XUẤT
GIA SỰ
(No.
1444)
Quyển
thứ ba
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Ðức
Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, cụ thọ Bí-sô Cận Quân du hành nhân gian. Sau khi an cư
ba tháng mùa mưa xong, Cận Quân độ một đệ tử. Cận Quân
cùng đệ tử này đi đến thành Thất La Phiệt. Cụ thọ Cận
Quân sau khi rửa chân, đến gặp Phật, đảnh lễ sát chân
Phật rồi ngồi qua một bên.
Thường
pháp của chư Phật là: nếu có Bí-sô khách đến, trước
tiên chào:
- Thiện
lai! Từ đâu đến? An cư ba tháng màu mưa ở đâu?
Bí-sô
Cận Quân bạch Phật:
- Bạch
Thế tôn! Con từ nước khác đến và đã an cư ba tháng mùa
mưa ở đó.
Phật
hỏi:
- Vị
thiện nam tử này là đệ tử của ai?
Cận
Quân đáp:
- Ðệ
tử của con.
Phật
hỏi:
- Ông
đã xuất gia bao lâu?
Ðáp:
- Con
xuất gia được hai năm. Người đệ tử này con độ được
một năm.
Bấy
giờ, Phật bảo các Bí-sô:
- Cận
Quân này đã gây ra lỗi lầm đầu tiên. Nay Ta chỉ định
cho các Bí-sô: không được mới xuất gia chỉ được một
vài năm mà đã độ đệ tử và cho thọ cận viên, không cho
đồng trú, phải tự cầu y chỉ. Nếu người xuất gia chưa
đủ mười hạ thì không được độ cầu tịch và truyền
thọ cận viên.
Có
khách Tăng đến, trước đây chưa quen biết, không được
cho y chỉ. Ðủ mười hạ, thông thạo kinh Biệt giải thoát
thì được phép độ cầu tịch và làm y chỉ, v.v... Nếu tự
mình chưa điều phục, lại điều phục người, không có sự
việc này. Những người ngu si kém cõi như vậy, không nên
độ người. Tự mình chưa chứng ngộ, giải thoát, tịch tịch
và đắc Niết-bàn, lại vì người giải nói, không được
như vậy. Tự mình đọa vào bùn nhơ, chưa ra khỏi, lại tính
được độ người, đây thật phi lý.
Bấy
giờ, có Bí-sô già nhưng vô trí, không thông hiểu giới luật,
lại độ một ngoại đạo và truyền thọ cận viên. Sau khi
thọ cận viên, người này thưa Ô Ba Ðà Da rằng:
- Nay
xin thầy hãy giáo thọ cho con.
Bí-sô
già này không biết gì cả nên im lặng không trả lời được.
Do đó, họ sanh tâm bất mãn, hiềm khích.
Các
Bí-sô đem sự việc bạch Phật, Phật dạy:
- Ta
cho phép các Bí-sô đủ mười hạ được thu nhận đệ tử,
truyền cận viên, v.v.. (như trước). Không được làm y chỉ
cho người mà phải thành tựu năm pháp. Thế nào là năm? (Ðại
46, trang 1031 giữa)
Một:
thọ cận viên từ mười hạ trở lên.
Hai:
đệ tử bị bệnh có thể săn sóc được.
Ba:
có nghi ngờ về phạm ác tác phải tùy sự việc mà nêu ra
rõ ràng.
Bốn:
nếu có tà kiến, chỉ dạy làm cho chánh kiến.
Năm:
nếu không thích pháp, cố gắng nhiếp thọ làm cho họ ưa
thích trụ pháp.
Ðó
là năm pháp.
Lại
có năm pháp. Thế nào là năm?
Một:
đầy đủ giới.
Hai:
đa văn.
Ba:
trì kinh .
Bốn:
trì luật
Năm:
trì luận.
Ðây
gọi là năm.
Lại
có năm pháp. Thế nào là năm?
Một:
đủ giới, không thiếu sót.
Hai:
đa văn.
Ba:
hiểu rõ nghĩa lý kinh.
Bốn:
thông suốt Tỳ-nại-da.
Năm:
thông suốt nghĩa lý tạng Ma-thất-lý-ca.
Ðây
gọi là năm pháp.
Lại
có năm pháp. Thế nào là năm?
Một:
đầy đủ giới.
Hai:
đa văn .
Ba:
trì kinh biết ý nghĩa.
Bốn:
thông thạo Tỳ-nại-da.
Năm:
thông thạo tạng Ma-thất-lý-ca
Ðây
là năm pháp.
Lại
có năm pháp. Những gì là năm?
(Như
năm pháp trước, chỉ thêm chữ "rất" . Như: rất đầy đủ
giới)
Lại
có năm pháp: đồng như trước, thêm chữ "thắng" ở đầu
mỗi pháp.
Lại
có năm pháp: đồng như trước, thêm chữ "có khả năng" ở
đầu mỗi pháp.
Lại
có năm pháp. Thế nào là năm?
Một:
giới thành tựu.
Hai:
đa văn thành tựu.
Ba:
thắng giải thoát thành tựu.
Bốn:
chứng trí thắng giải thoát thành tựu.
Năm:
trí huệ thành tựu.
Lại
có năm pháp. Thế nào là năm?
Một:
tín thành tựu.
Hai:
giới thành tựu.
Ba:
đa văn thành tựu.
Bốn:
xả thành tựu.
Năm:
trí thành tựu.
Lại
có năm pháp. Thế nào là năm?
Một:
đủ giới.
Hai:
đa văn.
Ba:
tinh tấn.
Bốn:
niệm.
Năm:
tuệ.
Lại
có năm pháp. Thế nào là năm?
Nói
rộng như trước.
Lại
có năm pháp. Thế nào là năm?
Một:
đủ giới.
Hai:
đa văn.
Ba:
tinh tấn.
Bốn:
định.
Năm:
bát-nhã (trí tuệ)
Ðây
là năm pháp.
