NY
ÐÀ NA
(No.
1452)
Quyển
thứ hai
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Tụng
thứ tám.
Giả
linh bất tiệt y
Hữu
duyên giai đắc trước
Y
khả tùy thân lượng
Nhược
đoản tác thùy y.
Cụ
Thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Y
không cắt rọc ra được sử dụng không?
Phật
dạy:
- Không
được! Nếu có nạn duyên thì được.
- Mặc
y không cắt rọc được vào tục lạc không? Ðược vào nhà
thế tục không? Ðược phép vào trú xứ của ngoại đạo
không?
Phật
dạy:
- Các
trường hợp này đều không được trừ có nạn duyên; mặc
không phạm.
- Mặc
y không cắt rọc được phép ngồi trong nhà ngoại đạo không?
Phật
dạy:
- Không
được! Nhưng khi ngoại đạo không có trong nhà, ngồi không
phạm.
Như
Thế Tôn dạy:
- Ðược
phép sử dụng y dài vừa đúng bao nhiêu khuỷu tay đã qui định;
Nếu có người thân thể to lớn mà khuỷu tay ngắn, chẳng
lẽ cũng căn cứ vào chiều dài của khuỷu tay người ấy
mà làm y hay sao?
Phật
dạy:
- Nên
căn cứ kích thước thân thể của người này mà làm y.
- Giả
sử lấy theo kích thước thân thể thì không đủ (vải) để
may y kín người?
Phật
dạy:
- Nếu
không đủ để may kín, nên may thành y Quyết Tô Lạc Ca mà
sử dụng (đây dịch là Thùy Y, dài bốn khuỷu tay, rộng hai
khuỷu tay. May dính lại mặc bên trong kéo lên trên, dùng dây
vải buộc, nói rõ như những chỗ khác. Xưa gọi là Kỳ Tu
La, người ta đều không biết việc này. Y này hình dạng như
ống bi nhỏ đây là một trong năm y của Ni. Ðúng ra dịch
là quần nguyên chú. Y này hình như chiếc xà rông nhưng may
kín, là quần mặc trong y nội của Ni. -- Người dịch)
Tụng
thứ chín.
Bất
súc ngũ chủng bì
Do
hữu quá thất cố
Khai
hứa đắc dụng xứ
Tề
tọa ngọa dung thân.
Cụ
thọ Ô Ba Ly bạch Phật:
- Thế
Tôn! Như Thế Tôn dạy: - Không được sử dụng da voi chúa
làm giày. Da các con voi khác được dùng làm giày không?
Phật
dạy:
- Không
được! Tại sao?
- Voi
khác cũng có sức mạnh của voi ngà.
Như
Thế Tôn dạy: - Da của con ngựa có trí không được dùng
làm giày. Da các con ngựa thường, được lấy làm giày không?
Phật
dạy:
- Không
được! Chúng cũng có sức mạnh khỏe để chạy.
Như
Thế Tôn dạy:
- Da
của sư tử, cọp, báo không được dùng làm giày. Da các loài
thú tương cận khác được phép dùng không?
Phật
dạy:
- Không
được! Chúng cũng có sức mạnh của móng vuốt.
Như
Thế Tôn dạy: - Da các loài thú như vậy, không nên ngồi lên.
Ngoài ra da các loài khác được dùng để ngồi. Vậy được
dùng cỡ lớn bao nhiêu?
Phật
dạy:
- Ðược
phép dùng vừa bằng chỗ ngồi.
Như
Thế Tôn dạy:
- Có
những loại da được phép dùng làm chỗ nằm. Vậy da lớn
chừng nào được phép dùng làm chỗ nằm?
Phật
dạy:
- Tấm
vừa bằng chỗ nằm, sử dụng không phạm.
Tụng
thứ mười.
Sanh
nhục cập chư toan
Hữu
ngũ chủng bất dụng
Trĩ
bệnh trảo bất thương
Hồi
thí trị hy vọng.
Bạc
Già Phạm ở thành Thất La Phạt. Cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế
Tôn:
- Như
Ðại đức đã dạy: - Cho phép Bí-sô Tây Yết Ða vì nhân
duyên bệnh được phép nhận thịt sống để ăn. Không biết
nên lấy ở chỗ nào?
Phật
dạy:
- Lấy
ở chỗ năm hạng đồ tể. Thế nào là năm? Ấy là: Kẻ giết
dê; gà; heo; bắt chim; săn thú.
- Bạch
Ðại đức! Ai nên đi lấy?
Phật
dạy:
- Nên
sai người có tâm kính tín đi lấy.
- Ðưa
lại cho ai?
Phật
dạy:
- Ðưa
lại cho người có tín tâm.
Bây
giờ trong thành có một Bí-sô, thân bị bệnh khổ, đến thầy
thuốc hỏi:
- Tôi
bị bệnh tiêu khát. Này đến hiền thủ xin dùng thuốc thích
hợp trị bệnh cho tôi.
Thầy
thuốc đáp:
- Nên
dùng bơ thì hết bệnh.
