XUẤT
GIA SỰ
(No.
1444)
Quyển
thứ nhất
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Tổng
nhiếp tụng:
Xá
Lợi Tử xuất gia
Tinh
ngoại đạo, nhị nhân
Cập
khu-ô thiếu nhi
A-la-hán
bệnh nữ.
Biệt
nhiếp tụng:
Xá
Lợi Tử xuất gia
Hứa
thọ Cận viên pháp
Ðiều
phục vị tiểu quân
Ngoại
đạo tinh ngũ chủng
Khi
ấy, có vua nước Chiêm Ba, tên Ương Già. Ðồng thời, láng
giềng có vua nước Ma Yết Ðà, hiệu Ðại Liên Hoa. Nhân dân
hai nước đều giàu có, thịnh vượng, yên ổn. Với binh mã
hùng cường, tinh nhuệ, hai nước đánh nhau thắng bại qua
nhiều năm. Sau đó, vua Ương Già với nước giàu dân mạnh,
vì mưu tính việc oán thù nên cố gắng luyện tập quân đội
hùng mạnh, định ngày lập quyết tâm cùng nhau tiêu diệt
quân địch.
Bấy
giờ, những người ở vùng biên giới biết trước, sai sứ
giả báo cho vua Liên Hoa biết. Nhà vua nghe tin, xuất binh chống
lại để bảo vệ đất nước. Hai bên giao binh đánh nhau,
vua Liên Hoa bị thua, rút quân về thành, đóng cửa cố thủ.
Khi
ấy, vua Ương Già tính không khắc nghiệt, sai sứ đến báo
với vua Liên Hoa rằng: "Nếu hàng phục thì tốt, bằng không,
quyết không thể dung thứ. Giả sử có bay lên trời cũng giăng
lưới ra bắt. Giả sử có trốn vào nước cũng giăng dây
trói lại. Dù cho trốn lên núi, chạy vào rừng cũng không
thoát khỏi" .
Vua
Liên Hoa nghe thế rất sợ hãi, bảo với quần thần:
- Nay
quân đội của Ương Già hùng cường, sứ giả đến đây,
đất nước đang bị nguy ngập trầm trọng, các khanh có phương
pháp nào để cứu vãn không?
Quần
thần tâu vua Liên Hoa bằng kệ:
- Có
vua thì có nước
Không
vua, nước không còn
Nước
mất trùng hưng được
Người
chết không sống lại
Nước
và người khác nhau
Người
nên khéo giữ mạng
Nước
mất, lập trở lại
Mất
mạng, không sống lại
Khi
ấy, quần thần khuyên vua nên đầu hàng. Vua nghe theo ý kiến
này, tự trói mình đến gặp vua Ương Già, cùng nhau lập hòa
ước vĩnh viễn triều cống.
Sau
khi công việc hoàn tất, vua Liên Hoa được thả về.
Bấy
giờ, đức Bồ tát đang ở thiên cung Ðổ Sử. Ngài quan sát
thế giới thấy có đủ năm việc nên Ngài muốn giáng sinh.
Chư thiên ở cõi trời Lục Dục liền chuẩn bị những việc
cần thiết.
Ngay
tại thành Ca Duy La Vệ, chọn bà phu nhân Tam Tịnh Ma Da - thuộc
gia đình vua chúa Duyệt Ðầu Ðàn - là chỗ nhập thai. Do nhân
duyên này, khiến cho bà Ma Da thấy giấc mộng rất tốt đẹp.
Bà thấy: Bồ tát hiện hình voi trắng, giáng thần vào thai
mẹ. Ngay lúc ấy, đại địa chấn động, ánh sáng rực rỡ,
che mất cả màu sắc của vàng ròng, chói lọi cả thế giới,
vượt hơn cả mặt trời, mặt trăng. Phương trên, vượt lên
hết cõi trời Ba mươi ba, rực rỡ khắp nơi, xua tan hết tất
cả những nơi tối tăm. Giả sử như đem bỏ đi tất cả
ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, khắp nơi đều tăm tối,
không phân biệt được gì cả, nhưng ánh sáng thần thánh
này rọi đến đều thấy nhau rõ ràng khắp nơi. Ðây là biểu
tướng thị hiện của Thánh nhân, không phải là chỗ hiểu
biết của thế gian.
Khi
ấy có bốn vua của bốn nước lớn:
- Một:
vua Ðại Liên Hoa của thành Vương Xá.
-
Hai: vua Ðại Ma La của thành Thất La Phiệt.
-
Ba: vua Ðại Xà Ða Di của thành Ô Xá Ny.
-
Bốn: vua Ðại A Nan Ða Nê Di của thành Kiều Xá Di.
Ngay
trong ngày giáng sinh của Bồ tát, tại hậu cung của bốn vua
này đều sinh thái tử.
Ngày
vua Ðại Liên Hoa sinh con, gặp phải ánh sáng rực rỡ này,
cho là điềm lành của con mình, tự nghĩ: "Uy đức của con
ta như mặt trời mọc, uy quang của con ta có thể chiếu sáng
thế giới". Vì ánh sáng kia thù thắng, biểu thị cho điềm
lành vui vẻ, nhân đó, vua đặt tên con là thái tử Ảnh Thắng.
Khi
ấy, đại vương Ma La cũng như vua Liên Hoa, vì thấy ánh sáng
quang minh kia, cho là điềm lành của con mình, nên phát biểu:
- Nay
con ta mới sinh, só sự vui vẻ mầu nhiệm rất thù thắng,
ánh sáng khắp nơi, quốc gia thanh bình an ổn, tốt nhất là
lấy theo đức ấy để đặt tên.
Nhân
đó, vua đặt tên con là thái tử Thắng Quân.
Khi
ấy, vua Xà Ða Di cũng như hai vua kia, cho là đi?m lành của
con mình, phát biểu rằng:
- Con
ta có đức nên ánh sáng xuất hiện, nên đặt tên biểu thị
theo điềm lành vui vẻ.
Nhân
đó, vua đặt tên cho con là thái tử Xuất Quang.
Khi
ấy, vua A Nan Ða Nê Di cũng như các vua kia, cho là điềm lành
của con mình nên nói rằng:
- Con
ta đản sinh như mặt trời mới mọc, tỏa ánh sáng phá bóng
tối, ánh sáng chiếu cao rộng, biểu thị sự tốt đẹp may
mắn.
Nhân
đó, vua đặt tên con là thái tử Nhật Sơ.
Bấy
giờ, bốn vị quốc vương đều cho là con mình có những điềm
lành nên dựa theo điềm lành này mà đặt tên. Họ đều không
biết những sự biểu hiện này là do thần lực của Bồ tát
Thích Ca. Nhưng, các vị vương tử này đều có tích tập thắng
nhân từ lâu, có đại nguyện lực, đều đem theo quyến thuộc,
tùy theo bậc Thánh, sinh đến đây.
Thế
nên, khi Ảnh Thắng ra đời, cũng là thời gian bậc dị nhân
xuất hiện, làm cho ngay trong một ngày, năm trăm đại thần
đều có sinh một con trai, tùy theo tộc họ của mình mà đặt
tên.
Thái
tử Ảnh Thắng được bố trí tám bà nhũ mẫu nuôi dưỡng.
Ngày qua tháng lại, thái tử như hoa sen vượt lên khỏi nước,
học tập các môn binh thư, kỹ nghệ, lịch số, kế toán cùng
tất cả vương pháp của bua Quán đảnh Sát-đế-lợi, thông
thạo tất cả. Thái tử còn lưu tâm đến việc công xảo
và các phép tắc điều khiển voi, ngựa, xe cộ, bắn cung tên,
học tập các phương pháp cầm binh đánh kiếm, trị thương....
