XUẤT
GIA SỰ
(No.
1444)
Quyển
thứ tư
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Bấy
giờ có các vị thương gia trở về bờ sau khi gian nan trên
biển. Họ rất mệt nhọc nên đều buồn ngủ. Khi ấy, Bí-sô
Tăng Hộ quan sát biển lớn, phát sinh ý nghĩ: "Như Phật đã
dạy, có năm việc xem xét không chán. Thế nào là năm?
Một:
vua chúa đầy đủ tướng mạo.
Hai:
Chuyển luân Thánh vương.
Ba:
biển lớn.
Bốn:
Diệu Cao Sơn Vương.
Năm:
đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ðó
là năm việc."
Tăng
Hộ quan sát một lúc lâu, đến canh năm mới đi ngủ.
Bấy
giờ, các thương gia chỉnh đốn voi, xe, vận tải, hàng hóa
lên đường. Ðến khi trời sáng, họ không tìm thấy Tăng
Hộ. Họ rất hoang mang, tìm kiếm bốn phương, nhưng vẫn không
tìm thấy. Trong nhóm, có người nói tìm phía trước, có người
nói ở phía sau. Tìm khắp bốn phía nhưng không thấy. Họ
rất buồn khổ, nói rằng:
- Chúng
ta bỏ Thánh giả lại, điều này không an lành gì cả, nên
trở lại tìm ngài.
Có
người lại nói:
- Vị
Thánh giả kia có đại uy thần, hiểm nạn trong biển lớn
mà vẫn bình an như vậy, huống chi ở đất bằng mà lại
nguy hiểm cho ngài hay sao?
Họ
nói thế xong, cùng nhau tiếp tục lên đường.
Bấy
giờ, Tăng Hộ ngủ trên đống sỏi ở sa mạc, trời nóng
liền thức dậy, đứng lên nhìn bốn phía, không có một bóng
người, tự nói rằng: "Các thương gia này bỏ ta ra đi, ta
không nên ở đây, nên đi tiếp tục".
Tăng
Hộ liền lần hồi lên đường, không thấy dấu chân người,
chỉ có đường nhỏ. Tăng Hộ đi theo đường nhỏ, đến
một khu rừng lớn, thấy trong rừng có ngôi chùa tráng lệ,
tịnh diệu, chỗ ngồi nằm đều bằng nệm, lầu gác, điện
đường rất đẹp. Trong chùa có nước suối trong chảy quanh,
cây quý mọc thành hàng, nhiều màu sắc lạ lùng, cây lá chứa
ánh sáng. Trong hồ nước có các loài chim bạch hạc, khổng
tước, anh vũ, xá lợi, bạch nga, như các loại chim ở thiên
cung. Trong chùa có các Bí-sô đầy đủ uy nghi.
Bấy
giờ Tăng Hộ thấy những vị đồng phạm hạnh, liền đến
gặp các vị ấy, cung kính đảnh lễ. Bí-sô kia nói:
- Thiện
lai! Thiện Lai! Này Tăng Hộ, người từ đâu đến?
Tăng
Hộ đem sự việc của mình kể ra.
Khi
ấy, Bí-sô kia sau khi sắp xếp rồi, đưa Tăng Hộ vào trong
chùa. Tăng Hộ thấy các chỗ ngồi tốt đẹp, có thức ăn
ngon. Bí-sô kia hỏi rằng:
- Thầy
có đói khát không?
Ðáp:
- Ðói
khát.
Vị
kia nói:
- Nếu
thấy đói, nên ăn đi.
Ðáp:
- Ðợi
Tăng già ăn, tôi sẽ ăn chung.
Bí-sô
kia nói:
- Thầy
đi đường bệnh, mệt nhọc, nên ăn cho no đủ. Nếu chờ
đến giờ ăn, sẽ có những chuyện không hay.
Tăng
Hộ ăn xong, đi qua một bên.
Ðến
giờ ăn, trong chùa đánh kiền chùy, tập Tăng già. Mỗi người
tự mang bát, đến nhà ăn, ngồi theo thứ tự. Khi ấy, phòng
xá nhà chùa biến mất, bát của mỗi người biến thành cây
ống bằng sắt. Mọi người cầm cây sắt này đánh lẫn nhau,
đầu mặt tét ra, chảy máu khắp đất, chịu đựng những
đau khổ bị thương như vậy. Tàn giờ ăn, chùa hiện lại
như cũ. Các Bí-sô kia bình phục lại như thường, các căn
tịch tịnh, ngồi theo thứ tự.
Bấy
giờ Tăng Hộ đến chỗ Bí-sô thưa rằng:
- Thưa
Thánh giả, quý ngài đã gây ra nghiệp nhân gì mà có sự việc
như vậy, chịu các khổ não?
Ðáp:
- Này
đại đức Tăng Hộ! Người ở Chiêm Bộ Châu không có lòng
tin.
Tăng
Hộ nói rằng:
- Tôi
thấy trước mắt, tại sao không tin.
Ðáp:
- Này
Tăng Hộ! Trước đây, vào thời Phật Ca Nhiếp Ba, chúng tôi
là Thanh Văn, khi sắp đến giờ ăn, cùng nhau giành giật, đánh
lộn. Do nghiệp này, khiến cho chúng tôi ở đây thọ riêng
địa ngục. Khi thầy về, nên nói với tăng già ở Chiêm Bộ:
mỗi khi đến giờ ăn chớ có giành giật, đánh nhau. Nếu
ai giành giật đánh nhau sẽ chịu khổ này.
Tăng
Hộ trả lời:
- Xin
vâng! Tôi sẽ làm đúng như vậy.
Tăng
Hộ từ giã đi về phía trước. Lại thấy một ngôi chùa.
Chùa này nguy nga không khác chùa trước. Tăng Hộ lại thấy
Bí-sô uy nghi đầy đủ. Sự việc lại xảy ra như trước.
Trong bát của Bí-sô có nước đồng sôi nóng. Các Bí-sô dùng
tay vớt lên,.... cho đến khi chùa hiện ra như cũ. Chúng Bí-sô
ấy lại ngồi yên như cũ theo thứ tự.
Tăng
Hộ hỏi rằng:
- Ðại
đức, Do nghiệp lực gì sinh đến chỗ này, thọ khổ như
vậy?
Bí-sô
nói:
- Chúng
sinh khó tin.
Ðáp:
- Tự
thân tôi thấy, tại sao không tin?
Bí-sô
nói:
- Tăng
Hộ nên biết. Tôi là Thanh văn ở nơi Phật Ca Nhiếp Ba. Mỗi
khi đến giờ ăn, được các món ăn ngon. Khi ấy, có khách
Bí-sô đến, chúng tôi tham ăn nên phát sinh ý nghĩ: "Chờ khách
đi rồi, khi ấy sẽ cùng nhau ăn".
Gặp
lúc trời mưa kéo dài đến bảy ngày. Bí-sô khách vì mưa
bùn lầy lội nên không thể lên đường. Vì kéo dài đến
bảy ngày không đem ra dùng nên thức ăn bị hư thối không
ăn được, phải vứt bỏ đi hết. Vì thọ của tín thí nhưng
không đem ăn một cách bình đẳng, đến nỗi phải vứt bỏ.
Do nghiệp này, sinh ở biệt ngục, chỉ chịu khổ nhẹ. Sau
khi thọ đủ rồi thì chết, đọa vào đại địa ngục.
Này
Tăng Hộ! Ngươi về bảo các Bí-sô ở nhân gian chớ có hành
động như vậy. Ai làm vậy sẽ rước lấy cái khổ ở địa
ngục.
Tăng
Hộ nghe lời này, liền từ giã ra đi, tuần tự lên đường.
Lại thấy một ngôi chùa tráng lệ như trước, có các Bí-sô
đến giờ ăn ngồi thứ tự như trước.
Bấy
giờ chùa phát hỏa cháy rực rỡ, dữ dội, chúng Bí-sô đều
bị thiêu đốt. Qua giờ ăn, chùa hiện trở lại như cũ. Chúng
Bí-sô các căn bình phục, lại ngồi theo thứ tự. Tăng Hộ
hỏi và được trả lời như trước.
