MỤC
ÐẮC CA
(No.
1452)
Quyển
thứ sáu
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Ðại
môn tổng nhiếp tụng.
Tối
sơ vi sám tạ
Ðệ
nhị định thuộc vật
Ðệ
tam tư cụ y
Mục
đắc ca tổng tụng.
Biệt
môn tổng nhiếp tụng thứ nhất.
Sám
tạ thảo điền trung
Hợp
miễn vương ảnh thắng
Cẩu
nhục tàn cam giá
Ðường
tô căn đẳng thính.
Tụng
thứ nhất.
Sám
tạ phi cận viên
Quán
cầu tịch tướng mạo
Bí-sô
giữ ny pháp
Hồ
bỉnh pháp giai thành.
Phật
ở thành Thất La Phạt. Bấy giờ các Bí-sô từng hai người
một bàn luận nghĩa lý đưa đến tranh cãi nhau.
Vị
Bí-sô nhỏ trách mắng vị lớn. Vị Bí-sô lớn lui vào trong
phòng ôm lòng phẫn hận.
- Tại
sao kẻ ti tiểu kia lại dám xúc phạm đến ta, vì bị lửa
sân thiêu đốt nên ông ta phiền não vô cùng. Do đó vị này
qua đời sinh vào loài rắn độc.
Bấy
giờ Bí-sô nhỏ sinh tâm hối hận:
- Ta
đã hành động bất thiện. Tại sao được phép sân trách
Bí-sô thượng tọa.
Nghĩ
như thế rồi, Bí-sô nhỏ cùng các Bí-sô đến chỗ Bí-sô
lớn kia. Ðến nơi thấy cửa phòng đóng, liền tìm cách mở
ra và đến chỗ vị Bí-sô lớn. Bí-sô nhỏ đang muốn quì
xuống đảnh lễ để bạch Phật rằng:
- Ðại
đức xin tha thứ cho tôi.
Lúc
ấy, vị này thấy một con rắn độc lớn đang nghiến răng
nổi giận dựng đứng lên. Bấy giờ Thế Tôn dùng sức đại
bi đến tận nơi, bảo Bí-sô rằng:
- Thầy
phải nên lạy sát đất để xin sám hối với rắn này.
Bí-sô
thưa:
- Thế
Tôn! Tại sao bảo con lạy rắn này?
Thế
Tôn bảo:
- Nên
tác ý đây là Bí-sô lúc trước để mà kính lễ.
Khi
ấy Bí-sô này hướng về rắn này làm lễ.
Thế
Tôn bảo rắn:
- Hiền
thủ! Người nên dung thứ cho vị này!
Ngài
vì rắn độc nói ba pháp kệ. Ngài lại nói:
- Hiền
thủ! Người đã tu tập tịnh hạnh nơi ta, lẽ ra phải sinh
thiên thượng, chỉ do lửa sân thiêu đốt làm hại, sinh vào
loài rắn độc. Hiền thủ nên biết rằng:
Các
hành đều vô thường
Các
pháp đều vô ngã.
Chỉ
biết Niết bàn tịch tịnh là an lạc.
Người
nên phát tâm tịnh tín đối với ta. Do nhờ công đức này
bỏ được thân bàng sinh, sinh vào cảnh giới tốt đẹp.
Khi
ấy rắn độc tự nghĩ:
- Nay
nếu ta không được thân cận Thế Tôn nghe ba pháp cú mà chỉ
ham ăn uống thì thật nuôi thân này vô ích.
Các
loài bàng sinh thì lửa đói là mạnh nhất. Do nhịn ăn nên
rắn độc mệnh chung. Vì rắn độc sinh tâm tịnh tín đối
với Thế Tôn, nên bỏ thân mạng này được sinh thiên thượng.
Khi mới sinh thiên dù nam hay nữ thì pháp nhĩ như thế này,
họ đều phát sinh ba ý nghĩ:
- Ta
chết từ nơi nào?
-
Nay sinh vào nơi nào đây?
-
Do nghiệp duyên gì mà sinh đến nơi này?
