XUẤT
GIA SỰ
(No.
1444)
Quyển
thứ hai
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
NHÂN
DUYÊN TIẾP ÐỘ XÁ LỢI PHẤT VÀ MỤC KIỀN LIÊN
Bấy
giờ, có vị giáo sư tên là San Thệ Di. Nhóm Câu Lý Ða, v.v...
tìm đến chỗ ông ta, hỏi mọi người rằng:
- Vị
giáo sư này ngồi tịnh ở đâu?
Vị
giáo sư đang ở trong phòng, nghe hỏi tự nghĩ: "Ta ở đây
đã lâu, không nghe ai dùng từ "ngồi tịnh" này.
Bấy
giờ nhóm Câu Lý Ða tự nghĩ: "Người kia đang ngồi tịnh,
chúng ta không nên làm kinh động. Chờ khi xuất tịnh, ta sẽ
gặp mặt".
Nghĩ
như thế, cả nhóm tránh ra chỗ thuận tiện.
Bấy
giờ, San Thệ Di xuất định, các căn thanh tịnh. Hai người
kia khi biết như vậy, đến gặp mặt và hỏi rằng:
- Nhân
giả có pháp nhãn gì? Khai thị những gì? Có thù thắng gì?
Tu phạm hạnh gì? Ðược kết quả gì?
Ðáp:
- Ta
nhận thấy như thế này, biết thế này: Chân thật không nói
dối, không làm hại chúng sanh, thường không còn sanh tử,
không bị đọa lạc, không bị tiêu diệt, sẽ được sinh
cõi Phạm thiên thứ hai.
Khi
ấy, cả hai hỏi:
- Giáo
thuyết này có nghĩa lý gì?
Ðáp:
- Không
nói dối trá gọi là xuất gia. Không làm tổn hại các sinh
mệnh là căn bản của tất cả pháp. Nơi không sinh, không
tử, không đọa, không diệt ấy là Niết-bàn, là sinh cõi
Phạm thiên thứ hai. Những vị Bà la môn tu hành đều cần
đạt đến cảnh giới ấy.
Cả
hai nghe nói thế, thưa rằng:
- Bạch
tôn giả, ngưỡng mong cho chúng tôi được xuất gia tu hành
phạm hạnh.
San
Thệ Di cho hai người được xuất gia.
Sau
khi họ xuất gia, mọi người khắp nơi đều nghe: "Câu Lý
Ða, v.v... đều xuất gia nơi San Thệ Di".
Bấy
giờ, San Thệ Di được rất nhiều lợi dưỡng. Ông ta tự
nghĩ: "Trước đây ta thuộc vọng tộc họ Kiều Trần. Nay
ta cũng họ Kiều Trần. Ngày nay ta được lợi dưỡng là do
phúc đức của hai người kia chứ không phải do phúc đức
của ta".
Trước
đây, San Thệ Di có năm trăm đệ tử, thường học luận điển
với thầy. Khi suy nghĩ như trên, ông ta bảo với hai người:
"Mỗi người nhận lãnh hai trăm năm mươi đệ tử để học
giáo pháp".
Bấy
giờ, San Thệ Di bị bệnh thiên thời. Ô Ba Ðể Sa bảo Câu
Lý Ða rằng:
- Nay
thầy bị nhiễm bệnh. Anh nên tìm y dược hay để chăm sóc.
Ðáp:
- Anh
có trí tuệ, nên chăm sóc thầy. Tôi sẽ đi tìm y dược.
Bấy
giờ Câu Lý Ða tìm được các loại thuốc bằng cây, lá,
hoa, v.v... đem cho thầy uống, nhưng bệnh càng nặng thêm. Khi
ấy, vị thầy tự nhiên mỉm cười.
Ðể
Sa thưa rằng:
- Bậc
đại nhân mỉm cười tất có duyên sự. Nay thầy mỉm cười,
vậy có nhân duyên gì?
Thầy
đáp:
- Ðúng
như lời người nói, vừa rồi ta cười có lý do. Ở Kim Châu
có vị vua tên Kim Chúa, ông ta qua đời. Khi sắp hỏa thiêu,
vợ ông ta buồn rầu áo não, cũng tự đốt mình. Chúng sanh
ngu si, do dục lôi kéo, dục tình đắm nhiễm nên phải chịu
khổ não.
Ô
Ba Ðể Sa thưa:
- Vào
năm, tháng, ngày nào xảy ra sự việc này?
Ðáp:
- Vào
năm, tháng, ngày, thời tiết ấy sự việc xảy ra.
Hai
người đệ tử ghi nhớ và thưa thầy:
- Chúng
con xuất gia để cầu chặt đứt sanh tử. Thầy đã đạt
được, ngưỡng mong chỉ dạy cho con để cắt đứt được
sanh tử.
Thầy
đáp rằng:
- Ý
của ta xuất gia cũng vì cầu việc này. Như điều ngươi mong
cầu, ta chưa đạt được. Nhưng vào ngày mười lăm, khi Bao-
sái-đà, có chúng chư thiên trên hư không phát biểu như thế
này: "Trong dòng họ Thích có sanh vị đồng tử. Tại núi Tuyết
có sông tên Phân Lộ. Ngay trên bờ sông, tại trú xứ Kiếp
Tỷ La tiên nhân có vị Bà la môn thông hiểu thiên văn và
chiêm tướng. Ông ta tiên đoán: đồng tử sẽ trở thành Chuyển
luân thánh vương. Vị này nếu xuất gia sẽ chứng Như Lai
Chánh đẳng Chánh giác, tiếng tăm lừng lẫy khắp mười phương".
Vị
thầy bảo tiếp với đệ tử rằng:
- Các
con nên xuất gia trong giáo pháp của vị ấy để tu hành phạm
hạnh. Không nên tự thị dòng họ tôn quý, cần phải tu hành
phạm hạnh, điều phục các căn. Các con sẽ đắc quả vị
vi diệu nơi vị ấy, không còn sanh tử.
Vị
thầy nói xong, đọc kệ rằng:
- Chứa
nhiều cũng tiêu tán
Cao
lắm tất sụp đổ
Hội
họp phải biệt ly
Có
sống phải bị chết.
Không
bao lâu, vị giáo sư này qua đời, các đệ tử dùng lụa màu
xanh, vàng, đỏ, trắng tẩm liệm và đem vào rừng hỏa thiêu.
Bấy
giờ, ở Kim Châu có vị Bà la môn tên là Kim Phát. Ông ta đi
từ Kim Châu đến thành Vương Xá, đến chỗ Ô Ba Ðể Sa.
Bấy
giờ, Ô Ba Ðể Sa hỏi:
- Ông
từ đâu đến?
Ðáp:
- Từ
Kim Châu đến.
