trí, vô sinh
trí (kṣayajñānānutpādajñānalābhāt).
[3]
Giải thích của nhóm Luận sư thứ nhất, về nghĩa A-la-hán.
[4]
A-la-hán (Skt. arhant), theo nghĩa là “sát tặc.” Tức theo ngữ
nguyên : ari (kể thù) + han (sát hại).
[5]
A-la-hán hiểu theo nghĩa “ứng cúng.” Tức theo ngữ nguyên
arh (arhati): xứng đáng, có khả năng.
[6]
A-la-hán hiểu theo nghĩa “vô sinh.” Tức theo ngữ nguyên aruhat:
không sinh trưởng, do động từ ruh: sinh trưởng. Phần đoạn
sinh: bậc vô học của Nhị thừa và Bồ tát địa thứ tám
trở lên đã dứt sinh tử phần đoạn nhưng vẫn còn chịu
sinh tử biến dịch.
[7]
Du-già 51, Nhiếp quyết trạch phần, tr. 582a8, nêu bốn trường
hợp: 1. Thành tựu a-lại-da chứ không chuyển thức: các trường
hợp của trạng thái vô tâm vị. 2. Thành tựu chuyển thức,
không a-lại-da: A-la-hán, Độc giác, Bồ tát hàng bất thối,
và các Như lai trụ hữu tâm vị. 3. Thành tựu cả hai: các
hạng hữu tình còn lại trụ hữu tâm vị. 4. Không cả hai:
A-la-hán, Độc giác, Bồ tát bất thối và các Như lai nhập
diệt tận định, trụ vô dư y niết bàn giới.
[8]
A-tì-đạt-ma tập luận 7 (T31n1605, tr. 692c5), Tạp tập luận
14 (T31n1606, tr. 763c26): “các Bồ tát, sau khi đã đắc hiện
quán Thánh đế, trong giai đoạn tu đạo của mười địa,
chỉ tu tập phần đối trị sở tri chướng mà không cần
tu tập đối trị phần của phiền não chướng. Khi chứng
đắc bồ đề, phiền não chướng và sở tri chướng nhất
loạt bị đoạn trừ, đốn chứng thành A-la-hán và Như lai.”
[9]
Thuật ký (tr. 341c28): bốn hạng bất thối: 1. bất thối đối
với tín, tức tâm thứ sáu trong thập tín; 2. bất thối đối
với chứng. Bồ tát thập địa trở đi; 3. bất thối đối
với hành, Bồ tát địa thứ tám trở lên; 4. bất thối
đối với phiền não, ở vô lậu đạo, các phiền não bị
đoạn trừ. Ý nạn vấn: Bồ tát bát địa xả a-lại-da được
gọi là bất thối. Sơ địa chưa xả a-lại-da, vậy không
được gọi là bất thối?
[10]
Trường hợp thứ tư trong bốn bất thối, cht. 8.
[11]
Giải thích của nhóm Luận sư thứ hai, bởi Hộ Pháp.
[12]
Thuật ký: Sơ địa cho đến Lục địa, thiểu hành (hành nhỏ).
Thất địa, đại hành. Bát địa trở lên, quảng hành, vì
tu tất cả hành trong tất cả hành.
[13]
Giải thích của Nan-đà.
[14]
Vô phân biệt trí (nirvikalpakajñāna) và Hậu đắc trí (pṛṣṭhlabdhajñāna).
[15]
Du-già 78 (tr. 733b14): Bồ tát có thể khởi ba thứ phiền não:
1. phiền não không đặc tình nhiễm ô, vì khởi do nhận thức;
2. không gây tai hại, vì không không khiến Bồ tát cảm nghiệm
đau khổ nơi tự thân; 3. đoạn nhân của khổ, Bồ tát hiện
khởi phiền não để trừ khổ cho hữu tình.
[16]
Đã dẫn, T31n1605, tr. 692c08; T31n1606, tr. 763c29.
[17]
Nhóm Luận sư thứ tư.
[18]
Giả định trả lời của Nan-đà.
[19]
Thuật ký: Phản vấn của Luận chủ (Hộ Pháp).
[20]
Thuật ký: Giải thích của nhóm Luận sư thứ hai (Hộ Pháp).