Lại
có năm pháp:
(Bốn
pháp như trên).
Năm:
lạc tịch tịnh tọa .
Lại
có năm pháp:
Một:
thành tựu hữu học giới uẩn.
Hai:
thành tựu hữu học định uẩn.
Ba:
thành tựu hữu học tuệ uẩn.
Bốn:
thành tựu hữu học giải thoát uẩn.
Năm:
thành tựu hữu học giải thoát tri kiến uẩn.
Lại
có năm pháp: Vô học thành tựu, đồng như hữu học.
Lại
có năm pháp:
Một:
biết có lỗi.
Hai:
biết nêu ra.
Ba:
biết nêu ra bằng ý.
Bốn:
biết pháp xả thí.
Năm:
biết giải xả thí.
Lại
có năm pháp:
Một:
biết có lưu nạn.
Hai:
biết không có lưu nạn.
Ba:
tùy lúc dạy bảo.
Bốn:
cho đệ tử y chỉ.
Năm:
nhiếp thọ.
Lại
có năm pháp:
Một:
biết có phạm.
Hai:
biết không phạm.
Ba:
biết (tội) khinh.
Bốn:
biết (tội) trọng.
Năm:
biết rõ Ba-la-đề-mộc-xoa, hiểu rõ giảng giải rộng.
Người
thành tựu năm pháp, đủ mười tuổi hạ, được phép cho
người khác xuất gia thọ cận viên, cho y chỉ và giáo thọ.
Như tự mình không thành tựu năm pháp như trên, phải y chỉ
người khác.
Bấy
giờ, cụ thọ Ô Ba Ly bạch Phật:
- Thế
tôn! Như Phật đã dạy, đã thành tựu năm pháp, đủ mười
tuổi hạ, được độ đệ tử, không cần phải y chỉ người
khác. Nếu Bí-sô cận viên đã trải qua sáu mươi tuổi hạ,
nhưng không thông hiểu Biệt giải thoát (giới kinh), không
thành tựu năm pháp, vẫn phải y chỉ người khác để sống
không?
Phật
dạy:
- Cần
phải y chỉ người khác để sống.
Hỏi:
- Phải
y chỉ thế nào?
Phật
dạy:
- Phải
y chỉ người già.
Hỏi:
- Nếu
không có người già, phải làm thế nào?
Phật
dạy:
- Phải
y chỉ người trẻ. Trừ việc lễ bái, ngoài ra các việc khác
đều phải tuân thủ.
Phật
ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.
Có một Bí-sô ngu si vô trí, không thông hiểu thiện ác, độ
một ngoại đạo, cho thọ cận viên. Ngoại đạo này thường
tranh cãi với các Bí-sô. Sau đó, ông ta tự hoàn tục, hủy
báng lại giáo pháp, gây ra cơ hiềm. Các Bí-sô đem sự việc
này bạch Phật, Phật dạy:
- Tại
sao có việc này? Kẻ ngu si không trí tuệ bỏ thiện pháp luật,
đi vào tà kiến, thí như có người bị lửa đói hành hạ,
bỏ thức ăn uống ngon, lại ăn vật nhơ bẩn. Người này
giống như kẻ kia, do họ ngu si bỏ thiện pháp luật, ưa thích
tà kiến của ngoại đạo. Thế nên các Bí-sô không được
độ ngoại đạo. Thế nên các Bí-sô không được độ ngoại
đạo làm đệ tử một cách vội vàng hấp tấp. Chỉ độ
Thích tử. Nếu có Thích tử mặc áo ngoại đạo, đến cầu
xuất gia và xin thọ cận viên, nên độ họ để thành Bí-sô
tánh. Trừ Thích chủng này ra, các ngaọi đạo khác đều phải
trải qua bốn tháng cộng trú.
Phật
đã cho phép độ ngoài đạo, bốn tháng cộng trú, thừa sự
cúng dường, không bỏ y phục cũ. Bấy giờ các Bí-sô không
biết pháp cộng trú và pháp tiếp độ, đem sự việc này
bạch Phật, Phật dạy:
- Nếu
có ngoại đạo đến cầu xuất gia, trước hết phải hỏi
họ các chướng nạn về thân. Nếu họ không có các chướng
nạn, cho họ thọ ba quy y và năm học xứ, đưa họ đến giữa
Tăng, ngay trước Tăng, họ ngồi xổm, chắp tay, dạy họ thưa
như thế này:
"Ðại
đức Tăng lắng nghe, con là ngoại đạo tên ... Nay cầu xin
xuất gia, ngay trong bốn tháng dùng y phục của con, thường
cúng dường Tăng già. Ngưỡng mong đại chúng cho con xuất
gia".
Bố
trí họ ở nơi mắt thấy, tai không nghe. Nên sai một Bí-sô
tác Yết-ma, tiến hành như sau:
"Ðại
đức Tăng già lắng nghe. Ngoại đạo tên ... cầu xin xuất
gia, trong bốn tháng dùng y phục cũ của họ, cúng dường Ô
Ba Ðà Da và Tăng già. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng đồng ý. Nếu vị nào không đồng ý thì nói ra"
.
Nói
như vậy ba lần.
"Tăng
đã đồng ý vì im lặng. Tôi xin ghi nhận như vậy".
Trong
bốn tháng, họ phải làm việc như cầu tịch, mặc y của
thân giáo sư, ăn thức ăn của Tăng. Trong bốn tháng, nếu
họ thay đổi nhận thức cũ thì cho họ xuất gia. Nếu tâm
họ vẫn ưa thích ngoại đạo, nên trả họ về.
Bấy
giờ, cụ thọ Ô Ba Ly bạch Phật:
- Thế
tôn! Như Phật dạy thay đổi nhận thức cũ. Thế nào là biết
được họ sửa đổi nhận thức cũ?
