NY
ÐÀ NA
(No.
1452)
Quyển
thứ năm
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Tụng
thứ bảy.
Ngoại
đạo phú nhẫn y
Tác
ký tử thời thí
Hữu
ngũ chủng thân hữu
Ðắc
pháp độc ưng hành.
Phật
ở thành Vương xá, vườn Trúc Lâm. Ðại vương Anh Thắng,
vua nước Ma Kiệt Ðà nghe diệu pháp được kiến đế, cùng
với tám vạn chúng hoàng thân và các trưởng giả, cư sĩ,
Bà la môn nước Ma Kiệt Ðà hơn trăm ngàn người. Ngay trong
tập thể đại chúng này cùng nhau lập ra qui ước nghiêm chỉnh,
gióng trống tuyên bố cho nhân dân trong nước đều biết:
Nghiêm cấm mọi người không được trộm cắp. Nếu ai quy
phạm, đuổi ra khỏi nước. Tất cả tài sản của kẻ ấy
được giao hết cho người bị mất trộm.
Bấy
giờ Thế Tôn vì đại vương Thắng Quang nước Kiều Tát La,
thuyết kinh Thiếu Niên, sau khi nhà vua được điều phục,
ngay tại đất nước của mình, tuyên bố nghiêm lệnh: Ngay
trong nước của ta, không được có kẻ nào làm trộm cướp.
Nếu ai quy phạm sẽ bị xử tử. Tất cả tài sản của kẻ
này đều bị chuyển giao cho người b? trộm cướp.
Bấy
giờ bọn trộm cướp đều trốn về ẩn nấu ở biên giới
giữa hai nước.
Có
một số khách buôn ở Ma Yết Ðà, cùng nhau đi đến nước
Kiều Tát La. Khi đã đến biên giới, những khách buôn này
nói với người hộ vệ rằng: Nay chúng tôi đã bình an, quí
vị có thể trở về. Sau khi người hộ vệ trở về, bọn
giặc trông thấy biết là thương nhân không có người hộ
vệ, cùng nhau cướp đoạt.
Những
khách buôn này bỏ chạy sang nước Kiều Tát La thuộc vua Thắng
Quang. Gặp được vua, họ tâu rằng:
- Ðại
vương biết cho! Ngay tại nước này trước đây việc giao
dịch phồn thịnh. Ngày nay do bọn cướp nên thương khách
không đến nữa.
Bấy
giờ vua Thắng Quang ra sắc lệnh cho đại tướng quân tên
là Tỳ Lư Trạch Ca:
- Khanh
hãy mau đi bắt bọn cướp, mang tất cả tài vật chúng cướp
được đến đây cho trẫm.
Ðại
tướng thống lĩnh bốn loại binh tướng mã, xa, bộ mạnh
bạo vô cùng. Ðoàn quân tiến đến chỗ giặc trú trong rừng
hoang dã. Bọn cướp đang tập họp trong rừng hiểm, bỏ vũ
khí xuống để phân chia của cải cướp được.
Bấy
giờ tướng quân thấy giặc từ xa, liền đưa quân bao vây
bốn mặt. Trống trận vừa đánh lên, bọn giặc kinh hoàng,
có tên bỏ chạy, có tên bị thương, có tên bị bắt. Ðoàn
quân thu thập tài vật và bọn giặc cướp đem về triều
vua, tâu rằng:
- Ðây
là bọn cướp và tài sản của chúng cướp được.
Bấy
giờ vua Thắng Quang bảo với mọi người:
- Vật
nào là của các ngươi thì nhận lấy mang đi.
Sau
khi thương khách nhận lại tài sản của họ xong, chúng ngoại
đạo cũng nhận tài vật của họ và lấy luôn cả y phục
nhuộm màu đá đỏ và y bát của các Bí-sô.
Các
Bí-sô đến chỗ vua, vua nói:
- Quí
ngài cũng nên nhận y bát.
Bí-sô
đáp:
- Trong
các vật này không có y bát của chúng tôi.
Vua
nói:
- Quí
ngài trước đây chẳng phải bị giặc cướp hay sao?
Ðáp:
- Vâng!
Chúng tôi cũng bị giặc cướp.
Vua
phán:
- Nếu
không có y bát của quí ngài ở đây, phải gọi chúng ngoại
đạo và đem y vật họ đã nhận theo đến đây luôn.
Bấy
giờ chúng ngoại đạo kia nghe lệnh vua đòi, liền mang y vật
đến. Bí-sô thấy y vật liền nói:
- Ðây
là tăng già phi của tôi; đây là tăng khước chi.
Nhà
vua hỏi các ngoại đạo:
- Họ
là giặc nhỏ, các người là giặc lớn vì cố nhận y của
người khác.