Bí-sô
nói:
- Phật
chưa cho phép dùng bơ đ? trị bệnh.
Thầy
thuốc nói:
- Thế
Tôn đại bi, nếu dùng vì nhu cầu bệnh, ngài sẽ khai cho để
sử dụng.
Bí-sô
việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Bí-sô
bị bệnh, thầy thuốc bảo dùng bơ để trị, thì được
phép dùng.
Bí-sô
này tuy đã dùng bơ nhưng vẫn bị bệnh bức bách.
Thầy
thuốc hỏi:
- Ngài
dùng bơ thấy sức khỏe như thế nào?
Bí-sô
trả lời:
- Vẫn
còn bệnh nóng khát.
Thầy
thuốc nói:
- Dùng
bơ không hết bệnh, tại sao không dùng các loại dấm chua?
(Dấm ở đây hiểu theo nghĩa là các loại nước lên men có
nồng độ nhẹ, chưa phải là rượu, nhưng không phải dấm
thực phẩm; những đoạn văn sau đây cũng hiểu như vậy.
-- Người dịch)
Bí-sô
đáp:
- Thế
Tôn chưa cho phép uống dấm phi thời làm sao được dùng.
Thầy
thuốc nói:
- Thế
Tôn từ bi, vì cần trị bệnh ngài sẽ cho phép dùng.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Từ
nay ta cho phép các thầy dùng các loại dấm.
Các
Bí-sô không biết thế nào là dấm, sẽ uống như thế nào,
nên lại bạch Phật.
Phật
dạy:
- Dấm
có sáu loại, đều có thể sử dụng được.
1-
Ðại dấm.
2-
Dấm gạo.
3-
Dấm thuốc.
4-
Dấm nhạt.
5-
Lạc tương.
6-
Lạc tương đặc.
Tất
cả các loại dấm này, khi uống nên cho vào một ít nước
để tác tịnh, dùng vải dày lược trong sạch như màu nước
tre, khi ấy đúng thời hay phi thời, bệnh hay không bệnh, uống
đều không phạm, chớ nên nghi hoặc.
- Ðại
dấm nghĩa là dùng đường cát hòa nước trộn vào các loại
trái cây, hoặc dùng bồ đào mật cây, hay các loại trái ngọt
khác, ủ lâu ngày thành dấm.
- Dấm
gạo: Là xay bột lúa mì cả vỏ cùng các tạp vật khác cho
nát, ủ để thành dấm.
- Dấm
thuốc: Dùng rễ nhánh các loại cây thuốc các loại táo chua
ủ thành dấm.
- Dấm
nhạt: Cho nước vào thố cơm nóng đang hấp để lấy nước
cơm. Lấy nước cơm ra bao nhiêu lại thêm nước vào bấy nhiêu
để dùng mãi không hư.
- Lạc
tương: Là nước chế biến từ lạc ra.
- Lạc
tương đặc: Bơ chế biến từ lạc ra.
Ngoài
ra các loại nước khác đều là tương.
Trong
thành có một Bí-sô bị bệnh trĩ, đầu trĩ lòi ra. Thầy
dùng ngón tay ngắt đi, đau đớn vô cùng không thể chịu nỗi.
Bí-sô này tự nghĩ:
- Ta
bị đau khổ không chịu nổi. Thế Tôn đại bi sao chẳng thương
xót.
Bấy
giờ, Thế Tôn với sức đại bi, đến chỗ Bí-sô, hỏi rằng:
- Này
Bí-sô! Thầy đang đau khổ về việc gì?
Bí-sô
bệnh chắp tay nhìn Phật, tâm tình thương cảm, nước mắt
tuôn rơi, trình bày hết bệnh khổ của mình ra.
Phật
bảo Bí-sô:
- Trước
đây ta đã từng ngăn các thầy, khi bệnh trĩ không được
cắt bỏ.
Bí-sô
bạch Phật:
- Thế
Tôn! Ngài đã không cho phép.
Phật
hỏi:
- Vậy
tại sao thầy lại hành động như thế?
Ðáp:
- Thế
Tôn! Con bị đau đớn quá nên làm vậy.
Phật
dạy:
- Nếu
vì quá đau đớn nên hành động thì không phạm. Nay ta bảo
quí thầy, tuy bị đau đớn thế nào đi nữa cũng không được
dùng tay ngắt bỏ trĩ. Trị bệnh trị có hay phương pháp:
hoặc dùng thuốc hoặc dùng cấm chú. Bí-sô tuy bị đau khổ
vì bệnh này, không được tự cắt trĩ hay bảo người khác
cắt. Người nào làm ngược lời dạy này, bị tội vượt
pháp.
Thế
Tôn ở tại trú xứ Thích Ca, xóm làng người khách buôn tên
Na Trĩ. Trong thôn này có một trưởng giả, có lòng tin tâm
tình hỷ xả, ông ta tạo một trú xứ cúng cho tôn giả La
Hổ La. Tôn giả ở trú xứ này chưa bao lâu, lại mang y bát
đi du hành trong nhân gian. Trưởng giả nghe ngài đã ra đi,
tự nghĩ: Tôn giả du hành không biết có trở lại không. Trưởng
giả đem trú xứ ấy cúng cho Tăng già.