Phật
dạy:
- Ngay
trước mặt họ, nên tám thán Tam-bảo, nói về công đức
của Phật, bằng mọi cách chê bai ngoại đạo. Nếu họ nghe
tán thán Phật, Pháp, Tăng, nghe chê bai đoàn thể cũ, tâm hoan
hỷ thì cho họ xuất gia. Nếu nghe tán thán Tam bảo, lòng họ
không vui, nghe chê ngoại đạo tâm sanh buồn bã, thì không
được độ mà trả họ về. Nếu họ nghe chê bai về ngoại
đạo, tâm không sân hận, mà lại hoan hỷ. Ðây là sửa đổi
nhận thức cũ.
Phật
dạy:
- Nếu
có ngoại đạo thờ lửa, đến cầu xuất gia, nên độ họ
và cho thọ cận viên. Tại sao?
- Người
thờ lửa tin ba loại nghiệp.
Thế
nào là ba?
- Ðấy
là hữu nghiệp, sở tác nghiệp và tác nhân nghiệp. Thế nên
được độ.
Này
các Bí-sô! Nên học như vậy. Ðây là hữu nghiệp, hữu sở
tác nghiệp, sở tác nhân nghiệp. Các ngươi nên học như vậy.
Phật
ở thành Vương Xá, bên bờ hồ Yết Lan Ðạc Ca, vườn Trúc
Lâm, sau khi an cư ba tháng mùa mưa.
Bấy
giờ, ở thành Vương Xá, số Bí-sô kỳ túc thì ít, số trẻ
tuổi đông, muốn đi đến Nam Sơn, du hóa nhân gian. Thế tôn
bảo A-Nan-Ðà rằng:
- Ông
nên bảo với các Bí-sô: vị nào muốn đi theo Thế tôn, phải
sửa sang lại Chi-phạt-la (ba y).
A Nan
Ðà thừa lệnh Phật xong, đi khắp nơi bảo các Bí-sô:
- Thế
tôn muốn du hóa trong nhân gian. Vị nào muốn đi theo Thế tôn,
phải sửa sang Chi-phạt-la.
Khi
ấy, các Bí-sô kỳ túc nói với cụ thọ A Nan Ðà:
- Tôi
không thể đi du hóa với Thế tôn.
A Nan
Ðà hỏi:
- Tại
sao vậy?
Ðáp:
- Chúng
tôi già yếu.
Khi
ấy, các Bí-sô trẻ tuổi nói:
- Chúng
tôi không đi.
Hỏi:
- Tại
sao?
Ðáp:
- Thầy
của tôi đã không đi, vậy tôi phải ở lại để chăm sóc
Ô Ba Ðà Da.
Bấy
giờ, Thế tôn cùng một số ít đệ tử đem theo đầy đủ
y bát, du hành nhân gian.
Trên
đường đi, Ngài nhìn qua hai bên như voi chúa lớn, sợ các
Bí-sô chấp trì y bát không đúng như pháp. Thế tôn thấy
số Bí-sô đi theo không đông, tuy biết nhưng Thế tôn cố
ý hỏi A Nan Ðà:
- Tại
sao chúng Bí-sô đi theo ít vậy?
Cụ
thọ A nan Ðà đem sự việc như trên bạch lại Thế tôn, Phật
bảo các Bí-sô:
- Nay
ta cho phép các Bí-sô trên năm tuổi hạ, thành tựu năm pháp
được tùy chỗ thọ học, du hành nhân gian, không phải ở
chỗ thầy y chỉ. Thế nào là năm pháp?
Một:
biết có phạm.
Hai:
biết không phạm.
Ba:
biết tội trọng.
Bốn:
biết tội khinh.
Năm:
giữ Ba-la-đề-mộc-xoa một cách thi?n xảo, có thể giảng
giải rộng.
Ðây
là năm pháp du hành nhân gian, tùy chỗ thọ học, được đi
lại, chớ nghi ngờ.
Cụ
thọ Ô Ba Ly hỏi Phật:
- Bạch
Thế tôn! Nếu hơn sáu tuổi hạ, thành tựu năm pháp, được
du hành nhân gian để thọ học không?
Phật
dạy:
- Ðược.
Lại
bạch Thế tôn:
- Ðủ
ba tuổi hạ, thành tựu năm pháp, được du hành không?
Phật
dạy:
- Không
được.
Phật
dạy:
- Nay
ta chế định: năm tuổi hạ trở lên, thành tựu năm pháp,
được đi lại tùy ý. Nếu chưa đủ năm tuổi hạ, có thông
suốt tam tạng cũng không được du hành thọ học.
Phật
ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.
Khi
ấy, cụ thọ Ðại Mục Kiền Liên cho chúng xuất gia mười
bảy người được thọ cận viên. Họ đều nhỏ tuổi, Ô
Ba Ly đứng đầu. Nửa đêm, họ đói bụng, cùng nhau khóc
lóc.
Khi
ấy, Phật Thế tôn biết nhưng cố hỏi A Nan Ðà:
- Tại
sao có tiếng trẻ nhỏ khóc vậy?
A Nan
Ðà đem sự việc bạch Phật, Phật bảo các Bí-sô:
- Nay
ta chế định: nếu ai chưa đủ hai mươi tuổi, không được
cho họ thọ cận viên, hành Bí-sô tánh. Tại sao? Chưa đủ
hai mươi tuổi không thể chịu đựng đói, lạnh, nóng, khát,
thiếu thốn, muỗi trùng cắn đốt và bệnh, v.v... Lại nữa,
khi bị thầy quở trách không thể chịu đựng và chịu sự
khổ não. Vì tuổi nhỏ, không thể chịu đựng các việc khổ
như trên.
Phật
dạy A Nan Ðà:
- Ðủ
hai mươi tuổi thì có chí khí mạnh, chịu được sự trách
mắng, khổ cực, v.v... như trên. Nếu chưa đủ tuổi, cho thọ
cận viên tất có các lỗi như trên. Thế nên các Bí-sô nếu
người chưa đủ hai mươi tuổi, không được truyền thọ
cận viên cho họ. Nếu có cầu tịch đến cầu thọ cận viên,
Bí-sô phải hỏi: "Ðủ hai mươi tuổi chưa?" . Nếu không hỏi,
bị tội vượt pháp.
