NY
ÐÀ NA
(No.
1452)
Quyển
thứ ba
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Tụng
thứ ba.
Hữu
trương hữu bất trương
Hữu
xuất hữu bất xuất
Nhược
tại ư giới ngoại
Văn
sinh tùy hỷ tâm.
Phật
tại thành Thất La Phạt, cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Bí-sô
nào khi tăng cộng trương y yết sĩ na, vị ấy tuy ở trong
chúng mà không được trương y không?
Phật
đáp:
- Có!
Khi Bí-sô đang cùng nhau trương y, vị nào không gởi dục cho
người khác, lại ngủ say hay nhập định, vị này tuy ở trong
chúng nhưng không được gọi là cộng trương y. Tuy nhiên đại
chúng này vẫn được gọi là thành tựu trương y.
- Bí-sô
nào khi tăng già cộng trương yết sĩ na y nhưng không lãnh
thọ, thành tựu trương y không?
Phật
dạy:
- Có!
Bí-sô nào khi tăng già cộng trương y, gởi dục cho người
khác rồi, khi ấy ngủ hoặc nhập định. Vị ấy tuy không
biết rõ những vẫn thành tựu trương y.
- Bí-sô
nào khi tăng già cộng xuất yết sĩ na y, tuy ở trong chúng
mà không được gọi là xuất y không?
Phật
dạy:
- Có!
Bí-sô nào khi tăng già cộng xuất y yết sĩ na, không gởi
dục cho người khác, mà lại nhập định hoặc ngủ. Người
này không được gọi là xuất y nhưng tăng già được gọi
là xuất y.
- Bí-sô
nào khi tăng già cộng xuất y, thân ở trong chúng, tâm không
lãnh thọ, được gọi là xuất y không?
Phật
dạy:
- Có!
Bí-sô nào khi tăng già cộng xuất y, sau khi gởi dục cho người
khác, rồi nhập định hoặc ngủ. Nhưng Tăng già thành cộng
xuất y.
- Nếu
có Bí-sô đi ra ngoài cương giới, nghe chúng Tăng đã xuất
y yết sĩ na, phát tâm tùy hỷ, cũng thành xuất y.
Tụng
thứ tư
Thọ
học đẳng bất bỉnh
Tác
pháp bất thành ha
Thập
nhị nhân thành ha
Bất
tịnh phạm căn bản.
Duyên
xứ như trước. Cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Người
bị thọ học được phép bỉnh tất cả các pháp yết ma không?
Phật
dạy:
- Không
được.
- Các
loại bán trạch ca (hoàng môn) và những người có già nạn
được pháp bỉnh yết ma không?
Phật
dạy:
- Không
được.
- Người
bị thọ học được dự hành trù không?
Phật
dạy:
- Không
được.
- Người
phạm tứ trong được phép hành trù không?
Phật
dạy:
- Không
được.
Như
Thế Tôn dạy:
- Vì
người kia làm yết ma như pháp. Người kia ha bất thành ha.
Nếu vì người kia làm yết ma phi pháp. Người kia ha thành
ha không?
Phật
dạy:
- Ðây,
ha thành ha.
Có
mười hai hạng người khi chúng tăng sai khiến họ phát biểu:
Không được sai khiến tôi.
Những
người này ha thành ha không?
Phật
dạy:
- Ðây
ha tức thành ha. Nhưng những người này căn cứ vào hai trường
hợp, Ta ý nói rằng ha không thành ha, là người không thanh
tịnh.
- Ðại
đức! Như Thế Tôn nói: Người không thanh tịnh ha không thành
ha. Thế nào là không thanh tịnh?
Phật
dạy:
- Phạm
một trong bốn tội tha thắng, gọi là người không thanh tịnh.
(nguyên
chú: căn cứ vào hai trường hợp là: 1- Tác như pháp yết
ma; 2- Là người không thanh tịnh)
Tụng
thứ năm
Cánh
ưng trùng tác pháp
Vật
sử cầu tịch hành
Thủ
hộ thiện dụng tâm
Kiến
xứ ly văn xứ.
Duyên
xứ như trước. Cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Người
thọ học tác pháp yết ma cho người khác, sau khi tác pháp,
tác pháp như vậy thành tựu không?
Phật
dạy:
- Không
thành. Phải tác pháp lại, người phạm tứ trọng cũng như
vậy.
Bấy
giờ có một cầu tịch muốn thọ cận viên. Thân giáo sư
của vị ấy đã chuẩn bị đủ y bát. Hai vị thầy (yết
ma giáo thọ) và các tôn chứng gọi vị ấy đến, vì có duyên
sự nên bảo ra ngoài cương giới.
Khi
ấy, thân tộc của vị ấy biết vị ấy muốn thọ cận viên,
tìm đ?n và đưa vị cầu tịch này đi nơi khác. Sự việc
này làm ngăn trở mất thắng nghiệp và chướng ngại cận
viên của vị ấy.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Như
người con trưởng của vua chuyển luân đã thọ quán đảnh,
khi sắp lên ngôi vua, ngày đêm sai người giữ gìn chu đáo.
Vị cầu tịch này cũng như vậy, khi sắp thọ cận viên cần
phải phòng hộ. Phàm có cầu tịch muốn thọ cận viên, các
thầy không được bảo họ ra ngoài giới mà phải bố trí
họ ở chỗ thấy nhưng không nghe được. Vị ấy phải chí
thành đứng chắp tay hướng về chúng Tăng.
Tụng
thứ sáu.