Tất cả các việc này, thái tử đều thông thạo. Ðối với
bốn chỗ hiểu biết phải học tập cho tinh tường (Tứ Vệ-đà),
thái tử cùng con của năm trăm đại thần đều thông đạt
tất cả.
Vào
thời gian nọ, thái tử tham dự việc quốc gia. Nhân khi ngày
nghỉ, thái tử voi du hành trong nhân gian, thấy có người đang
thu thuế, thái tử hỏi tùy tùng:
- Những
người này tại sao được thu thuế?
Ðáp:
- Ðây
là sứ giả của vua Ương Già, nước láng giềng, từ xa đến
thu thuế theo quy đ?nh.
Thái
tử hỏi:
- Nước
ta tại sao lại đóng thuế cho họ?
Ðáp:
- Từ
xưa đến nay đã quy định như vậy.
Tức
thì thái tử triệu sứ giả đến hỏi:
- Nước
ngươi cũng là vua Sát-lợi quán đảnh, nước ta cũng là vua
Sát-lợi quán đảnh. Sự trị nước không đồng, nhân dân
cung khác, tại sao các người vượt qua biên giới của mình
đến đây thu thuế? Các ngươi hãy mau trở về nước. Từ
nay ta vĩnh viễn cấm tuyệt sự việc này.
Sứ
giả kia nghe vậy, tự nghĩ: "Ðây là thái tử bản tánh ngang
ngược, ý muốn bội ước để cho ta trở về tay không. Chúng
ta nên đến gặp vua Ðại Liên Hoa để tiến hành việc trưng
thu này" .
Sau
khi gặp vua, họ được vua ra sắc lệnh: được trưng thu theo
như cũ.
Trên
đường về, thái tử gặp lại những sứ giả này, họ tiếp
tục thu thuế như cũ chứ không đình chỉ. Thái tử bảo:
- Ta
đã ra lệnh cho các ngươi rời khỏi nơi đây, tại sao các
ngươi còn lưu lại? Hãy trở về thì tốt, nếu không rời
khỏi thì bị trừng phạt.
Những
người kia sợ hãi, cùng tập họp nhau lại trở về nước.
Sau
khi về nước, họ tâu tất cả sự việc lên nhà vua:
- Thái
tử Ảnh Thắng là người bạo ngược, làm trái hiệp ước,
không cho phép thu thuế. Cầu mong nhà vua sớm có kế hoạch
đối phó. Nếu không làm ngay, sợ sinh ra tai họa sau này.
Nhà
vua dùng kệ nói với các sứ thần:
- Cây
lớn khi trong mầm
Móng
tay bấm đứt ngay
Cao
lớn liên kết nhau
Búa
rìu không chặt ngã.
Bấy
giờ vua Ương Già rất giận, liền sai sứ mang thư đến cho
vua Ðại Liên Hoa, nói rằng: "Ảnh Thắng nghịch mạng, phải
trói cổ dẫn đến đây ; bằng không, ta sẽ thân chinh đến
giết nó. Nên hiểu ý trẫm".
Vua
Liên Hoa nghe xong, cùng quần thần kinh hãi, chỉ sợ mất nước,
liền triệu Ảnh Thắng đến, trách cứ việc chống cự kia
và đưa thư cho Ảnh Thắng xem. Ảnh Thắng tâu:
- Họ
là vua Sát-lợi quán đảnh. Nước ta cũng là vua Sát-lợi quán
đảnh. Lãnh thổ khác nhau, tại sao lại phải nộp thuế cho
họ? Ngưỡng mong đại vương ban cho bốn loại binh để con
tự chống lại với họ.
Bấy
giờ, vua Liên Hoa tự nghĩ: "Ảnh Thắng có thể gánh vác được
việc lớn", nên vua mới phúc thư cho vua Ương Già. Thư rằng:
"Qua
thư, ngài muốn sai tôi truy tìm Ảnh Thắng và ra lệnh cột
cổ đưa đến cho ngài. Nhưng đứa con này, tôi muốn nó được
kế tục sự nghiệp của tiên vương. Lệnh trên tuy đáng làm
nhưng tôi chưa dám vâng theo. Ðại vương tất muốn dùng đao
to chém xuống, khí mạnh lấn sang, binh mã tràn đồng. Tôi
chỉ biết chờ ngài xử tội" .
Vua
Ương Già được nghe tâu như vậy, tức giận vô cùng, liền
ra lệnh tổng động viên quân lực toàn quốc, trang bị khí
giới. Vua sẽ thân chinh phá diệt Liên Hoa, xử trảm Ảnh Thắng.
Nhà
vua liền đưa ngàn vạn quân sĩ, binh mã mạnh mẽ, cờ xí
rợp đất, chuông trống vang trời, tiến vào nước Ma Yết
Ðà.
Khi
ấy, vua Liên Hoa kinh hãi, liền triệu Ảnh Thắng đến, giao
cho bốn loại binh. Thái tử vâng lệnh vua, thống lĩnh con của
các đại thần, truyền lệnh:
- Vua
Ương Già cùng nước ta vốn có cựu thù, nay ta phải phục
hận. Bọn giặc ấy khi xâm lấn đến nước ta có nhiều mưu
chước. Các người đã có công lao nhiều đời, lại thọ
ân sũng của quốc gia, có những phương sách nào giúp ta để
phá giặc, giữ yên cho nhân dân không?
Tất
cả đáp:
- Chúng
tôi tuy không có kế gì nhưng dám liều thân theo phò thái tử.
Khi
ấy, Ảnh Thắng nói kệ:
- Trị
quốc, dưỡng nhân dân
Phải
nên khéo giữ gìn
Nếu
ngoại xâm lấn chiếm
Bá
tánh biết nương đâu?
Thái
tử bảo với mọi người:
- Các
người phải đồng tâm hiệp lực hộ vệ ta.
Nói
thế xong, thái tử ra lệnh ba quân, binh mã tiến hành. Vua Ðại
Liên Hoa leo lên lầu cao, cùng các thị vệ vây quanh, xem quân
đội ở từ xa, nói với quần thần:
- Ðấy
là binh của ai?
Ðáp:
- Ðấy
là binh của thái tử Ảnh Thắng.
Vua
nói:
- Các
ngươi nên biết, binh sĩ ấy rất đông, nên gọi là binh chủng
Ảnh Thắng. Trong ấy, hoặc gọi là thang lớn Ảnh Thắng.
Như
vậy có những lời khen tặng về uy đức hùng mạnh của thái
tử.
Khi
ấy, thái tử bảo mọi người:
- Ta
nghe người thiện chiến không phải mệt nhọc về quân trận.
Nay vua Ương Già có binh mã to lớn, số lượng rất đông,
không thể đối địch với chúng, chỉ gây thương tổn cho
ta. Ta phải dùng mưu thần bí quyết bắt họ là thượng sách.
Thái
tử tuyển mộ những người mạnh khỏe, chờ lúc địch không
phòng bị, giết vua Ương Già. Ba loại quân của sáu sư đoàn
nhất thời tan rã. Thái tử vội chỉnh đốn quân mã tiến
về phương Bắc. Người nước kia không biết vua Ương Già
đã chết nên cố thủ thành.
Khi
ấy, thái tử Ảnh Thắng ra lệnh treo đầu vua Ương Già lên
ngọn giáo cho trong thành thấy và ra lệnh:
- Ðây
là đầu vua Ương Già, các ngươi hãy mau mở cửa thành. Nếu
không thi hành, sẽ bị chết hết trong một lúc.
Mọi
người nghe nói vậy rất sợ hãi, tức thì mở cửa. Các vị
đại thần cột cổ quy hàng, nhân dân bá tánh đều chịu
phục tùng.