Phật
ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.
Trong thành có một trưởng giả, lấy vợ chưa bao lâu sinh
được một con trai. Khi đứa bé này vừa lớn lên thì gia
nghiệp của trưởng giả ngày càng tán tận.
Trưởng
giả tự nghĩ: "Ta nghèo khổ, nên cầu xuất gia" .
Trưởng
giả bảo con:
- Ta
già yếu, không thể cùng con chấn hưng gia nghiệp. Ta muốn
đến với thiện pháp luật, xuất gia trong đó. Ý con thế
nào?
Người
con thưa cha rằng:
- Nếu
cha xuất gia, con xũng theo cha xuất gia.
Cha
nói:
- Rất
tốt!
Khi
ấy, hai cha con cùng đưa nhau đi đến rừng Thệ Ða, đến
gặp các Bí-sô, thưa rằng:
- Thánh
giả, ngưỡng mong quý ngài cho chúng con được xuất gia.
Bí-sô
trả lời:
- Tốt!
Lại
hỏi:
- Hiền
thủ, bé trai này là thân thuộc gì của ông?
Ðáp:
- Ðây
là con tôi, cũng muốn xuất gia.
Khi
ấy, Bí-sô kia cho cả hai xuất gia, dạy bốn uy nghi và cho
ăn uống. Sau một vài ngày, bảo rằng:
- Ngươi
hãy đi đi! Nai không nuôi nai. Thành Thất La Phiệt là cảnh
giới của ta, rất rộng lớn, nhân dân rất đông, kính tín
Tam bảo. Người nên đến đó cầu y thực để tự nuôi thân.
Sau
khi nghe nói, họ nghiêm trì y bát cùng nhau đi vào thành Thất
La Phiệt, thứ lớp khất thực. Ngay tại ngã tư đường, họ
thấy một phụ nữ đang chiên bánh. Bấy giờ, cầu tịch nhỏ
này đến xin bánh.
Người
đàn bà nói:
- Hãy
đưa tài vật cho tôi (để đổi) .
Cầu
tịch đáp:
- Tôi
là Sa môn, không cất chứa tài vật.
Vì
không có vật để đổi nên không xin bánh được. Cầu tịch
nhỏ này lớn tiếng khóc lóc, nằm lăn ra đất. Mọi người
thấy vậy, sinh tâm chê bai:
- Tại
sao Bí-sô lại độ đứa bé này (xuất gia)?
Khi
ấy, các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật:
Phật
dạy:
- Lỗi
này do độ kẻ nhỏ tuổi kia xuất gia. Từ nay trở đi, người
chưa đủ mười lăm tuổi không cho xuất gia. Nếu có đồng
tử đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi: "Ðủ mười lăm
tuổi không?" . Nếu không hỏi bị tội vượt pháp.
Phật
ởû thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.
Cụ thọ Ô Ba Nan Ðà có hai cầu tịch. Họ cùng nhau chơi đùa
như phụ nữ chơi đùa với chồng, như đàn ông chơi đùa
với vợ. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật, Phật dạy:
- Lỗi
lầm này có xảy ra là do độ hai cầu tịch một lúc. Nếu
ai độ hai cầu tịch một lúc thì bị tội vượt pháp.
Sau
khi Phật chế định, có hai anh em tuổi gần bằng nhau đến
cầu xuất gia. Bấy giờ, các Bí-sô không dám thu nhận họ,
lại không biết phải làm thế nào, đem sự việc bạch Phật,
Phật dạy:
- Nếu
anh em cùng cầu xuất gia một lần, được phép độ họ, không
phạm. Hai cầu tịch kia đều chưa đủ tuổi, nên giữ lại
một người để dạy dỗ sự nghiệp. Ðưa người kia đến
với vị thân tri thức, hoặc nơi vị đại đức. Nếu họ
đủ tuổi hai mươi mà không cho họ thọ cận viên, bị tội
vượt pháp.
Phật
ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.
Ngay trong thành này có một cư sĩ, trong nhà có một nô lệ
siêng năng phục vụ không lười biếng, làm bất cứ công
việc gì cũng đều hoàn tất.
Sau
một thời gian, chủ nhà nổi lên sân hận. Người nô lệ
này tự nghĩ: "Người chủ này thật khó phục vụ. Ta nên
tìm đường trốn đi". Nô lệ lại tự nghĩ: "Xứ sở này
khó bỏ ra đi được, chư Thanh văn Thích tử được ân sũng
của vua, không bị tổn hại, ta nên đến xuất gia với các
vị ấy" .
Người
nô lệ ấy đi đến rừng Thệ Ða, gặp các Bí-sô, thưa rằng:
- Thánh
giả, con muốn xuất gia.
Các
Bí-sô cho người này xuất gia và thọ cận viên, chỉ dạy
giáo pháp. Vị này y theo giáo pháp tu hành, diệt trừ phiền
não, chứng quả A-la-hán.
Bấy
giờ, trưởng giả sinh tâm hối hận, tự nghĩ: "Nô lệ của
ta đã làm việc tích cực, siêng năng không biếng nhác. Ta
không nên tức giận đến nổi nó bỏ đi như vậy. Nếu ta
gặp lại nó, sẽ xin lỗi".
Trưởng
giả nghĩ vậy nên đứng bên cửa thành Thất La Phiệt. Khi
Bí-sô kia vào giờ khất thực, mang y bưng bát vào thành để
khất thực. Trưởng giả thấy vậy, hỏi:
- Hiền
thủ, người được xuất gia phải không?
Ðáp:
- Vâng.
Hỏi:
- Hiện
nay không có người phục vụ tôi, hãy cùng tôi trở về nhà.