Hỏi:
- Ông
từng thấy việc gì hy hữu không?
Ðáp:
- Không
có việc gì lạ cả. Nhưng có vua Kim Chúa, sau khi chết đem
đi hỏa táng, vợ ông ta buồn thương nên tự thiêu theo.
Hỏi:
- Vào
tháng, năm nào?
Ðáp:
- Vào
ngày, tháng, năm, thời tiết ấy.
Ô
Ba Ðể Sa kiểm tra lại việc này thì đúng như lời thầy
nói.
Câu
Lý Ða nói với Ô Ba Ðể Sa:
- Giáo
sư của ta đã chứng diệu pháp, nhưng bí pháp của thầy,
thầy không dạy chúng ta. Nếu thầy ta không chứng được
pháp nhãn, thiên nhĩ thì làm sao biết phương ấy có sự việc
như vậy?
Câu
Lý Ða tự nghĩ: "Ô Ba Ðể Sa thông minh trí tuệ, chắc chắn
đắc được diệu pháp nơi thầy nhưng không dạy lại ta".
Nghĩ
thế, Câu Lý Ða nói rằng:
- Chúng
ta nên cùng nhau lập thệ rằng: "Ai chứng đắc thượng diệu
pháp trước, phải độ cho người kia".
Hai
người phát thệ xong, cùng nhau du hành nhân gian.
Bấy
giờ, đức Bồ tát đã hai mươi chín tuổi, muốn ở vương
cung hưởng năm dục lạc, nhưng khi Ngài trông thấy cảnh sanh
- lão - bệnh - tử, tâm sanh yểm ly. Nửa đêm, Ngài vượt
thành, đến chỗ rừng già, tu khổ hạnh sáu năm nhưng không
đạt được kết quả gì cả. Ngài tự điều hòa hơi thở
và dùng thức ăn ngon bằng nhũ lạc, v.v... bôi thân bằng dầu,
tắm rửa bằng nước thơm. Sau đó, Ngài tự đi đến làng
doanh trại, nhận cháo sữa của hai nàng A-mục-nữ là Hoan
Hỷ và Hoan Hỷ Lực.
Bồ
tát dùng xong, bấy giờ có Hắc Sắc Long vương tán thán:
- Lành
thay!
Có
một người tên Thường Trú đưa cho Bồ tát bó cỏ Cát-tường.
Bồ tát đến dưới gốc cây Bồ-đề tự trải cỏ này ngay
ngắn trên tảng đá làm tòa. Ngài ngồi trên tòa cỏ kiết
già ngay ngắn, đoan thân chánh niệm. Ngài phát tâm khẩn thiết
tự thệ: "Nếu ta không trừ hết các lậu thì quyết không
rời khỏi tòa cỏ này".
Ngay
khi Bồ tát chưa chứng ngộ, Ngài hàng phục ba mươi sáu vạn
ức ác ma. Các ác ma ấy đều có trăm ngàn quyến thuộc là
quỷ thần. Khi ấy, Bồ tát dùng áo giáo pháp và gậy từ
bi hàng phục ma quân xong, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng
Bồ-đề.
Khi
ấy, có Phạm thiên đến cầu thỉnh Thế tôn thuyết pháp.
Ngài đến Ba La Nị Tư chuyển pháp luân đến ba lần. Bấy
giờ, trong số những người nghe pháp có hơn năm mươi công
tử, con đại thần, sau khi nghe pháp đều xin xuất gia và thọ
cận viên.
Ðức
Thế tôn đến tụ lạc tên là Bạch Ðiệp Lâm. Có sáu mươi
người kết làm bạn tốt với nhau. Sau khi nghe Phật thuyết
pháp, họ phát sinh tâm chánh tín.
Ðức
Phật đến tụ lạc tên là Quân Trụ. Người trưởng tụ
lạc có hai người con gái: một tên Nan Ðà, hai tên Nan Ðà
Ba La. Họ nghe Phật thuyết pháp đều sinh tâm chánh tín.
Có
một hồ nước tên là Ưu Lâu Tần Loa. Nơi này có một vị
đại tiên tên là Ca Nhiếp cùng với một ngàn đệ tử. Họ
được nghe Phật thuyết pháp đều xin xuất gia và thọ cận
viên.
Ðức
Phật đến Chế Ðể Già Da đỉnh, có Già Da Ca Nhiếp. Ngài
thị hiện ba loại thần biến làm cho Ca Nhiếp được trú
nơi viên tịch.
Sau
đó, Phật đến Trượng Lâm làm cho vua nước Ma Yết Ðà là
đại vương Ảnh Thắng được thấy chân đế, cùng tám vạn
thiên chúng và Bà la môn, cư sĩ nước Ma Yết Ðà.
Ngài
đến thành Vương Xá, trú ở tinh xá Trúc Lâm. Khi Thế tôn
ở vườn Trúc Lâm, bên bờ hồ Yết Lan Ðạc Ca thì Ô Ba Ðể
Sa cùng Câu Lý Ða đang du hành nhân gian.
Khi
họ đến thành Vương Xá, thấy trong thành tịch tịnh nên
tự nghĩ: "Có hai nhân duyên làm cho thành lớn kia được tịch
tịnh: hoặc có kẻ oán tặc làm cho sợ hãi, hoặc có vị
uy đức Bà la môn".
Nghĩ
như thế rồi, họ xem xét tinh tường thì không có kẻ oán
tặc làm cho sợ hãi. Họ bôi trên mặt ba vạch rồi lần lượt
đi theo nhau. Lại có vô số trăm ngàn vạn người theo họ
đi.
Sau
đó, vào lúc khác, họ bôi dấu trên mặt rồi lần lượt
ra đi. Sau họ, không có một người nào đi theo cả. Họ tự
nghĩ: "Trước đây ta đi với nhau có vô lượng trăm ngàn người
tùy tùng. Nay không có một người. Sự việc này tại sao như
vậy?".
Bấy
giờ, chư Phật thường pháp như vậy.
Phật
tự nghĩ: "Những người dị học này, một tên Ðịa sư, một
tên Câu Lý Ða đã gặp chư Phật trong quá khứ, trồng nhiều
thiện căn, tu hành phước nghiệp đã lâu. Cũng như ung nhọt
lúc trời nóng, khi gặp đúng thời tiết thì vỡ ra, được
hết bệnh. Những người này các căn đã thuần thục, nay
đã đúng thời".
Phật
lại quán căn khí của họ, làm sao được độ? Ðộ nhờ
người nào để có được nhân duyên. Ngài quán sát biết
được người này sẽ phát tâm với người đầy đủ luật
nghi. Thế tôn bảo Bí-sô Mã Thắng đến độ họ.