Nghĩ
thế rồi, vị ấy tự quán sát thấy mình bỏ thân rắn độc
sinh đến cõi thiên này nhờ phát sinh tín tâm trong sạch với
Phật. Vị thiên này lại tự nghĩ: "Nay ta chẳng nên không
đến gặp Phật để lễ bái cúng dường, vậy nên đến gặp
ngài để báo ân phụng sư". Vị thiên này mang chuỗi ngọc,
hoa tai, vòng tay bằng bảy báu thượng diệu, tự trang hoàng
thân thể với hào quang rực rỡ. Tay cầm hoa sen vi diệu ở
cõi trời, hoa Ôn bát la, hoa Bát đầu ma, hoa Phân đà lợi
vào lúc gần sáng đến gặp Phật, rải hoa cúng dường trước
Phật lạy sát hai chân ngồi qua một bên. Do uy lực hào quang
của vị thiên này làm cho cả rừng Thệ Ða ánh sáng rực
rỡ.
Bấy
giờ Thế Tôn quan sát sự sai biệt căn tánh, tùy theo căn tánh
sở thích của vị thiên này để ngài thuyết pháp.
Vị
thiên nghe pháp ngay tại chỗ ngồi chứng quả Dự lưu. Sau
khi chứng quả, vị này bạch Thế Tôn:
- Thánh
quả con chứng được hiện nay không phải do cha mẹ tác thành
mà nhờ y vào sức từ bi của Thế Tôn, đưa con thoát khỏi
ba đường ác, đặt vào cõi trời người, ra khỏi cảnh giới
sinh tử lưu chuyển, làm cho khô cạn biển lớn máu và nước
mắt, đã vượt qua được núi lớn thân cốt. Từ vô thủy
đến nay tích tụ hai mươi thân kiến góp lại như núi, dùng
chùy kim cương đập phá vỡ hết, chứng quả Dự Lưu. Thế
Tôn! Ngay ngày hôm nay con xin qui y Tam Bảo, xin ngài chứng nhận
cho con là vị Ô ba sách ca (cận sự nam). Từ nay cho đến trọn
đời, con giữ vững lòng tin thanh tịnh đối với Tam Bảo.
Vị
thiên lễ sát chân Phật, đi nhiễu bên hữu ba vòng rồi biến
mất trở lại thiên cung.
Bấy
giờ các Bí-sô vào đầu và cuối đêm cảm giác siêng năng
tu hành lắng tâm quan sát thấy rừng Thệ Ða hào quang sáng
chói, đều tự nghĩ: "Ðây hẳn là chư thiên Phạm Thích và
Bốn Thiên vương hay là các thiên tử có uy lực lớn đến
ra mắt Thế Tôn để kính lễ.
Nghĩ
vậy, họ đến gặp Thế Tôn, lạy sát hai chân, đem sự việc
trên trình bày. Thế Tôn nói:
-Ðó
không phải là Phạm thiên chủ cũng chẳng phải thiên tử
có uy lực lớn gặp ta để ra mắt lễ kính. Các thầy còn
nhớ con rắn độc lớn, ta đã vì nó nói ba pháp cú không?
Ðáp:
- Bạch
Thế Tôn! Chúng con nhớ.
Thế
Tôn bảo rằng:
- Rắn
ấy đã chết và sinh cõi thiên, vị thiên ấy đến gặp ta
nghe giảng pháp, được kiến đến rồi trở lại thiên cung.
Do nhân duyên ấy nên ánh sáng chiếu sáng khắp nơi.
Thế
Tôn lại dạy:
- Do
không nhẫn nhịn được nên có lỗi lầm như vậy. Thế nên
các Bí-sô có nổi giận cãi nhau, phải mau sám hối tạ lỗi,
cùng tha thứ nhau, đừng để sau đó phải mang lấy những
lỗi lầm như vậy.
Bấy
giờ có Bí-sô mới bị la mắng, vội vàng đến vị kia để
xin tha thứ, làm cho vị kia thêm tức giận, bảo rằng:
- Hãy
xem người này đem đến cho ta những việc thật là rối loạn
bực bội.
Phật
dạy:
- Không
nên mới bị la mắng mà đến sám hối liền, chờ họ bớt
giận rồi có thể xin dung thứ.
Ngay
trong thành có hai Bí-sô cùng nhau bàn luận nghĩa lý giáo pháp
dẫn đến sự phẫn nộ. Bí-sô trẻ trách mắng vị lớn tuổi.
Bấy
giờ Bí-sô già về phòng, quá ư tức giận đến nỗi mệnh
chung sinh vào loài rắn độc.
Bấy
giờ Thế Tôn sai cụ thọ A Nan Ðà:
- Ông
hãy đến nơi rắn độc đang nghiến răng kia nói lên lời
ta chúc mạnh khỏe và bảo rằng: - Hiền thủ! Ông đã xuất
gia trong pháp luật chân chánh của ta. Ðối với bốn quả
Sa-môn nên tùy khả năng chứng một quả. Ông đời trước
quá sân hận nên sinh vào loài rắn độc. Vậy ông nên tha
thứ cho vị kia.