Khi
thái tử Ảnh Thắng vào thành rồi, sai sứ về tâu lên vua
cha:
- Nhờ
uy lực của đại vương và quần thần tận lực, tên nghịch
mạng Ương Già đã bị trừ diệt. Khắp nơi không còn sự
lo lắng, xa gần đều an ổn.
Vua
Liên Hoa nghe vậy, vô cùng mừng rỡ, liền đem các loại y
phục, chuỗi ngọc trang sức và lọng bảy báu đến tặng
cho Ảnh Thắng và phong làm vua nước Chiêm Ba, thay thế vua
Ương Già. Nhân dân cả nước đều gọi là đại vương Ảnh
Thắng.
Sau
đó, thần công thánh đức của Ảnh Thắng thông cả bốn
biển, nhân dân phong phú an lạc, trộm cướp không còn, uy
đức vang dậy, luu bố gần xa.
Một
thời gian sau, vua Liên Hoa băng hà, quần thần nước Ma Yết
Ðà báo tin cho Ảnh Thắng biết và mời về để trị nước.
Bấy
giờ, Ảnh Thắng đem hết việc nước của Chiêm ba giao cho
cựu thần rồi trang bị xe cộ trở về nước thọ tang.
Sau
tang lễ, Ảnh Thắng kế vị vua cha, dùng pháp giáo hóa dân,
mưa thuận gió hòa, mùa màng sung túc, khắp nơi an ổn, đức
độ được xây dựng cao tột, các nước lân cận đều kính
nể, không có oán tặc.
Bấy
giờ, ở Trung Thiên Trúc có con của một Bà la môn muốn học
pháp thuật nên đi khắp nơi, đi dần đến phương Nam.
Tại
Nam Thiên trúc có một đại Bà la môn tên là Ðịa Sư thông
thạo bốn bộ luận, được mọi người tôn xưng là Ðại
sư. Người này đến gặp Ðại sư, lạy sát chân, chấp tay
thưa:
- Con
xin làm lễ ra mắt, được xin làm đệ tử.
Ðại
sư hỏi:
- Con
muốn học gì?
Ðáp:
- Con
muốn học bốn bộ luận Vệ-đà.
Ðại
sư nói:
- Ta
đồng ý cho ngươi học theo ý muốn.
Sau
đó, người đệ tử này theo học các pháp sự.
Theo
pháp của Bà la môn, mỗi tháng có ba ngày không làm các việc
khác, ngoại trừ ba việc là khi tắm rửa, khi đi phố chợ,
khi đốt củi.
Ðến
ngày này, các vị đệ tử Bà la môn cùng nhau đi lấy củi
để đốt. Trên đường đi, họ hỏi nhau về chủng tộc,
quê quán, bốn họ độc tử, tùy theo từng họ trả lời.
Họ lại cùng nhau hỏi rằng:
- Người
ở phương nào?
Một
người trả lời:
- Tôi
ở phương Ðông.
Có
người trả lời:
- Tôi
ở phương Nam.
Có
người trả lời:
- Tôi
ở phương Tây.
Có
người trả lời:
- Tôi
ở phương Bắc.
Lại
có người nói:
- Các
quốc độ kia, ta đều được nghe thấy.
Họ
nói kệ rằng:
- Phương
Ðông trí tuệ
Phương
Tây lưỡng thiệt
Phương
Nam kính thuận
Phương
Bắc ác khẩu.
Các
vị đệ tử Bà la môn nói:
- Các
xứ khác ta đã biết như vậy, không biết Trung Ấn như thế
nào?
Các
vị đệ tử hỏi thầy họ:
- Ô
Ba Ðà Da! Con muốn đến Trung Ấn để xem xứ sở ấy. Con
muốn tắm rửa bằng nước nơi đó, tham kiến các vị thầy
nơi đó. Con muốn hàng phục các luận sư ở nước ấy. Tên
tuổi của chúng ta sẽ vang dậy khắp nơi, thu hoạch nhiều
của cải, thật là lợi ích!
Vị
thầy Bà la môn này sinh tâm niệm rất ưu ái đối với đệ
tử nên đem y vật phân chia cho các đệ tử. Sau khi chuẩn
bị xong, họ cùng nhau đi về Trung Ấn.
Trên
đường đi, họ gặp những người có trí tuệ đều bàn luận
cùng họ, họ đều thắng cuộc. Có lúc họ khuất phục người,
dùng bình đựng tro đổ lên đầu kẻ bị thua. Có nhiều người
đến học nghệ thuật cung tiễn, chiến cụ, họ đều dạy
bảo. Có những người đem hoa, hương, phan lọng, bảo cái
đến tiếp nghinh họ. Lại có vô số người đến phụng sự
họ như thầy. Họ đi dần dần qua các nước, thành phố,
xóm làng, đến đâu thắng đó.
Khi
mới đến Trung Ấn, Bà la môn tự nghĩ: "Ta nghe những người
có trí đều tập trung ở triều đình. Hôm nay ta cũng nên
đến đó để hàng phục họ. Việc này như thế nào? - Như
cây lớn có gốc và nhành lá, những nơi ta đi qua cũng như
nhành lá. Tại triều đình, nếu ta thắng, cũng như chặt gốc.
Nay ta nên đến chỗ vua ở".
Bà
la môn nghĩ thế, đi đến chỗ vua.
Sau
khi chúc thọ vua sống lâu không bệnh, Bà la môn đứng qua
một bên, tâu vua rằng:
- Hạ
thần từng được học ít nhiều nơi thầy dạy, ngưỡng mong
được cùng với các vị thầy trong nước này đàm luận.
Nhà
vua bảo:
- Ta
đồng ý lời yêu cầu này.
Vua
lại bảo các đại thần:
- Ngay
trong đất nước của ta, có những vị Bà la môn nào có thể
cùng vị này đàm luận không?
Quần
thần tâu:
- Có
Bà la môn ở thôn Na La, thông hiểu bốn bộ luận Vệ-đà,
trí tuệ như lửa cháy. Ông ta tự soạn lấy sách luận đề
tên là Ma Thát La.
Nhà
vua bảo:
- Hãy
mời vị Ô Ba Ðà Da ấy lại đây.
Ðại
thần y lệnh, mời Bà la môn ở thôn Na la đến.
Sau
khi vị này chúc tụng xong, vua hỏi:
- Người
có thể cùng vị Bà la môn kia luận nghị trước mặt ta không?
Vị
này đáp:
- Phụng
mệnh nhà vua, thần sẽ gắng hết sức để thù tiếp vị
kia.
Khi
ấy, theo phép tắc, bố trí Mạn-đà-la (đạo tràng), hai bên
cùng ngồi vào chỗ đã được soạn sẵn.
Nhà
vua ra lệnh:
- Ai
trình bày trước?
Ðại
thần tâu:
- Vị
Bà la môn khắc tên địa sư có thể trình bày trước.
Ðịa
sư vâng lệnh, tụng năm trăm bài kệ rồi im lặng.
Bấy
giờ, Ma Thát La tụng lại bài tụng này, làm nổi lên rất
nhiều lỗi sai sót trong bài tụng của địa sư.
Ma
Thát La phát biểu:
- Ngôn
nghĩa trong bài tụng của ngài không phù hợp với bài của
tôi, không đúng với đạo lý.
Ðịa
sư nghe xong, im lặng không biết nói gì. Theo pháp luận nghị,
im lặng không trả lời là chấp nhận thua.
Nhà
vua hỏi quần thần:
- Ai
thắng? Ai thua?
Ðại
thần tâu:
- Ma
Thát La luận nghị đắc thắng.
Nhà
vua rất vui vẻ, phán rằng:
- Trong
đất nước ta cũng có người thông minh đại trí tuệ như
thế này!
Nhà
vua hỏi tiếp:
- Này
Ô Ba Ðà Da, người ở tụ lạc nào?
Ðáp:
- Thần
ở thôn Na La.