Bấy
giờ, Bí-sô Mã Thắng với nghiêm chỉnh uy nghi, chư thiên và
nhân chúng trông thấy đều phát tâm.
Phật
bảo Mã Thắng:
- Ông
nên nhiếp thọ hai người ấy.
Mã
Thắng vâng lệnh Phật, hoan hỷ im lặng, đảnh lễ chân Phật
rồi ra đi.
Vào
buổi sáng, đến giờ Mã Thắng khất thực, mặc y trì bát,
đi vào thành Vương Xá, uy nghi nghiêm chỉnh, theo thứ tự khất
thực, nhìn như Ngưu vương.
Bấy
giờ, Phạm chí Ô Ba Ðể Sa đi ra bên ngoài, thấy tôn giả
Mã Thắng đầy đủ uy nghi, trong đời thật đặc biệt ít
có. Ðể Sa tán thán:
- Thật
hy hữu!
Ô
Ba Ðể Sa tự nghĩ: "Những vị xuất gia trong thành không thể
so sánh với vị này được. Ta phải hỏi ông ta xuất gia nơi
vị nào? Học tập pháp gì? Giáo sư là ai?".
Nghĩ
thế xong, Ô Ba Ðể Sa đi ra đường, đợi tôn giả đến.
Khi
thấy tôn giả Mã Thắng đến gần, Ô Ba Ðể Sa liền hỏi:
- Ai
là thầy của ngài? Ngài học pháp gì? Ngài xuất gia nơi vị
nào?
Mã
Thắng đáp:
- Ðại
sư của tôi thuộc chủng tộc Thích Ca: Sa môn Kiều Ðáp Ma.
Nay Ngài đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vị ấy
là thầy của tôi. Tôi y cứ nơi vị ấy, cạo bỏ râu tóc
để xuất gia, tu hành phạm hạnh, học tập giáo pháp.
Ô
Ba Ðể Sa thưa rằng:
- Cụ
thọ! Ngưỡng mong ngài thuyết giảng cho tôi, để tôi được
nghe.
Mã
Thắng trả lời:
- Giáo
pháp của Như Lai thậm thâm, vi diệu, khó hiểu khó biết.
Tôi mới xuất gia, không có khả năng giảng giải. Tôi không
thể ghi nhớ hết, chỉ nói tóm tắt ý nghĩa.
Ðể
Sa thưa rằng:
- Ngưỡng
mong ngài thuyết minh ý nghĩa.
Tôn
giả Mã Thắng nói kệ: (Ðại 46 - T. 1027 giữa)
- Như
Lai nói các pháp
Từ
nhân duyên sinh khởi
Do
nhân duyên hoại diệt
Ðại
Sa môn dạy thế.
Sau
khi nghe kệ, Ô Ba Ðể Sa viễn trần, ly cấu, chứng pháp nhãn,
con mắt của pháp. Khi được thấy pháp, tâm không nghi hoặc,
không còn sợ hãi, tự nhiên đứng dậy, cung kính chấp tay,
nói thế này:
- Ðây
chính là thầy của con. Ðây đúng là chánh pháp. Ai trú vào
pháp này, chắc chắn không đọa lạc. Ðây là chỗ không còn
đau khổ, buồn rầu. Con từ vô lượng kiếp cho đến ngày
nay, chưa được nghe pháp thậm thâm trọng yếu như thế này.
Ðể
Sa lại thưa:
- Cụ
thọ! Ðại sư Thế tôn nay đang ở chỗ nào?
Ðáp:
- Ðại
sư của tôi ở tại thành Vương Xá, bên bờ hồ Yết Lan Ðạc
Ca.
Khi
Ô Ba Ðể Sa nghe nói rồi, hoan hỷ vui mừng, cung kính chấp
tay, đi nhiễu ba vòng, cung kính từ giã.
Ðể
Sa đi đến ngay chỗ Câu Lý Ða. Câu Lý Ða thấy Ðể Sa từ
xa đi đến, hỏi:
- Hôm
nay dung mạo của anh rạng rỡ, tươi đẹp khác thường, các
căn thanh tịnh, có phải được pháp cam lồ thượng diệu
không?
Ðể
Sa đáp:
- Ðúng
vậy! Ðúng vậy. Ðúng như lời anh nói.
Sau
đó, Ô Ba Ðể Sa trình bày lại sự việc ở trên và nói kệ:
- Như
Lai nói các pháp
Từ
nhân duyên sinh khởi
Do
nhân duyên hoại diệt
Ðại
Sa môn dạy thế.
Câu
Lý Ða nghe bài pháp xong, liền nói rằng:
- Xin
cụ thọ hãy vì tôi nói lại bài pháp này.
Ô
Ba Ðể Sa nói lại:
- Như
Lai nói các pháp
Từ
nhân duyên sinh khởi
Do
nhân duyên hoại diệt
Ðại
Sa môn dạy thế.
Sau
khi nghe nói bài kệ xong, ngay lúc ấy Câu Lý Ða được ly cấu,
chứng đắc pháp nhãn, chứng mắt pháp. Sau khi thấy pháp rồi,
Câu Lý Ða cung kính chấp tay, hoan hỷ đảnh lễ, thốt lên
lời này:
- Ðây
là chánh pháp. Ai trú pháp này không bị đọa lạc. Từ vô
lượng ức kiếp đến nay ta chưa từng nghe được pháp này.
Câu
Lý Ða hỏi Ô Ba Ðể Sa:
- Nay
Ðại sư Thế tôn đang ở đâu?
Ðáp:
- Ngài
đang ở tại thành Vương Xá, bên bờ hồ Yết Lan Ðạc Ca.
Câu
Lý Ða nghe xong, hỏi Ô Ba Ðể Sa:
- Nay
chúng ta có thể cùng nhau đi đến gặp vị ấy để xuất
gia tu hành phạm hạnh không?
Ðáp:
- Rất
tốt!
Câu
Lý Ða nói:
- Hãy
hỏi các đệ tử có đồng ý không?
Ô
Ba Ðể Sa nói:
- Lành
thay! Lành thay! Anh là bậc danh đức, là tri thức của họ,
nên hỏi các đệ tử.
Bấy
giờ, Câu Lý Ða bảo các đệ tử:
- Nay
tôi cùng Ô Ba Ðể Sa muốn đến gặp Phật Thế tôn xuất
gia học đạo, tu hành phạm hạnh. Các ngươi như thế nào?
Ðệ
tử trả lời:
- Sở
học của chúng con đều do thầy truyền thọ. Nay Ô Ba Ðà
Da theo Phật, chúng con cũng nguyện xuất gia theo Phật.
Thầy
bảo:
- Lành
thay! Nay đã đúng lúc.