Bấy
giờ, Bí-sô bay lên hư không, hiện ra các thần biến. Cư sĩ
này thấy thế, sinh tâm hối hận, chuyển sang tín tâm một
cách mau lẹ, cũng như cây đại thọ bị ngã xuống, đảnh
lễ sát chân vị La-hán, bạch rằng:
- Thánh
giả! Ngài đã chứng đắc công năng như vậy. Con nguyện từ
nay trở đi, xin ngài nhận y phục, ngọa cụ, thức ăn uống,
thuốc men của con.
Sau
đó, tiếng đồn khắp nơi, vị nô lệ tên .... xuất gia chứng
A-la-hán, có công đức thắng diệu như vậy.
Bấy
giờ, vua Thắng Quang nghe lời đồn thế này: "Trưởng giả
tên ..., có nô lệ xuất gia, chứng ngộ thù thắng, đắc bốn
quả Thánh" . Vua ra lệnh cho quần thần:
- Các
ngươi phải biết rằng: ta là vua Quán đảnh Sát-đế-lợi.
Từ nay trở đi, tất cả những nhà quan quyền trưởng giả
có nô lệ cầu xuất tục, phải cho họ xuất gia, không được
gây trở ngại.
Thành
Thất La Phiệt có một trưởng giả nuôi một người ở siêng
năng công việc không lười biếng, v.v... (như ở trước).
Người ở này xuất gia, được thọ cận viên. Các Bí-sô
dạy các pháp thức và bảo rằng:
- Hiền
thủ, nai không nuôi nai. Thành Thất La Phiệt rất rộng lớn,
cha mẹ ở nơi đó. Ông nên đến đó khất thực để sống.
Bấy
giờ, trưởng giả sanh tâm hối hận, tự nghĩ: "Người ở
kia siêng năng làm việc, thường không lười biếng. Nếu ta
gặp nó, sẽ xin lỗi" .
Một
hôm, trưởng giả đứng bên cửa thành Thất La Phiệt. Bấy
giờ đến giờ khất thực, Bí-sô kia mặc y bưng bát vào thành
khất thực. Trưởng giả thấy vậy, bảo rằng:
- Hiền
thủ, người đã xuất gia, vậy ai sẽ phục vụ ta? Hãy cùng
ta về nhà.
Trưởng
giả nói xong, liền nắm tay Bí-sô, Bí-sô nói:
- Nếu
ngài xúc chạm tôi, ngài sẽ bị cắt cổ tay. Vua Thắng Quang
đã có sắc lệnh, ban ân huệ cho các Bí-sô được như thái
tử.
Khi
ấy, trưởng giả chê bai, than thở với các Bí-sô rằng:
- Sa
môn Thích tử phá hoại thành phố và phá hoại Phạm chí.
Tại sao lại cho người ở xuất gia?
Các
Bí-sô nghe sự việc này, họ bạch Phật. Khi ấy, Thế tôn
dạy:
- Ðã
có lỗi này. Này các Bí-sô, từ nay về sau không được tùy
tiện cho người ở xuất gia. Nếu họ đến cầu xin xuất
gia, phải hỏi: "Ngươi có phải là người ở không?" . Nếu
cho họ xuất gia, bị tội vượt pháp.
Khi
ấy, Phật ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp
Cô Ðộc. Trong thành có một trưởng giả thường cho vay tiền,
hoặc khi thu lãi, hoặc khi thu vốn lẫn lãi.
Sau
đó có người quá nghèo, nợ cả vốn lẫn lãi. Trưởng giả
bắt giữ lại lâu không thả, buộc họ phải lập cam kết,
hẹn ngày trả mới thả cho về. Người kia tự nghĩ: "Trưởng
giả này độc ác quá! Ta lại không thể trả hết vốn lẫn
lãi. Ta nên bỏ trốn" .
Người
này lại nghĩ: "Khó bỏ xứ sở đi được. Sa môn Thích tử
đối với nhà vua được xem trọng như thái tử. Ta nên xuất
gia với họ được không?" .
Người
kia đến rừng Thệ Ða, gặp các Bí-sô, thưa rằng:
- Thánh
giả, con cầu xuất gia.
Các
Bí-sô cho người này xuất gia, thọ cận viên và dạy các
pháp thức. Sau khi được thọ cận viên, Bí-sô này dũng mãnh
tinh tấn không gián đoạn, không bao lâu chứng quả A-la-hán.
Bấy
giờ, trưởng giả kia sanh tâm hối hận, tự nghĩ: "Số tiền
nó nợ ta trong lâu nay thường trả lại gốc và lãi. Tại
sao lâu nay ta lại xem thường nó? Nếu bây giờ ta gặp nó,
ta sẽ xin lỗi" .
Khi
ấy, trưởng giả đứng ở cửa thành chờ đợi. Vào sáng
sớm, Bí-sô kia mặc y bưng bát vào thành khất thực, trưởng
giả trông thấy, hỏi:
- Hiền
thủ, người đã xuất gia, nhưng tôi thường nhận được
số tiền nợ cả lãi. Nay người nên trở về nhà.
Trưởng
giả liền nắm tay Bí-sô dẫn đi. Khi ấy, Bí-sô liền bay
lên hư không, hiện ra mười tám pháp thần thông (nói rộng
như trước). Bấy giờ, trưởng giả phát sinh tín tâm một
cách mau lẹ, tâm hồi ý chuyển cũng như đại thọ bị ngã
xuống đất, bạch rằng:
- Thánh
giả, ngài đắc được công đức thù thắng như vậy, chứng
quả thượng diệu. Từ nay trở đi, con sẽ cúng dường những
tư cụ, y thực cần dùng cho thánh giả. Ngưỡng mong ngài thu
nạp.