Bí-sô
kia nói rằng:
- Hãy
lắng nghe. Xưa kia chúng tôi là Thanh văn ở chỗ Phật Ca Nhiếp
Ba. Chúng tôi phá giới, bị Tăng tẫn xuất, chúng tôi đến
nơi khác cộng trú với những người như tôi. Sau đó có một
Bí-sô trì giới tinh tấn đến chỗ này. Sau lại có Bí-sô
trì giới đầy đủ cũng đến chỗ này chỉnh lý Tăng đồ.
Họ trách chúng tôi, chúng tôi không chịu nhường nhịn. Sau
đó, vào giờ ăn, đại chúng đang ăn uống, chúng tôi đồng
tâm phóng lửa đốt chùa, đốt đến cháy rụi. Do nghiệp
lực ấy, sinh trong chỗ này, chịu riêng khổ này. Khi hết
khổ này, đọa đại địa ngục. Thầy nên về báo với Bí-sô
ở Chiêm Bộ đừng làm việc ấy. Nếu làm như vậy, phải
bị tội như chúng tôi, chịu khổ như thế.
Tăng
Hộ lại thấy có hữu tình hình thể như bức vách, hoặc
như cây lớn, hoặc như chiếc lá, hoặc như hoa, hoặc như
trái, hoặc như cây trụ. Tất cả hữu tình ấy đều bị
dây trói kéo đi làm cho sập bẫy.
Bấy
giờ, Tăng Hộ lần lượt đi tới, đến một trú xứ có năm
trăm tiên nhân. Họ thấy Tăng Hộ đến, nói với nhau rằng:
- Sa
môn Thích tử này đa ngôn đa ngữ. Các ngươi đừng nên nói
chuyện với họ.
Nói
như thế rồi, các vị tiên đều im lặng.
Bấy
giờ Tăng Hộ đi đến nói với các tiên nhân:
- Xin
các ngài cho tôi chỗ nghỉ ngơi.
Các
tiên im lặng, không ai lên tiếng cả. Trong chúng có một tiên
nhân từ bi mẫn niệm, bảo các tiên nhân:
- Lẽ
nào không bố thí chỗ cho Sa môn Thích tử.
Các
tiên nhân nói:
- Nên
cho họ chỗ ngồi nhưng không cho nói chuyện.
Tăng
Hộ đáp:
- Xin
vâng.
Họ
bố trí Tăng Hộ ở một phòng trống. Tăng Hộ ở phòng này,
rửa chân, trải tòa, an trí chỗ ngồi, đoan thân chánh niệm.
Tại
trú xứ tiên nhân này, trước đây có rất nhiều thiên nữ.
Vào đầu đêm, họ đến chỗ Tăng Hộ, thưa rằng:
- Thưa
Thánh giả, xin ngài vì chúng con thuyết giảng pháp yếu.
Tăng
Hộ trả lời:
- Này
chị em, quý vị hưởng thọ rất nhiều khoái lạc. Tôi bị
các tiên chế phục, không cho nói chuyện nên mới được ở
tịnh thất này. Này chị em, bảo tôi thuyết pháp là muốn
làm cho tôi đi khỏi nơi này, phải không?
Khi
ấy, các thiên nữ tự nghĩ: "Sa môn Thích tử này đi từ xa
đến, thân thể mệt nhọc. Ta nên đi nơi khác".
Suy
nghĩ như thế rồi, chư thiên bỏ đi.
Sau
nửa đêm, thiên nữ lại đến chỗ Tăng Hộ, bạch rằng:
- Thánh
giả, hãy vì tôi thuyết pháp.
Tăng
Hộ nói:
- Quý
vị quyết định đẩy tôi ra khỏi chỗ này, phải không?
Chư
thiên lại suy nghĩ: "Vị này ngủ nghỉ chưa đủ. Ta nên tạm
thời đi nơi khác".
Ðến
cuối đêm, thiên nữ lại đến bên chỗ Tăng Hộ, thưa rằng:
- Thánh
giả, xin vì con thuyết pháp.
Tăng
Hộ lại bảo:
- Này
chị em! Các người muốn cho ta đi khỏi chỗ này hay sao?
Thiên
nữ đáp:
- Trời
đã sáng rồi, tại sao không ra đi? Chẳng lẽ ngài không nghe
Phật dạy: đến nơi nguy hiểm phải nên nhẫn nại hay sao?
Khi
ấy, Tăng Hộ suy nghĩ: "Thiên nữ đã không ưa ta, ta nên mau
ra đi". Lại tự nghĩ: "Các tiên nhân này đều là dị học.
ta nên đọc kệ theo sở học của họ để họ nghe, tất họ
hoan hỷ".
Tự
nghĩ thế rồi, Tăng Hộ đọc k?:
- Trần
truồng và tóc dài
Bôi
tro và nhịn ăn
Nằm
đất để rửa thân
Ngồi
xổm và tà niệm
Các
tà pháp như vậy
Không
thể thoát sinh tử.
Chỉ
trừ chân diệu pháp
Trang
nghiêm nơi tự thân
Chánh
kiến trú tư duy
Ðể
đoạn tham, sân, si
Từ
bi, hành hỷ xả
Không
giết hại chúng sinh
Cần
tu nơi học xứ
Chân
Sa môn như vậy
Bà
la môn như thế
Nào
khác tánh Bí-sô.
Khi
Tăng Hộ nói tụng này, các tiên nhân nghe tụng, nói với nhau
rằng:
- Người
này tụng kinh của ta.
Bấy
giờ, các tiên nhân tự mỗi người đều đến lắng nghe lời
tụng. Do thiên nữ làm mê hoặc nên họ không thấy nhau.
Bấy
giờ, Tăng Hộ thuyết kinh Thành Dụ, làm cho họ giác ngộ.
Thuyết kinh này xong, chúng chư thiên chứng quả thứ ba. Các
thiên nữ làm cho chư tiên phục hồi bản tâm, thấy được
nhau, họ đồng thanh nói rằng:
- Thiện
thuyết! Thiện thuyết! Kinh này thật vi diệu!
Họ
cùng tán thán như thế rồi bảo nhau:
- Các
người đến nghe pháp của vị kia phải không?
Ðáp:
- Ðúng
vậy.
Họ
lại nói:
- Nay
ta ở đây, thu hoạch được lợi ích tốt đẹp vi diệu.
Khi
ấy, chư tiên cùng nhau thưa rằng:
- Thánh
giả, ngưỡng mong ngài cho chúng con xuất gia thọ cận viên,
tu trì phạm hạnh như các tôn giả.
Tăng
Hộ nói:
- Các
cụ thọ! Quý vị có tín tâm tăng thượng như vậy, đây là
thiện sự. Như Thế tôn dạy: Người được xuất gia thu hoạch
năm lợi ích. Thế nào là năm?
Một:
công đức xuất gia là tự lợi của ta, không cộng thông với
người khác. Thế nên người trí nên cầu xuất gia.
Hai:
tự biết rằng ta là người thấp hèn, bị người khác sai
khiến. Sau khi xuất gia, lại nhận được sự cúng dường,
lễ bái, tán thán của người. Thế nên người trí nên cầu
xuất gia.
Ba:
từ cõi này mệnh chung, sẽ sinh cõi thiên, rời khỏi ba đường
ác. Thế nên người trí nên cầu xuất gia.
Bốn:
do từ bỏ thế tục, xuất ly sinh tử, sẽ đạt được an
ổn vô thượng Niết-bàn. Thế nên người trí nên cầu xuất
gia.
Năm:
thường được chư Phật, chúng Thanh văn, các bậc thượng
nhân tán thán. Thế nên người trí nên cầu xuất gia.
Ngươi
nên khéo quán sát sự lợi ích này với tâm ân cần trân trọng,
xả bỏ các lưới thế tục, cầu đại công đức. Vì vậy
nay ta độ ngươi xuất gia. Các ngươi muốn xuất gia ở đây
hay đến chỗ Phật?
Chư
tiên đáp:
- Ngưỡng
mong cùng tôn giả đồng đến chỗ Phật và xuất gia ở đó.
Chư
tiên lại thưa:
- Dùng
thần lực của tôn giả hay dùng thần thông của chúng tôi
đi đến đó?