Họ
im lặng không trả lời được.
Nhà
vua nói:
- Thánh
giả! Quí ngài có ghi ký hiệu trên y vật không, để cho tôi
biết đây là vật thuộc ngoại đạo, đây là vật thuộc
Bí-sô.
Bí-sô
đáp:
- Y
vật tôi không có làm dấu.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Y
vật của Bí-sô nên làm dấu để ghi nhận.
Bí-sô
không biết làm thế nào. Phật dạy:
- Nên
kết nút hoặc điểm tịnh bằng mực và làm dấu bằng các
phương pháp khác mới được sử dụng.
Khi
ấy, Phật ở thành Thất La Phạt. Trưởng giả nọ lấy vợ
chưa bao lâu sinh được một con trai. Sau khi người vợ này
chết đi, trưởng giả lại lấy vợ khác. Không bao lâu người
vợ sau sinh được một con trai nữa.
Người
con thứ hai là chỗ lo lắng của người mẹ. Cậu ta hy vọng
được xuất gia trong pháp luật tốt đẹp. Sau khi đã xuất
gia, vị này du hành trong nhân gian. Sau một thời gian, người
cha bị bệnh nặng biết mình sắp chết, bảo với con lớn
rằng:
- Tài
sản của cha, phải chia làm ba phần.
Người
con vâng lệnh cha, chia tài sản thành ba phần. Người cha bảo
con:
- Ðây
là phần của con để sung dụng nghiệp nhà. Phần thứ hai
này để lo đám tang cho cha. phần thứ ba giao cho người con
đã xuất gia, người cha cảm thán nói kệ:
Chứa
góp rồi tiêu tan
Cao
lên phải rớt xuống
Hội
họp tất biệt ly
Có
thân đều phải chết.
Sau
khi nói kệ, người cha qua đời. Người con xuất gia kia nghe
cha đã chết, liền tìm đến nhà của anh mình để mong gặp
nhau. Hai bên cùng nhau buồn khổ than thở xong, người anh bảo
rằng:
- Ngày
cha mất đi, có trối lại để cho em một phần gia tài, em
nên nhận lấy.
Vị
Bí-sô này tự nghĩ: "Như Thế Tôn dạy: Sau khi chết mới đưa
là tài sản phi pháp".
Bấy
giờ các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Người
tại gia khi lâm chung, có tâm thân ái buộc ràng, cho tài vật
như vậy đều nên thu lấy. Phần tài sản của cha không nên
nghi hoặc, sau khi được tài sản nên cúng dường Tam Bảo.
Người xuất gia khi lâm chung, không được có tâm luyến ái,
nếu nói sau khi ta chết rồi cho, tài vật như vậy không được
lấy.
Duyên
xứ như trước. Có hai Bí-sô là bạn thân với nhau, tâm đầu
ý hợp, cùng ở một chỗ. Bấy giờ một trong hai Bí-sô đi
du hóa trong nhân gian tùy duyên hóa độ. Khi đi, ông ta bỏ
quên y vật, tâm xỉa răng, bột đất ở trong phòng và chỗ
kinh hành.
Khi
ấy, người bạn thân còn lại thu cất lấy; sau đó sinh tâm
nghi ngại, đến bạch Phật.
Phật
dạy:
- Thu
cất không phạm. Bạn thân có năm hạng:
1-
Yêu mến nhau.
2-
Tâm hoan hỷ.
3-
Sư trưởng.
4-
Vừa ý nhau.
5-
Họ nghe ta dùng vật (của họ) thì sinh tâm vui mừng.
Vật
dụng của năm hạng người này được phép thu cất sử dụng.
Duyên
xứ như trước. Trưởng giả kia lấy vợ chưa bao lâu sinh
được một gái. Cô này lớn lên, lìa bỏ tục lụy, xuất
gia trong Phật pháp.
Gặp
lúc đói kém, khất thực khó khăn. Bí-sô ny đi từng nhà khất
thực, lần lượt đến nhà của cha, thấy con đến liền hỏi
rằng:
- Thánh
nữ! Nay con sinh sống như thế nào?
Ðáp:
- Ði
khất thực từng nhà thật là khó được, tuy nhiều cay đắng
lại không đủ dùng, lửa đói thiêu đốt thật là khó chịu.
Người
cha nghe con nói, buồn bã không vui, bảo với con gái rằng:
- Nếu
con không xuất gia, dù thế nào đi nữa con cũng được cung
cấp. Từ nay về sau, hàng ngày con có thể về nhà thọ thực.
Bí-sô
ny này được thọ thỉnh; vào một ngày khác đem một người
bạn về nhà cha để thọ thực.