Thu
nhiếp ư giới nội
Ư
chúng tâm hàng phục
Tiệt
trụ cập môn khuông
Ny
đẳng đồng khu tuẫn.
Duyên
xứ như trước. Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Như
Thế Tôn dạy: Nếu vì người nào tác Linh bố yết ma. Sau
đó, vị này ngay trong chúng thu nhiếp và cầu xin giải yết
ma này. Cần phải đủ bao nhiêu pháp để thu nhiếp?
Phật
dạy:
- Phải
đủ năm pháp mới là thu nhiếp.
1-
Có tâm vui mừng.
2-
Tùy thuận phục tùng chúng tăng.
3-
Xin trừ diệt tội (đã phạm).
4-
Tự thân biểu hiện cung kính.
5-
Từ bỏ tất cả những duyên sự đấu tranh.
- Bạch
Ðại đức! Tại chỗ nào có thể tác pháp giải yết ma?
Phật
dạy:
- Có
thể ngay trong cương giới.
Như
Thế Tôn dạy đối với các Bí-sô đấu tranh nên tác Linh
bố yết ma. Ngay khi tác pháp nếu họ biểu hiện tướng trạng
bất phục tùng. Trường hợp này giải quyết như thế nào?
Phật
dạy:
- Ðưa
y bát cho họ rồi đuổi ra ngoài cương giới. Nếu họ không
chịu đi, ôm trụ cửa thì chặt bỏ trụ cửa của họ đang
ôm. Nếu họ ôm giữ khuông cửa, cũng phải chặt bỏ.
- Sự
hư hại trụ cửa ai đứng ra sửa chữa?
Phật
dạy:
- Ðại
chúng có thể quyên giáo và cộng tác cùng cư sĩ sữa chữa
lại.
- Nếu
Bí-sô ny hợp tác tranh đấu, phải giải quyết như thế này?
Phật
dạy:
- Tác
pháp khu tẫn căn cứ theo Bí-sô, hai chúng cầu tịch và chánh
học nữ cũng vậy. Nếu khi chúng tăng tác pháp yết ma khu
tẫn, họ không chịu đi thì có thể làm theo như trên.
- Bạch
Ðại đức! Nếu Bí-sô hay Bí-sô ny làm việc ác gây tiếng
xấu ở nhà người, có nên vì họ tác pháp khu tẫn yết ma
không?
Phật
dạy:
- Phải
làm! Hai chúng cầu tịch và chánh học nữ cũng đồng như
vậy.
Tụng
thứ bảy.
Phá
giới ưng khu trực
Phục
xứ diệt giai trừ
Não
tục nguyện thâu tạ
Dư
chúng hàm đồng thử.
Duyên
xứ như trước. Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Như
Thế Tôn dạy, phải khu tẫn Bí-sô phá giới. Vậy ai làm việc
khu tẫn?
Phật
dạy:
- Nếu
họ không phục tùng, tăng già đưa y vật cho họ và đuổi
ra. Nếu họ ôm trụ cửa, khuông cửa thì giải quyết như
trước.
- Bạch
Ðại đức! Như Thế Tôn dạy, nếu có Bí-sô cùng các cư
sĩ khinh chê hủy báng nhau, nên vì vị ấy tác pháp cầu tạ
yết ma. Nếu có Bí-sô cùng với Bí-sô khinh chê hủy báng
nhau có nên tác cầu tạ yết ma không?
Phật
dạy:
- Phải
làm.
- Bạch
Ðại đức! Nếu Bí-sô cùng Bí-sô ny hoặc cùng ba chúng dưới
khinh chê hủy báng nhau, có nên tác pháp cầu tạ yết ma không?
Phật
dạy:
- Phải
làm. Nếu Bí-sô ny và các chúng dưới cùng nhau não loạn,
đều phải giải quyết như vậy. Vì họ tác yết ma và làm
pháp khu tẫn.
Tụng
thứ tám.
Dữ
cầu tịch linh bố
Vi
thọ thành cận viên
Ngũ
pháp thành tựu thời
Ngũ
hạ ly y khứ.
Cụ
thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Nếu
đại chúng vì cầu tịch tác pháp linh bố. Sau đó đại chúng
lại cho vị cầu tịch này thọ cận viên, vậy có đắc giới
không?
Phật
dạy:
- Ðắc
giới cận viên, nhưng người truyền giới mắc tội. Trước
đó, nên vì người này tác pháp giải yết ma.
- Như
Thế Tôn dạy: Thành tựu năm pháp, mãn năm tuổi hạ, được
rời y chỉ, được phép du hành tùy ý cho đến mười hạ
đi đến ở chỗ nào cũng phải cầu y chỉ. Nếu vị nào đủ
bốn hạ, thành tựu năm pháp, được phép rời y chỉ, tùy
ý du hành không?
Phật
dạy:
- Không
được. Cần phải mãn năm hạ.
- Ðã
đủ năm hạ nhưng chưa đầy đủ năm pháp, được phép rời
y chỉ không?
Phật
dạy:
- Không
được. Vì chưa thành tựu năm pháp. (Năm pháp: Biết phạm,
biết không phạm, biết tội khinh, biết tội trọng, thông
suốt luật yết ma. Tứ phần ny sao trích thập tụng -- Người
dịch)
- Ðủ
ba tuổi hạ, thông suốt ba tạng, chứng đủ tam minh, trừ
sạch ba cấu, người như vậy cần phải rời y chỉ không?
Phật
dạy:
- Người
này vẫn phải cần y chỉ giáo pháp chế định như vậy.
