YẾT-SĨ-NA
Y SỰ
(No.
1449)
Một
quyển
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Một
thời Phật ở vườn Cấp Cô Ðộc, rừng Thệ Ða, thành Thất
La Phiệt.
Sau
khi an cư ba tháng mùa mưa, các Bí-sô ở thành Tự Lai đều
mang y bát đến gặp Thế tôn. Dọc đường, các vị ấy gặp
mưa to và bị khổ sở vì nóng bức, bị cỏ dại cắt thân,
mồ hôi chảy cùng khắp. Họ đi đến thành Thất La Phiệt.
Sau
khi cất y bát, rửa chân rồi, các thầy Tỳ kheo ấy đến
gặp đức Thế tôn, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi qua một bên.
Theo thường lệ, thấy Tỳ kheo khách ở nơi khác đến, Thế
tôn liền hỏi thăm:
- Các
ông an cư ở đâu mà đến đây?
Các
Tỳ kheo thưa:
- Bạch
Thế tôn! An cư ba tháng xong, chúng con từ thành Tự Lai đến
đây.
Ðức
Phật hỏi:
- Trong
ba tháng an cư ở nơi ấy, các ông có được an lạc không?
Và khất thực có dễ dàng không?
Các
Tỳ kheo đáp:
- Bạch
Thế tôn! Trong ba tháng chúng con sống an lạc, việc khất thực
không có khó khăn. Từ nơi đó, chúng con mang y, ôm bát, trên
đường đi gặp phải mưa ướt, rất là khổ cực, thân hình
mệt nhọc khốn đốn, dần dần đến đây.
Nghe
xong, đức Thế tôn suy nghĩ:
"Các
đệ tử của Ta an cư mùa mưa xong, du hành trong nhân gian, mang
y, ôm bát, dọc đường gặp mưa to, chịu rất nhiều khổ
nhọc, thân thể mệt mỏi, khốn khổ. Nay Ta phải làm cho các
Tỳ kheo được sống an lạc và cho phước của các thí chủ
được tăng trưởng. Vậy nên cho phép các Bí-sô trương y
Yết-sĩ-na.
Lúc
trương y này, có năm điều lợi lớn:
Một
là không phạm lỗi chứa y dư quá mười ngày.
Hai
là không phạm lỗi chứa y dư quá một tháng.
Ba
là không phạm lỗi ngủ lìa y một đêm.
Bốn
là được du hành trong nhân gian chỉ mặc hai y: thượng và
hạ.
Năm
là nhận và chứa nhiều y dư một cách tùy ý.
Lại
có năm lợi ích:
Một
là được ăn chúng riêng.
Hai
là được ăn nhiều lần.
Ba
là ở nhà thế tục không thưa các vị khác, được đi thọ
thực ở nơi khác.
Bốn
là được tùy ý xin nhiều y.
Năm
là từ nửa tháng tám đến nửa tháng giêng - trải qua năm
tháng - vật dụng nhận được đều thuộc về lợi dưỡng
của y Yết-sĩ-na.
Lúc
khai cho như vậy sẽ khiến các đệ tử được sống an lạc".
Phật
liền bảo các Tỳ kheo:
- Vì
muốn cho các ông được sống an lạc và làm phước của các
thí chủ được tăng trưởng, sau khi an cư mùa mưa, chúng Tỳ
kheo trương y Yết-sĩ-na thu được nhiều lợi ích, gồm mười
điều như trước đây.
Như
Thế tôn đã nói về việc trương y Yết-sĩ-na, các Tỳ kheo
không biết trương y như thế nào, Phật bảo:
- Trong
ba tháng an cư, những y vật mà chúng Tăng có được nên lấy
làm y. Trước tiên phải bạch như vầy báo cho chúng Tăng biết:
"Ðại
chúng nên biết, chúng Bí-sô đang an cư ở đây, được y này.
Nếu đại chúng đồng ý, hãy đem vật này làm y Yết-sĩ-na
cho chúng".
Ðến
ngày hôm sau, đánh kiền chùy tập họp chúng Tăng. Sau khi bạch
cho tất cả biết rồi, nên sai một Tỳ kheo tác bạch rằng:
"Ðại
đức Tăng xin lắng nghe. Y này là lợi vật của Tăng già an
cư mùa mưa ở đây có được. Nay Tăng già cùng nhau đem y
này làm Yết-sĩ-na. Y này sẽ được trương làm Yết-sĩ-na
cho Tăng già. Sau khi trương y rồi, nếu ai ra bên ngoài cương
giới không mang đủ ba y cũng không có lỗi lìa y, huống gì
dư y.
Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng đồng ý Tăng nay
đem y này sai Bí-sô... làm y Yết-sĩ-na cho Tăng. Sau khi trương
y rồi, nếu ai ra bên ngoài cương giới không mang đủ ba y
cũng không có lỗi lìa y, huống gì dư y. Ðây là lời tác
bạch.
Yết-ma
căn cứ theo văn bạch mà tiến hành.
Thứ
đến, phải là Bí-sô đủ năm đức mới nên sai làm Bí-sô
trương y Yết-sĩ-na. Năm đức đó là: không tham lam, không
thiên vị, không nóng giận, không si mê, biết trương y và
không trương y. Nếu không phải là người này thì Tăng không
nên sai. Ðúng là người như vậy mới nên sai.
Làm
phương tiện như sau:
Chúng
Tăng đã tập hợp rồi, trước hết nên hỏi người ấy có
thể làm được hay không.
Hỏi
rằng:
"Ngài...
có thể làm người trương y Yết-sĩ-na cho Tăng không?"
Nếu
Tỳ kheo ấy có thể làm thì đáp: "Tôi có thể".
Kế
đó, một Bí-sô tác bạch Yết-ma:
"Ðại
đức Tăng xin lắng nghe, Bí-sô này vui lòng làm người trương
y Yết-sĩ-na. Nay Bí-sô này trương y Yết-sĩ-na cho Tăng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng đồng ý nay Tăng
sai Bí-sô... làm người trương y Yết-sĩ-na. Bí-sô này sẽ
trương y Yết-sĩ-na cho Tăng. Ðây là lời tác bạch.
Ðại
đức Tăng xin lắng nghe, Bí-sô vui lòng làm người trương
y Yết-sĩ-na. Nay Bí-sô này trương y Yết-sĩ-na cho Tăng. Nay
Tăng sai Bí-sô... làm người trương y Yết-sĩ-na. Bí-sô...
sẽ trương y Yết-sĩ-na cho Tăng. Các cụ thọ nào chấp thuận
sai Bí-sô... làm người trương y Yết-sĩ-na và Bí-sô... này
sẽ trương y Yết-sĩ-na cho Tăng thì im lặng. Vị nào không
chấp thuận, hãy nói ra.
Tăng
đã chấp thuận Bí-sô... này làm người trương y Yết-sĩ-na.
Bí-sô... này sẽ trương y Yết-sĩ-na cho Tăng. Tăng đã chấp
thuận vì im lặng. Tôi xin ghi nhận như vậy".
Kế
đó, Bí-sô trương y Yết-sĩ-na phải tác bạch Yết-ma để
may y Yết-sĩ-na:
"Ðại
đức Tăng xin lắng nghe. Y này sẽ làm y Yết-sĩ-na cho Tăng.
Tăng đã sai Bí-sô... làm người trương y. Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng đồng ý Tăng nay đem y này làm Yết-sĩ-na
giao cho Bí-sô... Ðây là lời tác bạch".
Yết-ma
căn cứ theo văn bạch mà tiến hành.
Ðối
với Bí-sô may y Yết-sĩ-na, chế định cách thức và chỗ
may y. Trước tiên phải giặt, nhuộm, cắt may. Sau khi may chung
được ba mũi, lại phải niệm như vầy ba lần:
"Y
này sẽ được trương làm y Yết-sĩ-na cho Tăng. Hiện nay trương
làm y Yết-sĩ-na, đã trương làm y Yết-sĩ-na".
Ðối
với ba tâm này chỉ làm hai phần sau cũng thành tác pháp. Nếu
không làm thì mắc tội ác tác.
Ðến
ngày rằm tháng tám, thầy tri sự nên thông báo cho đại chúng,
bạch như vầy:
"Các
Ðại đức, ngày mai tôi sẽ trương y Yết-sĩ-na cho chúng.
Các vị đều nên bỏ y cũ, đến tập hợp nơi....".
Bí-sô
trương y bày hoa đẹp, mùi hương dịu dàng thơm phức ở trên
y này, đánh kiền chùy tập hợp chúng Tăng, bạch cho tất
cả đều biết. Nên đem y này đến đứng trước Thượng
tọa, hai tay nâng y, bạch như vầy:
"Ðại
đức Tăng xin lắng nghe. Y này đã được Tăng chấp thuận
trương làm y Yết-sĩ-na. Con là Bí-sô... nay Tăng sai con làm
người trương y Yết-sĩ-na. Con dùng y này trương làm y Yết-sĩ-na
cho Tăng".