[21]
Không có tự thể của thức thứ tám, không có thức duy trì
chủng tử
[22]
Nghĩa đăng 4 (tr. 729b25): Có 18 tên gọi. Tụng nói: 無沒,本,宅,藏/種,無垢,持,緣/顯,現,轉,心,依/異,識,根,生,有:
1. Vô một, không chìm, không tan biến. Có lẽ do Skt. đọc
là alaya (gốc động từ lī: layati, chìm mất, biến mất),
thay vì đọc là ālaya. Dẫn luận Vô tướng: vì các chủng
tử không chìm ẩn mất nên gọi là vô một. 2. Bản, hay căn
bản thức, Skr. mūla-vijñāna. 3. Trạch, cái nhà, một nghĩa
khác của từ ālaya. 4. Tàng, nghĩa phổ biến của từ ālaya.
5. Chủng, tức chủng tử thức. 6. Vô cấu, xem giải thích
của Luận. 7. Trì, hay chấp trì thức, nghĩa của từ a-đà-na
thức (ādāna-vijñāna). 8. Duyên, Skt. pratyaya. Biện trung biên
(Madhyānta, k. 10) A-lại-da là điều kiện cho các thức khác
xuất hiện (ālayavijjñānam anyeṣāṃ vijñānānāṃ pratyâytvāt
pratyaya-vijñānam). 9. Hiển, dẫn luận Vô tướng: vì nó
làm hiển lộ năm căn, bốn đại (Skt. vijñapti-vijñāna?). 10.
Hiện, vì các pháp hiển hiện trên đó; Skt. khyāti-vijñāna
(Laṅkā, N. 37). 11. Chuyển, dẫn Vô tướng: các pháp y trên
nó mà sinh khởi (Skt. pravṛtti-vijñāna). 12. Tâm, xem giải
thích trong Luận. 13. y, vì nó là y chỉ của sở tri, xem giải
thích của Luận; Skt. āśraya-vijñāna. 14.Dị, tức dị thục;
Skt. vipāka. 15. Thức, dẫn Vô tướng: tức thức phân biệt
sự; Skt. vastuprativikalpa-vijñāna (Laṅkā, N.37). 16. Căn, chỉ
cho căn bản thức của Hữu bộ. sinh, hữu. 17. Sinh, tức cùng
sinh tử uẩn của Hoá địa bộ. 18. Hữu, tức hữu phần thức
của Thượng tọa bộ; Skt. bhavānga.
[23]
Thuật ký: Phạn nói chất-đa 質多; phiên âm Skt. citta. Hiểu
theo ngữ nguyên, động từ căn ci: tích luỹ. Nhiếp luận bản
1 (tr. 134a9): nói là tâm (citta), vì nó là nơi tích luỹ (ācita)
chủng tử được huân tập của các chủng loại pháp sai biệt.
[24]
Skt. ādāna. Nhiếp luận bản 1 (tr. 133b29): Vì nó chấp thọ
tất cả căn có sắc, và là sở y của thủ (upādāna).
[25]
Skt. vijñeyāśraya. Nhiếp luận thích (Thế Thân) 1 (tr. 322b29):
Cái có thể được nhận thức, gọi là sở tri. Đó là các
pháp tạp nhiễm và thanh tịnh, tức ba tự tính .
[26]
Bồ tát từ bát địa trở lên.
[27]
Bồ tát địa thứ mười trở xuống.
[28]
Skt. amala-vijñāna; cũng phiên âm là a-mạt-la thức 阿末羅識,
a-ma-la thức 阿摩羅識.
[29]
Thuật ký, tụng của kinh Như lai công đức trang nghiêm.
[30]
Duy chỉ ở Như lai.
[31]
Chỉ hoạt động của năm tâm sở biến hành.
[32]
Hán: lạc; chỉ hoạt động của tâm sở dục (chanda)
trong năm biệt cảnh.
[33]
Hán: ức trì; chỉ hoạt động của thắng giải (adhimukti)
trong năm tâm sở biệt cảnh.
[34]
Hán: minh ký, chỉ niệm (smṛti) trong năm biệt cảnh.
[35]
Tức tâm sở định (samādhi) trong năm biệt cảnh.
[36]
Hoạt động của tâm sở huệ (prajñā) trong năm biệt cảnh.
[37]
Chỉ 11 tâm sở thiện.
[38]
Nhiễm ô, chỉ 6 căn bản phiền não và 22 tùy phiền não.
[39]
Tán động, chỉ 4 tâm sở bất định.
[40]
Hết thảy pháp: toàn bộ 18 giới, bao gồm hết thảy hữu
vi, vô vi.
[41]
Kính trí, tức đại viên kính trí.