Nhà
vua liền phong thưởng cho thôn Na La, tùy ý thọ dụng.
Thông
thường, người đời nếu muốn cầu sự sung sướng, có những
nữ Bà la môn đang kén chồng nhưng chưa có nơi vừa ý, bấy
giờ Ma Thát La chọn lấy một cô vừa ý làm vợ, sống chung
hạnh phúc, không lâu sinh được một con trai. Họ lập hội
vui mừng rất to lớn. Bé trai này thân thể cao dài, nhân đó
họ đặt tên con là Trường Thể và nuôi dưỡng chu đáo.
Trường
Thể lớn lên, được dạy các nghề như: kế toán, thủ ấn,
Bà la môn hạnh, tẩy tịnh, lấy tro, lấy đất, ca vịnh bốn
sách Vệ-đà, cúng tế, đọc tụng, thành tựu sáu cách cho
và nhận.
Sau
đó, hai vợ chồng Ma Thát La sinh thêm một gái. Cô gái này
có đôi mắt như chim Anh Lạc (anh vũ). Thân thuộc tập họp
đặt tên cho cô là Anh Vũ. Cô này được nuôi dưỡng, khi
trưởng thành được cha dạy cho văn học và các pháp luận
nghị.
Sau
đó, cô ta thường luận nghị cùng anh. Khi cô luận nghị,
thắng cả anh mình. Người cha bảo con rằng:
- Con
là đàn ông, lý luận thua con gái, ta thật không người thừa
kế. Tài sản của ta chắc chuyển qua người khác.
Sau
đó, ở Nam Thiên Trúc có đồng tử Bà la môn tên Ðể Sa,
thông hiểu về Vô hậu thế luận. Ðể Sa vì cầu pháp nên
từ Nam Thiên Trúc đến gặp Ma Thát La, lạy sát hai chân, thưa:
- Ðại
sư! Con muốn học đạo với Ô Ba Ðà Da.
Hỏi:
- Ngươi
muốn học nghề gì?
Ðáp:
- Con
muốn học Vô hậu thế luận.
Thầy
nói:
- Ta
nhận lời của người.
Sau
khi Ðể Sa thọ pháp rồi, gặp lúc hết giờ học luận thuyết
với các bạn, luôn luôn thắng cuộc. Sau đó, đồng tử Ðể
Sa cùng thầy luận thuyết trước vua. Hai bên chia làm hai nhóm.
Ma Thát La là bậc niên trưởng nên được phát biểu trước.
Ma
Thát La tự nghĩ: "Ðồng tử Bà la môn này mới học thành
tài, sợ bắt bẻ không được, vậy nên đẩy hắn vào chỗ
rối loạn" .
Nghĩ
thế xong, Ma Thát La tụng năm trăm bài kệ dài. Ðồng tử
Bà la môn tụng kệ đáp lại, bác bỏ được những chỗ sai
lầm của Ma Thát La, đây là lời sai, đây là câu sai, thuyết
này không đúng.
Ma
Thát La phải đứng im lặng.
Phàm
biện luận không bằng, không trả lời được là bị thua.
Bấy
giờ, vua hỏi quần thần:
- Ai
thắng?
Quần
thần tâu:
- Bà
la môn Ðể Sa thắng.
Nhà
vua phán:
- Người
thắng được ban cho thôn ấp.
Khi
ấy, các đại thần tâu vua rằng:
- Nếu
có người đến đây lý luận thắng cuộc thì được thưởng
thôn ấp. Vậy thì, không bao lâu nước Ma Yết Ðà sẽ mất
hết. Nên thu lại thôn ấp của Ma Thát La ban cho Ðể Sa xử
dụng.
Bấy
giờ vua phán:
- Ðúng
vậy.
Và
thu lại thôn ấp đã ban cho Ma Thát La để ban cho Ðể Sa.
Ma
Thát La về nhà bảo vợ rằng:
- Này
hiền thủ! Mau chuẩn bị hành trang đi đến phương khác.
Vợ
hỏi:
- Tại
sao?
Ðáp:
- Ta
lâu nay thừa sự nhà vua, nay gặp lúc luận nạn, vua không
giúp đỡ ta, đoạt lại thôn ấp của ta.
Người
vợ thu xếp hành trang, sắp lên đường. Bấy gi? thân tộc
nghe việc này, đến hỏi thăm:
- Ô
Ba Ðà Da! Tại sao thu xếp hành trang?
Ðáp:
- Từ
lâu ta thừa sự nhà vua. Khi ta bị luận nạn, vua không che
chở cho ta, thế nên ta phải ra đi.
Thân
tộc nói:
- Thầy
sống ở đây thật tốt, mong ở lại đây với thân tộc.
Ma
Thát La nói kệ:
- Trong
nước bị người khinh
Sống
nước ngoài tốt nhất
Nơi
không bị khinh khi
Là
quê hương thân tộc.
Khi
ấy, Bà la môn Ðể Sa nghe vậy, nói rằng:
- Này
Ô Ba Ðà Da! Tôi là người khách, chỉ ở tạm để rồi đi.
Thôn ấp tôi được nhận lãnh, xin giao lại cho ngài.
Bấy
giờ, Ma Thát La tuy được ân huệ này nhưng vẫn không chịu
nhận.
Ðể
Sa lại nói:
- Ngài
hãy thư thả ở lại đây, nhận một nửa thôn ấp, tôi nhận
một nửa.
Ma
Thát La đáp:
- Lành
thay!
Sau
đó, Ma Thát La bảo vợ rằng:
- Này
hiền thủ! Ta phục vụ nhà vua đã lâu nhưng vua không bảo
hộ ta. Nay Ðể Sa tạo một ân huệ lớn, cho ta nửa thôn ấp,
ta nên gả con gái cho người ấy làm vợ.
Vợ
nói:
- Hãy
đợi ý kiến của con lớn Câu Tỳ Sỹ La.
Người
cha bảo với con:
- Ta
phục vụ nhà vua đã lâu, khi gặp luận nạn vua không bảo
hộ ta. Bà la môn Ðể Sa có ân huệ lớn, cho ta nửa thôn ấp.
Nay ta đưa Xá Lị làm vợ Ðể Sa.
Người
con thưa cha:
- Ðể
Sa này là kẻ thù oán của cha, đoạt thôn ấp, lẽ nào ta
kết làm người thân?
Người
cha bảo:
- Ngươi
thật ngu si, không hiểu biết gì. Ý kiến chân chính của cha
mẹ, con phải vâng theo, không được chống lại.
Sau
đó, Ma Thát La y theo lễ pháp gả con gái cho Ðể Sa.
Bấy
giờ, Câu Tỳ Sỹ La tự nghĩ: "Nay ta bị xem thường chỉ vì
ít nghe kém học. Nhưng Bà la môn Ðể Sa này do thông hiểu
Vô hậu thế luận nên đắc thắng. Ta cũng nên học luận
này".
Nghĩ
thế rồi, Câu Tỳ Sỹ La tìm hỏi về những người ở xứ
nào, phương nào, nước nào thông hiểu về Vô hậu thế luận.
Có
người bảo rằng:
- Những
người ở phương Nam giỏi nhất.
Câu
Tỳ Sỹ La đi dần về Nam Thiên Trúc, hỏi khắp trong nước:
ai thông hiểu về Vô hậu thế luận. Có người mách bảo:
- Có
Phạm chí tên....
Câu
Tỳ Sỹ La nghe lời chỉ dẫn, đến gặp đạo sĩ, thưa rằng:
- Bạch
tôn giả, con muốn thờ ngài làm thầy, ngưỡng mong ngài tiếp
nhận.
Vị
Phạm chí hỏi:
- Ngươi
muốn cầu việc gì?
Ðáp:
- Con
muốn học Vô hậu thế luận.