Bấy
giờ, bốn phương đều nghe đồn về người mắc nợ của
trưởng giả đắc được quả Thánh như vậy. Vua Thắng Quân
nghe việc này, ra lệnh cho đại thần:
- Từ
nay trở đi, có những người mắc nợ chưa có thể trả được,
lại muốn xuất gia theo Phật, nếu có sự viêc như vậy, không
nên vì vậy mà gây trở ngại cho họ.
Thành
Thất La Phiệt có một trưởng giả thường cho người khác
vay mượn. Khi ấy có một người mượn vật để sinh lãi,
v.v..., cho đến xuất gia, v.v... (như ở trước) .
Vào
một lúc nọ, Bí-sô này bưng bát đi khất thực, trưởng giả
gặp phải, bảo rằng:
- Này
Bí-sô! Người đã xuất gia tuy đã lâu nhưng vẫn phải trả
lãi cũ cho tôi. Nay người nên cùng tôi trở về nhà.
Trưởng
giả muốn cầm tay Bí-sô, Bí-sô nói rằng:
- Người
chớ đụng vào tôi. Nếu đụng vào tôi, người sẽ bị chặt
tay.
Hỏi:
- Tại
sao?
Bí-sô
nói:
- Người
không nghe sắc lệnh của vua hay sao? Nếu ai muốn xuất gia
thì được hủy bỏ tất cả nợ nần .
Mọi
người cùng nhau chê bai, nói rằng:
- Thích
tử xuất gia có nhiều ngạo mạn. Người đang bị mắc nợ,
lại độ cho xuất gia.
Các
Bí-sô đem sự việc này bạch Phật, Phật tự nghĩ: "Lãi này
do độ người mắc nợ" .
Ngài
bảo các Bí-sô:
- Từ
nay trở đi, đối với người mắc nợ, các Bí-sô không được
tùy tiện độ cho họ. Nếu ai độ họ, bị tội vượt pháp.
Phật
ở thành Thất La Phiệt, vườn Cấp Cô Ðộc. Có trưởng giả
cưới vợ chưa bao lâu sinh được một con trai, nuôi dưỡng
đến khôn lớn. Người con này vì bị cha giận trách nên tự
ý trốn đi. Sau anh ta tự nghĩ: "Thật khó từ bỏ quê hương
này, nhưng các Thích tử cũng như vương tử được miễn các
việc của mọi người. Nay ta nên xuất gia với họ" .
Người
này đến vườn Cấp Cô Ðộc gặp các Bí-sô, thưa rằng:
- Thánh
giả, tôi mong được xuất gia.
Khi
ấy, các Bí-sô cho nó xuất gia và truyền thọ cận viên.
Sau
đó một thời gian, người cha tìm con, đến chỗ các Bí-sô
thưa rằng:
- Thánh
giả, ngài có thấy đồng tử như vậy đến đây không?
Ðáp:
- Nay
đã độ cho người ấy rồi.
Trưởng
giả nói:
- Có
phải các Bí-sô này thường cầm sẳn dao phải không? Nên
có người đến là cạo tóc liền. Tại sao không chờ đến
chừng bảy tám hôm mà cạo tóc gấp vậy?
Các
Bí-sô đem sự việc bạch Phật, Phật dạy:
- Không
được độ họ ngay. Nếu có đồng tử ở gần đến cầu
xuất gia, nên lưu lại bảy tám ngày, sau đó mới độ cho
xuất gia. Nếu có người từ phương xa đến, muốn cầu xuất
gia, nếu không lưu lại bảy tám ngày độ họ, không phạm.
Phật
ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.
Có trưởng giả lấy vợ chưa bao lâu sinh được một bé trai.
Một hôm, trưởng giả bảo vợ rằng:
- Này
hiền thủ, con ta lớn lên sự tốn kém sẽ nhiều ra. Ta muốn
đi ra buôn bán ở nước ngoài. Những công việc ta làm là
để đời con ta được thay đổi tốt hơn.
Sau
khi bàn bạc, trưởng giả ra đi, nhưng không thấy trở về.
Người vợ nuôi con đến khôn lớn, về mặt học vấn, bà
cho con học ngoại điển. Trong khi những người đồng học
đối với sách vở luận điển họ đều thông suốt, nhưng
người con này lại không thu thập được gì cả.
Vào
một lúc nọ, người mẹ đến trường học, nói với giáo
sư rằng:
- Cùng
học với nhau, tại sao những người khác học hành giỏi,
còn con tôi không hiểu gì cả?
Giáo
sư trả lời:
- Về
mặt học vấn, có hai trường hợp đưa đến thành tựu sự
nghiệp học hành. Thế nào là hai? - Một là biết hổ thẹn.
Hai là biết sợ hãi. Nhưng đứa trẻ này không có hai đức
tính này.
Người
mẹ thưa:
- Tại
sao thầy giáo không cho nó roi.
Sau
đó, khi bị thầy giáo đánh, la mắng, người này khóc lóc
trở về gặp mẹ kể lại sự việc. Người mẹ lại đánh
thêm. Người con tự nghĩ: "Ta phải gặp việc khổ rồi! Trước
đây chỉ bị một nơi đánh, nay phải chịu hai nơi. Ta không
thể chịu đựng đau khổ này, ta nên trốn đi" .
Cậu
ta đi vào rừng Thệ Ða, thấy một cầu tịch đang hái hoa,
liền khen rằng:
- Thầy
thật sung sướng.
Hỏi:
- Tại
sao?
Ðáp:
- Vì
thầy được xuất gia.
Hỏi:
- Nay
tại sao người không xuất gia?
Ðáp:
- Thánh
giả! Ai có thể độ cho tôi được xuất gia?
Cầu
tịch nói:
- Người
hãy đến đây, đi cùng tôi đến gặp thầy tôi.
Sau
khi gặp thầy, cầu tịch thưa:
- Ô
Ba Ðà Da, thiện nam tử này muốn xuất gia.
Bấy
giờ, vị thầy liền cho xuất gia. Sau đó, người mẹ đến
trường hỏi thầy giáo:
- Con
tôi ở đâu?