Tăng
Hộ nghe lời này, tâm không vui, tự nghĩ: "Chư tiên nhân chúng
nghe ta thuyết pháp, đắc đạo quả cao. Ta tuy thuyết giảng
nhưng không đắc quả ấy".
Tăng
Hộ bảo với các tiên:
- Hãy
chờ tôi một lúc, tôi có việc cần làm.
Tăng
Hộ đến dưới gốc cây, trải tòa, kiết già phu tọa, đoan
thân chánh niệm, tâm ý tịch nhiên. Lại tự nghĩ: "Phật dạy:
đa văn có năm lợi ích". (Nói như các nơi khác)
Tăng
Hộ tinh tấn như vậy, đoạn trừ phiền não, liền chứng
quả A-la-hán, thoát ly ba cõi, cắt đứt bụi trần, không sinh
sân hận, xem vàng cũng như đất, xứng đáng là chỗ để
Ðế-thích, chư thiên, Phạm, v.v... cúng dường.
Tăng
Hộ bảo các tiên:
- Hãy
nắm lấy góc y của tôi, nương theo thần lực của tôi để
đến chỗ Phật.
Tăng
Hộ bay lên hư không như là nhạn chúa, như bầy chim ưng.
Năm
trăm khách buôn kia vẫn chưa đi đến nơi, đang dừng ngựa
chở hàng hóa lại nghỉ. Thấy Tăng Hộ từ xa đến, họ thưa
rằng:
- Thánh
giả, ngài đã đến đây rồi à? Nay ngài muốn đi đâu?
Ðáp:
- Năm
trăm vị tiên này muốn đến chỗ Phật để cầu xuất gia.
Nay tôi cùng đi với họ đưa đến chỗ Phật.
Khi
ấy, năm trăm lái buôn cùng thưa rằng:
- Thánh
giả, chúng tôi cũng muốn cùng đến đó xuất gia. Thưa Thánh
giả, ngài hãy xuống đây tạm nghỉ, chờ chúng con đem tài
vật gửi cho gia đình rồi đi cùng ngài.
Sau
khi họ phân chia tài sản, Bí-sô Tăng Hộ cùng với một ngàn
người đến chỗ Phật. Bấy giờ đức Phật Thế tôn đang
có vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh nghe thuyết pháp.
Thế tôn thấy nhóm Tăng Hộ từ xa đến, bảo với đại chúng
rằng:
- Tất
cả các ngươi đều thấy Tăng Hộ Bí-sô cùng với ngàn người
kia đang đi đến đây không?
Bí-sô
đáp:
- Chúng
con đều thấy.
Thế
tôn bảo:
- Các
việc cúng dường trong thế gian, không gì bằng việc giáo
hóa người xuất gia, điều phục tế độ họ.
Khi
ấy, nhóm Tăng Hộ lạy sát chân Phật rồi ngồi qua một bên.
Cụ thọ Tăng Hộ bạch Phật rằng:
- Thế
tôn! Các tộc tánh tử này với số lượng có một ngàn người,
đều muốn ngay nơi pháp luật thiện thuyết của Phật, được
xuất gia, thọ cận viên, thành Bí-sô tánh. Ngưỡng mong Phật
từ bi thương xót hứa cho.
Phật
nói:
- Này
Bí-sô! Hãy khéo đến đây. Ngay trong giáo pháp của Ta khéo
tu phạm hạnh, thành đại Sa môn.
Phật
nói lời này xong, râu tóc của ngàn người này đều tự rụng,
trên thân tự nhiên được mặc y Tăng-già-chi, tóc như đã
được cạo bảy ngày rồi, bình bát nơi tay, uy nghi cụ túc,
như Bí-sô có trăm tuổi hạ (như được nói ở những nơi
khác).
Thế
tôn vì họ thuyết giảng giáo nghĩa. Họ tự tinh tấn, đoạn
các phiền não, chứng quả A-la-hán, thoát ly dục vọng của
ba cõi, v.v... là chỗ cúng dường của chư thiên, Ðế-thích...
Bấy
giờ, cụ thọ Tăng Hộ bạch Phật:
- Thế
tôn! Tại chỗ kia con thấy các loài hữu tình có thân thể
như tường vách, như trụ cây, như lá, hoa, quả, như cây chổi
quét, như chảo, như muỗng, như cối... Tiền thân của chúng
đã làm nghiệp gì mà chịu quả báo ấy?
Phật
dạy:
- Này
Tăng Hộ! Phàm các hữu tình những nghiệp đã làm phải chịu
kết quả, không ai thay thế được, v.v... Quả báo phải tự
mình chịu lấy.
Ðời
quá khứ, trong Hiền kiếp này, khi loài người sống đến
hai vạn tuổi, có Phật ra đời hiệu là Ca Nhiếp Ba, ở tại
Thiên nhân đọa xứ, trong vườn Thi Lộc. Khi ấy, Phật Ca
Nhiếp có các cầu tịch và Bí-sô.
Này
Tăng Hộ! Như người đã thấy, chúng sanh hình dáng như tường
ấy là những chúng sanh lấy bùn đất làm nhơ bẩn vách tường
Tăng già lam nên chịu quả báo như vậy.
Những
chúng sanh như trụ là những hữu tình khạc nhổ. hỷ mũi,
làm bẩn cột trụ Tăng già lam. Do nghiệp ấy nên thọ quả
báo như vậy.
Thấy
chúng sanh hình như cái muỗng, chúng sanh này từng là cầu
tịch, phân chia nước mật ở Tăng già lam. Có Bí-sô khách
đến chỗ cầu tịch, cầu tịch rửa muỗng. Bí-sô khách hỏi:
"Trong
Tăng già đã phân chia nước phi thời chưa?"
Cầu
tịch đáp:
"Phân
chia đã xong, không thấy tôi rửa muỗng hay sao?"
Cầu
tịch này lại dựa vào đó nổi giận, chửi rủa. Do nghiệp
lực ấy, chịu quả báo như thế.
Thấy
những chúng sanh hình như cái cối, ngày trước từng là Bí-sô.
Khi muốn làm bát, có một cầu tịch chuyên coi về kho tàng
của Tăng già. Bí-sô làm bát đến nơi cầu tịch này hỏi
rằng:
"Cho
ta mượn cối để giã mè".
Khi
ấy, cầu tịch thưa rằng:
"Ðại
đức, hãy chờ đây một lúc. Tôi quên mất nó ở đâu rồi,
chút nữa sẽ đưa cối cho".
Bí-sô
nổi giận, nói:
"Nếu
ta tự do lấy cối thì không thèm nói chuyện mượn cối, dùng
cối giã mè và giã luôn thân ngươi".
Khi
ấy, cầu tịch tự nghĩ: "Nếu ta trả lời chắc vị ấy giận
thêm". Cầu tịch đứng im lặng.
Khi
biết Bí-sô hết giận, liền đến bên vị ấy thưa rằng:
"Thầy
biết tôi là hạng người nào không?"
Tôn
giả kia đáp:
"Người
xuất gia làm cầu tịch trong giáo pháp của Phật Ca Nhiếp
Ba".
Cầu
tịch nói:
"Sự
nghiệp
xuất gia của thầy chưa làm xong, thầy bị tất cả phiền
não ràng buộc. Tôi đã giải thoát. Thầy nói ra lời thô ác,
phải nên sám hối thì tội tiêu diệt".
Bí-sô
kia phát lộ sám hối, quả báo còn lại sinh làm thân hình
như cái cối.
Ngươi
thấy chúng sanh hình như cái chảo, xưa kia ta từng là tịnh
nhân trong nhà chùa, thừa sự Bí-sô, vì Bí-sô rang thuốc.
Gặp lúc Bí-sô giận trừng mắt ngó, vì vậy tịnh nhân sinh
lòng oán hận, cố ý đập bể chảo. Do nghiệp lực này, thân
hình như cái chảo.
Ngươi
thấy hữu tình có thân hình bị kéo đứt ra, xưa kia là người
thọ sự. Bên ngoài có người bố thí vật dụng cho Tăng được
sử dụng khi nóng và khi lạnh. Khi ấy, người thọ sự đem
y vật tháng hè dùng cho mùa đông, đem y vật mùa đông dùng
cho mùa nóng. Do nghiệp lực này, thọ khổ như vậy.