Phạm
chí nói:
- Ta
không truyền dạy cho người cư sĩ thế tục.
Câu
Tỳ đáp:
- Nếu
phải như vậy, nay con xuất gia.
Phạm
chí cho Câu Tỳ xuất gia. Câu Tỳ tự kỳ hạn:
- Nếu
ta không thông hiểu luận này, quyết không cắt móng tay.
Do
đó, móng tay Câu Tỳ rất dài. Người bấy giờ gọi Câu Tỳ
là Trường Trảo Phạm chí.
Nói
về Xá Lị cùng Bà la môn Ðể Sa chung sống hạnh phúc với
nhau. Có vị thiên cõi Tịnh Cư đã trồng căn lành từ lâu,
sẽ thọ thân tối hậu, không còn thích sinh tử nữa, chuyên
cầu Niết-bàn, không cầu đời sau. Vị này với thân tối
hậu, ẩn mất từ cõi trời Tịnh Cư, thác vào thai bà Xá
Lị.
Ngay
khi thọ thai, bà Xá Lị mộng thấy có người cầm đuốc đi
vào bụng mình. Sau đó, bà đi lên núi lớn, rồi bay lên hư
không, lại thấy mọi người làm lễ với bà.
Sau
khi thức giấc, bà Xá Lị thưa với chồng về các sự việc
trong giấc mộng. Bà la môn Ðể Sa tuy hiểu về sách giải
mộng nhưng không đoán ra được sự việc này. Ông ta đi đến
chỗ vị Bà la môn thông hiểu về sách giải mộng, nói:
- Vợ
tôi thấy giấc mộng như vậy vào đêm trước.
Người
Bà la môn giải mộng trả lời:
- Mộng
này rất tốt.
Vị
này ghi nhận rằng:
- Bà
Xá Lị sẽ sanh con trai tốt. Năm mười bốn tuổi đọc tụng
thông thạo các luận của thiên đế. Lại nữa, người này
sẽ thắng tất cả các luận nạn. Thấy lên núi lớn, bay
lên hư không, được mọi người lễ bái, v.v... như vậy người
này sẽ xuất gia, có uy đức lớn, thành tựu đại giới,
là bậc trời người cung kính, nên dự báo như vậy.
Sau
đó, Bà la môn Ðể Sa luận nạn cùng Bà la môn Xá Lị, Xá
Lị đắc thắng.
Bấy
giờ Bà la môn tự nghĩ: "Trước đây, khi luận nạn, ta thắng
Xá Lị, nay lại bị thua. Ðây so duyên cớ gì?" .
Ông
ta lại nghĩ: "Ðây chính là do thai nhi, nhờ uy đức của nó
nên Xá Lị đắc thắng. Sau khi đủ mười tháng, họ sinh hạ
được một bé trai, hình dung đoan chánh, tướng mạo đầy
đủ, thân thể như vàng ròng, đỉnh đầu tròn như cái lọng,
tay dài quá gối, trán rộng bằng phẳng, mũi cao hướng thẳng,
đầy đủ tướng mạo của bậc đại nhân. Gia đình, họ
hàng mừng rỡ, tập họp lại, muốn đặt tên, sẽ đặt tên
gì đây?
Người
cha nói:
- Nên
đưa nó về gặp ông ngoại để ông ấy đặt tên cho.
Sau
khi gặp ông ngoại, người hầu Ðể Sa thưa rằng:
- Thưa
ông, nên đặt đứa bé này tên là gì?
Ông
ngoại nói:
- Nó
là con của Ðể Sa, nên lấy tên là Ô Ba Ðể Sa.
Người
hầu đưa đứa bé trở về, Ðể Sa hỏi:
- Ðứa
bé tên gì?
Ðáp:
- Tên
Ô Ba Ðể Sa.
Ðể
Sa tự nghĩ: "Ðứa bé này lấy tên tộc bằng dòng họ cha.
Nay ta lấy dòng họ mẹ đặt tên tự cho nó là Xá Lị Tử.
Người
bấy giờ gọi Xá Lị Tử hay Ô Ba Ðể Sa.
Xá
Lị Tử được giao cho tám bà nhũ mấu nuôi nấng.
Bấy
giờ người mẹ nuôi con bằng sữa lạc hảo hạng cùng đề-hồ.
Ðứa bé trưởng thành mau lẹ như hoa sen vượt lên khỏi nước.
Ðứa bé lớn lên, được học tập thông đạt kỹ thuật,
nghề nghiệp trong thế gian thông thạo cả bốn bộ Vệ-đà.
Năm mười sáu tuổi, Xá Lị Tử thông hiểu ngôn ngữ của
Ðế Thích (Phạn ngữ), thường bàn luận hàng phục kẻ khác.
Sau
đó, trước mặt cha, Xá Lị Tử đọc các luận Vệ-đà, thưa
cha:
- Những
điều con vừa đọc tụng có ý nghĩ gì?
Cha
đáp:
- Ta
không biết.
Ðáp:
- Những
lời tán tụng này là do những vị tiên từ ngàn xưa làm ra.
Người bây giờ tuy không hiểu nghĩa, nhưng lời tán tụng
của vị tiên chẳng phải không có nghĩa lý.
Xá
Lị Tử học hành vượt hơn mọi người.
Người
cha đã có năm trăm đệ tử, đều quy phục Xá Lị Tử. Bấy
giờ, Xá Lị Tử dạy các đệ tử những minh luận một cách
hoàn bị.
Khi
ấy, ở tụ lạc Lâm Viên có một đại thần tên là Hình
Ảnh, đang sống tại đó. Ông ta rất giàu có, hưởng thụ
đầy đủ, thê thiếp tuy nhiều nhưng không có con. Ông ta mong
cầu có con trai nên đối với bất cứ đền miếu, sơn lâm
thọ thần nào, ông cũng đều đến cầu nguyện.
Có
một người thân tối hậu, từ bỏ cõi thiên, thác vào thai
mẹ, v.v...
Sau
khi đứa bé ra đời, gia đình muốn đặt tên. Mọi người
bảo rằng:
- Ðã
là con do chư thiên mang đến, nên đặt tên là Thiên Bảo.
Còn gọi là Mục Kiền Liên.
Trưởng
giả Hình Ảnh xếp đặt tám bà nhũ mẫu để nuôi con. Ðứa
bé được nuôi dưỡng trưởng thành như hoa sen vượt lên
nước, v.v... như ở trước. Mục Kiền Liên học thông đạt
sáu loại pháp sự, bốn luận Vệ-đà.
Bấy
giờ, Thiên Bảo phụ trách dạy năm trăm đệ tử.
Sau
buổi học, năm trăm đệ tử này vừa tụng tán, vừa đi vào
thành.
Năm
trăm đệ tử của Ô Ba Ðể Sa cũng tụng tán và đi vào thành.
Khi
ấy, đệ tử của Ðể Sa nói với đệ tử của Mục Kiền
Liên:
- Tại
sao quý vị tụng sai luận văn?
Hỏi:
- Vì
sao?
Ðệ
tử của Ðể Sa hỏi tiếp:
- Quý
vị học ở đâu?
Ðáp:
- Thầy
của chúng tôi trú ở tụ lạc Lâm Viên, là con vị đại thần,
tên Mục Kiền Liên, đầy đủ Nhất thiết trí, như mặt trăng,
mặt trời. Chúng tôi học nơi vị ấy.
Ðệ
tử của Ô Ba Ðể Sa với học vấn đầy đủ, không có sợ
hãi, tâm ý vui mừng, đến gặp thân giáo sư. Thầy thấy học
trò đến, hỏi rằng:
- Tại
sao vui vẻ vậy?
Ðáp:
- Không
có gì cả.