Tôn
giả La Hổ La sau khi đi du hóa vừa ý, mang y bát trở lại
trú xứ khách buôn Na Trĩ. Ngài hỏi ra, mới biết trú xứ
này đã cúng cho Tăng già. Ngài đến gặp Phật lạy sát hai
chân, bạch:
- Có
một trưởng giả phát đại tâm tín ngưỡng, tạo một trú
xứ, cúng cho con, con ở đó một thời gian có duyên sự nên
ra đi. Sau đó không bao lâu, trưởng giả đem trú xứ này cúng
cho tăng già. Con phải làm thế nào đây xin Phật quyết định
cho.
Thế
Tôn bảo rằng:
- Thầy
đến chỗ trú xứ của trưởng giả, nói với ông ta như thế
này:
- Nhân
giả! Ngài đối với tôi, hoặc thân ngữ ý có lúc nào sinh
chút ít ý tưởng chán ghét không?
Tôn
giả La Hổ La nghe Phật dạy xong, đến gặp trưởng giả nói:
- Nhân
giả... như trên... Trưởng giả trả lời:
- Con
đối với tôn giả chưa bao giờ có ý tưởng ấy.
La
Hổ La trở lại gặp Phật, trình bày rõ việc trưởng giả
trả lời. Phật bảo A Nan Ðà:
- Thầy
đến thôn Na Trĩ, tập hợp các Bí-sô đang trú ở đó đến
tại giảng đường.
A Nan
Ðà vâng lệnh của Phật đến trú xứ ở thôn Na Trĩ, bảo
các Bí-sô:
- Các
thầy nên tập họp lại giảng đường.
A Nan
Ðà báo cáo lời Phật xong, trở lại lạy sát chân Phật bạch
rằng:
- Con
đã đến trú xứ tại thôn Na Trĩ, tuyên bố chỉ thị của
Phật. Hiện nay các Bí-sô đều đã tập hợp.
Thế
Tôn đưa các Bí-sô cùng La Hổ La đến chùa kia (thôn Na Trĩ)
ngồi xuống chỗ đã dọn sẵn, bảo các Bí-sô rằng:
- Các
thầy nên biết, nếu có thí chủ đem vật mình muốn cho, cho
riêng một người. Sau đó lại đem vật ấy cho sang người
khác. Người cho như vậy là phi pháp, người nhận cũng phi
pháp. Gọi là thọ dụng bất tịnh. Cũng như vậy, vật đã
cho rồi, xoay lại cho hai người, ba người, hoặc Tăng già.
Tất cả như vậy đều được gọi là cho không như pháp,
nhận không như pháp, sự thọ dụng như vậy là bất tịnh.
- Này
các Bí-sô! Nếu có thí chủ, đem vật của họ muốn cho, cho
hai người khác, sau đó lại đem vật ấy thí cho một người
người khác. Bố thí như vậy thì người cho lẫn người nhận
đều phi pháp. Sự thọ dụng như vậy là bất tịnh.
Cũng
vậy, nếu xoay vật lại cho hai người, ba người hay cho Tăng
già, người cho kẻ nhận đều là phi pháp. Sự thọ dụng
như vậy đều là bất tịnh.
- Này
các Bí-sô! Nếu có thí chủ đem vật cho họ muốn bố thí
cho ba người khác, sau lại xoay vật ấy cho một, hai, ba người
khác hoặc cúng Tăng già. Người cho kẻ nhận đều là phi
pháp. Sự thọ dụng như vậy đều là bất tịnh.
- Này
các Bí-sô! Nếu có thí chủ đem vật họ muốn bố thí cúng
cho Tăng già, sau lại đem vật ấy cho một, hai, ba người khác
hoặc cúng cho Tăng già khác. Người cho kẻ nhận đều là
phi pháp. Như vậy gọi là thọ dụng bất tịnh.
Nếu
trước đó đã cúng cho Bí-sô tăng già, sau lại đem vật ấy
cúng cho Bí-sô ni Tăng già, hoặc ngược lại, đều gọi là
bất tịnh.
- Này
các Bí-sô, nếu Tăng già chia thành hai bộ. Trước đã cúng
cho bộ này rồi, sau lại đem vật ấy cúng cho bộ kia, đều
gọi là thọ dụng bất tịnh.
- Này
các Bí-sô! Nếu đem vật cho một người rồi, không đem vật
ấy cho người khác nữa. Người cho người nhận đều là
như pháp. Sự thọ dụng như vậy được gọi là thanh tịnh.
Cũng như vậy, nếu đem vật cho hai người, ba người, Tăng
già, Tăng già ni này, bộ này, sau đó không đem vật ấy cúng
cho nơi khác, cho đến không đem ra thọ dụng. Như vậy đều
gọi là thanh tịnh. Như trình bày rõ ràng ở trên. Này các
Bí-sô, trước là thật thí, sau là phi pháp thí.