Bấy
giờ, Ô Ba Ðể Sa và Câu Lý Ða đều cùng với hai trăm năm
mươi đệ tử của mình ra khỏi thành Vương Xá, muốn đi
đến bờ ao Yết Lan Ðạc Ca của Trúc Lâm.
Khi
ấy, cụ thọ Bí-sô Mã Thắng ở cách Thế tôn không xa, đang
ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây. Ô Ba Ðể Sa từ xa trông thấy,
bảo Câu Lý Ða:
- Chúng
ta nên đến lễ Thế tôn trước, hay đến lễ Ô Ba Ðà Da
trước để nghe giáo pháp?
Câu
Lý Ða nói:
- Nên
đến chỗ nghe pháp trước.
Nói
xong, cả hai cùng đến nơi Bí-sô Mã Thắng tôn giả, lạy
sát chân, ngồi qua một bên.
Khi
ấy, trong chúng của Như Lai có một Bà la môn trước đây
thờ phụng thần mặt trăng. Thế tôn vì Bà la môn này nói
kệ:
- Người
nào liễu ngộ pháp
Không
luận trẻ hay già
Ðều
phải cung kính họ
Như
mặt trăng mới mọc.
Khi
ấy, trong chúng hội có một Bà la môn thờ phụng thần lửa.
Thế tôn vì họ nói kệ:
- Người
nào liễu ngộ pháp
Không
luận trẻ hay già
Cần
phải cung kính họ
Như
lửa tịnh vật uế.
Sau
khi nhóm người Ô Ba Ðể Sa và Câu Lý Ða đảnh lễ sát chân
Mã Thắng tôn giả xong, đi đến Thế tôn.
Khi
ấy, Thế tôn cùng vô lượng trăm ngàn chúng Bí-sô, v.v...
vây chung quanh. Ngài đang vì họ thuyết pháp. Thế tôn thấy
nhóm Câu Lý Ða ở từ xa, bảo các Bí-sô:
- Các
ngươi có thấy rằng hai người này là thượng thủ của nhóm
người vây quanh họ không?
Ðáp:
- Vâng,
chúng con đã thấy.
Thế
tôn lại nói:
- Các
ngươi nên biết rằng: hai người này ngay trong pháp của ta
xuất gia học đạo, là bậc đệ nhất về thần thông và
trí tuệ trong chúng Thanh văn.
Khi
ấy Ô Ba Ðể Sa và Câu Lý Ða đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ
sát chân Phật, ngồi qua một bên, thưa Phật rằng:
- Thế
tôn! Ngưỡng mong Ngài cho phép chúng con ngay trong thiện pháp
này được xuất gia, thọ cận viên, thành tánh Bí-sô, tu trì
phạm hạnh.
Bấy
giờ, Thế tôn bảo hai người rằng:
- Thiện
lai Bí-sô! Tu hành phạm hạnh.
Phật
vừa nói xong, râu tóc hai người này tự rụng, thân mặc ca
sa như đã từng cạo tóc. Chỉ bảy ngày sau, họ đầy đủ
uy nghi như Bí-sô một trăm tuổi hạ.
Có
bài tụng rằng:
"Thế
tôn bảo: - Thiện lai!
Các
căn liền tịch tịnh
Tóc
rụng, mặc pháp y
Uy
nghi như trăm hạ".
Khi
ấy, có nhiều chúng Bí-sô đến lúc khất thực. Họ mặc
y, bưng bát vào thành Vương Xá khất thực theo thứ tự. Ngay
trong thành, là chỗ có nhiều đệ tử của San Thệ Di. Họ
thấy các Bí-sô, liền chê cười, nói kệ:
- Vua
và dân Ma-Yết
San
Thệ Di độ hết
Phật
ở thành Vương Xá
Vậy,
người còn độ ai?
Khi
các Bí-sô nghe lời này, uy đức bị chấn động, không còn
hoan hỷ.
Sau
khi khất thực, họ trở về chỗ ở. Thọ thực xong, xếp
y, rửa chân, đi đến gặp Thế tôn, lạy sát chân Phật, ngồi
qua một bên. Khi ấy các Bí-sô bạch Phật rằng:
- Thế
tôn! Khi chúng con khất thực trong thành Vương Xá, có các đệ
tử của San Thệ Di, bằng mọi cách họ chê bai, v.v... Chúng
con im lặng, không còn uy đức, lòng không hoan hỷ.
Phật
dạy:
- Nếu
họ nói như vậy, các thầy nên đáp rằng:
"Ðức
Thế tôn dạy rằng:
Giáo
hóa phải đúng pháp
Các
ngươi có biết không
Phật
độ người y pháp".
Nếu
các thầy trả lời như vậy, họ không còn uy đức, sẽ im
lặng bỏ đi.
Các
Bí-sô mặc y, mang bát vào thành Vương Xá theo thứ lớp khất
thực. Các đệ tử của San Thệ Di chê bai như trước, nói
kệ:
- Vua
và dân Ma-Yết
San
Thệ Di độ hết
Phật
ở thành Vương Xá
Vậy
ngươi còn độ ai?
Khi
ấy, các Bí-sô nghe lời này, liền nói kệ:
- Ðức
Thế tôn dạy rằng:
Giáo
hóa phải đúng pháp
Các
ngươi có biết không
Phật
độ người y pháp".
Khi
đệ tử của San Thệ Di nghe lời này, mất hết uy đức, im
lặng bỏ đi.
Sau
đó một thời gian, vợ chồng Bà la môn Ma Thát La qua đời.
Bà la môn Ðể Sa và vợ là Xá Lợi cũng qua đời. Câu Tỳ
Sĩ La từ phương Nam trở về, đem Vô hậu thế luận đến
tụ lạc Ma Thích Ðà. Có người giữ cổng hỏi:
- Này
cụ thọ! Ông có phải là Câu Tỳ Sĩ La không?
Ðáp:
- Chính
tôi. Ai cũng biết cả.
Câu
Tỳ hỏi người giữ cổng:
- Bà
la môn Ma Thát La nay ở đâu?
Ðáp:
- Ðã
qua đời.
Hỏi:
- Vợ
ông ta và Ðể Sa nay ở đâu?
Ðáp:
- Nay
đã qua đời.
Hỏi:
- Xá
Lợi Tử nay ở đâu?
Ðáp:
- Tại
thành Vương Xá có một đại sư gần vượt trên thế gian,
tên San Thệ Di. Xá Lợi Tử xuất gia nơi vị ấy.
Câu
Tỳ Sĩ La nói:
- Theo
pháp Bà la môn thì không nên xuất gia. Ðây không phải là
việc tốt.
Nói
thế xong, ông ta đi dần về thành Vương Xá, hỏi mọi người:
- Ðại
sư San Thệ Di nay đang ở đâu?