Thầy
dạy đáp:
- Tôi
đánh, nó bỏ về rồi.
Người
mẹ nói:
- Tôi
thấy nó về, lại đánh thêm. Nó bỏ tôi trốn đi rồi.
Bấy
giờ, người mẹ hiền này đi khắp nơi tìm con, không gặp.
Bà đến đứng ở cửa thành Vương Xá nhìn khắp nơi. Không
bao lâu, bà thấy một đồng tử tóc đã cạo, đang cùng cầu
tịch kia bưng bát đang đi đến. Người mẹ thấy rõ, đấm
ngực khóc lóc, kêu gào bảo rằng:
- Này
con ngu si! Ta đã tìm khắp nơi khắp chốn nhưng không gặp,
lại không có tin tức gì cả. Nay tại sao con lại xuất gia
trong nhóm Sa môn bần tiện này?
Người
mẹ nắm tay con kéo lôi về, cởi bỏ cả y bát, bắt buộc
phải hoàn tục.
Khi
ấy, các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật, Phật tự nghĩ:
"Không xin phép cha mẹ, lại cho xuất gia, sinh ra nhiều lỗi".
Phật
dạy các Bí-sô:
- Nay
Ta chế định: có người muốn xuất gia, không xin phép cha
mẹ, vội cho xuất gia, bị tội vượt pháp.
Phật
ở tại thành Vương Xá, vườn Trúc Lâm, hồ Yết Lan Ðạc
Ca. Ngay trong thành, có một Bà la môn lấy vợ chưa bao lâu
sinh được một con trai. Tuổi mới lớn, thình lình bạo bệnh,
hỏi khắp thầy thuốc trị liệu, nhưng không hết bệnh. Người
mẹ bảo con rằng:
- Con
nên đến gặp trưởng giả Thị Phược Ca cầu xin trị liệu
bệnh của mình.
Anh
ta đến nơi thưa:
- Trưởng
giả, xin ngài trị bệnh cho tôi.
Trưởng
giả bảo:
- Bệnh
người rất nặng, rất khó điều trị. Nhưng ta nay làm y thuật
chỉ để trị bệnh cho hai hạng người:
Một:
Phật và Tăng.
Hai:
người ở trong cung vua.
Bệnh
của người, ta không rảnh để trị. Nay người hãy về đi.
Người
con trở về, mẹ hỏi:
- Con
hết bệnh chưa?
Ðáp:
- Bệnh
con không ai trị được.
Người
con trình bày như trên. Mẹ bảo con rằng:
- Con
nên xuất gia.
Con
trả lời mẹ:
- Con
là chủng tộc Bà la môn, tại sao con lại xuất gia với những
Sa môn Thích tử tạp chủng?
Mẹ
bảo con:
- Con
nên xuất gia. Sau khi hết bệnh, con sẽ hoàn tục cũng không
khó.
Con
đáp:
- Nếu
xuất gia, con phải bị cạo tóc, việc này phải làm sao?
Mẹ
nói:
- Nếu
cạo rồi, tóc không mọc thì việc này không thể. Nhưng tóc
mọc lại, có gì phải sợ.
Người
con đến vườn Trúc, gặp các Bí-sô, đảnh lễ sát chân,
bạch rằng:
- Thánh
giả, hãy cho con xuất gia.
Sau
khi được xuất gia, ngay giữa đêm ấy, người này cứ đứng
ngoài cửa, không chịu vào phòng. Thầy hỏi:
- Tại
sao không vào phòng?
Ðáp:
- Con
có bệnh, không đi vào được.
Thầy
nói:
- Nay
ngươi xuất gia, tại sao có bệnh?
Thưa
rằng:
- Ô
Ba Ðà Da, khi con còn ở thế tục, thân con đã bị bệnh.
Thầy
hỏi:
- Tại
sao ngươi không nói với ta?
Ðáp:
- Không
thấy thầy hỏi.
Vị
thầy rất tức giận.
Sáng
hôm sau, người đệ tử cũ đến thăm thầy, hỏi:
- Thưa
Ô Ba Ðà Da, tại sao thầy không vui?
Thầy
đáp:
- Trú
xứ của ta lại là chỗ nuôi bệnh. Những người có bệnh
đều tụ tập lại đây.
Cầu
tịch thưa:
- Như
Thế tôn dạy, có hai việc:
Một:
không nên làm việc quá sức mình.
Hai:
đã độ rồi, không nên bỏ.
Thầy
đã độ rồi, phải làm thế nào đây?
Khi
đang nói chuyện, có Y vương Thị Phược Ca đến nơi. Vị
thầy bảo Y sĩ rằng:
- Bệnh
của Bí-sô này có thể trị được không?
Y vương
đáp:
- Bệnh
này quá nặng. Nhưng nếu vua Thắng Quang cung cấp thuốc đầy
đủ, tôi sẽ chữa trị cho.
Bí-sô
này sau khi được trị hết bệnh, thưa với Ô Ba Ðà Da:
- Con
vì có việc mong cầu nên mới đến xuất gia. Nay đã toại
nguyện, con muốn trở về nhà.
Thầy
nói:
- Con
đã đắc quả A-la-hán chưa?
Ðáp:
- Chưa
được.
Hỏi:
- Con
đã đắc quả Bất-hoàn, Nhất-lai hay Tu-đà-hoàn chưa?
Ðáp:
- Ðều
chưa được.
Thầy
nói:
- Vậy
tại sao con về nhà?
Ðáp:
- Con
vì bệnh nên đến đây xuất gia. Nay con đã hết bệnh, vậy
ở đây làm gì?
Thầy
nói:
- Trong
pháp xuất gia có bốn quả thù thắng, con đều không đắc
quả nào. Con nên tạm ở đây, bồi hoàn lại thuốc cho người.
Không làm như vậy, nếu sau này bị bệnh, chắc chắn chết
không nghi ngờ.