Cụ
thọ A Nan Ðà vâng lời Phật dạy, đến chỗ rắn độc bảo
rằng:
- Ông
đã... như trên... vị kia.
Bấy
giờ rắn độc đang ở trong phòng gầm gừ lên tiếng không
chịu đứng yên.
Thế
Tôn lại sai cụ thọ Ðại Mục Kiều Liên:
- Ông
hãy... như trên... vị kia.
Bấy
giờ rắn độc ngay nơi khe cánh cửa thò đầu ra rồi lại
thụt vào.
Thế
Tôn lại sai cụ thọ Xá Lợi Tử:
- Ông
hãy... như trên... vị kia.
Bấy
giờ rắn độc bày nửa thân nơi cánh cửa, phần còn lại
quấn trong phòng. Khi ấy, Thế Tôn đích thân đến tận phòng,
bảo rắn độc rằng:
- Hiền
thủ! Ông đã xuất gia trong pháp luật chân chánh của ta, đối
với bốn quả Sa-môn tùy khả năng chứng một. Nhưng ông chưa
chứng được một quả nào. Ông do đời trước quá ư sân
hận nên sinh vào loài rắn độc. Vậy ông nên dung thứ cho
vị kia.
Khi
ấy rắn độc bò ra khỏi phòng, hướng đến Thế Tôn, cuộn
thân đứng lên.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo vị Bí-sô trẻ tuổi kia:
- Ông
nên cầu xin tạ lỗi với rắn độc này.
Bí-sô
thưa:
- Con
phải làm pháp sám hối như thế nào đây?
Phật
dạy:
- Nên
lạy sát hai chân.
Bí-sô
thưa:
- Thế
Tôn! Vị ấy đã sinh vào loài bàng sinh. Nay con tại sao phải
lễ kính sát chân loài ấy.
Thế
Tôn dạy rằng:
- Ông
nên tác ý đến thân Bí-sô trước đây của rắn độc, ngay
tại trước mặt rồi lạy sát chân.
Khi
ấy, Bí-sô khởi tâm tưởng như vậy rồi lạy sát bụng rắn.
Rắn liền dùng đầu đặt vào đảnh Bí-sô như pháp sám hối
tạ lỗi.
Thế
Tôn dạy rằng:
- Này
các Bí-sô! Do quá sân hận nên gây ra lỗi lầm này. Thế nên
các Bí-sô nếu sân hận với nhau phải mau sám hối. Buổi
chiều giận nhau, buối sáng phải xin lỗi nhau.
Có
một Bí-sô, khi được xin lỗi lại thêm sân hận. Phật dạy:
- Trước
phải thăm hỏi, sau đó mới cầu xin tha thứ.
Nhưng
có người vẫn không chịu. Phật dạy:
- Phải
chịu.
Có
người gặp chỗ thân cận không chịu lễ kính. Phật dạy:
- Ðến
chỗ có thế lực phân xử cũng phải lễ kính.
Vị
kia đáp:
- Không
bệnh. Nếu không làm như vậy, cả hai đều mắc tội.
Hai
Bí-sô bàn luận giáo nghĩa, sinh tâm sân hận, vị trẻ trách
mắng vị già. Bí-sô trẻ biết mình phi lý, đến lạy sát
chân vị già cầu sám hối, vị già vẫn đứng im lặng. Vị
trẻ tự nghĩ: "Vị này quá giận không dung thứ cho ta. Chờ
vị này bớt giận ta sẽ đến tạ lỗi".
Bí-sô
già trở về phòng với tâm trạng sân hận.
Bấy
giờ Bí-sô trẻ đến phòng vị già quì xuống đảnh lễ,
ôm lấy chân bạch rằng:
- Ðại
đức! Xin ngài dung thứ cho tôi.
Bí-sô
già bỗng đùng đùng nổi giận bảo với người chung quanh:
- Ðại
đức! Mời quí vị hãy trông vào người này, cố ý đến
đây gây phiền não cho tôi.
Bí-sô
trẻ tự nghĩ: "Vì Phật Thế Tôn dạy ta phải làm lễ tạ
lỗi nên tự an trú với tâm từ bi, tâm lợi ích. Nhưng Bí-sô
này thấy ta đến tạ lỗi, tâm tình không vui vẻ gì cả.