Ðáp:
- Ðại
sư đã qua đời. Các đệ tử của ông ta đều đến nơi Sa
môn Kiều Ðáp Ma và xuất gia nơi vị ấy. Thật tốt đẹp,
vị ấy được ghi nhận với lời truyền tụng: "Nếu vị
ấy làm vua sẽ là Chuyển luân thánh vương, Xá Lợi Tử sẽ
là đại thần".
Khi
Phạm chí Trường Trảo nghe lời nói này, liền đến gặp
Phật, nói rằng:
- Này
Sa môn Kiều Ðáp Ma! Tất cả pháp của tôi, và theo sở kiến
của tôi, tôi đều không ham muốn. Người thờ lửa làm theo
nhận thức như vậy, làm theo lý luận như vậy. Theo nhận
thức của tôi, đều phải từ bỏ hết. Cũng từ bỏ sự
thay đổi. Nếu từ bỏ các nhận thức này thì không chấp
thủ sự tương tục và không chấp thủ nhận thức khác.
Này
Sa môn Kiều Ðáp Ma! Tôi thấy như vậy và hiểu như vậy.
Theo nhận thức của thế nhân đều trái với việc thờ lửa.
Nói, thấy và hiểu như vậy đều trú ở đạo lộ này.
Này
Sa môn Kiều Ðáp Ma! Người có thấy, có hiểu như vậy không?
Lại
nữa, người thờ lửa lý luận rằng: Nếu Sa môn, Bà la môn
nào xả bỏ được nhận thức này, không chấp thủ nhận
thức khác ; những người lý luận được như vậy là chân
Sa môn, là Bà la môn. Ðây là chỗ vi diệu.
Lại
nữa, người thờ lửa đều nằm trong ba kiến giải. Thế
nào là ba?
- Một:
không ham muốn gì cả.
-
Hai: ham muốn tất cả
-
Ba: Mong muốn từ bỏ dục vọng.
Sau
đó, Câu Tỳ Sĩ La xuất gia.
Phật
bảo các Bí-sô:
- Trong
các đệ tử của Ta, bậc minh giải thông lợi hơn cả là
Bí-sô Câu Tỳ Sĩ La (Câu Hy La).
Bấy
giờ, cụ thọ Xá Lợi Tử đoạn trừ các phiền não, chứng
quả A-la-hán.
Các
Bí-sô có sự nghi ngờ, thưa Thế tôn:
- Xá
Lợi Tử này trước đây đã làm hạnh nghiệp gì mà do hạnh
nghiệp ấy nay được trí tuệ sắc bén, trí tuệ sâu, trí
tuệ không nghi hoặc như vậy?
Phật
dạy:
- Này
các Bí-sô! Các người hãy lắng nghe. Xá Lợi Tử chính do
những việc đã làm, nay được kết quả, không phải do việc
khác. Quả báo chính mình tự thọ lấy., v.v...
Thế
tôn dẫn bản sự:
- Xưa
kia, ở tụ lạc nọ có vị Bà la môn cưới vợ chưa bao lâu
sinh được một con trai. Chỉ ít năm sau lại sinh thêm một
bé gái nữa. Cả hai vừa lớn lên, cha mẹ đều qua đời vì
bị bệnh. Bấy giờ, người thiếu niên kia rất buồn khổ,
thương cảm, đến nỗi nghĩ đến việc đi vào rừng núi.
Cậu ta dẫn em gái vào rừng, cùng nhau hái lượm hoa quả để
sinh sống.
Này
các Bí-sô! Như rắn độc lớn có năm điều xấu. Thế nào
là năm?
- Một:
nhiều sân.
-
Hai: nhiều hận.
-
Ba: làm ác.
-
Bốn: không biết ân nghĩa.
-
Năm: rất độc.
Nên
biết, người nữ cũng có năm điều xấu:
- Một:
nhiều sân.
-
Hai: nhiều hận.
-
Ba: làm ác.
-
Bốn: không biết ân nghĩa.
-
Năm: rất độc.
Thế
nào là người nữ thâm độc? - Những người nữ thường
ôm lòng dục nhiễm mạnh mẽ.
Khi
ấy, người nữ đã trưởng thành, dục tâm cũng phát triển,
cô ta nói với anh rằng:
- Nay
em không thể ăn hoa quả để sống như thế này mãi được.
Chúng ta nên đến sống với mọi người để tìm thức ăn
uống.
Khi
ấy, người anh đưa em ra khỏi rừng núi, đến nhà Bà la môn
để khất thực. Cả hai gọi cửa. Chủ nhân bước ra, thấy
và hỏi:
- Người
ẩn sĩ cũng có vợ hay sao?
Người
anh nói:
- Ðây
không phải là vợ tôi, mà là em gái.
Chủ
nhà hỏi người anh:
- Em
gái của người đã có chỗ nào chưa?
Ðáp:
- Chưa
có.
Chủ
nhân bảo:
- Nếu
vậy, tại sao không gả cho tôi?
Ðáp:
- Em
tôi đã tránh xa ác pháp của thế gian.
Người
nữ này với dục tâm hưng phấn, bảo với anh rằng:
- Không
phải em không thể ăn hoa quả trong rừng để sống, nhưng
em không chịu được sự dày vò của phiền não. Hãy cùng
nhau từ bỏ núi rừng, về sống với mọi người. Nay nên
gả em cho người Bà la môn.
Người
anh nói:
- Ta
thật không thể gả ngươi lấy chồng. Ðó là ác pháp, không
phải hành động của ta. Ngươi có tâm thế tục thì được
tùy ý.
Bấy
giờ, người Bà la môn kia biết tâm ý của cô gái rồi nên
đưa cô về nhà, họp thân tộc lại, cưới cô gái làm vợ,
bảo người anh rằng:
- Nay
anh về nhà tôi sống chung nhưng ở riêng một phòng.
Người
anh nói:
- Tôi
không cầu dục lạc, chỉ ưa muốn xuất gia.
Cô
em thưa:
- Chúng
ta cùng lập lời thệ với nhau rồi, ai theo ý nấy.
Người
anh nói:
- Lời
thệ thế nào?
Cô
em nói:
- Nếu
anh chứng được quả vị thù thắng thì trở lại gặp em.
Người
anh bảo:
- Lành
thay! Ta sẽ làm đúng lời nguyện của em.
Người
anh từ giã, đến chỗ các ẩn sĩ sống đời xuất gia. Do
sức của túc nghiệp thiện căn đời trước nên người anh
ngay nơi ba mươi bảy phẩm trợ Bồ-đề phần pháp, vô sư
tự ngộ, chứng quả Ðộc giác.
Người
anh tự nghĩ: "Trước đây ta cùng em gái đã lập lời thề.
Nay ta nên đến gặp em".