Khi
ấy, các Bí-sô đều có ý nghi ngờ, bạch Phật:
- Cụ
thọ Tăng Hộ đã từng làm hạnh nghiệp gì và do nghiệp gì
được sinh vào nhà trưởng giả giàu có, lại được xuất
gia, chứng quả A-la-hán, làm nên việc lợi ích lớn như vậy?
Phật
bảo các Bí-sô:
- Bí-sô
Tăng Hộ đã làm các phước nghiệp như sau:
Thời
quá khứ, khi loài người sống đến hai vạn tuổi có Phật
Ca Nhiếp Ba xuất thế. Khi ấy Phật Ca Nhiếp Ba ở tại tiên
nhân đọa xứ, trong vườn Thi Lộc. Tăng Hộ cũng xuất gia
với Phật kia, làm thủ chúng, có năm trăm đệ tử. Nam nữ
bốn phương đều tín ngưỡng hướng về.
Khi
ấy, vị thủ chúng này trọn đời kiên trì phạm hạnh không
hủy phạm, nhưng không chứng được quả vị gì. Sau đó,
khi làm chúng, vị này phát biểu rằng:
"Tôi
kiên trì tu hành phạm hạnh, tinh tấn không lười biếng trong
pháp luật thiện thuyết của Phật Ca Diếp nhưng không chứng
được quả vị thù thắng. Những công đức tôi làm, nguyện
cho tôi trong đời tương lai, khi Phật Thích Ca Mâu Ni xuất
hiện trong đời, được xuất gia trong pháp luật ấy, tu hành
phạm hạnh, đoạn trừ phiền não, chứng quả A-la-hán".
Bấy
giờ, năm trăm đệ tử cùng tập họp lại chỗ thầy, thưa
rằng:
"Ô
Ba Ðà Da, thầy có đắc quả không?"
Ðáp:
"Chưa
đắc".
Hỏi:
"Thầy
phát nguyện thù thắng gì?"
Ðáp:
"Phát
nguyện... (như trên) ..."
Các
đệ tử đồng thưa:
"Nếu
Ô Ba Ðà Da chứng quả như vậy, chúng con cũng xin theo ngài
xuất gia, cùng chứng quả A-la-hán".
Bấy
giờ, ở tụ lạc có năm trăm người cùng đến chỗ thầy,
cũng hỏi đáp như trên. Họ đồng phát nguyện:
"Chúng
con cùng nguyện được chứng quả A-la-hán".
Này
các Bí-sô! Ðừng nghi ngờ gì cả. Người thủ chúng trong
quá khứ nào phải người nào lạ, nay chính là Tăng Hộ. Năm
trăm đệ tử xưa kia chính là năm trăm tiên nhân. Năm trăm
người ở tụ lạc thuở xưa, nay chính là năm trăm thương
nhân.
Xưa
kia, người thủ chúng nhờ nhân duyên cúng dường Tăng già,
do hạnh nghiệp ấy được sinh vào nhà giàu có. Do phát nguyện
nên nay chứng quả A-la-hán. Lại nữa, do vị ấy xưa kia thường
tự điều phục nên nay sinh ra thường điều phục người,
độ rộng hữu tình, làm việc lợi ích.
Này
các Bí-sô! Trồng nghiệp trắng được quả báo trắng, v.v...
như đã nói ở trước.
Này
các Bí-sô! Nên học tập như vậy.
Một
thời các Bí-sô có tâm nghi ngờ, đem sự việc bạch Phật:
- Bí-sô
Hóa Long bắt đầu phát tâm ở nơi nào?
Phật
dạy:
- Về
quá khứ, trong đời Hiền kiếp này, khi loài người sống
đến hai vạn tuổi, có Phật ra đời hiệu là Ca Nhiếp Ba.
Ngài ở rừng Thi Lộc, thuyết giảng giáo pháp cho các Thanh
văn:
"Này
các Bí-sô! Nên trú nơi Lan-nhã, trong núi, dưới cội cây,
nơi yên lặng, rừng vắng, am cỏ, chỗ xa vắng, trong hang núi,
v.v..., đoan thân chánh niệm ngồi tịch tịnh, dũng mãnh tinh
tấn, chớ nên phóng dật, nghe theo lời Ta dạy. Các ngươi
nên học như vậy".
Bấy
giờ, các Bí-sô nghe lời dạy xong, theo như lời Phật dạy,
người thì đến núi Diệu Cao, hoặc ao Vô Nhiệt, hoặc ao
nước khác, trong ấy cũng có bảy chỗ núi vàng, hoặc có
người ở thành ấp, tụ lạc.
Bấy
giờ có con rồng còn nhỏ, bị vua Kim Sí Ðiểu bắt đem lên
không trung. Từ xa, nó thấy Bí-sô các căn tịch tịnh, ngồi
ngay ngắn nhập định, rồng nhỏ tự nghĩ: "Các Bí-sô này
thật là an lạc, không như thân ta chịu khổ như thế này".
Do đó, rồng sinh tâm quy ngưỡng với lòng tin sâu đậm. Sau
khi phát tâm niệm này, rồng nhỏ mạng chung.
Tại
nước Bà La Tư Ni có Bà la môn đầy đủ sáu pháp, rồng nhỏ
sinh vào nhà này. Ðến khi khôn lớn, đến gặp Phật, xuất
gia thọ cận viên, cần tu phạm hạnh, đoạn các phiền não,
chứng quả A-la-hán,... (cho đến câu: ... Ðế-thích chư thiên
cúng dường).
A-la-hán
này tự quán sát đã làm nghiệp gì, chết từ đâu đến đây
mà chứng được quả này?
Vị
này quán sát thấy mình từ Long cung chết đi, sinh vào cõi
người. Lại thấy đã gặp đại Thanh văn nên phát tâm ân
cần. Lại thấy cha mẹ rồng trong đời quá khứ tại Long
cung kia. Vị này liền hiện thần thông đến Long cung kia, thấy
cha mẹ ở đời trước đang khóc lóc. Vị này hỏi cha mẹ
rồng:
- Tạo
sao khóc lóc vậy?
Ðáp:
- Thưa
Thánh giả! Tôi sinh được một con, còn nhỏ, bị vua Kim Sí
Ðiểu bắt mang đi, giờ không biết ở đâu.
Vị
này nói với cha mẹ:
- Tôi
chính là con rồng ấy, đã chết ở đây, sinh vào nhà Bà la
môn, được xuất gia nơi Phật Ca Nhiếp Ba, cần tu phạm hạnh,
đoạn các phiền não, chứng quả A-la-hán.
Rồng
mẹ thưa:
- Thánh
giả, việc này khó tin, thật là hy hữu. Nhưng người con yêu
quý của tôi tính tình rất ác, sinh vào nẻo thiện còn khó,
làm sao chứng quả A-la-hán được?
Vị
này nói với mẹ:
- Tôi
thật chứng quả, không phải lời dối trá.
Rồng
mẹ bảo:
- Nếu
đúng như lời, từ nay về sau, hằng ngày xin ngài vì tôi mà
thọ thực.
Vị
này im lặng thọ lời thỉnh này.
Hằng
ngày, Bí-sô này thường đến nhận các thức ăn uống thượng
diệu. Sau khi ăn xong, trở về chỗ cũ.
Bí-sô
này có một cầu tịch. Các Bí-sô hỏi cầu tịch này:
- Thầy
của ông hàng ngày đến đâu thọ thực rồi trở về?
Cầu
tịch trả lời:
- Tôi
không biết.
Bí-sô
nói:
- Thầy
của ông hàng ngày ăn các món ăn thượng diệu, tại sao ông
không đi?
Ðáp:
- Thân
giáo sư của tôi có đại uy đức nên mới được đi ăn.
Tôi không có uy đức, sao tự đi được.
Bí-sô
bảo rằng:
- Khi
thầy ông sắp đi, ông nên im lặng nắm một góc y.
Cầu
tịch đáp:
- Tôi
nắm không quen, sợ bị rơi xuống đất.