Người
cha bảo con:
- Nay
cha không đủ khả năng cung cấp cho hai người. Con nên về
thọ thực một mình.
Bí-sô
ny thưa với cha:
- Thế
Tôn không cho phép người nữ đi một mình. Nếu Phật cho phép
thì không gặp khổ này.
Bí-sô
ny đem việc này bạcb với Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật
dạy:
- Gặp
lúc đói kém khất thực khó khăn, không thể no đủ, cho phép
Bí-sô ny xin phép chúng được đi lại nhà cha mẹ, phải xin
phép như thế này: "Trải tòa, đánh kiền chùy tác bạch".
Khi ny chúng tập họp xong, trước tiên vị ny này xin phép thượng
tọa lần lượt lễ tăng. Ngay trước chúng chắp tay cung kính
lễ quì xuống, xin phép như thế này:
- Ðại
đức ny tăng già lắng nghe, con là Bí-sô ny... nay gặp năm
đói kém, khó khăn trong ăn uống. Nếu không ăn uống thì không
thể sống được. Con tên là..., nay theo ny tăng già, xin phép
được làm Yết ma được đến, đi, dừng lại, ở nơi bên
cạnh thân tộc. Ngưỡng mong ny tăng già, cho phép con... Yết
ma đi đến, dừng lại, ở nơi bên cạnh thân tộc (vãng hoàn
trụ Yết ma). Nếu vị nào có thể đồng ý, ngưỡng mong thương
xót cho. Lần thứ hai, thứ ba cũng nói như vậy Yết ma bạch
nhị. Căn cứ đây mà làm như thuyết minh rõ trong Bách Nhất.
Nếu
đại chúng Bí-sô ny vì vị ấy tác pháp yết ma được qua
lại cùng người thân tộc thế tục xong, Bí-sô ny này được
phép đi lại một mình không phạm. Tùy ý đến nhà thân tộc
thọ thực. Sau đó đến khi thực phẩm trở lại đầy đủ,
không được đến nữa. Nếu sau đó tự đến một mình, bị
tội vượt pháp.
Tụng
thứ tám.
Thủ
xa tha y khứ
Cập
vi tha hòa thị
Bất
cao hạ mãi y
Ủng
nhi tam thù giá.
Duyên
xứ như trước. Có Bí-sô mua chịu y của cư sĩ, đem về đến
chùa thì qua đời. Người chủ bán y được tin, vội đến
chùa, hỏi mọi người, Bí-sô giờ ở đâu?
Bí-sô
khác đáp:
- Vị
ấy đã qua đời!
Chủ
y nói:
- Vị
ấy mua chịu y của tôi, nay phải trả tiền lại.
Bí-sô
đáp:
- Ngài
có thể đến Thi Lâm để đòi tiền y lại.
Chủ
y nói:
- Y
bát của vị đã chết kia, quý ngài đã chia nhau rồi. Nay lại
bảo tôi vào rừng đòi tiền ở thây chết. Tại sao Thích
tử khinh khi dối gạt người như vậy?
Bấy
giờ các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Bí-sô
qua đời dùng y bát của vị ấy trả lại tiền sắm y.
Có
Bí-sô mua chịu y quí giá nơi nhà cư sĩ, mãi đến khi qua đời
vẫn chưa trả tiền.
Người
chủ y đến chùa hỏi rằng:
- Bí-sô
nay ở đâu?
Ðáp:
- Vị
ấy đã qua đời.
Chủ
y bảo rằng:
- Vị
ấy đã mua chịu y của tôi.
Các
Bí-sô đem y ấy trả cho chủ y.
Chủ
y nói:
- Khi
vị ấy lấy là y mới, có giá trị cao. Nay trả lại vật
cũ này, giá trị còn có bao nhiêu?!
Các
Bí-sô không biết phải giải quyết thế nào, đem sự việc
bạch Phật. Phật dạy:
- Lấy
những vật hiện còn của vị ấy để bổ sung vào tiền mua
y. Nói với họ rằng: "Người ấy đã qua đời, tài sản riêng
chỉ có số này. Nay chúng tôi giao quí vị, mong quí vị sinh
lòng hoan hỷ".
Hai
vị cư sĩ nọ cùng nhau buôn bán.
Người
mua hỏi:
- Y
này giá trị bao nhiêu?
Chủ
y đáp:
- Hai
mươi ca lợi sa ba noa.
Người
mua trả giá:
- Mười
ca lợi sa ba noa.
Bấy
giờ Ô Ba Nan Ðà đi đến chỗ ấy. Cả hai người đều nghĩ:
"Các Ðại đức Bí-sô nói lời chân thật chắc chắn. Chúng
ta nên thỉnh vị ấy định giá y". Sau đó cả hai gặp riêng
Ô Ba Nan Ðà:
- Ðại
đức! Y này giá trị bao nhiêu?