Nói
như vậy ba lần.
Kế
đó, trương bày y này ra rồi đứng trước Thượng tọa thưa
như vầy:
"Xin
Thượng tọa nhớ cho. Y này Tăng già chấp thuận làm y Yết-sĩ-na.
Con là Bí-sô..., là người trương y. Nay con trương y này cho
đại chúng".
Thượng
tọa đáp rằng:
"Lành
thay việc trương y! Lành thay việc trương Tỳ kheo! Trong này
những lợi ích về tài lợi, tôi sẽ nhận nó".
Nói
ba lần.
Cho
đến người cuối cùng đều nói như vậy:
"Lành
thay việc trương y! Lành thay việc trương Tỳ kheo! Trong này
những lợi ích về tài lợi, tôi sẽ nhận nó".
Lại
nữa, nên biết, pháp của người trì y là: không mang y này
đến nhà xí, nhà bếp, không để trên đất trống, không
bỏ y ở ngoài cương giới. Giả sử tạm thời ra đi, không
được đi cách đêm. Bí-sô trì y nếu không làm như vậy sẽ
mắc tội vượt pháp.
Khi
đến ngày rằm tháng giêng, người trì y nên ở trong chúng
bạch như vầy:
"Ðại
chúng nên biết, ngày mai sẽ xuất y Yết-sĩ-na, mỗi người
đều thủ trì y của mình. Có lợi vật gì, đại chúng nên
chia ra".
Ô
Ba Ly hỏi đức Thế tôn có bao nhiêu hạng người không được
trương y?
Phật
bảo:
- Có
năm hạng. Ðó là: người không nhập hạ, người phá hạ,
người hậu hạ an cư, Sa-di và người không hiện diện lúc
trương y.
Lại
có năm hạng người không thành trương y: người đang hành
biên trú, người đã hành biên trú xong, người đang hành sáu
đêm, người đã hành sáu đêm xong, người thọ học pháp.
- Bạch
Ðại đức, có bao nhiêu hạng người chỉ được hưởng tài
lợi, mà không được phước báo?
Phật
dạy:
- Có
năm hạng người là: không hạ, phá hạ, hậu hạ, Sa-di và
người không hiện tiền.
Lại
có năm hạng người: người hành biên trú, người đã hành
biên trú xong, người hành sáu đêm, người đã hành sáu đêm
xong, người thọ học pháp. Ðây được gọi là: được tài
lợi mà không được phước báo.
- Bạch
Thế tôn! Có mấy hạng người không được tài lợi lẫn
phước báo?
Phật
dạy:
- Này
Ô Ba Ly! Có năm hạng: người bị cử không chịu nhận tội,
người bị cử vì phạm tội nặng, người bị cử không xả
ác kiến, người an cư chỗ khác, người sau khi phá Tăng vẫn
sống phi pháp.
Khi
ấy, có nhiều Tỳ kheo đi du hành trong nhân gian, gặp bọn
cướp và bị cướp đoạt. Ði đến thành Thất La Phiệt,
các Tỳ kheo thấy mới hỏi:
- Xin
chào các vị, các vị đi lại có được an lạc không?
Các
Tỳ kheo ấy đáp:
- Có
gì mà an lạc? Y vật đều bị cướp đoạt mang đi.
Các
Tỳ kheo ở tại trú xứ nói:
- Thưa
các cụ thọ, nay trú xứ này của tôi có nhiều y vật, tài
lợi. Nếu xuất y Yết-sĩ-na ra, các vị sẽ được phân chia.
Các
Tỳ kheo đem việc ấy bạch với Phật, Phật bảo:
- Tỳ
kheo nếu bị giặc cướp đoạt, nên xuất y Yết-sĩ-na cho
họ. Phải xuất như vầy: Tác tiền phương tiện như thường
lệ rồi khiến một Tỳ kheo tác bạch Yết-ma:
"Ðại
đức Tăng xin lắng nghe. Ở trú xứ này Tăng hòa hợp cùng
trương y Yết-sĩ-na. Nay có nhiều Tỳ kheo bị giặt cướp
đoạt, đến đây không có y. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng xuất y Yết-sĩ-na cho
Tỳ kheo bị giặc cướp này. Ðây là lời tác bạch".
Yết-ma
chuẩn theo lời tác bạch mà làm cho đến phần kết luận.
Ðã
tác pháp rồi, có lợi vật gì đều được phân chia bình
đẳng cho người thọ y. Người được y, tự ý phân chia cho
các Tỳ kheo bị giặc cướp không có y.