Vậy ta cần gì xin vị ấy tha thứ". Vì vậy Bí-sô trẻ không
đến kính lễ nữa.
Sau
đó vào một lúc khác. Vị Bí-sô già cùng các Bí-sô đi kinh
hành, nói chuyện. Vị Bí-sô trẻ đi đến nơi v? Bí-sô già
đang kinh hành nhưng chỉ muốn chào hỏi làm lễ các vị khác.
Có
người hỏi Bí-sô già:
- Tôn
giả! Người này giới luật thanh tịnh, tại sao không cho sám
hối?
Bí-sô
già đáp:
- Ông
ấy có ác tâm đến đây chỉ muốn làm lễ quí thầy thôi.
Rồi
Bí-sô già phân bua với mọi người:
- Nay
quí vị đã thấy rõ là Bí-sô kia chỉ chào hỏi lễ bái quí
vị chứ nào lễ bái tôi. Từ đó suy ra, họ đến đây mang
ác ý với tôi.
Có
người nói với Bí-sô trẻ:
- Bí-sô
già này giới luật thanh tịnh, tại sao người không lễ kính
chào hỏi?!
Bí-sô
trẻ thuật lại đầy đủ sự việc đã xảy ra.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Khi
những người có xích mích cãi cọ nhau, khi gặp nhau cũng phải
kính lễ, chào hỏi. Vị kia phải trả lời: - Không bệnh.
Nếu
vị nào không thực hành như vậy, bị tội ác tác. Phải nên
chắp tay kính lễ chào hỏi.
Bấy
giờ cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Ngay
khi thọ giới, giởi tử tự phát biểu: - Cụ thọ không nên
cho tôi thọ cận viên nữa. Khi ấy các Bí-sô vẫn cố buộc
vị ấy thọ. Vậy người thọ giới này thành cận viên không?
Phật
dạy:
- Ô
Ba Ly! Người này không thành tựu cận viên. Khi đã phát biểu
thành lời nói thì gọi là xả giới rồi. Huống gì ngay khi
thọ giới (mà phát biểu như vậy) sao được gọi là thọ
giới thành tựu.
Như
Thế Tôn dạy: - Cầu tịch đủ 20 tuổi cho họ thọ cận viên.
Nhưng gặp phải cầu tịch không biết số tuổi của mình.
Bấy
giờ các Bí-sô đều nghi ngại không cho thọ cận viên. Nhưng
giới tự vẫn giữ tâm muốn thọ giới.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Phải
xem xét thân thể vị ấy.
Các
Bí-sô muốn lộ hình vị ấy ra để xem xét chỗ kín và dưới
nách, vị ấy mắc cỡ ngượng ngùng.
Thế
Tôn dạy:
- Treo
núi đựng bát hay các vật khác trên móc cao, hay sào tre, v.v...
bảo vị ấy rằng:
- Ông
lấy y bát kia mang đến đây. Vị ấy sẽ đưa tay lên lấy,
khi ấy nhìn dưới nách lông dài hay ngắn.
Ô
Ba Ly bạch Phật:
- Khi
các cầu tịch thọ giới cận viên, các Bí-sô lại bình đẳng
pháp yết ma của Bí-sô ny để họ thọ cận viên. Như vậy
họ được đắc giới không?
Phật
dạy:
- Họ
thành tựu cận viên, các Bí-sô bị tội vượt pháp.
Tụng
thứ hai.
Thảo
điền thôn lược thuyết
Sinh
tâm bao sái đà
Tặc
triền bất đồng khiên
Lục
khai tăng giáo tội.
Phật
tại thành Thất La Phạt. Một số Bí-sô tháp tùng cùng đoàn
lái buôn đi du hóa trong nhân gian. Ðến ngày Bao sái đà (bố
tát) thấy có chỗ trống trải yên tịnh với cỏ êm ái, họ
bàn luận với nhau:
- Các
Ðại đức! Chỗ này có cỏ êm tốt chúng ta hãy tác pháp
Bao sái đà ở đây.
Họ
cùng ngồi ở chỗ ấy để trưởng tịnh. Ðến khi xong việc
những khách buôn mạnh khỏe đã lên đường hết.
Bấy
giờ các Bí-sô phải lục đục đi sau, chẳng may bị cướp
đoạt các vật dụng. Họ đi về đến chùa, các Bí-sô cựu
trú thấy khách đến, chào hỏi:
- Thiện
lai Ðại đức! Quí ngài đi đường có an lạc không?