Vị
Ðộc giác này đi đến chỗ em gái, bay lên hư không, thân
hiện thần biến: trên thân phun lửa, dưới thân phun nước,
biến hiện nhiều thần lực kỳ đặc,... rồi hạ xuống đất.
Những
người phàm phu trông thấy thần thông, tâm ý hoảng hốt như
cây đại thọ bị ngã nơi đất. Người em đảnh lễ chân
vị Ðộc giác, thưa rằng:
- Ðại
huynh! Nay anh đã đắc được thắng đức thù diệu phải không?
Ðáp:
- Ðúng
vậy.
Người
em thưa:
- Anh
hãy vì sự nuôi thân, cần phải ăn uống. Em vì cầu phúc,
nguyện cúng dường cho anh. Anh có thể ở đây.
Anh
đáp:
- Em
không thể tự chủ trương được, nên thưa với chồng.
Bà
này thưa với chồng:
- Nay
ngài biết không, anh tôi xuất gia thành tựu cấm giới, đắc
quả thượng diệu, đệ nhất trong thế gian. Tôi muốn cúng
dường nhưng không dám tự chuyên. Nếu được ngài cho phép,
tôi sẽ cung cấp cho anh tôi ăn uống trong ba tháng.
Người
chồng đáp:
- Hiền
thủ, nếu anh ấy không xuất gia, dù tôi không muốn đi nữa,
cũng phải cung cấp trọn đời. Huống chi nay anh ấy đã xuất
gia, đắc đạo thù thắng. Nay tôi theo ý của em, cúng dường
ba tháng.
Trong
ba tháng ấy, họ đem món ngon vật lạ cúng dường cho người
anh. Sau ba tháng, họ đem vải tốt, dao, kim để dâng cho anh.
Người anh nhận xong, dùng dao cắt vải. Dao nhỏ, bén, cắt
rất nhanh. Người em gái thấy thế, ngồi xuống, phát lời
rằng:
- Nguyện
rằng tánh của tôi sắc bén, khéo léo, nhanh nhẹn như dao nhỏ
này. Ðến đời vị lai thành người lợi trí.
Khi
ấy, vị Ðộc giác đem y ra may, khéo dùng kim chỉ cắt may
không trở ngại. Người em gái liền phát nguyện:
- Nguyện
cho thân tôi ngày nay cho đến tương lai được trí tuệ cũng
như kim này, trí tuệ sâu xa, thông đạt vô ngại.
Bấy
giờ, Phật bảo các Bí-sô:
- Các
thầy chớ nghi ngờ gì cả. Người nữ Bà la môn ở thời
quá khứ kia, nào phải người nào lạ, nay chính là Xá Lợi
Phất. Thời quá khứ, Xá Lợi đã cúng dường Phật Ðộc
giác, cung cấp dao nhỏ và vải tốt, v.v... lại phát nguyện
rộng lớn. Do thiện căn này, nay được trí tuệ sắc bén,
thông minh đệ nhất.
Này
các Bí-sô! Phải biết rằng: tạo nghiệp đen, phải chịu
quả báo đen; tạo nghiệp trắng được quả báo trắng.
Bấy
giờ, các Bí-sô lại có nghi ngờ, bạch Phật rằng:
- Cụ
thọ Xá Lợi Phất tạo nghiệp gì trong thời quá khứ, nay
sinh ra ở gia đình trung lưu, không thuộc quý tộc, cũng không
phải hạ tiện, lại thường được xuất gia?
Phật
bảo các Bí-sô:
- Các
người hãy lắng nghe. Thời quá khứ có một quốc vương lấy
vợ không bao lâu, đắm say dục lạc, tham mê săn bắn. Ít
năm sau, sinh được một con trai. Người con này lớn lên, thấy
vua cha trị nước một cách phi pháp, liền tự nghĩ: "Cha ta
mệnh chung, sẽ đọa địa ngục. Ta kế vị ngôi vua rồi cũng
đồng chịu cái khổ ấy. Ta nên đến với thiện pháp luật,
xuất gia tu đạo, tu hành phạm hạnh".
Nghĩ
như thế rồi, hoàng tử đến bên phụ vương, thưa rằng:
- Thưa
đại vương, ngưỡng mong đại vương cho con được xuất gia.
Nhà
vua bảo con rằng:
- Tất
cả việc tế lễ thiên thần để cầu phú quý. Con là thái
tử, là bậc đi bằng voi, vương vị lại gần kề. Nay tại
sao con lại cầu xuất gia?
Nhà
vua dùng nhiều lời trách mắng, không cho xuất gia.
Sau
đó một thời gian, thái tử cỡi voi đi ra khỏi thành du ngoạn,
thấy một người nghèo cầm miếng lá đi xin ăn, thái tử
bảo họ rằng:
- Này
hiền thủ, tôi ở hàng tôn quý nên không được xuất gia.
Người không phải hàng tôn quý, tại sao không xuất gia?
Ðáp:
- Tôi
không có y bát, làm sao xuất gia?
Thái
tử nói:
- Hiền
thủ, tôi sẽ cho ba y và bát,v.v... người nên xuất gia.
Ðáp:
- Rất
tốt!
Bấy
giờ, thái tử cho họ y bát.
Các
vị tiên ngũ thông ở dưới gốc cây, đang an lạc tọa thiền.
Thái
tử cùng vị khất sĩ kia đến nơi vị tiên nhân. Thái tử
xuống voi, đến chỗ tiên nhân, thưa rằng:
- Thánh
giả, ngưỡng mong cho vị này xuất gia.
Vị
tiên nhân ấy cho người kia xuất gia.
Thái
tử bảo rằng:
- Nay
tôi muốn trở về. Nếu người được đắc đạo, chứng
quả, ngưỡng mong báo cho nhau biết.
Người
kia đáp:
- Tôi
làm đúng theo lời ngài.
Sau
khi xuất gia, người kia đến chỗ yên tịnh, tĩnh tọa tu định.
Ngay nơi ba mươi bảy phẩm trợ Bồ-đề phần pháp, không
thầy tự ngộ, chứng quả Ðộc giác.
Sau
khi chứng đạo, vị Ðộc giác tự nghĩ: "Quả vị ta chứng
được, quả là nhờ ở thái tử. Ta nên đến thăm vị ấy
để thị hiện thần biến".
Nghĩ
như vậy rồi, vị Ðộc giác này đến chỗ Thái tử, bay lên
hư không, hiện ra nhiều loại thần biến: trên thân phun nước,
dưới thân phun lửa, v.v...
Bấy
giờ, mọi người thấy thần biến rồi, tâm ý chấn động,
như cây đại thọ bị ngã xuống đất, mọi người đều
kính lễ, bạch rằng:
- Thánh
giả, nay ngài đã chứng quả thù thắng phải không?
Ðáp:
- Tôi
đã chứng đắc.