Ô
Ba Ly bạch đức Thế tôn:
- Thưa
Ðại đức, y mỏng, y bẩn, y vá nhiều chỗ, y bằng vải gai,
y có tua viền quấn quanh, y rách, y phạm xả, y người chết...
các y này có được phép dùng làm y Yết-sĩ-na không?
Phật
dạy:
- Không
được.
- Bạch
Ðại đức, y bị hư không dùng được, ba y thuộc người
khác, y không đủ ba hoặc năm trửu, y không cắt rọc, y không
thanh tịnh, hoặc không sai người trương y, hoặc ở ngoài
cương giới, có được phép trương y không?
Phật
dạy:
- Không
được.
- Y
có được trong ba tháng hạ có thành trương y không?
Phật
dạy:
- Ðược.
- Nếu
cuối ba tháng hạ, y nhận được có làm y Yết-sĩ-na không?
Phật
dạy:
- Ðược.
Nếu
lại có nhiều y như pháp và phi pháp chuẩn theo ý văn trên
nên biết.
Tướng
xuất y Yết-sĩ-na vốn có tám loại:
Những
gì là tám? - Nhiếp tụng nói:
- Sơ
quyết khứ, bất định,
Quyết
định thất, khứ y,
Văn
xuất, xuất giới nghi
Vọng
đoạn, đồng tâm xuất.
Thế
nào là quyết khứ thất?
- Như
có Bí-sô cùng ở một chỗ thọ y Yết-sĩ-na, đã may y xong,
lúc đó không có tâm lưu luyến, liền mang y bát muốn đến
phương khác, ra khỏi giới không có ý định trở lại. Việc
quyết ý ra đi gọi là quyết khứ thất.
Thế
nào là bất định thất?
- Như
có Bí-sô cùng ở một trú xứ, thọ y Yết-sĩ-na, chưa may
y, liền ra ngoài giới cầu y, hoặc chưa may y, hoặc đã may
một nửa, đối với lợi vật này và trụ xứ, hoặc có lưu
luyến, hoặc không lưu luyến, hoặc có ước mong, hoặc không
ước mong, định trở lại may y, hoặc khởi niệm nghi ngờ,
gọi là bất định thất.
Thế
nào là quyết định thất?
- Như
có Tỳ kheo cùng ở một, thọ y Yết-sĩ-na, chưa may y, liền
ra khỏi giới tìm cầu y và nghĩ rằng: "Sẽ trở lại may y".
Lại nghĩ rằng: "Nay tôi ra đi sẽ không trở lại, cũng lại
không có thể tạo y. Ðó gọi là quyết định thất.
Thế
nào là thất khứ thất?
- Như
có Bí-sô cùng ở một chỗ, thọ y Yết-sĩ-na, chưa may y, ra
ngoài giới may y, bắt đầu may y liền mất y ấy. Gọi là
thất khứ thất.
Thế
nào là văn xuất thất?
- Như
có Bí-sô cùng ở một chỗ, thọ y Yết-sĩ-na, chưa may y, ra
ngoài giới tìm cầu y, nghĩ rằng khi trở lại sẽ may y. Sau
khi Tỳ kheo ấy đi, đại chúng liền xuất y. Vị ấy nghe xuất
y Yết-sĩ-na, tâm sanh tùy hỷ: "Lành thay, việc xuất y". Ðó
gọi là văn xuất thất.
Thế
nào gọi là xuất giới nghi thất?
- Như
có Bí-sô cùng ở một chỗ thọ y Yết-sĩ-na, chưa may y, Bí-sô
tự nghĩ: "Ra khỏi giới sẽ may y", hoặc may xong, hoặc may
không xong, hoặc trở lại, hoặc không trở lại, với tâm
niệm như vậy, ra khỏi giới liền mất.
Thế
nào là vọng đoạn thất?
- Như
có Bí-sô cùng ở một chỗ, thọ y Yết-sĩ-na và may y. May
y chưa xong, ra ngoài giới tìm y, định trở về may y. Ðã đến
chỗ khác, Tỳ kheo ấy tìm y không được, tâm mong cầu chấm
dứt, gọi là vọng đoạn thất.
Thế
nào gọi là đồng tâm xuất?
- Như
có Bí-sô cùng ở một chỗ, thọ y Yết-sĩ-na và may y, ra khỏi
giới tìm cầu y, sau đó trở lại trụ xứ cùng chúng tác
pháp bạch nhị để xuất y, gọi là đồng tâm xuất.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
YẾT-SĨ-NA
Y SỰ
- Hết
-