Bí-sô
bảo:
- Cột
núi Tô Hê Lô vào y của thầy ông, núi cũng không rơi, huống
gì thân ông.
Sau
khi bị khuyến dụ, lúc sắp đến giờ ăn, cầu tịch liền
im lặng đến chỗ thầy, đứng vào chổ khuất.
Khi
vị thầy muốn bay lên hư không để đi, cầu tịch lặng lẽ
nắm lấy góc y của thầy, cũng được bay theo.
Khi
ấy, trong Long cung xếp đặt hai chỗ ngồi, hai mạn-đà-la.
Thầy thấy vậy hỏi các rồng rằng:
- Tại
sao phải xếp hai chỗ ngồi, hai đàn tràng vậy?
Rồng
trả lời:
- Thầy
nên xem lại phía sau, có phải thêm một người hay không?
Thầy
quay lại nhìn, thấy cầu tịch, hỏi:
- Ông
cũng đến đây à?
Ðáp:
- Vâng.
Thầy
nói:
- Lành
thay!
Sau
khi họ ngồi vào chỗ, các rồng tự nghĩ: "Vị sư chủ này
đắc quả thù thắng, có đại uy đức, phải cúng dường
thức ăn của trời. Nhưng vị đệ tử kia chưa chứng được
như vậy, nên cho thức ăn của phàm phu".
Nghĩ
thế rồi, các rồng cúng dường như vậy.
Sau
khi ăn xong, cầu tịch cầm lấy bát của thầy, trong bát này
còn sót lại một hạt cơm, cầu tịch lấy hạt cơm này ăn,
thật là ngon ngọt, mùi vị ở thế gian không sánh được.
Cầu tịch ăn rồi, tự nghĩ: "Hai người cùng ăn, sao lại
phân làm hai mâm?". Do đó, cầu tịch sinh tâm sân hận, phát
lời nguyền:
- Ta
xuất gia nơi Phật Ca Nhiếp, tu tập phạm hanh, nguyện đem
công đức này được sinh vào thân rồng, có đại uy đức
đoạt lấy cung này, đuổi các con rồng đi hết.
Cầu
tịch này do lòng sân quá mãnh liệt, không kể thân mạng,
phát nguyện này rồi, thì ngay nơi hai tay tuôn chảy nước
trong. Các rồng trong cung đều bị đau đầu. Các rồng bạch
rằng:
- Thánh
giả! Cầu tịch này không niệm việc thiện, nên ngăn cản
lại.
Vị
thầy bảo cầu tịch:
- Ðó
là đường ác, nay tại sao ông lại phát ra ý niệm như vậy?
Bấy
giờ, cầu tịch dùng kệ trả lời thầy:
- Tâm
con đã rời xa
Khó
biết tìm ở đâu
Hối
hận khó được rồi
Hai
tay đã chảy nước.
Cầu
tịch nói kệ rồi, thân hóa loài rồng, đuổi các rồng chủ
kia đi, tự mình chiếm ở trong cung.
Phật
bảo các Bí-sô:
- Hóa
Long Bí-sô là Long vương bị đuổi. Khi Long vương vì nhân
duyên này mà bắt đầu phát tâm.
Phật
ở tại thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô
Ðộc. Có vị ngoại đạo đến rừng Cấp Cô Ðộc, thấy
trú xứ của các Bí-sô có những giường nằm, tòa ngồi,
tư cụ để thọ dụng và các thức ăn uống, vị ấy tự
nghĩ: "Sa môn Thích tử thức ăn, chỗ nằm, những thứ sử
dụng đều tốt đẹp, nhưng giáo pháp của họ không bằng
của ta. Ta nên xuất gia ở đây để được hưởng thụ ẩm
thực, ngọa cụ, nhưng khi ta muốn nghe pháp thì đi về chỗ
cũ".
Ngoại
đạo này nghĩ như thế rồi, đến gặp Bí-sô, thưa rằng:
- Thánh
giả, con muốn xuất gia.
Chúng
Bí-sô cho người này xuất gia và thọ cận viên.
Thường
pháp của ngoại đạo là làm Bao-sái-đà vào ngày mười bốn.
Bí-sô Bao-sái-đà vào ngày mười lăm. Ngoại đạo kia vào
ngày mười bốn lại ở tại trú xứ ngoại đạo để Bao-sái-đà.
Ðến ngày mười lăm lại trở về chỗ cùng các Bí-sô làm
trưởng tịnh.
Sau
đó, vào một lúc khác nhằm ngày mười bốn hắc nguyệt,
Tăng già trưởng tịnh. Bấy giờ ngoại đạo kia tự nghĩ:
"Hôm nay hai nơi cùng làm trưởng tịnh, vậy ta nên đến nơi
kia hay nên ở đây?". Ngoại đạo lại nghĩ: "Sa môn Thích tử
từ bi hỷ xả, pháp tắc khoan dung. Ngoại đạo kia pháp tắc
nghiêm ngặt. Nếu ta không đến tất họ phạt nặng và nghiêm
trách ta".
Nghĩ
thế xong, ngoại đạo này liền đến chỗ trú xứ ngoại đạo
cũ.
Bấy
giờ, các Bí-sô đánh kiền chùy, tập hợp Tăng già. Ðại
chúng tập hợp xong, người bỉnh pháp thưa rằng:
- Tăng
già tập hợp hết chưa?
Các
Bí-sô không tìm thấy Bí-sô ngoại đạo kia. Khi không tìm
thấy người này, đại chúng trưởng tịnh.
Sáng
hôm sau, Bí-sô ngoại đạo này trở về, các Bí-sô hỏi rằng:
- Ngày
hôm qua thầy đi đâu vậy?
Ðáp:
- Tôi
trở về chỗ tu phạm hạnh cũ rồi trở lại đây.
Lại
nói:
- Tôi
thọ dụng ẩm thực, ngọa cụ ở đây nhưng khi thọ pháp,
tôi trở lại chỗ cũ.
Bấy
giờ, các Bí-sô đem sự việc bạch Phật, Phật dạy:
- Người
ngoại đạo kia còn chấp tà kiến, ưa thích pháp của họ,
không bỏ tà kiến, sống trong giáo pháp của ta cuối cùng
cũng không có lợi ích gì cả, không thể tăng trưởng pháp
nhãn. Nên phải diệt tẫn, cho họ hoàn tục. Từ nay trở đi,
có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi họ: "Ngươi
là ngoại đạo, tâm ưa tà pháp phải không?". Nếu họ đáp
"Vâng", thì phải đuổi họ ra. Nếu ai không hỏi, bị tội
vượt pháp.
Khi
ấy, cụ thọ Ô Ba Ly bạch Phật:
- Thế
tôn! Ðộ ngoại đạo cần phải diệt tẫn. Vậy những hạng
ngoại đạo nào cần phải diệt tẫn?
Phật
dạy:
Một:
vẫn giữ y phục ngoại đạo.
Hai:
tâm ý thích kiến thức của họ.
Ba:
trở về mặc y phục cũ cho đến khi minh tướng xuất hiện.
Ba
loại này đều phải diệt tẫn.
Nhân
duyên tại thành Thất La Phiệt, có một trưởng giả lấy
vợ chưa bao lâu, sinh được một con trai, nhờ người nuôi
nấng.
Bấy
giờ, trường giả bảo vợ rằng:
- Hiền
thủ, sinh đứa con này tùy ý sử dụng tiền bạc của tôi
và thay mặt tôi thanh toán các nợ đã vay mượn.
Dặn
bảo xong, trưởng giả đem hàng hóa sang nước khác để buôn
bán, nhưng chẳng may qua đời. Người vợ tự lực cánh sinh
và nhờ thân thuộc nuôi con lớn dần.
Bấy
giờ, thiếu niên này cùng các đồng tử khác cùng đi đến
nhà trưởng giả nọ. Trưởng giả này có đứa con gái nhỏ.
Cô thấy đồng tử, dùng tràng hoa ném vào người cậu ta.
Các
đồng tử kia hỏi thiếu niên:
- Ngươi
có hẹn hò cùng cô gái này không?
Ðáp:
- Có.