- Ðủ
năm hạ, thành tựu năm pháp, được phép du hóa trong nhân
gian. Nhưng khi đến ở một chỗ nào, được phép ở bao nhiêu
ngày không có y chỉ?
Phật
dạy:
- Ðược
phép đến năm đêm. Ðây là căn cứ trường hợp có tâm mong
cầu y chỉ, nếu không có tâm mong cầu thì dù một đêm thôi
cũng không được. Trong thời gian này đối với các loại
thức ăn uống thọ dụng của tăng, đều không được phép
thọ.
Tụng
thứ chín.
Ðồng
phần phi đồng phần
Hữu
tề hạn cập vô
Hữu
phú vô phú thù
Danh
nhất chủng tiện dị.
Cụ
thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Như
Ðại đức dạy: Có tội đồng phần và tội phi đồng phần.
Ý nghĩa như thế nào?
Phật
dạy:
- Tội
đồng phần là Ba la thị ca đối với Ba la thị ca gọi là
đồng phần. Tội phi đồng phần là (Ba la thị ca) hướng
đến các thiên, bộ khác. Bốn thiên, bộ sau cũng đồng như
vậy. (Thiên như năm thiên, bộ là tụ như bảy tụ -- Người
dịch)
Như
Thế Tôn dạy:
- Có
tội hữu hạn, có tội vô hạn. Ý nghĩa như thế nào?
Phật
dạy:
- Nếu
Bí-sô không nhớ rõ tội và số đêm đã phạm, gọi là vô
hạn. Nếu nhớ rõ tội và số đêm đã phạm, gọi là hữu
hạn (đêm tức ngày đêm 24 giờ).
- Như
Phật dạy, có tội phú tàng, có tội không phú tàng. Ý nghĩa
như thế nào?
Phật
dạy:
- Phú
có hai loại: 1- Là phú số đêm; 2- Là phú tâm. Nếu Bí-sô
do quên nên bỏ qua đêm, cũng không gọi là phú. Nếu có tâm
cố che dấu qua đêm mới gọi là phú.
- Thế
Tôn! Ðối với các tội xứ, nói có danh và chủng. Thế nào
là danh, thế nào là chủng?
Phật
dạy:
- Ba
la thị ca là danh, cụ thể từng sự việc trong ấy gọi là
chủng. Danh và Chủng bốn thiên bộ sau cũng vậy.
Tụng
thứ mười.
Bất
tường thượng hành pháp
Phi
ư nhất nhị tam
Bất
đối phá giới nhân
Bất
thủ thọ học dục.
Duyên
xứ như trước.
- Thế
Tôn đã dạy: Nếu có Bí-sô muốn hành Ba lợi bà sa (biệt
trú) và Ba na đỏa (ý hỉ) nên cho họ hành pháp ấy.
Bấy
giờ lục chúng Bí-sô ra ngoài cương giới của họ, lên trên
tường để hành pháp ấy. Các Bí-sô hỏi lục chúng rằng:
- Quí
vị làm gì vậy?
Lục
chúng đáp:
- Tôi
hành Ba lợi bà sa.
Các
Bí-sô nói:
- Ðây
chính là che dấu, làm sao thành hành pháp được.
Khi
ấy các Bí-sô đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Các
thầy không được hành pháp ấy trên tường. Cũng không được
hành pháp ấy tại nơi trú xứ chỉ có một, hai hay ba Bí-sô.
Phải trong chúng bốn Bí-sô hay nhiều hơn nữa hành pháp trị
phạt.
Khi
ấy lục chúng hành lại bản pháp Ba lợi bà sa nhưng lại
nhận pháp để hành tại trú xứ của bốn người thọ học.
Phật
dạy:
- Không
được hành pháp ấy tại trú xứ của người thọ học. Không
được tại nơi bốn người phạm Ba la thị ca khiến họ bỉnh
pháp để thọ hành pháp Ba lợi bà sa. Không được tại nơi
ba người phạm giới trọng và một người thanh tịnh. Cũng
vậy, không được thêm hai hay ba người thanh tịnh. Khi vì
một người tác pháp hành phú tàng, đại chúng đều phải
thanh tịnh hoàn toàn. Lại cần phải như vậy cho đến khi
sáu đêm, xuất tội, tăng đều phải thanh tịnh.
Ô
Ba Ly bạch Phật:
- Người
thọ học được phép gởi dục không?
Phật
dạy:
- Không
được.
- Ðược
phép nhận dục của người này không?
Phật
dạy:
- Ðược.
Vì đó là Bí-sô.
-ooOoo-
Ny
Ðà Na Biệt Môn Tụng Tổng Nhiếp Thứ Ba.
Viên
đàn cầu tịch đọa
Nhất
y yên được khí
Thiết
trùy phát cập môn
Bất
ưng tùy thiết tác.
Tụng
thứ nhất.
Viên
đàn cập thiên miếu
Lưỡng
dịch bán y chỉ
Vô
bát bất độ nhân
Bát
đẳng bất thư tự.
Phật
ở thành Thất La Phạt. Các Bí-sô tùy chỗ rửa bát và rửa
chân làm cho nơi đất ấy sinh nhiều ruồi muỗi. Các Bà la
môn, cư sĩ hỏi Bí-sô:
- Ðây
có phải là chổ thánh giả đại tiểu tiện không?
Bí-sô
đáp:
- Không
phải đại tiểu tiện đâu mà là nơi chúng tôi rửa chân
và rửa bát.