Ô
Ba Nan Ðà hỏi người thứ nhất:
- Ông
định mua hay là bán y?
Ðáp:
- Tôi
mua.
Ô
Ba Nan Ðà nói:
- Y
này giá trị hai mươi ca lợi sa ba noa.
Ô
Ba Nan Ðà hỏi người thứ hai:
- Ông
muốn bán y?
Ðáp:
- Tôi
bán.
Ô
Ba Nan Ðà nói:
- Y
này có thể giá trị bốn mươi ca lợi sa ba noa.
Hai
người giao dịch với nhau.
Người
bán thách bốn mươi. Người mua trả hai mươi, đưa đến cãi
cọ.
Người
mua nói:
- Tôi
nghe ngoài chợ họ cho giá hai mươi.
Người
bán nói:
- Tôi
nghe ngoài chợ họ cho giá bốn mươi.
Cả
hai bàn luận, hai ta cùng nghe một chỗ cho giá, lại không đồng
nhau. Vậy chắc chắn người cho giá cố ý gây mâu thuẫn giữa
chúng ta.
Các
Bí-sô nghe việc này, bạch Phật. Phật dạy:
- Các
Bí-sô không được đoán giá cho người thế tục; cũng không
được tại chỗ họ giao dịch, khen chê cao thấp như người
ở chợ. Nếu ai vi phạm, bị tội ác tác.
Các
Bí-sô muốn mua y, trả giá cao thấp. Người thế gian nói:
- Tôi
là người tạo đời sống thấp hèn còn quí vị là người
tạo đời sống cao đẹp.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy: - Bí-sô không
được trả giá cao thấp. Nếu muốn mua y, nên bảo người
thế tục trả giá hộ cho. Nếu không có người thế tục,
được phép trả đến ba giá. Nếu trả nhiều hơn, bị tội
ác tác.
Tụng
thứ chín.
Quả
thọ sai tu lý
Tứ
chủng bất ưng phân
Quả
thục hiện tiền phân
Quán
thời mạc huyên hí.
Phật
ở thành Vương Xá. Vua Tần Tỳ Sa La đem vườn Yêm một la
(xoài) một ngàn cây cúng cho tăng già. Các Bí-sô thu hoạch
quả để ăn nhưng không sai người trông nom, đến nỗi cây
hư gãy làm cho vườn xơ xác. Vua Tần Tỳ Sa La thấy vườn
xoài xơ xác hỏi tả hữu rằng:
- Rừng
xoài này là vườn cây của ai vậy.
Ðại
thần trả lời:
- Vườn
này của đại vương! Trước đây ngài đã cúng 1000 cây cho
Bí-sô Tăng già. Tăng già thu hoạch nhưng không trông nom, do
đó vườn xoài bị xơ xác như thế, các Thánh giả ấy chưa
bao giờ sửa sang lại.
Bấy
giờ các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Ðối
với sản nghiệp của chùa không được bỏ bê. Ðại chúng
phải cắt đặt người giữ vườn để sửa sang.
Khi
ấy người được sai giữ vườn, xây dựng rào giậu, tính
toán trái cây để phân bổ cho mọi người. Ngay gốc xoài,
họ đánh răng xúc miệng, rửa chân, rửa tay, rửa mặt, giặt
y. Cây xoài được tưới nước nên cành lá rậm rạp cho nhiều
quả chín.
Có
nhiều Bí-sô khách đến, bảo với người cựu trú rằng:
- Trái
mới chín tươi tốt quá, quí vị nên cho tôi.
Người
cựu trú đáp:
- Chúng
tôi đã phân chia rồi, làm sao cho quí ngài ăn được.
Khách
hỏi:
- Ðây
là quĩ phạm sư phân chia hay là thân giáo sư phân, hay bậc
đồng thân giáo sư hay bậc đồng quĩ phạm sư phân?!
Các
Bí-sô đem sư việc bạch Phật. Phật dạy:
- Có
bốn loại vật không được phân chia. Thế nào là bốn?
1-
Vật của tứ phương tăng.
2-
Vật của tháp.
3-
Thuốc trị bệnh trong nhà của tăng.
4-
Tài sản của chùa.
Người
nào vi phạm bị tội ác tác. Tất cả trái cây này nên đưa
hết đến tăng.
Bấy
giờ có kẻ trộm đến lấy trái.
Thế
Tôn dạy:
- Ðại
chúng nên sai người giữ vườn.
Người
nhận tăng sai giữ vườn chuyên cần, bị thiếu thức ăn.