Thầy
nói kệ:
- Trong
lòng có tình ý
Có
thể đoán biết được
Theo
hình dạng ngôn ngữ
Biết
ý nghĩ của họ.
Sau
khi nói tụng, bảo đệ tử:
- Có
việc đấy.
Ðệ
tử đem sự việc vừa rồi trình bày với thầy, thầy nói:
- Những
lời họ đọc tụng là cách đọc đảo ngữ văn của ta, đều
đúng cả.
Ðệ
tử nghe xong im lặng, không vui.
Khi
ấy, các đệ tử của Mục Kiền Liên về gặp thầy, buồn
bã không vui. Thầy thấy thế, hỏi:
- Tại
sao không vui?
Ðáp:
- Không
có gì!
Thầy
bảo:
- Có
việc đấy. Vì sao buồn?
Khi
ấy, các đệ tử đem sự thật trình bày cho thầy nghe.
Thầy
nói:
- Theo
những lời họ tán tụng, thầy họ là bậc thông minh trí
tuệ. Những là trường luận, đảo luận, thúc văn, dẫn văn
cực kỳ xảo diệu.
Hai
vị thầy nghe biết nhau nên muốn gặp gỡ.
Ô
Ba Ðể Sa đến gặp cha, thưa:
- Con
muốn đến tụ lạc Lâm Viên một lúc.
Cha
hỏi:
- Tại
sao?
Ðáp:
- Nơi
ấy có vị đại thần tên Hình Thắng, người con tên Câu
Lý Ða. Con muốn gặp anh ta.
Cha
nói:
- Trí
tuệ người ấy có thể thắng con.
Con
thưa:
- Trí
tuệ không thắng, nhưng anh ta giàu có, nhiều tài sản nên
mọi người đều khen tốt.
Ô
Ba Ðể Sa nói kệ:
- Niên
trưởng đáng tôn trọng
Người
nhiều tiền cũng vậy
Người
học rộng nghe nhiều
Ðáng
tôn trọng phục vụ.
Cha
nghe con nói, bảo con rằng:
- Nếu
anh ta đến đây, ta có thể truyền dạy, nhưng không nên đến
đó.
Trong
lúc ấy, Câu Lý Ða đến thưa với cha rằng:
- Con
muốn đến tụ lạc Na Kích Ðà.
Cha
hỏi:
- Tại
sao?
Thưa:
- Ở
đó có vị Bà la môn tên là Ðể Sa, có người con tên Ô Ba
Ðể Sa. Con muốn đến gặp anh ta.
Cha
hỏi:
- Họ
giàu bằng con không?
Ðáp:
- Họ
không giàu bằng nhưng trí tuệ hơn con.
Câu
Lý Ða nói kệ:
- Niên
trưởng đáng tôn trọng
Người
học nhiều cũng thế
Nếu
có nhiều tài sản
Ðều
tôn trọng phục vụ.
Cha
bảo con rằng:
- Nếu
anh ấy đến đây, con nên tặng tài vật, nhưng không nên đến
đó.
Thời
gian sau đó, trong thành Vương Xá có lễ hội lớn. Khi ấy,
theo phép vua, hoặc tự vua đến, hoặc sai thái tử. Bấy giờ,
vua có việc riêng, không thể đi, liền sai thái tử Vị Sanh
Oán đến tham dự cuộc vui chơi.
Hình
Ảnh nghe thái tử du hành, tự nghĩ: "Vua Ảnh Thắng băng hà,
thái tử Vị Sanh Oán sẽ kế nghiệp vương vị. Câu Lý Ða
của ta sẽ thừa tự làm thần tử" .
Nghĩ
như thế, Hình Ảnh bảo với con rằng:
- Con
nên đến chỗ vui chơi, có bố trí bốn tòa cao, đó là: vương
tòa, đại thần tòa, âm thanh tòa, Bà la môn tòa.
Cha
lại bảo con:
- Con
nên ngồi trên đại thần tòa.
Con
nghe lời cha dạy, đi đến ngồi vào chỗ kia.
Khi
ấy, Ðể Sa cũng nghe vua Ảnh Thắng, sai thái tử xuất thành
vui chơi, bảo con rằng:
- Con
nên đến nơi đó, xem bốn tòa cao. Con đem bình bát và tích
trượng bố trí ở tòa thứ ba. Con lên ngồi ở tòa thứ tư.
Từ sáng đến chiều tối sẽ có các luận sư, họ không bằng
con được.
Con
nghe cha dạy, đến ngồi ở tòa.
Khi
ấy, mọi người tấu các loại âm nhạc, ca vịnh tán thán,
Ô Ba Ðể Sa im lặng ngồi yên. Mọi người thấy vậy, bảo
nhau rằng:
- Người
này chắc là đại ngu. Nếu không phải ngu thì đại trí, thế
nên im lặng.
Bấy
giờ, Câu Lý Ða hỏi Ô Ba Ðể Sa:
- Bạn
có thấy mọi người chơi âm nhạc, ca vịnh không?
Ðáp:
- Tôi
chánh nội quán, không thấy các việc ấy.
Hỏi:
- Tuy
không thấy nhưng lẽ nào không nghe?
Ô
Ba Ðể Sa nói kệ:
- Da
gân chết tấu nhạc
Làm
mọi người vui vẻ
Vô
thường mau như xe
Người
trí biết, không vui.
Khi
ấy, Câu Lý Ða và mọi người nghe bài tụng xong, liền hỏi:
-Người
có phải là Ô Ba Ðể Sa không?
Ðáp:
- Mọi
người nên biết, ta chính là Ô Ba Ðể Sa.
Ðể
Sa hỏi lại Câu Lý Ða:
- Người
có thấy âm nhạc ...(như trên)... không?
Ðáp:
- Không
thấy.
Ðể
Sa nói:
- Người
tham nội quán, nhưng tai không nghe hay sao?
Câu
Lý Ða nói kệ đáp:
- Tất
cả loại chuỗi ngọc
Trang
sức làm nặng thân
Nhảy
múa thân chuyển động
Bộ
dạng thật hư cuồng.
Ca
hát làm trò vui
Cũng
như tiếng cọp gầm
Tất
cả đều vô thường
Nghĩ
thật có gì vui?!
Khi
ấy, Ô Ba Ðể Sa hỏi:
- Người
có phải là Câu Lý Ða không?
Mọi
người nói:
- Ðúng
vậy.
Ô
Ba Ðể Sa nói:
- Tôi
vì bạn nên đến đây để cùng bạn xuất gia.
Câu
Lý Ða đáp:
- Những
việc tế tự, tế thần lửa, cầu phúc, tu khổ hạnh, quả
báo của từng loại, ta nắm trong tay. Ta là con nhà đại thần,
thường đi bằng voi, tại sao phải xuất gia?
Khi
ấy, Ô Ba Ðể Sa nói kệ:
- Khi
cây đã muốn ngã
Nhánh
lá không chống nổi
Chết
đến cũng như vậy
Tài
sản nào cứu nổi?!
Ô
Ba Ðể Sa nói kệ xong, bảo rằng:
- Nhân
giả, hãy đến đây, cùng tôi xuất gia.
Ðáp:
- Tôi
phải hỏi cha mẹ.
Ðể
Sa bảo:
- Hay
lắm! Hãy đi đi!
Như
đã trao đổi, Câu Lý Ða đến gặp cha, thưa rằng:
- Ngưỡng
mong cha cho phép con vì lòng tin thanh tịnh nên xuất gia, bỏ
nhà sống không nhà.
Cha
bảo con:
- Những
việc tế tự, phép tế thần lửa, cầu phúc, khổ hạnh được
quả báo, con đã được thông thạo. Con lại là con nhà đại
thần, là hạng người đi bằng voi, sẽ làm đại thần, tại
sao lại xuất gia?