Người
này không vâng lời thầy dạy, liền bỏ đi về nhà. Sau đó,
vì báo ân nên cung cấp hoa quả, tăm xỉa răng cho Thị Phược
Ca. Bấy giờ, Thị Phược Ca bảo rằng:
- Hiền
thủ, người đến với ta vì cần gì?
Bà
la môn kia thưa rằng:
- Tôi
không cầu gì cả, chỉ là báo ân.
Trưởng
giả Phược Ca nói:
- Ta
đã làm việc lợi ích gì cho ngươi?
Ðáp:
- Trước
đây tôi bị bệnh, ngài đã trị cho tôi hết bệnh.
Bấy
giờ, Thị Phược Ca bảo rằng:
- Ta
không nhớ.
Ðáp:
- Tôi
sẽ kể lại.
Khi
ấy, Thị Phược Ca nhờ vậy nhớ lại sự việc này nên nói
rằng:
- Ngươi
đã được xuất gia trong pháp luật thiện thuyết, phải chứng
đắc bốn quả Sa môn. Ngươi đã thọ của tín thí, nay lại
đọa vào việc ác.
Nói
thế xong, trưởng giả tự nghĩ: "Ta nên đem việc này đến
gặp Thế tôn" .
Sau
khi gặp Phật, trưởng giả lạy chân Phật, ngồi qua một
bên, thưa rằng:
- Bạch
Thế tôn! Các Bí-sô cho người bệnh xuất gia thọ cận viên.
Do đó, làm cho kho tàng của nhà vua dần dần bị tổn giảm,
thân con cũng lao nhọc. Lại nữa, đối với các vị Thánh
giả cũng bị bất lợi trong việc tu thiện pháp. Ngưỡng mong
Thế tôn chế định: đừng cho người bệnh xuất gia nữa.
Phật
im lặng hứa khả.
Thị
Phược Ca biết Phật im lặng hứa rồi, đảnh lễ từ giã.
Phật
tự nghĩ: "Tất cả sai lầm này đều do độ người bệnh
mà ra". Phật dạy các Bí-sô:
- Từ
nay trở đi không được độ người có bệnh. Nếu có người
đến cầu xuất gia, trước tiên hỏi có bệnh không, nếu
không hỏi bị tội vượt pháp.
Phật
ở thành Kiếp Tỷ La, trong rừng Ny Cù Ðà. Khi ấy, vua Tịnh
Phạn ra lệnh rằng:
- Dòng
họ Thích trong thành Kiếp Tỷ La, mỗi nhà chỉ cho một người
xuất gia.
Khi
bà con thân thuộc đến thăm viếng, người xuất gia ấy vì
thân thuộc thuyết pháp. Họ nghe pháp, sinh tâm hoan hỷ, phát
lòng tin, họ liền xuất gia. Trong số ấy có cha, anh, chồng,
chú, con... của họ đều sinh buồn khổ, khóc lóc vang dậy
từ sáng đến chiều.
Bấy
giờ vua Tịnh Phạn nghe tiếng khóc của Thích chủng tử, bảo
rằng:
- Tại
sao cả ngày đêm các Thích chủng tử khóc lóc như vậy?
Khi
ấy, Thích chủng tử thưa rằng:
- Quyến
thuộc của chúng tôi đang ở trong rừng. Các Thánh giả đã
cho họ xuất gia, tạo ra sự đau khổ này, thế nên chúng tôi
khóc lóc.
Nhà
vua nghe lời này, tự nghĩ: "Ta nên đến gặp Phật" .
Vua
đến nơi, lạy sát chân Phật, ngồi qua một bên, thưa Phật
rằng:
- Thế
tôn! Ngưỡng mong Thế tôn cho tôi một ước nguyện.
Thế
tôn hỏi:
- Ðại
vương! Ngài muốn điều gì?
Vua
nói:
- Tôi
có điều nguyện nhỏ, vì các Thích chủng nên nói ra. Nếu
Thế tôn làm bậc Chuyển luân Thánh vương bay đi khắp bốn
thiên hạ, chúng tôi cũng đi theo Thế tôn. Nay Ngài đã xuất
gia, điều chúng tôi kỳ vọng không thể đạt được. Lại
nữa, Nan Ðà sẽ là Lực chuyển Luân vương. Lại được Thế
tôn độ cho xuất gia nên cũng tuyệt mất hy vọng. La Hổ La
có đại uy đức sẽ lên làm vua. Nay Thế tôn đã độ cho
xuất gia, Thích chủng chúng tôi tuyệt mất hy vọng. Thưa Ðại
đức, cha mẹ đối với con, tình thương rất sâu đậm. Ngưỡng
mong Thế tôn chế định: Nếu cha mẹ chưa cho phép, không cho
xuất gia.
Khi
ấy, Thế tôn im lặng nhận lời yêu cầu của phụ vương.
Nhà
vua thấy Phật đồng ý, đảnh lễ chân Phật, từ giã ra về.
Phật
tự nghĩ: "Các lỗi này đều không do hỏi ý kiến cha mẹ
mà cho xuất gia và thọ cận viên" .
Phật
dạy các Bí-sô:
- Nếu
có người đến cầu xuất gia, trước hết phải hỏi họ
về việc cha mẹ cho phép, rồi mới được cho xuất gia. Nếu
không hỏi trước, bị tội vượt pháp.
Thế
tôn đã chế định những người cha mẹ không cho phép, không
được xuất gia. Khi ấy, có người từ xa đến, cha mẹ họ
đã cho phép xuất gia, các Bí-sô không dám tự ý độ cho xuất
gia, làm cho họ bị lỡ việc. Các Bí-sô đem việc này bạch
Phật, Phật dạy:
- Nếu
có người từ xa đến, trước đó cha mẹ họ đã cho phép
họ xuất gia, nên độ họ xuất gia. Không hỏi, không phạm.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
XUẤT
GIA SỰ
- Hết
quyển 3 -