Phật
dạy:
- Nên
bảo thêm người khác ăn trước, rồi thay thế để vị ấy
ăn.
Như
Thế Tôn dạy:
- Phân
quả yêm một la đến chúng tăng.
Bấy
giờ người giữ vườn phân chia bình đẳng nhưng gặp trái
có sâu.
Phật
dạy:
- Nên
xem kỹ nếu trái nào có sâu thì bỏ ra. Trước phải lựa
trái sạch rồi mới phân chia.
Các
Bí-sô khi lựa chọn trái cây sạch, la lối ồn ào, nước
miếng văng ra làm bẩn trái cây.
Phật
dạy:
- Không
được ồn ào, phải im lặng như bậc thánh để xem xét. Nếu
ai giành giật ồn ào bị tội ác tác.
Tụng
thứ mười.
Vô
tịnh nhân tự hành
Tự
thủ bất ưng thực
Bất
tuyển khai kỳ bệnh
Kết
giới chứng canh thân.
Như
Thế Tôn dạy:
- Nên
phân quả xoài đến cho tăng. Vậy người nào thích hợp cho
việc mang đi?
Phật
dạy:
- Sai
tịnh nhân mang đi. Nếu không có tịnh nhân, nên sai cầu tịch.
Nếu không có cầu tịch, trước tiên phải tác tịnh, sau đó
Bí-sô nhận lấy, mới có thể tự mang đi.
Như
Thế Tôn dạy: - Sai người giữ vườn quản lý giữ gìn. Sau
khi tịnh nhân hay cầu tịch vừa đi, chim chóc bay đên mổ
hư trái cây.
Phật
dạy:
- Nên
lấy lá cây che đậy trái cây lại. Sau khi tịnh nhân cầu
tịch làm xong việc trở về, nên chỉ chỗ trái cây cho họ.
Bấy
giờ lục chúng Bí-sô theo thứ lớp đến giữ vườn. Nhân
đó, họ chọn những trái xoài ngon mang về trú xứ, tác pháp
thọ rồi ăn.
Các
Bí-sô bàn tán với nhau rằng:
- Trái
cây ngon tốt, đã lâu không thấy đưa đến.
Ðáp:
- Không
thể đem đến được. Tất cả đều bị lục chúng lựa trước,
lấy trái tốt đem về trú xứ, bảo người khác trao cho và
tự nhận lấy ăn.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Không
được tự lấy ăn. Nếu ăn như vậy bị tội ác tác.
Bấy
giờ lục chúng tự chọn trước những trái tốt, bảo người
khác cầm lấy đưa cho mình để ăn. Ðưa người này đưa
người kia sinh ra gây lộn.
Phật
dạy:
- Không
được tự chọn lấy ăn. Ai ăn như vậy bị tội ác tác.
Trường
hợp không phạm:
- Nếu
sức lực yếu được ăn trái chín. Sức lực mãnh mẽ có
thể ăn trái sống.
Duyên
xứ như trước. Các Bí-sô du hành trong nhân gian, đến một
thôn kia. Trong thôn có ngôi chùa. Khi vào chùa, họ không thấy
một Bí-sô cựu trú nào cả. Vì hôm trước, đã đi chơi nên
trong chùa vẫn không có ai.
Bấy
giờ, các Bí-sô khác bàn với nhau rằng:
- Trong
chùa này không có một Bí-sô nào, chẳng lẽ chúng ta cư trú
nơi không có cương giới hay sao? Hãy cùng nhau kết cương giới
để cư trú.
Trước
tiên họ kết tiểu cương giới. Bấy giờ các vị Bí-sô cựu
trú trở về. Các Bí-sô khách (tưởng là khách) nói:
- Thiện
lai! Thiện lai cụ thọ! Quí vị đến đây chúng tôi xếp đặt
chỗ nghỉ ngơi.
Bí-sô
chủ chùa nói:
- Cụ
thọ! Tại sao lại cho chúng tôi nghỉ ngơi. Chúng tôi là chủ
nhân, ngày tạm thời đi vào nơi nhàn tịnh.
Khách
nói:
- Chúng
tôi muốn kết giới. Ngay tại chỗ này đã kết tiểu giới.
Chủ
nhân nói:
- Nơi
này trước đây chúng tôi đã kết giới.
Hai
bên hoài nghi không biết nên lấy giới trước hay lấy giới
sau, đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Phải
lấy giới đã kết trước, kết sau không thành. Phàm Bí-sô
khách đến trú xứ khác, phải ở đến bảy tám ngày, nếu
không có người đến, nên cùng nhau kết giới. Làm sai quy
định này bị tội ác tác.