Này
các Bí-sô! Ðất đai thuộc về quốc vương, vật thuộc về
chủ, phòng xá giường nằm thí chủ là chủ. Y bát tư cụ
Bí-sô là chủ. Những tài sản được cúng đến chùa, nếu
có hư hoại thí chủ nên tự bồi bổ, không được tự tiện
lấy vật ấy đem cho người khác. Bố thí lần đầu là như
pháp, nhưng bố thí lần sau là phi pháp.
Này
các Bí-sô! Nên trả lại trú xứ trước đây cho La Hổ La.
Nếu Bí-sô lấy vật đã cho người kia, đem cho người này,
trừ trường hợp có nạn duyên, bị tội vượt pháp.
Các
Bí-sô vâng lời Phật dạy, trả lại La Hổ La trú xứ trước.
Như
Thế Tôn dạy:
- Nên
làm đại hội định phát năm hay sáu năm?
Có
Bà la môn kính tín cùng các trưởng giả đem các loại bánh
trái, thức ăn cúng dường Tăng già.
Khi
ấy, các Bí-sô ăn uống không hết, đem thức ăn thừa cho
các vị cầu tịch. Các vị cầu tịch này sáng hôm sau đem
những thức ăn ấy cúng dường lại các Bí-sô.
Bí-sô
hỏi:
- Các
người được bánh này ở đâu?
Ðáp:
- Ðây
là bánh các ngài đã cho hôm qua.
Bí-sô
nghi ngờ tự nghĩ: "Bánh trái này là thức ăn tàn xúc của
ta, nay ăn lại, căn cứ theo pháp thì có tội". Bí-sô đem việc
ấy bạch Phật. Phật dạy:
- Nếu
cho với tâm mong cầu để ăn lại, khi cho phạm ác tác. Ăn
vào phạm tội đọa.
- Nếu
cho với tâm không mong cầu để ăn lại, cho không phạm. Ăn
phạm tội đọa.
- Nếu
cho với tâm mong cầu, ăn với tâm không mong cầu, cho phạm
ác tác, ăn không phạm.
- Nếu
cho với tâm không mong cầu, ăn với tâm không mong cầu. Cho
và ăn không phạm.
-ooOoo-
Ni
Ðà Na Biệt Môn Thứ Hai
Tụng
tổng lược.
Phân
vong cập xướng đạo
Trương
y thọ học nhân
Trọng
tác thu nhiếp khu
Cầu
tịch đồng tường thượng.
Tụng
thứ nhất.
Phân
vong giả y vật
Hổ
vô ứng hổ thủ
Kiến
đấu ưng tu gián
Tùy
đầu hướng xử phần.
Phật
ở thành Thất La Phạt. Trưởng giả nọ chỉ có một con trai,
người con này lớn lên muốn sống đời xuất gia, thọ cận
viên trong chánh pháp. Không may, vị này gặp bệnh nặng qua
đời. Các Bí-sô tống táng vị này cùng với cả y bát.
Người
đời thấy vị nên thưa cùng các Bí-sô:
- Bọn
lưu tục chúng con hiện có con cháu, muốn gì cũng có thể
được. Vậy mà vật của người chết còn không vứt bỏ
hết. Tôn giả là người xuất gia, lại không con cái, tư cụ
khó khăn lắm mới có, tại sao không thu lấy vật dụng của
người đã chết?
Các
Bí-sô trả lời:
- Thế
Tôn chưa cho phép lấy y bát của người chết.
Bí-sô
đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
-Y
bát của Bí-sô qua đời, không nên vứt bỏ.
Có
Bí-sô bị bệnh, qua đời. Các Bí-sô giữ lấy y bát, để
thân thể trần mà tống táng. Thế gian thấy vậy chê trách.
Phật
dạy:
- Không
được để trần tử thi, phải mặc y phục kín đáo để
tống táng.
Các
Bí-sô lại dùng y phục tốt đẹp để tống táng người chết.
Phật
dạy:
- Ðừng
dùng y phục tốt đẹp để tống táng.
Các
Bí-sô lại dùng y phục rách nát để tống táng.
Phật
dạy:
- Dùng
y phục trung bình không tốt không xấu lắm để tống táng
người chết.
Các
Bí-sô bạch Phật:
- Y
bát của người chết còn lại nên phân chia như thế nào?
Phật
dạy:
- Ðem
cho Bí-sô nào bị thiếu thốn.
Khi
ấy, lục chúng Bí-sô thường biểu hiện sự thiếu thốn.
Phật
dạy:
- Không
nên cho lục chúng, nên cho theo thứ tự kể từ bậc thượng
tọa trở xuống.
Do
đó các Bí-sô nhỏ không được gì cả.
Phật
dạy:
- Chúng
nên tập họp lại, trước hết phải tác bạch. Chúng tăng
đã hòa hợp đồng ý thì đổi ra để cùng nhau phân chia.