Cư
sĩ nghe xong, sinh tâm chê bai, họ phát biểu rằng:
- Các
Bí-sô đều không sạch sẽ, rửa chân rửa bát không chọn
nơi chốn.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Không
được rửa bát rửa chân bữa bãi. Các thầy nên biết rằng,
nếu chỗ để rửa bát phải dùng bùn đắp nền đất nhỏ
cho nước chảy đi.
Khi
ấy các Bí-sô đắp nền tròn. Cư sĩ thấy vậy nói rằng:
- Các
thích tử cúng dường mặt trời.
Thế
Tôn bảo rằng:
- Không
nên đắp hình tròn.
Các
Bí-sô đắp hình bán nguyệt.
Cư
sĩ lại nói:
- Bí-sô
thờ mặt trăng.
Phật
dạy:
- Nền
có hai loại:1- Như hình mũi mác. 2- Như hình ống. Hoặc có
thể làm theo chiều nước chảy. Nếu làm đàn hình nhật nguyệt,
bị tội ác tác. Nếu làm vì Tam Bảo thì hình thể nào cũng
không phạm.
Bấy
giờ đức Thế Tôn vì đại thần Bà la môn nước Ma Yết
Ðà tên là Hành Vũ lược nói pháp yếu.
Bậc
trượng phu chánh tín
Cúng
dường chúng chư thiên
Thuận
giáo pháp đại sư
Chư
Phật khen vị ấy.
Bấy
giờ lục chúng Bí-sô tự tiện cúng dường Yết Thát Bố
Ðản Na, Ma Ðăng Già Cù Lợi Ca Thiên.
Các
Bà la môn, cư sĩ đều nói:
- Thánh
giả! Ngài đã được xuất gia trong giáo pháp thiện thuyết,
sao ngược lại kiêm cả việc thờ cúng thiên thần?
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Ðây
vì người thế gian. Ta nói với ý riêng, chứ không phải là
việc làm của các vị Bí-sô đâu. Thế nên các thầy chớ
nên thờ cúng các thiên thần.
Có
Bí-sô đối với thiên thần sinh tâm khinh chê.
Thiên
thần nói:
- Chúng
tôi đối với quí ngài nào có lỗi gì, mà bị khinh chê như
vậy?
Các
Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Từ
nay đối với thiên thần, các thầy không được cúng dường
nhưng không được khinh chê.
Các
Bí-sô đến nơi khác, thấy thần tượng của Yết Thát Bố
Ðản Na và Ha Ðăng Già Cù Lợi Ca, liền đập phá. Các cư
sĩ thấy vậy nói:
- Thần
tướng chư thiên này không có tâm thức. Thánh giả! Tại sao
phá hủy đi?
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Này
các Bí-sô! Không được phá hủy tượng thiên thần.
Bí-sô
đi du hành trong nhân gian. Khi ấy vì tiện đường các vị
này đi nhiễu về phía bên phải miếu thờ thiên thần.
Phật
dạy:
- Bí-sô
không nên đi nhiễu bên phải miếu thờ chư thiên.
Các
Bí-sô nghe dạy, liền tránh đường cũ ấy, đi bị gai góc
làm thương tổn.
Phật
dạy:
- Nên
đi theo đường đã có sẵn, nếu vì tiện đường phải đi
nhiễu bên phải miếu thờ thiên thần, nên đọc tụng pháp
kệ, tằng hắng khảy móng tay để họ cảnh giác.
Cụ
thọ Ô Ba Ly bạch Phật:
- Thế
Tôn! Như nói rằng cương giới lớn nhất (chiều dài) hai trạm
rưởi, cho các đệ tử đối với thân giáo su (Ô Ba Ðà Da)
và quỹ phạm sư (A Giá Lợi Da) phải một ngày ba lần đến
học hỏi thăm viếng. Ðây chính là Phật chế. Các đệ tử
đến gặp thân giáo sư và quỹ phạm sư, với đường dài
hai trạm rưởi thì khoảng cách xa, thời gian ngắn, phải làm
thế nào?
Phật
dạy:
- Nếu
cách xa thầy năm cu lô xá thì nửa tháng đến làm lễ một
lần.
- Nếu
cách xa thầy một cu lô xá thì bảy, tám ngày đến làm lễ
một lần.
- Nếu
ở gần bên thì mỗi ngày đến một lần.
- Nếu
ở chung một chỗ thì một ngày ba lần đến lễ bái học
hỏi.
Người
nào làm trái qui định trên bị tội vượt pháp.
(Câu
lô xá có hai cách tính: 1- Bằng 4.000 khuỷu tay tức tương
đương 1.800 m; 2- Bằng 8.000 khuỷu tay tức tương đương 3.600
m. Ðây tính theo cách sau. Như vậy đại giới hai trạm rưởi
bằng năm cu lô xá bằng 18 km. Tham chiếu yếu chỉ yết ma
phần đại giới. -- Người dịch).
Vào
lúc nọ, Ô Ba Nan Ðà độ người xuất gia nhưng không có bát.
các Bí-sô rửa bát xong xếp vào chỗ rửa bát, sau đó thưa
thỉnh hai vị thầy (của họ) đi nhiễu chế để (tháp). Người
đệ tử do Ô Ba Nan Ðà độ vì cần bát đến bên cạnh bát
của tôn giả Kiều Trần Như, muốn lấy bát này.
Tôn
giả bảo:
- Ðây
là bát của tôi, người không nên lấy.
Người
kia lại đến chỗ bát người khác, muốn lấy nữa, bị ngăn
lại như trước.