Duyên
xứ như trước. Có Bí-sô ở tại nơi A Lan Nhã. Hai nông dân
cãi nhau, đưa đến đánh lộn, cả hai người này đều lấy
Bí-sô làm chứng.
Cả
hai đưa nhau đến nhà vua, cùng tự đưa lý lẽ của mình ra,
nói có người làm chứng, bảo gọi Bí-sô.
Sau
khi Bí-sô đến, nhà vua hỏi rằng:
- Sự
việc này như thế nào?
Bí-sô
đáp:
- Ðại
vương! Nếu ngài cam kết với tôi là giải quyết như vua chuyển
luân, tôi sẽ trình bày.
Vua
đồng ý cam kết theo yêu cầu của Bí-sô.
Bí-sô
nói:
- Hai
người này tranh cãi, đưa đến hành động đánh đập nhau.
Nhà
vua nghe xong, phán cả hai đều bị tội.
Bí-sô
thưa:
- Ðại
vương! Vì sao lại hành phạt vừa rồi đã cam kết như vua
chuyển luân giáo hóa trong đời.
Vua
hỏi:
- Luân
vương hành hóa như thế nào?
Ðáp:
- Là
bậc Luân vương, ngăn ngừa sự vô ích, thi hành việc hữu
ích.
Vua
nói:
- Như
vậy thì cả hai đều phạm tội, xử hình phạt nhẹ rồi
thả cả hai.
Bấy
giờ cả hai đều giận Bí-sô. Các Bí-sô đem sự việc bạch
Phật. Phật dạy:
- Họ
đánh nhau Bí-sô không được đứng xem, nếu thấy người
đánh nhau phải mau bỏ đi. Nếu không bỏ đi phạm tội ác
tác.
-ooOoo-
Ny
Ðà Na Biệt Môn
Tụng
tổng nhiếp thứ năm.
Bồ
tát tượng cúng dường
Kiết
tường đại chúng thực
Ðại
hội thảo trân cư
Tập
tăng minh đại cổ.
Tụng
thứ nhất.
Thính
vi Bí-sô tượng
Phục
hứa ngũ chủng kỳ
Vi
hòa trí tôn nghi
Thuyết
can tùy ý sở.
Duyên
xứ như trước. Nếu đức Phật Thế Tôn hiện tiền tự dẫn
đầu chúng, ngài là thượng tọa. Ngài có uy đức nên chúng
tăng đều nghiêm túc. Nếu Thế Tôn không hiện diện, không
có sự việc trên.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc đến chỗ Phật, lạy sát chân ngồi qua
một bên, bạch Phật rằng:
- Nay
con muốn làm hình tượng chiêm bộ. Mong Thế Tôn cho phép.
Phật
dạy:
- Ðược
làm.
Trưởng
giả muốn trang trí phướn lọng. Phật dạy:
- Tùy
ý.
Trưởng
giả không biết làm loại phướn gì. Phật dạy:
- Có
năm loại cờ phướn là:
1-
Phướn sư tử.
2-
Phướn mộ yết la.
3-
Phướn rồng.
4-
Phướn yết lộ trà.
5-
Phướn ngưu vương.
Trưởng
giả xin phép làm tòa cho hình tượng chiêm bộ.
Phật
dạy:
- Có
thể làm.
Lại
xin làm cây sắt để treo cờ phướn. Phật dạy:
- Ðược
làm.
Tụng
thứ hai.
Cúng
dường Bồ tát tượng
Tịnh
tác như anh lạc
Ðồ
hương cập xa dư
Tác
tản cái kỳ phan.
Duyên
xứ như trước. Trưởng giả Cấp Cô Ðộc bạch Phật rằng:
- Có
phải khi Phật còn là Bồ tát ngài thường cúng dường rộng
lớn không?
Phật
dạy:
- Ðúng
vậy.
Trưởng
giả thưa:
- Thế
Tôn! Nay con muốn cúng dường hình tượng chiêm bộ.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả thưa:
- Thế
Tôn! Khi ngài còn là Bồ tát có mang các chuỗi ngọc?
Phật
dạy:
- Ðúng
vậy.
Trưởng
giả thưa:
- Nay
con muốn vì hình tượng chiêm bộ làm các chuỗi ngọc.
Phật
dạy:
- Tùy
ý. Nhưng trừ ra vòng đeo chân và vòng đeo tai. Ngoài ra được
phép làm.
Trưởng
giả thưa:
- Nay
con muốn làm hương bột, hương thoa, lau chân, tay Phật.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả
- Phật
thường khi là Bí-sô thường đi xe ra vào hoặc đi xe vua. Nay
muốn làm xe đẩy.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả lại bạch:
- Khi
Phật còn là Bồ tát thường có tàng lọng che và cờ phướn
theo hầu. Nay con muốn vì hình tượng làm tàng lọng và các
loại phướn.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả thưa:
- Bồ
tát khi tại gia thường mang vòng hoa chuỗi ngọc để trang
sức. Nay con cũng dùng những vật ấy để trang nghiêm tượng?