Duyên
xứ như trước. Có một Bí-sô thình lình qua đời. Y bát của
vị ấy để bên trú xứ Bí-sô ny. Sau khi vị ấy đã được
tống táng. Các Bí-sô biết vị ấy đã qua đời nên đến
trú xứ Bí-sô ny đòi y bát, ny nghe đòi liền hỏi: Vị ấy
chết ở đâu?
Ðáp:
- Tại
chùa ny.
Ny
nói:
- Nếu
vị ấy chết tại chùa tăng thì các vật ấy thuộc về nhân
giả, nay vị ấy chết tại chùa ny, lại là đồng pháp huynh
đệ với tôi. Tất cả y bát của vị ấy hiện còn tôi được
phép lấy.
Ny
không trả y bát lại. Bí-sô bạch Phật.
Phật
dạy:
- Không
được để cho ny, nên phân chia cho Bí-sô.
Duyên
xứ như trước. Có một Bí-sô ny bị bệnh qua đời. Y bát
của vị ấy để bên trú xứ Bí-sô. Các Bí-sô ny đến chỗ
Bí-sô thưa:
- Tôn
giả! Ny tên ... mỗ... nay đã qua đời, y bát còn gởi ở đây,
xin tôn giả cho phép chúng con nhận.
Bí-sô
này nghe vị ấy chết, nói:
- Vị
ny đã qua đời kia là chị em đồng pháp với tôi. Y bát của
vị ấy, tôi được phép giữ lấy.
Bí-sô
đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Phải
trả lại cho ny.
Duyên
xứ như trước. Có Bí-sô du hành trong nhân gian, đến nhà
cư sĩ tại một tụ lạc nọ, thình lình bị bệnh qua đời.
Trưởng giả chủ nhà sau khi tống táng Bí-sô, quản thủ y
bát. Bấy giờ có các Bí-sô ny du hành đến đó. Trưởng giả
gặp Bí-sô ny bạch:
- Thánh
giả! Trước đây có Bí-sô qua đời trong nhà con. Y bát của
vị ấy con còn để tại nhà. Quí vị có thể lấy mang đi.
Chúng
Bí-sô ny trả lời:
- Y
bát của Bí-sô qua đời, ny không được nhận.
Các
Bí-sô ny bạch việc ấy cho Bí-sô biết. Bí-sô bạch Phật.
Phật
dạy:
- Nếu
gặp chỗ không có Bí-sô, Bí-sô ny nên nhận lấy.
Duyên
xứ như trước. Có Bí-sô ny mang y bát du hành trong nhân gian,
đến nhà cư sĩ ở thôn nọ, bị bệnh qua đời. Chủ nhà
đem tử thi đến táng ở thi lâm và giữ bát.
Các
Bí-sô du hành đến đó, trưởng giả gặp các Bí-sô bạch
rằng:
- Thánh
giả! Trước đây có một Bí-sô ny qua đời tại nhà con. Y
bát của vị ấy còn để tại nhà. Nhân giả nên đến lấy
mang đi.
Bí-sô
đáp:
- Vật
của ny qua đời, tôi không được lấy.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Nếu
ở chỗ không có ny chúng, Bí-sô lấy, không phạm.
Cụ
thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Bạch
Ðại đức! Nếu các Bí-sô qua đời trong nhà người thế
tục. Y bát của vị ấy ai được phép nhận?
Phật
dạy:
- Ai
đến trước nhất được lấy.
- Nếu
hai người đến cùng lúc. Ai được lấy?
Phật
dạy:
- Ai
hỏi trước thì được.
- Nếu
hai người cùng hỏi, ai được lấy?
Phật
dạy:
- Cả
hai người đều được. Hoặc tùy tâm tình hoan hỷ của người
thế tục, cho ai người ấy nhận.
Duyên
xứ như trước. Hai Bí-sô cùng nhau tranh cãi. Các Bí-sô thấy
đánh nhau nhưng không can gián. Mọi người thấy vậy nói rằng:
- Thánh
giả! Chúng tôi là bọn tục lưu, thấy người khác đánh nhau
còn can gián hòa giải. Tại sao quí ngài thấy đánh nhau mà
khoanh tay đứng nhìn?
Bí-sô
trả lời:
- Ðấy
là những người ưa tranh cãi nhau, ai có thể can gián khuyên
giải họ được.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Nên
can ngăn họ, không được đứng nhìn.
Các
Bí-sô tuy can ngăn nhưng họ không dừng lại.
Phật
dạy:
- Nếu
can ngăn mà họ không dừng lại, nên tác yết ma xả trí cho
họ.
Hai
Bí-sô cùng nhau luận nghị đạo lý, nhân đó nổi sân cãi
cọ nhau.
Các
Bí-sô tác yết ma xả trí cho họ.
Hai
vị này nói:
- Chúng
tôi bàn luận nghiên cứu đạo lý. Quí vị căn cứ vào đâu
tác yết ma xả trí?
Bí-sô
trả lời:
- Những
người tranh cãi, Phật dạy tác yết ma xả trí cho họ. Vì
lý do đó nên chúng tôi tác yết ma cho quí vị.