Ðáp:
- Nào
có an lạc, tôi bị giặc cướp, may lắm mới giữ được
mạng sống thừa này.
Bấy
giờ các Bí-sô đem việc này bạch Phật.
Phật
dạy:
- Không
được tham luyến chỗ bằng phẳng có cỏ êm để trưởng
tịnh, phải đi theo người đồng hành đến làng xóm rồi
mới làm trưởng tịnh.
Như
Thế Tôn dạy: - Ði đến chỗ gần xóm làng mới làm trưởng
tịnh.
Bấy
giờ có một nửa số Bí-sô đã vào trong thôn còn một nửa
ở ngoài thôn. Họ tự suy nghĩ: "Nay ta đã ở riêng một chỗ,
vậy có nên làm trưởng tịnh hay không?!"
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Những
Bí-sô đã vào trong thôn nên tụ tập lại một chỗ để làm
trưởng tịnh, những vị ở ngoài thôn phải ra ngoài phạm
vi ranh giới của thôn, cùng nhau tập hợp lại một chỗ để
làm trưởng tịnh. Nếu ai không đến để tham gia việc trưởng
tịnh, bị tội vượt pháp.
Các
Bí-sô cùng thương gia đi trên đường, đến ngày trưởng
tịnh các Bí-sô bảo với thương gia:
- Hiền
thủ! Xin tạm nghỉ giây lát, chúng tôi muốn trưởng tịnh.
Thương
nhân bảo:
- Chỗ
này có giặc cướp đáng sợ, quí vị nên mau đi tới, chúng
tôi không thể dừng lại.
Bấy
giờ các Bí-sô nói với người đồng hành:
- Nên
ở lại đây. Họ phải ở lại cho đến sáng hôm sau.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Không
được đến ngày mà không trưởng tịnh, nên vừa đi đường
vừa trưởng tịnh.
Các
Bí-sô vừa đi đường vừa cùng nhau trưởng tịnh, các lái
buôn tỏ vẻ khó chịu, phát biểu:
- Thánh
giả! Chúng tôi sợ giặc cướp nên rất im lặng. Các vị
vì lý do gì mà lớn tiếng như vậy.
Các
Bí-sô đem sự việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Không
nên thuyết minh rộng, nên trưởng tịnh tóm lược.
Nhưng
các thương nhân vẫn bực bội nói với nhau. Phật dạy:
- Nên
có thể tâm niệm thủ trì:
1-
Xả ba y.
2-
Phân biệt ba y (tác tịnh).
3-
Xả trưởng y.
4-
Biệt thỉnh.
5-
Trưởng tịnh.
6-
Tùy ý tự (tự tứ).
Nên
tự nói như thế này:
- Hôm
nay ngày 14 tăng già trưởng tịnh. Tôi Bí-sô, vào ngày 14 cũng
trưởng tịnh. Tôi Bí-sô đối với các pháp chướng ngại,
tự bày tỏ để thanh tịnh tất cả. Nay tôi tạm thời thủ
trì trưởng tịnh. Nếu sau này gặp chúng tăng hòa hợp tôi
sẽ hòa hợp cùng chúng để trưởng tịnh, đầy đủ các
giới tụ. Nói như vậy ba lần.
Nếu
đến đúng ngày, phải làm trưởng tịnh, nếu không làm, bị
tội ác tác.
Các
Bí-sô du hành trong nhân gian bị giặc bắt. Chúng bàn bạc
với nhau:
- Này
các anh! Nên làm sạch các Bí-sô.
Các
Bí-sô biết rằng ý bọn giặc muốn giết hại mình, nên bảo
với họ rằng:
- Vì
ý gì mà quý vị muốn giết hại chúng tôi?!
Giặc
đáp:
- Này
các Bí-sô! Các ông cùng với vua, đại thần, trưởng giả,
khách buôn đều quen biết nhau. Họ đối với các ông hết
lòng kính trọng. Các ông sẽ báo cáo lại họ về việc này.
Họ đối với chúng tôi thật là tai hại. Thế nên chúng tôi
phải làm sạch các ông.
Bấy
giờ trong nhóm có một Bí-sô phạm tội nói dối, tự nghĩ:
- Nay
ta bị giết chết khi thân mang tội sẽ sinh vào đường ác.
Do
đó Bí-sô này gọi các Bí-sô đến chỗ khuất để phát lồ
chỗ phạm tội.
Thấy
vậy bọn giặc bảo rằng:
- Các
ông muốn đi đâu?