Câu
Lý Ða ở trước cha, nói kệ rằng:
- Nên
ở trong rừng, ăn vỏ cây
Sống
chung với thú, ăn quả rừng
Không
vướng quốc sự, khỏi ràng buộc
Người
trí không làm việc đáng sợ.
Cha
nghe con nói kệ xong, bảo con rằng:
- Cha
chỉ có con, như mặt trăng đầu tháng, yêu thương như thế
này, v.v... Phàm con trẻ phải theo ý kiến cha mẹ, nhưng ý
nguyện của con không thay đổi, ta theo lời mong cầu, hứa
cho con được xuất gia.
Bấy
giờ, bạn bè của Câu Lý Ða đều tập trung đến. Câu Lý
Ða phát thắng tâm, sách tấn thân ý, đến Na Kích Ðà thôn.
Ô
Ba Ðể Sa thường ưa tịch tịnh, ở tại chỗ A-lan-nhã, thống
lĩnh năm trăm đệ tử, đọc tụng thần chú Phạm Tinh. Câu
Lý Ða đi dần đến tụ lạc Na Kích Ðà, hỏi mọi người:
- Ô
Ba Ðể Sa ở đâu?
Người
trong thôn đáp:
- Ðang
ở nơi A-lan-nhã, thống lĩnh năm trăm người, tụng thần chú
Phạm Tinh.
Câu
Lý Ða đến chỗ A-lan-nhã. Sau khi gặp nhau, bảo Ô Ba Ðể
Sa rằng:
- Việc
xuất gia nay đã đúng lúc.
Ô
Ba Ðể Sa hỏi:
- Anh
đã được cha cho xuất gia rồi à?
Ðáp:
- Ðúng
như vậy.
Ô
Ba Ðể Sa nói với Câu Lý Ða:
- Anh
hãy tạm ở đây. Tôi đi thưa cha tôi có cho phép tôi xuất
gia không?
Câu
Lý Ða hỏi:
- Anh
đi hỏi, bao giờ trở lại?
Ðáp:
- Một
lúc tôi trở lại ngay.
Ô
Ba Ðể Sa đến gặp cha, thưa:
- Nay
con có việc cầu xin, mong cha từ mẫn. Ý con muốn cầu thanh
tịnh xuất gia.
Cha
đáp:
- Việc
này rất tốt, theo lời ước nguyện của con, ta cho con xuất
gia.
Ô
Ba Ðể Sa đến gặp Câu Lý Ða nói rằng:
- Này
Câu Lý Ða! Cha mẹ tôi đã cho phép, nên đến đây để cùng
đi xuất gia.
Lại
hỏi mọi người:
- Các
người có được cha mẹ cho phép xuất gia không?
Mọi
người đáp:
- Cho
phép.
Bấy
giờ, Câu Lý Ða nói rằng:
- Tôi
hỏi cha mẹ đã dự liệu ngày tháng. Quý vị tính toán thế
nào, hãy đi đi rồi mau trở lại.
Ðáp:
- Gia
sự của nhà ngài rất thâm hậu, nghiêm nhặt, cho nên đến
trễ. Gia sự của tôi đơn giản thế, nên sẽ đến sớm.
Không phải chỉ ngày hôm nay mà đến nay đã năm trăm đời,
đã từng xuất gia, lại từng phát nguyện sẽ được sanh
đến nơi không quá sang hay hèn, chỉ sống đời bình thường.
Do đó, gia sự đơn giản nên mau trở lại.
Bấy
giờ, Câu Lý Ða bảo mọi người rằng:
- Ta
là bậc cao quý, nay muốn xuất gia, đâu được tùy tiện theo
ý mình. Nay ta cùng nhau đến thành vua, tham vấn các vị tịnh
phạm.
Khi
ấy, lục sư ngoại đạo đang ở trong thành, đều tự cho
rằng đã đắc các thần thông, tự tại vô ngại.
Nhóm
Ô Ba Ðể Sa cùng Câu Lý Ða, v.v... tham vấn lục sự Bộ Kích
Noa:
- Ngài
hành pháp nhãn gì, tập giáo pháp gì, đắc quả gì? Nếu trì
phạm hạnh, thu hoạch được thù thắng gì?
Vị
thầy kia đáp:
- Ta
nhận thức như thế này nên phát biểu như thế này: không
bố thí, không ái, không kiến, không cúng tế, không hành động
thiện, không hành động ác, không có quả Dị thục của nghiệp
báo thiện ác, không đời này, không đời sau, không có cha,
không có mẹ, không có hữu tình hóa sinh.
Trên
thế gian không có A-la-hán, chánh hạnh, cho đến thành tựu,
là bậc thấy được đời này, đời sau, chứng được thần
thông, nói lên sự viên thành: Ta sinh đã tận, phạm hạnh
đã lập, chỗ làm đã xong, không thọ thân sau. (Theo ta) chỉ
có đời này, không có đời sau, chết là hết, bốn đại
hợp lại, giả gọi là thân. Khi chết, bốn đại tự nó trở
về với từng đại và về không giới thứ năm. Các căn biến
đổi, đem tử thi này đốt nơi giữa rừng, cháy thành tro,
trắng màu bồ câu thì không còn gì gọi là người nữa.
Ðã
hiểu như vậy rồi, người trí có bố thí hoặc thọ thí
hay không? Những ai nói có, đều là vọng thuyết, hư thuyết,
tất cả đều ngu muội. Nếu là bậc trí, đều biết rõ sự
đoạn hoại, không có thân sau.
Bấy
giờ Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa tự nghĩ: "Vị thầy này trú
ở chỗ phi đạo, hành động phi trí. Bậc nhân giả không
nên học với họ. Tu hành theo đường này là nguy hiểm".
Nghĩ
như vậy, họ liền nói kệ:
- Tà
kiến nói không đúng
Ưa
thích pháp hạ liệt
Nếu
thiện pháp như vậy
Thế
nào là phi pháp?
Sau
khi họ nói kệ, biết những lời này như đánh vào vật rỗng,
sau khi đánh, họ bỏ ra đi.
Sau
đó, họ đi đến gặp Mạt Yết Lị, Cù Xà Lị Tử, thưa
rằng:
- Nhân
giả hành pháp nhãn gì? Nếu giữ phạm hạnh thì thu hoạch
được điều thù thắng gì?
Ðáp:
- Ðây
là sự nhận thức của ta, ta phát biểu như thế này: Hữu
tình thọ khổ không có nhân duyên gì cả. Ðược an tịnh
cũng không có nhân duyên. Ðược an tịnh do ngẫu nhiên (tự
nhiên), không do nhân duyên gì cả. (Nếu) hữu tình không có
trí tuệ, không có tri kiến, đều không phải do nhân duyên.
Hữu tình tự nhiên có trí tuệ, có tri kiến, không do nhân
duyên.
Không
có sự nỗ lực, không có tinh tấn, không trượng phu, không
thế lực, không có hình hài của ta, không có hình hài của
kẻ khác, không có hành động của ta, không có hành động
của người.
Tất
cả hữu tình, tất cả sinh mệnh, tất cả hữu loại không
có trú xứ, không chỗ ở, không có quan niệm chính xác về
chánh đạo, về quy y của hữu tình, về khổ lạc, giác ngộ.
Ấy là sáu đạo chúng sanh.
Khi
ấy Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa tự nghĩ: "Vị thầy này đang
trú nơi phi đạo, đi theo đường tà. Bậc trí từ bỏ, vì
đây là đường hiểm" .
Họ
biết thế rồi nói kệ:
- Tà
kiến nói không đúng
Ưa
thích pháp hạ liệt
Nếu
thiện páp như vậy
Phi
pháp như thế nào?
Nói
kệ xong, như đánh vào vật trống không, nên họ bỏ đi.