Bí-sô
đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Không
nên vì thế mà tác yết ma xả trí cho họ. Nếu họ còn hai
thầy (Hòa thượng, quỷ phạm sư) nên bảo những vị ấy
can gián giáo dục họ. Nếu đủ mười hạ, đã lìa y chỉ,
các Bí-sô nên can gián. Nếu họ không chấm dứt tranh cãi
thì chúng nên tác yết ma xả trí cho họ.
Cụ
thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Nếu
có Bí-sô qua đời ngay tại hai cương giới, y bát của vị
ấy bên nào được phép nhận?
Phật
dạy:
- Ðầu
hướng về bên nào, trú xứ ấy được phép nhận.
- Nếu
đầu tại cương giới chung của hai trú xứ. Trường hợp
này giải quyết thế nào?
Phật
dạy:
- Cả
hai trú xứ đều được.
Tụng
thứ hai.
Xướng
đạo thừa xa dư
Ðắc
y ưng cử chưởng
Tăng
già hoạch y lợi
Phàm
thánh khả đồng phân.
Thế
Tôn ở thành Thất La Phạt. Bấy giờ trong thành có nhiều
ngoại đạo cư trú. Phật đến đây nên thế lực của ngoại
đạo bị giảm sút đưa đến suy sụp về lợi dưỡng.
Bấy
giờ, những kẻ tục lưu còn tín ngưỡng ngoại đạo, tìm
cách vận động của bố thí để dâng cúng các ngoại đạo.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc mỗi sáng sớm đến chỗ Phật. Trên đường
đi ông ta gặp đồ chúng ngoại đạo vận động trưởng giả
bố thí để cúng dường cho thầy họ. Trưởng giả thấy
thế, tự nghĩ: "Tà đồ chúng của ngoại đạo tu hành ác
pháp mà còn biết xin của bố thí để cúng dường cho thầy
mình. Ðức Thế Tôn đã dạy trong Kinh: Nếu người chưa tin
làm cho phát sinh tín tâm, để cho mọi người đều được
điều phục an trú trong chánh pháp. Nếu được đức đạo
sư cho phép, ta sẽ bảo mọi người làm các sự cúng dường
cho phước điền này."
Trưởng
giả nghĩ như thế rồi, vào rừng Thệ Ða, đãnh lễ Thế
Tôn, ngồi qua một bên, đem sự việc vừa rồi bạch Phật:
- Cầu
mong Thế Tôn cho phép con được phép vận động sự cúng dường
cho Phật và Tăng.
Phật
dạy:
- Tùy
ý thi hành.
Trưởng
giả liền đi phổ biến sự cúng dường, khi ấy các cư sĩ
và Bà la môn đều thưa với trưởng giả:
- Nếu
thánh chúng cùng đến nhận cúng, thì phước lợi cho chúng
tôi rất nhiều.
Trưởng
giả đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Các
Bí-sô nên hỗ trợ cùng trưởng giả.
Các
Bí-sô vâng lời dạy của Phật, cùng với trưởng giả phổ
biến sự cúng dường.
Mọi
người đều thưa rằng:
- Khi
bố thí, nêu tên họ chúng tôi lên để mọi người đều
biết.
Chúng
Bí-sô đáp:
- Lành
thay!
Thế
Tôn dạy:
- Khi
thí chủ đem vật cúng dường nên xướng tên họ người cúng
và chú nguyện, sau đó mới thọ. Nên bảo người thế tục
xướng tên họ.
Mọi
người đề nghị:
- Các
thánh giả xướng tên họ chúng tôi thì phước mới nhiều
thêm.
Phật
dạy:
- Nên
bảo Bí-sô xướng tên họ thí chủ.
Khi
ấy có thí chủ mang tài vật đến chùa cúng dường.
Phật
dạy:
- Nếu
họ mang đến chùa, cũng phải xướng tên họ thí chủ và
chú nguyện rồi mới nhận.
Bí-sô
phổ biến khắp nơi, khi hướng dẫn mọi người tập hợp
chen chúc nhau quá đông không tiến tới được.
Phật
dạy:
- Người
hướng dẫn nên đi xe hoặc ngồi kiệu cao.
Gặp
lúc trời nóng hay mưa gió. Phật dạy:
- Nên
che bằng dù lọng.
Khi
ấy, chỉ mở một cửa, mọi người vào quá đông nghẽn cả
lối đi.
Phật
dạy:
- Nên
mở bốn cửa và đặt bốn người hướng dẫn.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc đi theo sau phổ biến, được cúng nhiều
vải tốt đến trăm ngàn vạn xấp và tài vật, số lượng
đến rất nhiều. Trưởng giả tự nghĩ: "Ta đã khuyến hóa
được số tài vật nhiều thế này. Ta nên lập đại hội
bố thí, cúng dường Phật và Thánh chúng. Ta sẽ đem các vật
này bố thí trước đại chúng và cúng dường một lần".