Bí-sô
đáp:
- Cho
phép tôi làm pháp sự của Bí-sô trong chốc lát.
Giặc
nói:
- Các
ông muốn chạy trốn phải không? Phải ở đây không được
đi chỗ khác.
Khi
ấy hai Bí-sô phải tác pháp đối thủ sám hối trước mặt
bọn giặc:
- Xin
Ðại đức nhớ rõ cho! Tôi Bí-sô phạm tội như vậy. Ðối
với tội đã phạm, nay tôi đối trước Ðại đức đến
bằng tâm ý thanh tịnh, xin phát lồ thuyết ra tội. Tôi không
che dấu, do phát lồ thuyết ra tội nên được an lạc. Không
phát lồ thuyết ra tội thì không được an lạc. Lần thứ
hai, lần thứ ba đều bạch như vậy.
Bấy
giờ bọn giặc thấy Bí-sô thuyết tội xong, hỏi rằng:
- Các
ông không được nói dối phải không?
Ðáp:
- Vâng!
Chúng tôi không được nói dối.
Bọn
giặc bảo:
- Vậy
các ông có thể tùy ý ra đi, nhưng không được nói với mọi
người về sự việc gặp gỡ ở đây.
Bấy
giờ các Bí-sô sinh tâm hối hận, ta đối trước người thế
tục, nói lên chỗ phạm tội. Họ đem sự việc bạch Phật.
Phật dạy:
- Này
các Bí-sô! Các loại giặc là chủ nhân chỗ nguy hiểm. Các
thầy đối thuyết sám hối tội (trước họ) đây là thiện
thuyết.
Duyên
xứ như trước. Có những Bí-sô du hành trong nhân gian, bị
giặc bắt. Giặc ra lệnh:
- Các
người nên làm sạch các Bí-sô!
Các
Bí-sô biết giặc muốn hại mình, nói với bọn giặc rằng:
- Vì
ý gì các vị muốn sát hại chúng tôi.
Bọn
giặc nói rõ như trước.
Bí-sô
trả lời:
- Quí
vị hãy thả chúng tôi ra, chúng tôi hứa chắc chắn không
báo gì về quí vị cả.
Bấy
giờ bọn giặc bảo các Bí-sô:
- Chúng
ta cần phải cam kết sau đó tôi mới thả ra. Vào ngày mười
lăm, đại chúng các ông tập hợp và có sự tuyên thuyết.
Các ông hãy vì chúng tôi thuyết minh đầy đủ lại pháp ấy,
tôi sẽ thả quí vị ra.
Khi
ấy trong chúng có một Bí-sô tụng giới thông thuộc, liền
vì họ thuyết minh Ba la đề mộc xoa.
Sau
khi các Bí-sô thuyết giới, chúa bọn giặc bảo rằng:
- Tôn
giả nên đi đi! Ở đâu về nơi ấy nhưng cẩn thận chớ
nói gì về chúng tôi.
Bấy
giờ các Bí-sô được thả ra, sau đó sinh tâm nghi ngờ chúng
ta thuyết minh kinh biệt giải thoát với bọn giặc. Họ đem
việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Giặc
là chủ nhân trong rừng vắng. Các thầy thuyết giới với
họ là thiện thuyết.
Duyên
xứ như trước.
Bấy
giờ các Bí-sô ở nước Bạt Ta du hành trong nhân gian, bị
giặc bắt. Chúng ra lệnh cho nhau:
- Các
ngươi nên làm sạch các Bí-sô này.
Bấy
giờ trong bọn cướp có một tên trước đây từng sống gần
chùa các Bí-sô, bảo đồng bọn rằng:
- Hơi
sức đâu mà giết họ, nên lấy gốc cỏ tranh sống cột chặt
họ lại, để cho họ đói khát mà chết.
Bọn
giặc liền dùng gốc cỏ tranh sống, cột các Bí-sô lại rồi
cả bọn bỏ đi.
Khi
ấy vua nước Bạt Ta là Ô Ðà Diên đi săn bắn ngang qua chỗ
các Bí-sô bị cột. Vua hỏi tùy tùng:
- Ðấy
là nai, gấu phải không?
Họ
thúc ngựa chạy đến để xem xét thì ra là người.
Họ
hỏi:
- Quí
vị là ai?
Ðáp:
- Chúng
tôi là người xuất gia.
Hỏi:
- Thuộc
giáo phái nào?
Ðáp:
- Là
Thích Ca Tử.
Hỏi:
- Tại
sao ở đây?
Ðáp:
- Bị
giặc trói.