Sau
đó, họ đến gặp San Thệ Di Tỳ Kích Tri Tử, thưa rằng:
- Nhân
giả hành pháp nhãn gì? Học tập giáo pháp gì? Có được
thù théng gì? Tu phạm hạnh gì?
Ðáp:
- Này
đồng tử! Ta ở đây có nhận thức thế này, ngươi nên hiểu
như thế này: Nếu cần giết người thì cứ giết và bảo
người giết. Cần phải tự đốt mình hay bảo người khác
đốt, chặt, cắt, hại, v.v.... cũng đều như vậy.
Không
nên cho mà nên lấy.
Nên
hành động tà dục.
Nên
nói dối, uống rượu.
Nếu
tập hợp người ta nhiều như núi, dùng dao bén chém chết,
chất lại thành từng đống... với các hành động sát hại
như vậy, không có tội gì cả, cũng không có quả báo gì
cả. Tại bờ phía Nam sông Hằng gây những hành động sát
sinh. Tại bờ phía Bắc sông Hằng tổ chức những hội cúng
tế. Cả hai đều không có tội phúc gì cả. Ðối với các
hành động bố thí, trì giới, tinh tấn... các pháp và pháp
tứ nhiếp, ai không làm thì được quả báo lớn.
Khi
ấy, Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa nói với nhau:
- Thuyết
này thật phi lý, đều là tà giáo. Thật đáng sợ hãi! Người
trí nên từ bỏ.
Họ
bàn luận như thế rồi nói kệ rằng:
- Tà
kiến nói không đúng
Ưa
thích pháp hạ liệt
Nếu
thiện pháp như vậy
Phi
pháp như thế nào?
Họ
nói bài kệ xong, như đánh vào thùng rỗng, liền bỏ đi nơi
khác. Sau đó, họ đi đến gặp A Thị Ða Kê Xá Cam Bạt La
Tử, thưa rằng:
- Nhân
giả hành pháp nhãn gì? Dùng pháp gì để khai thị? Có thù
thắng gì? Tu phạm hạnh gì? Ðắc được quả gì?
Ðáp:
- Này
đồng tử! Ta có nhận thức thế này, nên phát biểu như thế
này: Có bảy thân (yếu tố). Thế nào là bảy? Ấy là: địa,
thủy, hỏa, phong, khổ, lạc và mạng. Chúng không tự gây
tác dụng và bị tác dụng, không tự biến hóa, không bị
biến hóa, không tổn hại. Chúng tích tụ lại, đứng chung
với nhau như những đầu cây chụm vào nhau. Chúng không sinh
và không thay đổi, thế nên chúng không hại nhau ; dù phúc
hay tội nếu nói về tội phúc ; dù khổ hay lạc nếu nói
về khổ lạc.
Ngay
trong bảy thân này, ai là người trượng phu có thể hại nhau
được, hay có thể bị hại? Tất cả đều không có chủ
tể, thế gian bất hoại. Mạng căn ở trong sáu thân, hoạt
động tại các khiếu, cùng với sáu thân làm chủ, cho đến
cuối cùng vẫn không bị tổn hoại. Ngay trong thân này không
thể hại lẫn nhau, cũng không tranh đấu. Không có người
giác ngộ, không có người khai thị sự giác ngộ, cũng không
nhớ nghĩ, cũng không có người tỉnh thức. Không có sự biểu
thị, cũng không có người biểu thị.
Có
một vạn bốn ngàn sáu trăm phát thú độ môn (?), lấy đó
làm thượng thủ.
Lại
có năm nghiệp là: ba nghiệp năng tác và hai nghiệp sở tác.
Cũng
có toàn nghiệp, cũng có bán nghiệp. Sáu mươi bốn ngàn thân
thuộc. Sáu mươi trung kiếp. Một trăm ba mươi địa ngục
Na Kích Ca căn bản.
Lại
có một trăm ba mươi sáu bệnh giới. Có bốn mươi chín ngàn
quyến thuộc của rồng. Bốn mươi chín ngàn diệu xí điểu.
Bốn mươi chín ngàn quyến thuộc của Ni-kiền-tử. Bốn mươi
chín ngàn quyến thuộc ngoại đạo. Bảy lần có là một kiếp.
Bảy lần không là một kiếp. Bảy đời A-tô-la. Bảy đời
Tỳ-xá-già. Bảy cõi thiên. Bảy nhân gian. Bảy ao lớn. Bảy
ao nhỏ. Bảy mộng lớn, bảy trăm mộng nhỏ. Bảy hồ lớn
trên chóp núi, bảy trăm hồ nhỏ trên chóp núi. Bảy đại
ngộ, bảy trăm tiểu ngộ. Phát sinh ra sáu đoan nghiêm, mười
tăng trưởng để thành đại trượng phu.
Ðây
là tám muôn bốn ngàn đại kiếp. Trong ấy, kẻ ngu người
trí đều phải lưu chuyển qua hết thì mới đoạn trừ hết
khổ, rồi mới giải thoát. Như lấy cuộn chỉ, cột vào đấy
một vật nặng, thả vật này từ trên cao xuống, sẽ kéo
hết cuộn chỉ. Kẻ ngu bậc trí cũng vậy, họ đều phải
trả qua tám vạn bốn ngàn kiếp lưu chuyển trong sanh tử,
cho đến kiếp cuối cùng mới được giải thoát.
Ngay
trong đời này, có Sa môn, Bà la môn nào phát biểu rằng: "Tôi
giữ giới cấm này, siêng năng tu phạm hạnh, điều nào chưa
hoàn thành làm cho hoàn thành. Người được hoàn thành thì
hết khổ, đắc được quả" . Nếu ai phát biểu như vậy
thì hoàn toàn sai. Khổ và vui là thường trú, không có tăng
giảm, không thể biết được. Tôi trình bày như thế này
là biết rõ sanh tử, là sự thật không hư dối.
Khi
vị ấy phát biểu như thế rồi, Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa
tự nghĩ: "Giáo sư này trú nơi phi đạo, cũng như đường
hiểm. Người trí cần phải xa lìa nó" .
Nghĩ
thế rồi, họ nói kệ:
- Tà
kiến nói không đúng
Ưa
thích pháp hạ liệt
Nếu
thiện pháp như vậy
Phi
pháp như thế nào?
Họ
nói kệ ấy xong, như đánh vào thùng rỗng.
Sau
đó, họ đi đến gặp Ni Yết Lan Ðà Tử, thưa rằng:
- Nhân
giả hành pháp nhãn gì? Giáo huấn những gì? Có gì thù thắng?
Tu phạm hạnh gì? Ðắc được quả vị gì?
Ðáp:
- Ta
có nhận thức như thế này, nên trình bày như thế này: Tất
cả quả báo mà hữu tình thu nhận được đều do túc nghiệp.
Ðã tạo nghiệp ác trong quá khứ, nay phải tu phạm hạnh mới
được hết khổ. Nay tu thiện nghiệp, do nhân duyên này thu
hoạch được kết quả, không tạo nghiệp ác nữa, sẽ được
lậu tận. Lậu đã tận rồi, nghiệp khổ hết sạch. Quả
báo khổ không còn thì được giải thoát.
Bấy
giờ, Câu Lý Ða và Ô Ba Ðể Sa nghe lời này rồi, tự nghĩ:
"Lời trình bày của vị thầy này cũng không đúng chân đạo,
như đường hiểm trở. Người trí nên từ bỏ" .
Nghĩ
như thế, họ nói kệ:
- Tà
kiến nói không đúng
Ưa
thích pháp hạ liệt
Nếu
thiện pháp như vậy
Phi
pháp như thế nào?
Họ
nói kệ xong, như đánh vào thùng rỗng, rồi từ giã ra đi.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
XUẤT
GIA SỰ
- Hết
quyển 1 -