Trưởng giả nghĩ vậy, ngay nơi rừng Thệ Ða trang hoàng các
loại vải đẹp vây chung quanh, đặt ba y và đầy đủ các
tư cụ khác lên giá, sai một người giữ gìn chu đáo. Trưởng
giả đến lễ sát chân Phật bạch rằng:
- Thế
Tôn! Ngày mai con muốn lập đại hội bố thí để cúng Phật
và Tăng.
Thế
Tôn im lặng nhận lời.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc, ngay đêm ấy sửa soạn các thức ăn uống
thượng diệu. Bình minh đã xếp đặt nệm tòa trong chùa,
đến bạch Phật:
- Ðã
đến giờ.
Phật
cùng đại chúng đến chỗ ngồi đã dọn sẵn. Sau khi đức
Phật và đại chúng ăn xong, thu y bát, đánh răng súc miệng
xong. Trưởng giả đem các y vật đã bố thí trên tòa, quì
bạch Phật:
- Thế
Tôn! Trong thế gian có bao nhiêu loại phước điền?
Phật
dạy:
- Có
hai loại là học và vô học. Hữu học nhân sai biệt có 18
loại: vô học nhân có 9 loại. Ðấy là phước điền có thể
tiêu thụ các vật lợi dưỡng.
- Mười
tám bậc hữu học nhân là gì? Ấy là:
1.-
Dự lưu hướng.
2.-
Dự lưu quả.
3.-
Nhất lai hướng.
4.-
Nhất lai quả.
5.-
Bất hoàn hướng.
6.-
Bất hoàn quả.
7.-
A la hán hướng.
8.-
A la hán quả.
9.-
Tùy tính hành.
10.-
Tùy pháp hành.
11.-
Tín giải.
12.-
Kiến trí.
13.-
Gia gia.
14.-
Nhất gian.
15.-
Trung sanh.
16.-
Hữu hành.
17.-
Vô hành.
18.-
Thượng lưu.
Ðấy
là mười tám.
- Chín
bậc vô học nhân là gì? Ấy là:
1.-
Thối pháp.
2.-
Tư pháp.
3.-
Hộ pháp.
4.-
Trú pháp.
5.-
Kham đạt pháp.
6.-
Bất động pháp.
7.-
Bất thối pháp.
8.-
Tuệ giải thoát.
9.-
Cầu giải thoát.
Ðấy
là chín bậc (xem Trung A Hàm - kinh Phước Ðiền) . Sau khi nói
xong, đức Phật đọc kệ:
Với
bậc học, vô học trong đời
Là
chỗ cung kính đáng cúng dường
Thân
miệng ngay thẳng, tâm thanh tịnh
Cúng
phước điền này được quả lớn.
Khi
ấy, trưởng giả Cấp Cô Ðộc, ngay tại chỗ ấy, xin cử
người xướng ngôn, ngưỡng mong thánh giả, tác bạch như
thế này:
- Nếu
là đệ tử Thanh văn của Thế Tôn thì xứng đáng được
cung kính lễ bái, là phước điền vô thượng, xứng đáng
được nhận các vật lợi dưỡng trong thế gian. Y vật này,
các ngài tùy ý thọ dụng.
Người
xướng ngôn đứng trước thượng tọa tác bạch:
- Ðại
đức tăng già lắng nghe. Nếu là đệ tử... như trên... thọ
dụng.
Ðại
chúng nghe cáo bạch xong. Những vị đã viễn ly được tham,
sân, si tự nghĩ: "Trưởng giả Cấp Cô Ðộc cáo bạch lời
này: Nếu là... như trên..."
Các
vị A la hán tự nghĩ: "Ta là bậc chứng quả Vô thượng trong
chúng tăng. Ðối với các vật lợi dưỡng này đáng được
thọ dụng".
Như
Thế Tôn dạy:
- Này
các Bí-sô! Nếu tự mình có điều thiện thù thắng phải
tự che kín, có việc thô xấu phải phát lồ. Nay tại sao vì
các lợi vật này mà ta biểu dương đức độ mình ra, lại
phát biểu rằng: "Ta là người ly dục vô thượng". Nghĩ như
thế rồi, các vị A la hán đều ngồi im lặng. Các vị chưa
đoạn trừ hết các hoặc hữu dư, cũng tự nghĩ: "Các vật
này cúng dường cho bậc phước điền vô thượng, các lậu
hoặc của ta chưa hết, thật không nên nhận". Các vị ấy
cũng ngồi im lặng. Các vị còn cụ triền dị sanh cũng nghĩ
như thế này: "Vật này cúng dường cho bậc phước điền
vô thượng. Nay phiền trược của ta còn đầy đủ mạnh mẽ,
thì không được hưởng đâu".
Trong
chúng không có một người nào nhận lấy các vật cúng dường
ấy cả.
Bấy
giờ, trưởng giả Cấp Cô Ðộc tự nghĩ: "Nay, chẳng lẽ
ta gây cho chúng tăng thánh phàm này sự việc úp bát hay sao?"
Trong chốc lát trưởng giả hình dung tiều tụy, thần sắc
thay đổi, đến chỗ Thế Tôn lạy sát chân Phật ngồi qua
một bên, đem tất cả sự việc ở trên trình bày với Phật.