Các
Bí-sô hỏi:
- Thầy
của ông là ai?
Ðáp:
- Ô
Ba Nan Ðà.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Không
được! Không có bát mà độ họ xuất gia và cho thọ cận
viên,
bị tội ác tác.
Này
các Bí-sô! Nếu muốn độ người xuất gia làm cầu tịch,
nên đưa họ bát và tiểu bát, chén... không được thiếu
sót.
Bấy
giờ A Ny Lư Ðà (A Nâu Lâu Ðà) có một đệ tử giữ bát
cho thầy. Bát của hai thầy trò đều giống nhau. Vị đệ
tử không phân biệt được, phân vân tự nghĩ: "Ðây là bát
của thầy hay bát của ta". Vị này liền viết tên dưới đáy
bát.
Có
một trưởng giả, phụng thỉnh tôn giả và chúng Bí-sô đến
nhà thọ thực. Trước đó trưởng giả này có quan hệ riêng
với một dâm nữ, liền sai người đến báo với dâm n? này.
Hôm nay ta thỉnh Phật và Tăng, ngày mai đến nhà, có tổ chức
cúng dường, em nên đến đó tự tay dâng thức ăn.
Bấy
giờ dâm nữ gặp lúc bận việc riêng không đến được.
Phật
cùng tăng già đúng giờ đến thọ thỉnh. Sau khi thọ trai
xong, ngài đọc pháp kệ và trở về.
Khi
ấy, trưởng giả này là đệ tử thân cận của tôn giả
A Ny Lư Ðà, nên sau khi Phật và tăng đã về, chỉ còn vị
đệ tử của tôn giả chưa ra khỏi nhà.
Trưởng
giả bạch rằng:
- Ðại
đức! Mong ngài cho mượn bát này trong tạm thời, để gửi
thức ăn còn lại cho người khác.
Bí-sô
này lấy bát của thầy mình đưa cho trưởng giả. Trưởng
giả dùng bát đựng đầy thức ăn ngon gởi cho dâm nữ và
nhắn lời:
- Hiền
thủ! Anh đã cúng dường Tam bảo bằng thức ăn này. Phật
và chúng Tăng đã thọ thực xong, em nên tùy hỷ.
Dâm
nữ được bát thức ăn, sang ra vật khác, thấy dưới đáy
bát có tên tôn giả. Cô ta biết rằng đây là bát của thánh
giả A Ny Lô Ðà sử dụng, liền tự nghĩ: "Vị thầy mô phạm
(A Dá Lợi Da) này là bậc được trời người cúng dường.
Nay ta may mắn được bát này, nếu trả lại suông thì mất
phước lợi lớn, không nên như vậy". Kỹ nữ liền lau chùi
bát, dùng nước thơm rửa ba lần, xoa bột thơm lên, rồi an
trí lên tòa. Sau đó, kỹ nữ quì chân xuống đất cầm vòng
hoa chí thành cúng dường đốt hương ngào ngạt và đứng
hầu ở đó.
Bấy
giờ có một Bà la môn, trước đây có quan hệ với dâm nữ
này, đến nhà thấy cô ta đang cúng dường, liền hỏi:
- Hiền
thủ! Em làm gì vậy?
Ðáp:
- Bát
này là vật của tôn giả A Ny Lô Ðà, ngài là bậc trời người
đều kính trọng. Tôi đối với bát này, tự thân cúng dường.
Bàlamôn
nói:
- Cô
đã đem sự dâm dục làm ô nhiễm tất cả mọi người. Nay
đối với Sa-môn Thích tử cô cũng chẳng bỏ qua.
Các
Bí-sô nghe sự việc này, bạch Phật.
Phật
dạy:
- Nếu
các Bí-sô ghi tên trên các vật của mình, sẽ gây ra những
lỗi lầm như vậy. Thế nên không được viết tên họ của
mình lên vật dụng.
Các
Bí-sô không biết không được viết những vật gì. Phật
dạy:
- Có
năm vật không nên viết tên là:
1.-
Kinh biệt.
2.-
Giải thoát.
3.-
Giải thích rộng biệt giải thoát.
4.-
Những sự việc mang ý nghĩa tương ứng với luật; Giáo pháp.
5.-
Vật riêng. Ðối với vật riêng không nên ghi tên mà nên làm
dấu để nhớ.
Cụ
thọ Ô Ba Ly bạch Phật:
- Thế
Tôn! Nếu không được ghi chép luật giáo thì trong tương lai
các Bí-sô tâm không khả năng nhớ nhiều. Phần nhiều quên
mất, đối với các duyên khởi cũng không nhớ, như vậy phải
làm thế nào?
Phật
dạy:
- Nếu
như vậy, nên ghi trên giấy, trên lá cây để thọ trì.
Tụng
thứ hai.
Cầu
tịch đọa bát phá
Khai
dư tồn niệm giả
Tác
nhị chủng tùng lung
Tinh
tùy sở tu vật.
Phật
ở thành Thất La Phạt. Có Bí-sô nuôi một cầu tịch, thường
sai vị này giữ bát. Sau đó vị cầu tịch này lỡ tay rơi
vỡ bát, làm cho thầy bị thiếu bát.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Không
nên sai cầu tịch kia rửa bát.
Xá
Lợi Tử có một cầu tịch tên là Chuẩn Ðà, thường sai
giữ bát. Vị này đến thưa với thầy:
- Bạch
Ô Ba Bà Da (Hòa thượng - Bổn sư) cho con lấy bát đem rửa.