Các
đồng tử nói:
- Trưởng
giả này tính tình nghiêm ác. Ngươi đừng nên làm việc này,
tổn hại cho ngươi.
Mãi
đến chiều tối, các đồng tử giữ thiếu niên này, không
cho làm việc phi pháp và cùng đưa cậu ta trở về nhà người
mẹ. Họ nói riêng với bà mẹ:
- Tiểu
nhi đồng này cùng với con gái nhỏ kia muốn làm việc phi
pháp. Chúng con đã khuyên can, không cho làm. Nay chúng con về,
trong đêm nay bác nên ngăn cấm.
Người
mẹ nói:
- Các
cháu đã cùng nhau khuyên can. Việc này thật tốt đẹp.
Người
mẹ bảo con trai đi vào trong phòng đã bố trí bình nước
và bồn chứa. Sau đó bà nằm ngủ ở cửa phòng.
Ðến
nửa đêm về sáng, đồng tử nói với mẹ:
- Hãy
mở cửa cho con ra ngoài đại tiểu tiện.
Mẹ
bảo:
- Trong
phòng có bồn chứa, cứ xử dụng.
Một
lúc sau, cậu này lại kêu mẹ:
- Hãy
mở cửa cho con.
Người
mẹ vẫn không mở. Người con rất tức giận.
Người
mẹ nói:
- Ta
đã biết con muốn đến chỗ nào rồi. Ta thà chết ở đây,
quyết không mở cửa cho con.
Khi
lửa dục đã ô nhiễm tâm trí, không ác gì mà không làm,
kể cả các ác nghiệp. Ngay lúc ấy, người con cầm gươm
giết mẹ nằm chết trên đất, rồi đi đến nhà trường
giả.
Ðến
nhà kia, thấy cô gái con của trưởng giả hình dung xinh đẹp.
Thiếu nữ nói:
- Anh
chớ sợ hãi, em ở một mình, không có người khác.
Thiếu
niên tự nghĩ: "Ta nên báo cho cô này biết ta đã giết mẹ".
- Này
em, anh đã vì em giết chết mẹ mình rồi.
Cô
gái hỏi:
- Ðó
là mẹ ruột hay mẹ kế?
Ðáp:
- Mẹ
ruột.
Cô
gái tự nghĩ: "Người này nổi giận, đến cả mẹ mình cũng
giết, huống chi ta là người ngoài!". Nghĩ như thế, cô này
nói rằng:
- Anh
chờ đây, em lên lầu một chút.
Cô
gái lên lầu rồi, cất cao giọng la lên:
- Trong
nhà có giặc!
Thiếu
niên này nghe thế, nương vào cửa khe nước trốn ra. Anh ta
về đến nhà, ném dao ra đất, la to lên:
- Giặc
giết mẹ tôi! Giặc giết mẹ tôi!
Sau
khi la khóc, anh ta theo pháp thế gian hỏa thiêu thây mẹ, nhưng
vẫn suy nghĩ: "Ta là kẻ ác, tạo tội cực nghịch", nên tâm
ý sợ hãi, không an ổn. Anh ta đến những nơi thờ trời,
tùy theo mỗi nơi thưa hỏi về việc tu hạnh nghiệp gì diệt
được tội nặng.
Có
người nói:
- Cần
phải nhảy vào lửa.
Có
người nói:
- Lên
bờ cao nhảy xuống.
Có
người nói:
- Nhảy
vào nước.
Có
người nói:
- Thắt
cổ chết.
Tất
cả những lời nói về các phương tiện ấy, đều đưa đến
tự chết, không có lối ra.
Sau
đó, người này đi đến rừng Thệ Ða, thấy các Bí-sô tụng
niệm kinh luận, vang lên âm thanh bài kệ:
- Nếu
người làm điều ác
Tu
thiện trừ diệt được
Người
ấy chói thế gian
Như
nhật thoát mâyche.
Bấy
giờ người này tự nghĩ: "Xuất gia Thích tử có pháp trừ
tội. Nay ta nên xuất gia, tu các thiện nghiệp để diệt trừ
tội lỗi của ta?".
Nghĩ
thế rồi, anh ta đi đến chỗ các Bí-sô thưa rằng:
- Thánh
giả, con muốn xuất gia. Ngưỡng mong từ mẫn.
Khi
ấy, Bí-sô này cho anh ta xuất gia và thọ cận viên.
Sau
khi xuất gia, vị Bí-sô này tinh cần đọc tụng, thông suốt
cả ba tạng Thánh giáo, biện tài vô ngại, lý luận khéo léo.
Có Bí-sô đến hỏi rằng:
- Cụ
thọ, do nhân duyên gì mà ngài tinh cần khổ hạnh vậy? Chắc
có điều mong cầu.
Vị
kia đáp:
- Tôi
vì mục đích tiêu diệt trọng tội.
Hỏi:
- Thầy
đã gây tội gì?
Ðáp:
- Giết
mẹ.
Hỏi:
- Mẹ
ruột hay nhũ mẫu?
Ðáp:
- Mẹ
ruột.
Bấy
giờ, các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật. Phật dạy các
Bí-sô rằng:
- Nếu
có người giết mẹ cầu xuất gia, cho họ xuất gia sẽ phá
hoại giáo pháp của ta. Phải đuổi họ ra. Từ nay trở đi
trong pháp luật của ta, nếu có người đến cầu xuất gia,
phải hỏi họ: "Người không giết mẹ, phải không?". Nếu
không hỏi, bị tội vượt pháp.
Người
kia bị chúng Tăng đuổi ra, tự nghĩ: "Nay ta không thể hoàn
tục. Nên đến chỗ biên giới xa xôi". Người này đến trú
nơi biên địa, hóa độ một trưởng giả. Trưởng giả đ?i
với Bí-sô này sinh tâm kính ngưỡng, tạo một ngôi chùa.
Lữ khách bốn phương đều đến chùa này. Người nào đến
cũng đều được nghe thuyết pháp. Có nhiều người chứng
quả A-la-hán.
Một
lúc nọ, Bí-sô này bị bệnh, dùng các loại vỏ thuốc trị
liệu nhưng không hết. Ðến lúc quá nguy khốn, giờ chết
gần kề, bảo các đệ tử phải xây phòng tắm. Các đệ
tử vâng theo lời dạy, xây phòng tắm. Khi ấy, vị Bí-sô
chủ chùa này nói kệ:
- Tích
tụ đều tiêu tán
Cao
tột phải rơi xuống
Hội
họp phải biệt ly
Có
mạng tất phải chết.
Sau
khi nói kệ, vị này qua đời, đọa vào địa ngục vô gián.
Các đệ tử đã chứng quả A-la-hán nhập định quán sát
xem Ô Ba Ðà Da nay thác sinh chỗ nào.
Họ
quán sát kỹ nơi thiên cung nhưng không thấy.
Họ
lại quán sát nơi nhân gian, bàng sanh, ngạ quỷ đều không
thấy.
Họ
lại quán sát chốn đọa ngục, thấy thầy mình đang ở địa
ngục vô gián. Bấy giờ các đệ tử đều suy nghĩ: "Ô Ba
Ðà Da của ta khi còn sinh tiền trì giới, đa văn, dùng pháp
để hóa độ. vậy đã làm nghiệp gì mà đọa vào đọa ngục
vô gián?".
Họ
lại quán sát nữa, mới thấy thầy mình có gây nghiệp giết
mẹ, nên bị lửa dữ ở địa ngục hành hạ thân xác.
Khi
bị hành hạ ở địa ngục, vị này phát sinh ý tưởng cho
đây là phòng tắm đã làm, liền kêu lên:
- Phòng
tắm! Phòng tắm! Lửa nóng dữ dội, thiêu đốt thân ta.
Khi
ấy, ngục tốt nơi cửa dùng chùy đánh lên đầu, bảo rằng:
- Tội
nhân bạc phước, đây là địa ngục vô gián, tại sao gọi
chỗ này là phòng tắm?
Khi
bị đánh vào đầu, vị này phát thiện tâm, liền mạng chung,
sinh vào cung trời Tứ thiên vương.