Thế Tôn tuy biết rõ nhưng cố ý hỏi cụ thọ A Nan Ðà:
- Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc đem nhiều y vật để cúng dường đại
chúng. Do ý gì mà trong chúng không ai nhận lãnh vậy?
A Nan
Ðà thưa:
- Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc tác bạch như thế này: "Trong chúng này
nếu vị nào là đệ tử Thanh văn của đức Thế Tôn thì
đáng cung kính và lễ bái, là phước điền vô thượng, xứng
đáng nhận vật lợi dưỡng của thế gian. Các y vật này
các ngài tùy ý thọ dụng".
Khi
đại chúng nghe bạch thế rồi, phàm thánh đều im l?ng. Do
nhân duyên ấy không người nào nhận lĩnh cả.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo A Nan Ðà:
- Ông
nên đến đó bảo các Bí-sô đang ở thành Thất La Phạt và
các nơi khác cùng nhau tập hợp chờ đợi ở giảng đường.
Cụ
thọ A Nan Ðà thừa lệnh của Phật, đến bảo mọi người
tập họp tại giảng đường xong, trở về lạy sát chân Phật,
bạch rằng:
- Ðại
chúng đã tập họp hết một nơi, mong Thế Tôn tri thời.
Ðức
Thiện Thệ đi đến nơi, ngồi xuống chỗ đã dọn sẵn. Ngài
bảo các Bí-sô:
- Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc cúng dường nhiều y phục. Tại sao quí
thầy không ai thọ nhận cả?
Các
Bí-sô im lặng không trả lời.
Ðức
Ðại Sư tuy biết nhưng vẫn cố ý hỏi A Nan Ðà:
- Tại
sao khi ta hỏi mà các Bí-sô im lặng không trả lời.
Tôn
giả A Nan Ðà đem tất cả sự việc trước đây bạch đức
Thế Tôn.
Phật
bảo các Bí-sô:
- Chẳng
phải là các thầy ban đầu vì lòng tin nên đến với ta để
xuất gia thoát ly thế tục cầu Niết bàn hay sao?
Các
Bí-sô bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn đúng vậy.
Phật
dạy:
- Nếu
các thầy vì lòng tin nên đến với ta để xuất gia, mong muốn
cầu Niết Bàn, tu hành tịnh hạnh. Y phục các Bí-sô đang
mặc giá trị một ức tiền vàng. Phòng xá đang ở giá trị
500 tiền vàng thực phẩm ăn uống đầy đủ trăm vị ngon.
Tất cả những thứ ấy, ta đều cho phép nhận và các thầy
đều làm cho tiêu trừ được. Nhưng nếu có Bí-sô nào phá
giới, thì ngay trong trú xứ không thể làm cho tiêu trừ được
một miếng ăn; đất tăng già lam không thể dung chứa một
bàn chân người ấy. Tại sao? Các thầy nên biết, người
phá giới có mười điều lầm lỗi.
1-
Tự biết mình là người phá giới xấu ác, người khác cũng
biết mình là người phá giới.
2-
Thiên thần không thân cận giúp đỡ.
3-
Ðồng phạm hạnh khinh chê.
4-
Người tốt biết pháp, khinh chê.
5-
Tiếng xấu của tội ác bốn phương đều biết.
6-
Người chưa chứng ngộ không thể chứng thêm được.
7-
Ðã chứng ngộ bị thối thất.
8-
Những điều đã thấy nghe được, đều quên hết.
9-
Khi sắp chết tâm sinh áo não.
10-
Sau khi chết đọa địa ngục.
Lại
nữa, này các Bí-sô, thọ dụng có năm loại:
1-
Chủ thọ dụng.
2-
Phụ mẫu thọ dụng.
3-
Thính hứa thọ dụng.
4-
Phụ trái thọ dụng.
5-
Ðạo tặc thọ dụng.
- Thế
nào là chủ thọ dụng?
- Nghĩa
là bậc A La Hán đã vĩnh viễn trừ sạch hết ba độc.
- Thế
nào là phụ mẫu thọ dụng?
- Nghĩa
là các bậc học nhân còn có dư hoặc.
- Thế
nào là thính hứa thọ dụng?
- Nghĩa
là bậc dị sanh thuần thiện với đời sống cao đẹp, giữ
giới thanh tịnh, siêng tu thiền tụng, không có tâm phóng dật.
- Thế
nào là phụ trái thọ dụng?
- Nghĩa
là tuy có giữ gìn giới cấm nhưng không tinh tấn tu hành giác
phẩm thiện pháp.
- Thế
nào là đạo tặc thọ dụng?
- Nghĩa
là phạm một trong bốn giới trong. Thế nên, quý thầy đã
biết những sự việc như vậy rồi phải tinh tấn tu học.
Ðối với những y vật cúng dường và các phần lợi dưỡng
khác của trưởng giả này, đại chúng nên cùng nhau phân chia
một cách bình đẳng.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TY
NẠI DA
NY
ÐÀ NA
- Hết
quyển 2-