Thái
tử thấy như vậy, tự nghĩ: "Quả vị của người kia chứng
đắc là nhờ nơi ta. Ta không xuất gia chứng được quả vị
ấy, không phải là do sinh ở gia đình cao quý, vọng tộc hay
sao?".
Nghĩ
như thế rồi, thái tử phát nguyện:
- Nguyện
rằng: Ta sinh ra trong đời kiếp nào, cũng đừng sinh ra trong
gia đình vọng tộc cao quý, và không sinh trong gia đình hạ
tiện. Nên sinh ở gia đình trung lưu để không bị trở ngại,
dễ được xuất gia.
Này
các Bí-sô! Chớ có nghi ngờ vị thái tử trong thời gian quá
khứ đó, nào phải người lạ, nay chính là Xá Lợi Phất.
Do sức thệ nguyện của ông ấy trong thời quá khứ nên nay
được xuất gia, tự tại vô ngại.
Nên
biết rằng: quả báo tự tác tự thọ. Nếu là nghiệp trắng
sẽ được quả trắng. Nếu gây nghiệp đen sẽ chịu quả
đen. Vấn đề thiện ác đã nói rõ ở trước. Này các Bí-sô!
nên học như vậy.
Khi
ấy, các Bồ tát đều sinh tâm nghi ngờ. Chỉ có Phật Thế
tôn mới đoạn trừ được nghi hoặc. Các Bí-sô bạch Thế
tôn:
- Cụ
thọ Xá Lợi Phất, làm phúc nghiệp gì mà thiện căn thành
thục, trí tuệ đệ nhất trong chúng Thanh văn?
Phật
dạy:
- Do
sức phát nguyện trong đời quá khứ.
Các
Bí-sô bạch Phật:
- Bạch
Thế tôn! Xá Lợi Phất phát thệ nguyện gì? Ngưỡng mong Phật
từ bi vì các con giảng rộng.
Phật
bảo các Bí-sô:
- Các
thầy hãy lắng nghe. Thời gian quá khứ, cách đây đã xa. Ngay
trong Hiền kiếp này, khi loài người sống hai vạn tuổi, có
Phật ra đời hiệu là Ca Nhiếp Ba, đầy đủ mười hiệu.
Xá Lợi Phất có một giáo sư được xuất gia nơi Phật Ca
Nhiếp. Phật Ca Nhiếp Ba thọ ký cho thầy của Xá Lợi Phất:
"Người
ở trong chúng Thanh văn thông minh trí tuệ là bậc nhất, phạm
hạnh không có khiếm khuyết, nhưng không đắc quả gì cả".
Khi
vị này lâm chung, phát nguyện rộng lớn:
"Công
đức tôi tu hành phạm hạnh, với thiện căn này, nguyện Phật
Ca Nhiếp Ba thọ ký cho Bà la môn Ôn Ðản Ca trong đời tương
lai, khi loài người thọ một trăm tuổi, có Phật ra đời
hiệu Thích Ca Mâu Ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, đầy đủ
mười hiệu. Tôi được xuất gia trong giáo pháp của Phật
ấy, đoạn trừ các phiền não, được lậu tận, chứng quả
A-la-hán".
Hiện
nay, Xá Lợi Phất đắc quả như lời thầy nguyện. Do nguyện
lực kia, nay Xá Lợi Phất có trí tuệ đệ nhất trong chúng
Thanh văn.
Bấy
giờ, chúng Bí-sô đều có sự nghi ngờ. Chỉ có Phật mới
giải trừ được. Họ bạch Phật:
- Cụ
thọ Ðại Mục Kiền Liên trước đây làm hạnh nghiệp gì
mà thiện căn thành thục, trong chúng Thanh văn có thần thông
đệ nhất?
Phật
bảo các Bí-sô:
- Các
ngươi hãy lắng nghe. Ðại Mục Kiền Liên trong đời quá khứ
đã hành thiện nghiệp tốt đẹp, tích tụ thiện căn v.v...
Phật
bảo các Bí-sô:
- Vào
thời quá khứ, cách thành Ba La Nại không xa, có một vị tiên
nhân, ngay chỗ vị ấy ở, tâm từ bi được rải khắp, thương
mến các loài hữu tình.
Bấy
giờ có một tiều phu nghèo khổ, vác củi đi đến gần chỗ
vị tiên, rất là mệt nhọc. Tiên nhân thấy vậy rất là
thương mến, tự nghĩ: "Người bần cùng này đời trước
không chịu tu hành, trồng căn lành. Tuy được thân người
nhưng phải chịu khổ nhọc như thế này để có cơm áo. Nay
ta nên dộ người này xuất gia để tu phạm hạnh".
Nghĩ
như thế, tiên nhân bảo tiều phu:
"Này
hiền tử! Ngươi chịu nhiều cay đắng, tại sao không xuất
gia?"
Ðáp:
"Thưa
đại tiên, tôi là người nghèo khổ, hái củi để nuôi thân.
Vậy ai thèm để mắt đến để độ tôi xuất gia?"
Tiên
nhân nói:
"Ta
sẽ độ cho ngươi xuất gia. Nếu ngươi được đắc quả,
mong báo cho biết".
Ðáp:
"Thưa
thánh giả! Nếu con đắc quả, chắc chắn báo cho ngài biết".
Khi
ấy, tiên nhân cho tiều phu xuất gia. Khi được xuất gia, vị
này ở nơi nhàn tịnh, tu tập thiền định. Ngay nơi ba mươi
bảy phẩm trợ Bồ-đề phần pháp, vô sư tự ngộ, chứng
quả Ðộc giác.
Sau
khi chứng quả, vị Ðộc giác này tự nghĩ: "Ta được đắc
quả là nhờ ở tiên nhân. Ta nên thực hiện lời hứa, về
thăm vị ấy và báo cho biết".
Nghĩ
thế rồi, Ðộc giác đi đến vị tiên, bay lên hư không, dưới
thân phun nước, trên thân phun lửa, hiện mười tám thần
biến, v.v.... Tiên nhân thấy vậy, tâm ý chuyển biến mau lẹ
như cây đại thọ ngã xuống đất, liền phát biểu rằng:
- Ta
nguyện rằng: với vô lượng công đức đã tu hành được,
trong đời tương lai có được những uy đức như thần thông
đệ nhất mà người đang có.
Này
các Bí-sô! Chớ có nghi ngờ, vị tiên nhân lúc bấy giờ nào
phải người nào lạ, nay chính là Ðại Mục Kiền Liên. Nên
biết rằng: Gây nghiệp trắng có quả báo trắng, v.v... Này
các Bí-sô! Nên học như vậy.