Phàm
khi một hữu tình sinh lên cõi thiên, khởi lên ba ý nghĩ:
* Ta
từ đâu sinh đến đây?
*
Nay ta đang ở chỗ nào?
*
Ta có nhân duyên với nghiệp gì?
Khi
khởi lên tâm niệm này, người ấy thấy rằng: Ta chết từ
địa ngục vô gián, sinh lên cung trời Tứ thiên vương. Do
nhân duyên làm phòng tắm để Bí-sô tắm rửa, nhờ phước
lực ấy nên được sinh lên cõi trời này.
Bấy
giờ vị thiên này tự nghĩ: "Ta nhờ vào phương tiện tốt
của Thế tôn, làm cho ta sinh thiên. Ta không nên ở đây, nên
đến gặp Thế tôn để báo đáp ân đức này".
Vị
thiên này khi đến gặp Phật, được nghe diệu pháp, chứng
sơ quả. Sau khi thấy được chân đế, vị này trở về thiên
cung.
Bấy
giờ vị đệ tử thượng thủ kia là bậc A-la-hán. Khi sắp
đến giờ ăn của chúng Tăng, ngay chỗ bố trí cho Thượng
tọa ngồi, người đệ tử nhỏ vì Tăng già dọn nước.
Khi
Thượng tọa thọ nước trong bát, đầu ngón tay đụng nước,
do cảm giác nước rất lạnh, vị ấy tự nghĩ: "Nay ta ở
đây được uống nước lạnh, Ô Ba Ðà Da ở trong địa ngục,
uống nước đồng sôi".
Vị
này liền quán sát địa ngục, xem xét khắp nơi nhưng không
thấy, lại quán sát khắp nhân gian, bàng sinh, ngạ quỷ đều
không thấy, liền quán sát cõi thiên, thấy thầy mình sinh
ở cõi Tứ thiên vương, lại đến chỗ Phật, chứng được
sơ quả. Thượng tọa này thấy vậy, mỉm cười nói rằng:
- Chỉ
có Phật, Pháp, Tăng là sự vi diệu thanh tịnh lớn bất khả
tư nghị. Ðây là nghiệp cực trọng, đọa vào địa ngục,
nhưng có công năng thù thắng nên được sinh thiên thượng.
Khi
ấy, vị đệ tử nhỏ dọn nước, nói với tôn giả ấy rằng:
- Ô
Ba Ðà Da chết, thầy được lên làm Thượng tọa nên vui vẻ
cười phải không?
Thượng
tọa nói:
- Này
cụ thọ! Ðiều thầy hỏi, nay chưa đúng lúc. Chờ khi Tăng
già tập họp, có thể hỏi việc này, tôi sẽ vì ông nói
ra.
Sau
đó, Bí-sô Tăng già tập họp, vị đồng học nhỏ thưa hỏi
giữa chúng:
- Ðại
đức! Trước đây vì việc gì mà hoan hỷ cười vậy? Có
phải vì thấy Ô Ba Ðà Da chết, thầy được lên làm Thượng
tọa nên sung sướng cười không?
Bấy
giờ, vị đệ tử thượng thủ đối trướùc Tăng già trình
bày sự việc trên. Các đệ tử nghe xong, rất là hoan hỷ,
đều xưng tán:
- Phật,
Pháp, Tăng bảo là đại thắng lợi. Ô Ba Ðà Da của ta tạo
tội nghiệp như vậy mà còn được sanh thiên.
Giết
cha mẹ, căn cứ đây thì phạm tội đại nghịch, nói rộng
như trước.
Phật
ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, thuyết pháp cho vua
Thắng Quang. Nhà vua nghe pháp, được kiến đế. Khi ấy, có
tám vạn thiên chúng đồng thời chứng quả, cùng có vô lượng
trăm ngàn Phạm chí, Bà la môn, cư sĩ, v.v...
Bấy
giờ, vua Thắng Quang cho giống trống tuyên bố hiệu lệnh:
- Trong
phạm vi đất nước của ta ở, không được trộm cướp.
Nếu ai phạm tội này sẽ ghép vào tội chết. Người bị
trộm, ta sẽ đem vật chất bồi thường lại theo giá trị
bị mất.
Bấy
giờ Thế tôn thuyết giảng kinh Thiếu Niên, đã điều phục
được nhà vua. Nhà vua lại ra lệnh giống trống tuyên bố:
- Trong
lãnh thổ của ta không được trộm cướp. Nếu kẻ nào vi
phạm, phải bị tội chết. Nhà nào bị trộm cướp, ta sẽ
đem của cải trong kho ra trả lại.
Khi
ấy, nước Ma Yết Ðà có trộm cướp đi về hướng nước
Kiều Tát La và ở giữa biên giới hai nước. Khách buôn qua
lại đều bị cướp đoạt.
Bấy
giờ khách buôn nước Ma Yết Ðà cùng nhau đi đến Kiều Tát
La, họ nói với nhau:
- Giữa
hai nước này có nhiều trộm cướp, lại bị đánh thuế nặng.
Khi
ấy, phần lớn khách buôn trở về, không đi nữa, chỉ ra
đi một số ít. Họ đi đến giữa đường bị trộm cướp
xuất hiện, cướp đoạt chớp nhoáng. Những khách buôn kia,
có người bị giặc giết, có người bỏ tài sản để chạy.
Trong nhóm thương nhân này có vị A-la-hán đi theo. Thấy sự
việc này, trong lúc chánh tư duy, bị giặc giết hại. Những
lái buôn chạy tứ tản được thoát khỏi, họ dùng bùn bôi
thân, gào khóc vang dội, cùng nhau đến chỗ vua Thắng Quang
chắp tay tâu vua:
- Chúng
tôi buôn bán trong lãnh thổ của vua, nay bị giặc cướp.
Vua
hỏi:
- Tại
đâu?
Ðáp:
- Tâu
đại vương, tại chỗ...
Vua
ra lệnh đại tướng tên là Tỳ Lâu Lô Trạch Lâu Lại Thác,
mau đến chỗ ấy bắt giặc đem về.
Ðại
tướng vâng lệnh, đem bốn loại binh đi bắt giặc.
Bấy
giờ bọn giặc đang ở yên trong rừng sâu, không mặc áo giáp,
cùng nhau chia tiền bạc. Ðại tướng Tỳ Lâu Lô Trạch Lâu
Lại Thác điều khiển bốn loại binh bao vây giặc. Bốn mặt
nhất thời đánh trống, thổi ốc, bọn giặc kinh hoàng bỏ
cả của cải tháo chạy. Có tên bị giết, có tên bị bắt.
Ðại tướng quân chuyển tài vật của giặc lấy trộm và
giải chúng đến chỗ vua, tâu rằng:
- Ðây
là bọn giặc và tài sản đã thu thập được.
Vua
bảo bọn giặc rằng:
- Trước
đây ta đã cho giống trống tuyên bố hiệu lệnh: trong đất
nước ta không được trộm cướp. Nếu ai trộm cướp sẽ
bị giết chết. Nhà nào bị cướp, ta sẽ xuất của cải
trong kho ra bồi hoàn.
Giặc
tâu vua rằng:
- Chúng
tôi cũng có nghe vua giống trống ra lệnh, nhưng vì tham tài
vật nên trái lệnh vua, làm trộm cướp.
Vua
hỏi:
- Các
ngươi đã cướp đoạt tài sản của người, tại sao phải
giết họ?
Họ
tâu:
- Vì
muốn khủng bố những người kia.
Vua
bảo:
- Các
ngươi đã làm người khác sợ hãi.
Nhà
vua ra lệnh cho đại thần:
- Ðem
bọn giặc này ra giết hết.
Ðại
thần đem bọn giặc đến ngã tư đường, bảo mọi người
rằng:
- Ðây
là giặc cướp bị tội chết, sắp bị đưa ra hành quyết.
Trong
nhóm giặc này có một tên chạy thoát được, vào rừng Thệ
Ða, đến gặp một Bí-sô, bạch rằng:
- Thánh
giả, con muốn xuất gia.
Bấy
giờ, Bí-sô kia cho người này xuất gia và thọ cận viên,
còn những tên giặc kia đều bị vua giết.