Phật
dạy:
- Ðược!
Tất cả các vật để trang hoàng ta đều cho phép làm.
Tụng
thứ ba.
Kiết
tường tinh cúng dường
Hoa
mang cập hương hợp
Chư
nhân đại tập thời
Trú
khai môn dạ bế.
Khi
ấy trưởng giả Cấp Cô Ðộc bạch Thế Tôn:
- Phật
khi còn là Bồ tát, tất cả đại chúng lấy việc tốt đẹp
an lành để cung kính cúng dường. Nếu Phật cho phép, ngay
trước tượng chiêm bộ con làm việc tốt đẹp và thiết
cúng dường.
Phật
dạy:
- Nên
làm tùy ý.
Trưởng
giả bạch:
- Nay
con muốn làm vòng hoa trang sức trên đầu và các loại hương
thơm tổng hợp để cúng dường tượng chiêm bộ.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả bạch:
- Con
sẽ vì tượng chiêm bộ để trang hoàng chùa.
Bấy
giờ các Bí-sô vẻ vời nhiều màu sắc nơi chùa.Họ dùng
dầu thơm, vòng hoa, hương đốt, hương bột, tấu các loại
kỹ nhạc thiết lễ cúng dường rộng lớn.
Mọi
người thấy việc đặc biệt này phát tâm hâm mộ việc chưa
từng có, cùng nhau nói rằng:
- Trú
xứ này thật là trang nghiêm.
Các
Bí-sô thấy mọi người làm ồn ào nên đóng cửa cả ngày
đêm. Mọi người thấy vậy sinh tâm chê bai. Họ nói:
- Ðóng
cửa chùa là ngăn chặn việc sinh thiện pháp.
Mọi
người đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Khi
tấu nhạc để cúng dường, ban ngày chỉ mở cửa, về đêm
nên đóng lại.
Tụng
thứ tư.
Ðại
chúng tập hội thực
Tiết
xá khư nguyệt sinh
Hương
đài ngũ lục niên
Tinh
ưng vi đại hội.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc, thiết lễ cúng dường. Nhiều Bí-sô cùng
bảy chúng đều tập họp. Trưởng giả thấy vậy sinh tâm
vui vẻ, tự nghĩ:
- Như
Thế Tôn dạy: Bí-sô có năm lúc để bố thí. Thế nào là
năm?
1-
Cấp thí cho người mới đến hoặc sắp lên đường.
2-
Cấp thí cho người bệnh và người chăm sóc bệnh nhân.
3-
Cấp thí vào năm đói kém và tại đường hiểm trở.
4-
Ðược ngũ cốc mới, và những ngày lễ, tết của năm, trước
phải cung cấp cho người trì giới, có đức, sau đó mình
mới sử dụng.
5-
Gặp khi gió mưa tuyết lạnh, nên đem bánh, cháo, mỳ và các
loại nước uống đến cúng cho chúng Tăng, đừng để các
bậc thánh giả phải đi lại cực khổ. Họ nhận được thức
ăn, sống được an lạc.
Nay
ta thấy các vị Bí-sô, Bí-sô ny, Ô ba sách ca (cận sự nam),
Ô ba tư ca (cận sự nữ) từ xa đến, trên đường đi rất
mệt nhọc. Nếu Phật cho phép, ta sẽ vì họ lập đại hội.
Trưởng
giả đến chỗ Phật, lạy hai chân, ngồi qua một bên, bạch
rằng:
- Thế
Tôn! Như Phật dạy có năm trường hợp nên bố thí (rộng
như trình bày cúng dường ở trên). Do quan sát đại hội bố
tát mọi người ở bốn đều tập họp đến, đi đường
cực khổ. Nếu Phật cho phép, con sẽ thiết lễ cúng dường.
Phật
dạy:
- Tùy
ý làm.
Trưởng
giả thiết lập đại hội vô giá.
Bấy
giờ trưởng giả lại bạch Phật rằng:
- Nay
con xin thiết lập đại hội nữa.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả bạch Phật:
- Bồ
tát đản sanh vào ngày tháng mấy?
Phật
nói với trưởng giả:
- Ta
sinh vào ngày trăng tròn tháng Tiết Xá Khư (Vesakha - tháng năm
lịch Ấn Ðộ - N.D)
Trưởng
giả thưa:
- Nay
con muốn làm đại hội sinh nhật của Phật.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả thưa:
- Nay
con muốn vì hình tượng chiêm bộ làm đài hương.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả thưa:
- Thế
Tôn! Khi ngài còn là Bồ tát, đến bao nhiêu tuổi mới cắt
búi tóc trên đảnh đầu.