Xá
Lợi Tử nói:
- Phật
vì giữ gìn bát nên đã chế học xứ.
Chuẩn
Ðà thưa:
- Chẳng
lẽ con làm việc sơ suất như vậy hay sao?
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Nếu
biết rõ cầu tịch có thể giữ gìn bát cẩn thận được
thì cho họ rửa bát.
- Bí-sô
kia sử dụng bát sắt, chất dơ làm bát sắt lủng nhiều lổ.
Vị ấy đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Nếu
dùng bát sắt phải đốt kỹ.
Các
Bí-sô chứa nhiều củi để đốt bát của họ, đến nổi
hư bát. Phật dạy:
- Không
được như vậy! Muốn đốt bát phải đặt trong lồng để
đốt.
Bí-sô
không biết phải làm lồng đốt như thế nào. Phật dạy:
- Lồng
đốt có hai loại:
1-
Là tự làm.
2-
Là thợ làm.
Thợ
làm là đưa cho thợ gốm làm.
Tự
làm là dùng vò hoặc lu cắt ra dùng.
Họ
để lu trên đất đập vào, lu bị vỡ. Phật dạy:
- Nên
để tro thật đầy lu, sai hai người nâng lên, sau đó dùng
đinh đục từ từ từng lỗ, cắt thành hai đoạn.
Các
Bí-sô không biết dùng bùn để thoa bên ngoài. Phật dạy:
- Nên
lấy cỏ, vỏ trấu làm bùn đắp bên ngoài.
Họ
không biết dùng vật gì đắp bên trong. Phật dạy:
- Nên
dùng dầu gai cặn làm keo để thoa bên trong để cho khô.
Ðốt
bát xong, chưa có màu sắc. Phật dạy:
- Ðặt
vỏ trấu vào bên trong, đây hai miệng lồng lại; lấy bùn
bôi bên ngoài.
Họ
để bát trên đất để xông. Phật dạy:
- Nên
dùng vật kê cao lên rồi xông như trước.
Vật
kê quá nhỏ bát chồng lên nhau. Phật dạy:
- Nên
để cao lên không được chồng lên nhau.
Ðể
cao quá không nhuộm màu được. Phật dạy:
- Nên
nhiều lần rửa khói rồi thiêu lại.
Trong
lồng tràn khói ra. Phật dạy:
- Nên
lấy đá vôi đậy miệng lồng lại.
Họ
dùng phân bò khô chất thành đống lớn đốt làm hư bát.
Phật dạy:
- Nên
xếp phân bò từng lớp và đốt lửa cháy lên.
Họ
không biết sai ai canh chừng lửa. Phật dạy:
- Bí-sô
phải tự trông nom, nếu có việc riêng phải nhờ Bí-sô khác
trông coi, sau đó mới đi.
Ðốt
bát trên đất, chết nhiều côn trùng. Phật dạy:
- Nên
rưới nước quét dọn sạch. Thế nên từ nay ta cho phép các
Bí-sô được giữ lồng đốt bát và các vật dùng kèm theo
lồng. Sử dụng không phạm.
Tụng
thứ ba.
Nhất
y bất hổ tác
Tháo
dục khả giá nhân
Ư
nhục bất thế đầu
Bệnh
nhân tùy phục thực.
Phật
tại thành Thất La Phạt. Có thí chủ tạo phòng tắm cúng
tăng già. Lục chúng chỉ dùng một khăn tắm lau thân thể
cho nhau. Người thế tục đi vào phòng tắm thấy vậy nói:
- Những
người này là ngoại đạo gì vậy?
Người
thiện tín đáp:
- Ðệ
tử của Thích Ca.
Thế
tục thấy vậy sinh tâm chê bai:
- Ðại
sư của họ thường có tàm quí. Tại sao bọn họ chẳng biết
xấu hổ gì cả.
Các
Bí-sô nghe việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Không
được dùng chung một khăn tắm để lau thân thể cho nhau.
Nếu ai vi phạm bị tội ác tác.
Các
Bí-sô ở trong phòng tắm, bảo cư sĩ vào. Họ thấy các Bí-sô
dùng tay kỳ cọ chân rồi lại xoa đầu.
Cư
sĩ chê bai:
- Sa-môn
Thích tử hành động nhơ bẩn, không được sạch sẽ, đã
kỳ chân rồi lại xoa đầu.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Khi
vào phòng tắm, nếu không phải là cư sĩ kính tín thì không
cho vào, cũng đừng bảo họ làm việc. Nếu người nào bảo
họ làm bị tội ác tác.
Các
Bí-sô đều ở trong phòng tắm, không người giữ gìn cửa,
có các cư sĩ đi vào phòng tắm, thấy các Bí-sô lấy tay kỳ
cọ chân rồi rửa mặt, họ liền chê bai:
- Sa-môn
Thích tử thật nhơ bẩn, dùng tay kỳ chân lại rửa mặt.
Bí-sô
bạch Phật. Phật dạy:
- Khi
tắm rửa không được để cư sĩ vào phòng tắm, nên sai Bí-sô
làm người thủ hộ.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc đưa một Bà la môn kính tín đến rừng
Thệ Ða. Bí-sô thấy thế bảo trưởng giả rằng:
- Chớ
cho người này vào phòng tắm.
Bà
la môn hỏi:
- Tôi
có lỗi gì mà bị ngăn lại.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Nếu
biết rõ họ là người tịnh tín cho vào phòng.