Sau
đó, các Bí-sô đi đến Thi Lâm (rừng để xác chết). tên
giặc xuất gia cũng đến Thi Lâm. Thấy vua giết những tên
giặc kia, liền khóc chảy nước mắt. Các Bí-sô khác thấy,
nói với nhau rằng:
- Ðây
là Bí-sô mới xuất gia, tín tâm rất sâu, thấy sự chết
này, nước mắt chảy ra.
Bí-sô
giặc thấy các Bí-sô khen, liền gào to khóc lớn. Các Bí-sô
hỏi:
- Tại
sao khóc to tiếng vậy?
Ðáp:
- Ðây
là cha, đây là anh, đây là em tôi.
Các
Bí-sô hỏi:
- Bọn
giặc này từng giết vị A-la-hán. Chẳng lẽ ngươi giết hay
sao?
Ðáp:
- Ta
đã từng giết.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Người
giết A-la-hán là đoạn phước điền, phạm tội nghịch, cũng
là phá hoại pháp của ta, phải diệt tẫn, đuổi về thế
tục. Này các Bí-sô! Nếu có người đến cầu xuất gia, Bí-sô
phải hỏi: "Ngươi không có giết A-la-hán phải không?". Nếu
không hỏi, bị tội vượt pháp.
Cụ
thọ Ô Ba Ly bạch Thế tôn:
- Nếu
có người trước đây đã xuất gia, phá hoại Tăng già. Sau
đó, họ đến cầu xuất gia n?a, nên cho họ xuất gia không?
Phật
dạy:
- Không
được.
Phật
bảo Ô Ba Ly:
- Từ
nay trở đi, nếu có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải
hỏi họ: "Ngươi đã có lần nào phá hòa hợp Tăng không".
Nếu họ không phá thì được độ. Nếu không hỏi, bị tội
vượt pháp.
Ô
Ba Ly hỏi:
- Bạch
Thế tôn! Nếu có người đối với Phật Thế tôn sinh tâm
ác nghịch, làm thân Phật chảy máu, người ấy lại mong cầu
nơi Phật, Pháp, Tăng, tâm ưa thích xuất gia, tu trì phạm hạnh.
Trường hợp như vậy nên độ họ không?
Phật
dạy:
- Không
được. Nếu có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi:
"Người không có ác tâm làm thân Phật chảy máu phải không?".
Nếu không có thì được độ. Nếu không hỏi, bị tội vượt
pháp.
Ô
Ba Ly lại hỏi:
- Bạch
Thế tôn! Nếu có người trước đây đã từng xuất gia, phạm
một trong bốn pháp Ba-la-thị-ca, rồi hoàn tục. Sau đó, đối
với thiện pháp, tâm ưa thích xuất gia, được độ họ không?
Phật
dạy:
- Không
được. Nếu có người đến cầu xuất gia, Bí-sô phải hỏi:
"Ngươi đã từng phạm tội tứ trọng không?". Nếu không hỏi,
phạm tội vượt pháp.
Phật
ở tại thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô
Ðộc. Phật bảo các Bí-sô:
- Nếu
có Bí-sô hành động bất kiến cử [*] nhân đó hoàn tục,
sau lại xuất gia và thọ cận viên. Sau khi thọ cận viên,
lại tạo các tội, vẫn không phát lộ, lại còn phát biểu:
"Tôi
không thấy tội".
Nếu
có người như vậy, Tăng già phải diệt tẫn.
(*
Bất kiến cử, một trong ba cử, tội danh theo Luật tạng:
Một:
phạm tội, bị cử tội mà không chịu nhận.
Hai:
phạm tội, không chịu ám hối.
Ba:
nói dâm dục không chướng đạo pháp.
Ðây
chỉ là trường hợp thứ nhất -- Người dịch)
Phật
dạy:
- Nếu
thọ cận viên rồi, nhưng Bí-sô vào không sám hối, không
xả ác kiến, khi chúng Tăng cử tội, liền hoàn tục. Sau đó,
lại đến cầu xuất gia, nhưng không bỏ ác kiến cũ, cần
phải diệt tẫn.
Phật
ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, vườn Cấp Cô Ðộc.
Có những người đệ tử được lục chúng Bí-sô độ, do
không biết tánh hạnh của lục chúng nên họ y chỉ theo. Sau
đó, họ biết ác tánh của lục chúng nên từ bỏ, đến quy
y nơi khác để thỉnh vấn các sự việc cần làm trong ba thời.
Bấy giờ, lục chúng Bí-sô bàn với nhau rằng: "Ðây là những
kẻ sống bằng bát đen (Hắc bát sinh), đoạt những đệ tử
ta đã độ. Nếu có độ thêm ai, phải độ sắc loại như
vậy".
Sau
đó, Ô Ba Nan Ðá thấy một người không tay, bảo rằng:
- Hiền
thủ, tại sao người không xuất gia?
Ðáp:
- Ai
có thể độ tôi là kẻ không tay?
Ô
Ba Nan Ðà nói:
- Giáo
pháp của Thế tôn từ bi khoan thứ. Ta sẽ độ ngươi.
Sau
đó, Ô Ba Nan Ðà cho người này thọ cận viên. Sau ba bốn
ngày, dạy cho các việc uy nghi, ăn uống rồi bảo rằng:
- Ngươi
không nghe hay sao? Nai không nuôi nai. Thành Thất La Phiệt rất
rộng lớn, ngươi nên đến đó khất thực để sống.
Ðệ
tử này thưa:
- Nay
thân con như vầy, làm sao khất thực được?
Ô
Ba Nan Ðà bảo:
- Cụ
thọ, ta sẽ dạy ngươi.
Ô
Ba Nan Ðà liền mặc y cho người kia, dùng dây buộc lại, đặt
bát trong túi bát, đeo vào vai trái. Tích trượng cột vào vai
phải, đi vào thành Thất La Phiệt.
Có
người phụ nữ, đi sau Bí-sô này la lên rằng:
- Ai
làm việc độc ác phi pháp thế này? Chặt cả hai tay Bí-sô
này vậy?
Bí-sô
bảo rằng:
- Này
chị em! Tôi bị chặt tay khi còn ở thế tục, không phải
sau khi xuất gia.
Hỏi:
- Ai
độ thầy xuất gia?
Ðáp:
- Ô
Ba Ðà Da của tôi là Ô Ba Nan Ðà.
Vị
Ô ba tư ca (Cận sự nữ) nói:
- Trừ
nhóm lục chúng ác hạnh vô sĩ, ai lại độ người này! Bấy
giờ, các Bí-sô đem sự việc này bạch Phật, Phật dạy:
- Này
các Bí-sô! Có các lỗi lầm do độ những người thân thể
không hoàn cụ. Thế nào là không hoàn cụ? - Ấy là: không
tay, không ngón tay, không chân, sứt môi,... các căn không đủ,
đều không được độ. Nếu ai độ những người này, phải
tội vượt pháp.
Hỏi:
- Nếu
người bị chống gậy, bị bạch biến, già quá, nhỏ quá?
Phật
dạy:
- Ðều
không được độ. Tất cả bệnh làm ô uế ngọa cụ Tăng
già đều không được độ.
Lại
nữa, chân què, mắt lệch, mắt mù, lưng còm, lùn thấp, bướu
cổ, câm điếc, bệnh nước. tất cả những người này đều
không được độ. Nếu độ họ, bị tội vượït pháp.
Lại
nữa, nếu người quá dâm dục, bị thương tổn bởi nữ nhân,
bị thương tổn bởi làm nặng, thương tổn không đi bộ được,
đại tiểu tiện không theo ý muốn... Tất cả những hạng
này đều không được độ. Nếu độ họ, bị tội vượt
pháp.
Lại
bạch Phật rằng:
- Nếu
bị bệnh ghẻ lác, ghẻ độc, mạch lươn cổ, lác khô, lác
ướt, gầy còm, ho hen, xuyển khí, tiêu khát, sốt rét, điên
cuồng, hạch, nghiện ngập, trĩ, v.v...?
Phật
dạy:
- Không
được độ. Nếu ai độ, bị tội vượt pháp.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
XUẤT
GIA SỰ
- Hết
quyển 4 (Trọn bộ) -