Bấy
giờ các Bí-sô đều có sự nghi ngờ. Chỉ có đức Phật
mới đoạn trừ được, họ bạch Phật rằng:
- Ðại
Mục Kiền Liên làm hạnh nghiệp gì mà thần thông đệ nhất
giữa đại chúng?
Phật
bảo các Bí-sô:
- Các
người hãy lắng nghe. Thời quá khứ, trong Hiền kiếp này,
khi Phật Ca Nhiếp Ba xuất hiện trong thế gian, vì thệ nguyện
nên độ khắp chúng sanh, v.v... (như trước)
Khi
ấy, các Bí-sô sinh tâm nghi ngờ. Chỉ có Phật mới đoạn
trừ được. Họ đến bạch Phật:
- Cụ
thọ Kiều Trần Như đời trước làm thiện nghiệp gì mà
thành tựu thiện căn, giỏi về Tứ như ý giải, hiện nay
lại thông minh lợi căn?
Phật
bảo các Bí-sô:
- Ngay
trong Hiền kiếp này, thời quá khứ có Phật ra đời tên Ca
Nhiếp Ba. Có vị giáo sư tu hành phạm hạnh nhưng không đắc
quả. Khi lâm chung, ông ta phát nguyện,v.v... Ngay khi Phật còn
trụ thế, nếu người nào muốn xuất gia, thọ cận viên đều
đến gặp Thế tôn. Phật dạy: "Thiện lai, Bí-sô!", râu tóc
họ tự rụng, thân mặc ca sa, tự nhiên trì bát, trở thành
người xuất gia, đắc cận viên.
Có
một người, trường hợp đặc biệt ở xa thành phố lớn,
họ đến chỗ ở của Bí-sô cầu xuất gia. Các Bí-sô đưa
người này đến gặp Phật để cầu xuất gia thọ cận viên.
Ði giữa đường, người kia bị qua đời, nên không được
xuất gia.
Bấy
giờ, có một Bí-sô nhân việc này đến bạch Phật, trình
bày lại sự việc trên.
Thế
tôn tự nghĩ: "Mệt nhọc thay cho đệ tử Thanh văn của ta!
Ở quốc độ xa, nếu có người đến cầu xuất gia thọ cận
viên, Ta đồng ý cho Tăng chúng Bí-sô cho họ được xuất
gia thọ cận viên".
Bấy
giờ Phật Thế tôn tập hợp các Bí-sô, dạy rằng:
- Vì
nhân duyên này, từ nay về sau, nếu có người cầu xuất gia,
Ta cho phép Tăng chúng Bí-sô cho họ xuất gia và thọ cận viên.
Phật
cho phép việc này rồi, chúng Bí-sô không biết cho xuất gia
và thọ cận viên như thế nào. Họ đem sự việc này bạch
Phật. Bấy giờ Thế tôn bảo các Bí-sô:
- Giả
như có người đến cầu xuất gia, phải hỏi họ các chướng
nạn. Nếu người không có chướng nạn, sau đó cho họ thọ
ba quy y. Bảo họ chấp tay, quỳ xuống, tự xưng tên, nguyện
trọn đời quy y Phật lưỡng túc tôn, quy y Pháp ly dục tôn,
quy y Tăng chúng trung tôn. Sau đó cho họ thọ năm học xứ,
rồi thọ mười giới, hai trăm năm mươi giới, nói rộng như
những nơi khác.
Sau
khi đã xuất gia, thọ cận viên, đối với A Giá Lị Da và
Ô Ba Ðà Da, họ không có tâm kính sợ, tự tùy ý hành động,
không hỏi hai thầy. Bấy giờ, các Bí-sô đem việc này bạch
Phật.
Thế
tôn bảo các Bí-sô:
- Ta
vì các đệ tử chế ra học xứ này:
Nếu
đệ tử muốn làm việc gì, như: dùng nước rưới đất,
dùng cù-ma-da đắp nền nhà, quét dọn đất, sửa chữa y bát,
ăn thức ăn, v.v... đều phải thưa với thầy.
Có
Bí-sô khách trước đây không quen, đến ở trong phòng, phải
thưa với thầy biết.
Tất
cả các việc đều phải bạch thầy, trừ năm việc. Nếu
không làm vậy, bị tội vượt pháp.
Năm
việc ấy là: xỉa răng, uống nước sạch, đại tiểu tiện,
lễ bái chế để trong phạm vi bốn mươi chín tầm.
Năm
việc này không cần thưa với hai thầy.
Những
việc may vá y, đệ tử nên thưa thầy:
"Thầy
không nên lao nhọc như vậy, con sẽ làm cho thầy".
Nếu
làm như vậy thì tốt, không làm bị tội vượt pháp. Nếu
thầy làm việc phúc đức hay việc do Tăng sai, không làm thay,
không phạm.
Hai
thầy có bệnh cần phải săn sóc, nên thưa với thầy rằng:
"Những
thức ăn uống và thuốc men cần dùng xin làm theo ý thầy".
Không
được nghịch ý thầy. Làm như vậy thì tốt, nếu không làm
như vậy bị tội như trước.
Nếu
hai thầy có phạm tội, đệ tử cùng ở chung nên dùng phương
tiện khéo léo thưa với hai thầy rằng:
"Thầy
đã phạm tội ác tác như vậy, thầy nên phát lộ, v.v..."
Nói rộng như trước.
Hai
thầy có tà kiến, đại chúng tác khu tẫn, v.v... đuổi ra
khỏi trú xứ. Ðệ tử nên ở giữa đại chúng, ân cần xin
cầu tạ để đại chúng hoan hỷ. Lại nên bạch thầy:
"Thầy
chớ tác ác tà kiến"
Nên
phương tiện can gián một cách chính đáng để thầy bỏ ác
kiến. Làm như vậy để thầy cùng đại chúng hòa hợp, an
lạc sống chung. Nếu không làm như vậy, bị tội vượt pháp.,v.v...
Nói rộng như ở trên.
Nếu
hai thầy phạm tội Tăng-già-phạt-thi-sa, đệ tử cần phải
làm cho thầy phát lộ.
Nếu
hai thầy bị Tăng già cho hành pháp biên trú, ý hỷ sự, không
cho ngủ cùng phòng với thiện Bí-sô, v.v...
Nếu
(hai thầy) như pháp sám hối, tội căn bản và nghiệp đều
được trừ diệt thì đồng như thiện Bí-sô, cho đến bị
phục bản (biên trú),v.v... rộng như nói ở trước.
Ðệ
tử làm như vậy thì tốt. Nếu không làm đúng, bị tội vượt
pháp.
Ðệ
tử phải ân cần can gián để thầy sám hối. Ðệ tử có
lỗi, thầy cũng phải ân cần trách mắng để họ hối cải.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
XUẤT
GIA SỰ
- Hết
quyển 2 -