Có
vị Bà la môn bị ngăn không cho vào nhưng thấy người được
vào. Ông ta nói:
- Những
người thế tục khác được phép vào phòng. Tại sao chỉ
ngăn mỗi riêng tôi?
Bí-sô
đáp:
- Vì
họ là những người đã qui y thọ các học xứ.
Người
kia đáp:
- Cho
tôi vào, tôi cũng qui y thọ các học xứ.
Bí-sô
đáp:
- Ðược.
Liền
cho họ qui y thọ giới và cho vào phòng. Người ấy vào phòng
tắm thấy các Bí-sô lau ở hạ phần rồi lại lau trên đầu,
liền chê:
- Sa-môn
Thích tử thật là nhơ bẩn.
Bí-sô
bạch Phật. Phật dạy:
- Biết
người nào tín tâm đã lâu thì cho phép vào phòng, nếu mới
có tín tâm thì không cho phép.
Duyên
xứ như trước. Có trưởng giả thỉnh Phật và Tăng về phòng
tắm rửa. Thế Tôn đưa các Bí-sô đến chỗ trưởng giả
để tắm rửa, thấy một Bí-sô lau, kỳ cọ thân thể cho
Bí-sô khác.
Thế
Tôn bảo rằng:
- Các
thầy thấy Bí-sô này lau thân thể cho Bí-sô kia không?
Ðáp:
- Thưa
có thấy.
Phật
bảo các Bí-sô:
- Người
đang lau kỳ cọ là bậc A la hán đã hết sạch các lậu. Người
được lau chùi là kẻ phá giới làm việc tội ác. Quí thầy
nên biết rằng không được để sư tử phục vụ cho chó
hoang.
Duyên
xứ như trước. Trưởng giả kia lấy vợ chưa được bao lâu
sinh được một con. Người con này lớn lên xuất gia trong
pháp luật khéo thuyết giảng. Vị này thường cầu tiến bộ.
Tìm tòi nghĩa lý ở các phương khác để học rộng nghe nhiều.
Một
lúc nọ, vị này trở về thành Thất La Phiệt. Người cha
nghe con về, tìm đến chỗ để thăm hỏi. Khi ấy, Bí-sô này
vì cha giảng tóm lược về những phần chính yếu của giáo
pháp, khuyến khích cha qui y Tam Bảo và thọ trì năm học xứ.
Vào một lúc khác, vị này lại giảng cho cha nghe về công
đức của bảy phước nghiệp. Người cha nghe con giảng giải
sinh tâm kính tín rất sâu, nói rằng:
- Tôn
giả biết cho, nay tôi cũng nguyện làm công đức của bảy
phước nghiệp.
Người
con trả lời:
- Tùy
ý cha làm.
Người
cha hỏi:
- Trước
hết nên làm gì?
Ðáp:
- Nên
vì tăng già làm phòng tắm.
Người
cha nghe vậy, về nhà sửa soạn công việc hoàn tất, đến
báo với người con:
- Tôn
giả! Xin ngài nhân danh tôi, thỉnh Phật và Tăng đến nhà
tắm rửa.
Người
con nghe xong, đến chỗ Phật, xưng tên cha mình và thỉnh Phật.
Bấy giờ tôn giả phát tâm rất tin tưởng vì Bí-sô dùng
dầu xoa thân, dùng bột tắm, tắm rửa sạch, bảo người
con:
- Tôi
rất mệt nhọc, hãy vì tôi xoa dầu sau lưng.
Người
con trả lời:
- Thế
Tôn đối với việc này đã chế học xứ.
Người
cha hỏi:
- Chế
học xứ này sự việc ra sao?
Ðáp:
- Không
được để sư tử hầu hạ chó hoang. Thế nên con không dám
làm việc này.
Người
cha hỏi con:
- Ai
là sư tử ai là chó hoang?
Người
con trả lời:
- Con
là sư tử, cha là chó hoang.
Người
cha nói:
- Thật
là việc kỳ diệu. Vì tôi là chó hoang lại sinh ra con là sư
tử.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Phàm
là bậc cha mẹ đối với con mình, thường làm những việc
khó khăn, gánh vác những điều khổ nhọc. Giả cha mẹ là
người cực phá giới, làm con cũng phải vì họ cung cấp hầu
hạ. Thế nên, tôi cho phép đối với năm chỗ dù cực phá
giới cũng phải cung cấp.
Ðó
là: Cha, mẹ, thân giáo sư, quĩ phạm sư và những người bệnh.
Phật
ở thành Thất La Phạt. Trưởng giả nọ cất một căn nhà
trong A lan nhã để các Bí-sô tùy duyên khất thực có thể
ở chỗ này.
Bấy
giờ có người khất thực, râu tóc đã dài, đến chỗ trưởng
giả. Trưởng giả thấy vậy hỏi:
- Thánh
giả! Tại sao để râu tóc dài như vậy?
Ðáp:
- Này
hiền thủ! Không người cạo tóc.
Trưởng
giả thưa:
- Tôi
sẽ sai người đến để ngài bảo họ cạo tóc.
Người
thợ cạo đến, Bí-sô ngồi trên nệm nằm bảo họ cạo tóc.
Bấy
giờ trưởng giả tự nghĩ: "Ta nên đến xem tôn giả có cạo
tóc hay không?" Ông ta đến chỗ trú xứ trong A lan nhã và ngồi
lên tấm nệm nằm. Tóc của Bí-sô cạo lúc trước, dính vào
y phục trưởng giả.