Hỏi:
- Trói
bằng gì?
Ðáp:
- Bằng
cỏ sống.
Vua
hỏi:
- Tại
sao không bứt ra?
Ðáp:
- Thế
Tôn vì chúng tôi chế học xứ; Bí-sô nào làm hư hại cây
cỏ sống, phạm Ba dật để ca.
Nhà
vua nghe vậy, liền xuống xe, tự tay giải phóng và dâng ba
y cho các Bí-sô rồi ra đi.
Bấy
giờ các Bí-sô sinh niệm nghi ngờ:
- Ta
nói với vua về tội tướng!
Họ
đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Này
các Bí-sô! Nếu thuyết minh tội tướng cho vị vua quán đảnh
dòng Sát đế lợi như vậy, đó là thiện thuyết.
Các
Bí-sô bạch Phật:
- Ðối
thủ phát lồ với người phạm tội có được không?
Phật
dạy:
- Không
nên cùng người phạm tội, đối thủ phát lồ tội của mình.
Nếu gặp nạn duyên đối pháp không phạm. Nhưng với người
cùng phạm một tội với mình, không được đối thuyết sám
hối với họ.
Duyên
xứ như trước. Có một Bí-sô, tâm có tàm quí, kiên trì giới
cấm, ưa thích các học xứ. Vào lúc nọ, lần đầu tiên phạm
tội chúng giáo thứ nhất. Vị này sinh tâm áo não hối hận
xấu hổ, hình sắc suy nhược vàng vọt, dần dần thành bệnh.
Các
Bí-sô khác đến thăm viếng an ủi:
- Ðại
đức! Tại sao nhan sắc suy nhược vàng vọt như thế này,
có bệnh gì vậy?
Vị
này im lặng không đáp. Sau đó có Bí-sô thân thiết đến
hỏi, vị ấy trình bày lại tất cả. Vị kia nói:
- Cụ
thọ! Nếu thật như vậy, nay tôi vì cụ thọ bạch với các
Bí-sô.
Vị
ấy nói:
- Nếu
thầy đưa tin này ra, tôi sẽ tự sát. Nếu đến nước khác,
tôi mới phát lồ tội ấy ra.
Bấy
giờ hai người cùng nhau ra đi đến nơi khác. Ði được nửa
đường, vị ấy qua đời.
Bí-sô
bạn tự nghĩ: "Bạn ta muốn làm việc phát lồ sám tội nhưng
đã qua đời, nay ta không nên ở đây". Nghĩ thế rồi, Bí-sô
này trở về chùa cũ. Các Bí-sô thấy vị này trở về, cùng
ra chào đón:
- Thiện
lai Ðại đức! Ngài du hành có an lạc không? Người bạn cùng
đi với ngài ngày trước nay ở đâu?
Bí-sô
này buồn khóc trả lời:
- Vị
ấy đã chết! Tuy biết các pháp đều vô thường nhưng Bí-sô
kia chết khi đang mắc tội, tất bị đọa Nại lặc ca (địa
ngục) đến bao giờ mới ra khỏi. Do đó, nghĩ đến việc
này tôi thương cảm vô cùng.
Các
Bí-sô đem sự việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Vị
Thích tử kia đã vươt ra khỏi tội. Này các Bí-sô! Các tội
đều do tâm tạo, nên từ tội phải vươn lên (để thoát
ra) ch? không phải do sự trị phạt. Thế nên, tôi cho phép:
- Nếu
có những người bẩm tánh quá xấu hổ như vậy, nên đối
thủ trước một người khác để phát lồ tội của mình.
Chúng
Bí-sô có người hiểu kinh, có người hiểu luật, có người
hiểu luận nhưng phạm tội chúng giáo. Có người đến trước
đại chúng phát lồ tội của mình. Người khác thấy vậy
nói:
- Này
các Ðại đức! Ðây là bậc thềm vi diệu. Người kia vi phạm
nên đến tận nơi để sám hối. Còn các chúng Bí-sô khác
nếu vi phạm thì phải làm thế nào?
Các
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Phải
đến
trú xứ khác để thuyết sám tội của mình.
Các
Bí-sô này lại bị qua đời như trước. Phật dạy:
- Nên
đối trước một người để phát lồ. Nếu có người phúc
đức lớn, hoặc thượng tọa thủ chúng cũng nên đối trước
một vị ấy để sám hối.
Tụng
thứ ba.