Phật
nói:
- Năm
tuổi.
Trưởng
giả thưa:
- Thế
Tôn! Con muốn làm đại hội năm năm.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Trưởng
giả thưa:
- Bồ
tát bao nhiêu tuổi để thêm búi tóc.
Phật
dạy:
- Sáu
tuổi.
Ngoài
ra như nói ở trên.
Trưởng
giả thưa:
- Thế
Tôn! Con muốn vì tượng chiêm bộ làm đại hội Phật Ðà.
Phật
dạy:
- Nên
làm.
Tụng
thứ năm.
Ðại
hội vi thảo truân
Bất
ưng tạp loạn tọa
Ủng
đã kiền chùy cổ
Cáo
thời linh phổ tri.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc khi thiết lập đại hội, nhân dân của
sáu đô thành lớn đều tập hợp đến. Các Bí-sô cũng tham
dự. Do đó, chỗ ngồi không đủ.
Phật
dạy:
- Trưởng
giả! Nên kết tòa bằng cỏ rơm để tùy lúc ngồi ăn.
Bí-sô
ăn xong không thu doạn bỏ đi. Có người đem việc này bạch
Phật.
Phật
dạy:
- Khi
ăn xong Bí-sô phải thu dọn tòa cỏ xếp vào một bên, mới
được ra đi. Nếu làm đại hội Phật Ðà xong thì vứt bỏ
hẳn.
Bấy
giờ các Bí-sô không căn cứ vào tuổi lớn nhỏ, vượt thứ
lớp, ngồi xen tạp với nhau, làm mất nhiều thời gian cho
người hành thực. Hoặc khi ăn xong rồi, lại có người đến.
Mất cả thời gian.
Phật
dạy:
- Nên
báo giờ để họ đến.
Tuy
có báo giờ đến, nhưng ồn ào họ không nghe.
Phật
dạy:
- Nên
đánh kiền chùy.
Họ
cũng không nghe được hết.
Phật
dạy:
- Nên
thổi ốc, đánh trống.
Làm
vậy họ cũng không nghe được hết.
Phật
dạy:
- Ðánh
chuông trống lớn. Ðánh trống, trước đánh ba tiếng, xong
đánh thêm hồi dài.
Bấy
giờ người bệnh và người phục vụ thiếu thức ăn. Phật
dạy:
- Phải
chờ người bệnh được mời ăn xong và người phục vụ
ăn xong rồi mới đánh hồi dài. Nếu vi phạm bị tội vượt
pháp.
Tụng
thứ sáu.
Tập
tăng minh đại cổ
Cúng
liễu khứ tràng phan
Nhược
ta hoạch trân bảo
Tùy
ưng tất phân dữ.
Như
Thế Tôn dạy: Nên đánh kiền chùy và thổi hai loa ốc. Tuy
đã làm như vậy nhưng không nghe khắp.
Phật
dạy:
- Nên
đánh trống lớn để khắp nơi đều nghe. Khi làm đại hội
xa gần đều đến.
Ðại
hội đã xong, mọi người vẫn chưa giải tán.
Thế
Tôn bảo:
- Nên
tháo gỡ những trụ phướn cúng dường tại nơi đại hội.
Mọi
người thấy vậy tự nhiên giải tán.
Khi
tổ chức đại hội này, tăng chúng Bí-sô được nhiều tài
vật quí giá, không biết phải giải quyết thế nào?
Phật
dạy:
- Tập
hợp tài vật lại một nơi. Trước hết từ bậc thượng
tọa đến người thấp hạ nhất. Tùy theo lớn nhỏ căn cứ
giáo pháp phân chia bình đẳng.
Bấy
giờ các Bí-sô vẫn còn phân vân.
Phật
dạy:
- Nếu
chúng đông người quá thì chia một phần cho một ngàn người
để họ tự phân chia. Nếu ít hơn thì phân một phần trăm
người, hai mưoi người cho đến mười người để họ tự
phân chia.
Ô
Ba Ly bạch Phật:
- Nếu
phân cho nhóm mười (10) người, trong nhóm có một người chết,
phần người chết ai được lấy?
Phật
dạy:
- Nếu
trong nhóm mười người đã phân y xong, phần của người chết
nhập vào của tăng già. Nếu họ chưa phân được chia cho
chín người. Ngoài ra, những thành phần nhiều người cũng
căn cứ đây để giải quyết.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
HẾT
PHẦN NY ÐÀ NA
- Hết
quyển 5 -
(trọn
bộ)