Trưởng
giả về nhà, người vợ thấy trên y phục có dính tóc, hỏi:
- Ông
có việc gì đến nhà thợ cạo, làm cho tóc dính vào quần
áo vậy?
Trưởng
giả tự nghĩ: "Lẽ nào thánh giả lại cạo tóc trên tấm
nệm để nằm". Trưởng giả tức thì trở lại, thấy trên
nệm thật có tóc cạo, liền bạch rằng:
- Ðại
đức! Ngài nên cạo tóc chỗ khác, đừng làm bẩn nệm để
nằm.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Không
được cạo râu tóc trên nệm nằm, nên cạo râu tóc ở nơi
đất trống. Nếu là chỗ đất tăng già quét dọn sạch cũng
không nên cạo tóc. Người nào vi phạm bị tội ác tác.
Bấy
giờ có Bí-sô già bệnh không thể ra ngoài cạo tóc, sợ gặp
gió mưa.
Phật
dạy:
- Nếu
không có sức khỏe, có thể cạo râu tóc chỗ thuận tiện,
nhưng phải quét dọn lau chùi cho sạch chỗ ấy. Nếu ai vi
phạm bị tội ác tác.
Có
Bí-sô
cắt móng tay chân, vứt bỏ bừa bãi. Phật dạy:
- Nếu
vứt bỏ móng tay chân nơi đất sạch của tăng bị tội ác
tác.
Duyên
xứ như trước. Có Bí-sô bị bệnh nặng hành hạ rất đau
khổ, vị này đến nhà thầy thuốc nói:
- Hiền
thủ! Chỉ vẻ cho tôi các phương thuốc trị bệnh.
Y sĩ
đáp:
- Lấy
bột hòa với nước dùng phi thời.
Bí-sô
nói:
- Hiền
thủ! Thế Tôn đã chế, không cho phép chúng tôi ăn phi thời.
Thầy
thuốc nói:
- Thánh
giả! Bậc Ðại sư từ bi, tất nhân việc này khai cho người
bệnh.
Bí-sô
đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Loài
bò không răng ăn lúa mạch, khi thải ra còn nguyên hạt gạo
đó làm bột, có thể ăn phi thời.
Bí-sô
cùng loại bột này nhưng không hết bệnh.
Thầy
thuốc nói:
- Thánh
giả! Bệnh khổ trước đây đã bớt chưa?
Ðáp:
- Hiền
thủ! Nay vẫn chưa hết.
Thầy
thuốc nói:
- Chẳng
phải thánh giả không dùng nước với bột nên bệnh không
hết hay sao?
Bí-sô
đáp:
- Tôi
đã dùng.
Thầy
thuốc:
- Ngài
dùng thế nào?
Bí-sô
kể lại đầy đủ sự việc.
Thầy
thuốc nói:
- Thánh
giả! Ðấy không phải thuốc. Cần phải dùng bằng bột sống.
Bí-sô
đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Cho
nhiều nước vào, quậy lên rồi lược đi, sau đó mới dùng.
Bệnh
vẫn không hết. Bí-sô nói với thầy thuốc. Thầy thuốc nói:
- Dùng
khi chưa lọc.
Bí-sô
đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Thầy
thuốc kê toa bảo dùng bột để uống, hoặc đặc sệt, hoặc
viên, tùy ý sử dụng.
Duyên
xứ như trước. Có Bí-sô bị bệnh nặng, đến thầy thuốc
hỏi rằng:
- Hiền
thủ! Cho thuốc thích hợp để trị bệnh cho tôi.
Thầy
thuốc nói:
- Dùng
miếng thịt lớn nấu uống phi thời.
Ðáp:
- Hiền
thủ! Thế Tôn đã chế không cho dùng phi thời.
Thầy
thuốc nói:
- Thánh
giả! Ðại sư từ bi, tất nhiên việc này khai cho người bệnh.
Bí-sô
đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Có
loại thú tên sài, ruột thắng, ăn thịt xong lại cho ra ngoài,
thể chất không đổi. Ðược lấy thịt này nấu để dùng
trị bệnh.
Bí-sô
tuy dùng vẫn không hết bệnh.
Thầy
thuốc hỏi:
- Thánh
giả! Ðã hết đau đớn chưa?
Ðáp:
- Chưa
hết.
Thầy
thuốc nói:
- Chẳng
phải là thánh giả chưa từng dùng nước thịt nên bệnh không
hết hay sao?
Bí-sô
đem việc trên nói lại.
Thầy
thuốc nói:
- Thánh
giả! Ðó là vật cũ không thể dùng làm thuốc được. Nên
lấy thịt tươi nấu rồi lấy nước uống.
Bí-sô
bạch Phật. Phật dạy:
- Trước
phải dùng vật lược đi, sau mới uống.
Bệnh
cũng không hết. Bí-sô đến trình bày với thầy thuốc.
Thầy
thuốc đáp:
- Uống
nhưng đừng lược.
Bí-sô
bạch Phật. Phật dạy:
- Y
sĩ chỉ dẫn thế nào tùy ý sử dụng. Hoặc khô, ướt, có
mùi vị, đều được ăn để trị bệnh; đừng sinh nghi ngại.
Phật
dạy các Bí-sô:
- Phàm
những việc gì ta vì những người bệnh khai cho sử dụng
phi thời. Sau khi hết bệnh đều không được tiếp tục sử
dụng. Nếu ai vi phạm, bị tội vượt pháp.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
NY
ÐÀ NA
- Hết
quyển 3 -