Hợp
miễn giã ưng phóng
Xuyên
lương khiển chúng hành
Nhất
nhật trí tứ tuần
Bì
nhục giai bất tịnh.
Phật
ở thành Thất La Phạt. Một hôm đến lượt cụ thọ A Nan
Ðà trực nhật. Vua Thắng Quang nước Kiều Tát La đến trú
xứ gặp A Nan Ðà, lễ hai chân, ngồi qua một bên. Tôn giả
A Nan Ðà giảng thuyết tóm lược về thánh giáo cho vua nghe.
Vua
bạch:
- Ðại
đức! Con không bận rộn gì cả. Xin vì con giảng rộng.
A Nan
Ðà lại nói lược.
Nhà
vua lại bạch:
-Thánh
giả! Con rãnh rỗi xin ngài nói rộng!
Nhà
vua thưa như vậy ba lần.
Tôn
giả A Nan Ðà nói:
- Ðại
vương! Ngài tuy rỗi rảnh nhưng tôi bậc việc riêng.
Nhà
vua hỏi:
- Ðại
đức! Ngài phải làm việc gì.
Ðáp:
- Ðại
vương! Tôi trực nhật ở chùa, cần phải kiểm tra xem xét
trong ngoài.
Nhà
vua tự nghĩ:
- Ðây
là việc của ta.
Sau
đó, nhà vua làm lễ tôn giả, từ giã ra đi, đến gặp Phật.
Sau khi làm lễ; vua bạch Thế Tôn:
- Con
làm vua Sát đế lợi đã quán đảnh, cần sai con làm gì, con
sẽ làm ngay. Nếu cần thì hoàng hậu làm, hoặc thái tử,
đại thần, quân đội phải hợp tác làm; họ đều phải
y theo chức vụ của mình để phục vụ (tam bảo). Thế Tôn
là bậc Pháp Vương Vô Thượng, ngưỡng mong Thế Tôn cho phép
những người đáng được bãi miễn thì cho họ được bãi
miễn việc này, xin từ mẫn.
Thế
Tôn im lặng đồng ý, vua Thắng Quang từ giã ra về.
Thế
Tôn bảo các Bí-sô:
- Các
thầy nên biết, nay Ta đồng ý những người đáng được
miễn thì không sai họ làm tri sự cho tăng.
Các
Bí-sô không biết ai được miễn công việc. Phật dạy:
- Những
người giải Kinh, giải Luật, giải Luận được bãi miễn
(việc tri sự của tăng).
Lục
chúng Bí-sô vừa tụng đuợc hai ba phẩm Kinh, tự tuyên bố:
- Tôi
là người trì kinh, vậy cũng được miễn làm tri sự của
tăng.
Bí-sô
đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Thọ
trì tất cả Kinh mới được miễn làm tri sự.
Lại
có người chỉ thọ trì một hai Ba la thị ca, tự tuyên bố:
- Tôi
là người trì Luật, vậy cũng được miễn làm tri sự.
Thế
Tôn dạy:
- Phải
thọ trì tất cả Luật bộ mới được miễn làm tri sự.
Lại
có người chỉ đọc tụng một hai bộ Luận nhỏ, tự tuyên
bố:
- Tôi
là người trì Luận cũng nên được miễn làm tri sự.
Thế
Tôn dạy:
- Thọ
trì tất cả luận bộ mới được bãi miễn việc của chúng
tăng sai khiến.
Duyên
xứ như trước. Nước Kiều Tát La thuộc vua Thắng Quang trị
vì, ở một phía biên giới có giặc nổi lên. Vua sai một
vị tướng cầm quân đi dẹp giặc. Nhưng họ bị giặc đánh
bại, phải kéo quân trở về. Thua trận chạy về như vậy
đến ba lần.
Bấy
giờ vị đại thần chấp chánh tâu với vua:
- Ðồ
đảng của giặc mạnh mẽ còn binh tướng của ta yếu kém,
trừ trường hợp đại vương thân chinh dẹp giặc thì còn
cách nào để hàng phục giặc được.
Bấy
giờ vua Thắng Quang đánh trống truyền lệnh thông báo cho
khắp mọi người, ngay trong đất nước, người nào biết
cầm dao thì phải nhập ngũ. Vua thân chinh thống lĩnh bốn
bộ binh để dẹp giặc nhưng chúng vẫn không thuần phục,
cố thủ chống lại. Thành lũy họ hiểm trở rất khó hàng
phục. Bấy giờ đại thần tâu với vua rằng:
- Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc có phước đức lớn, được thiên thần
ủng hộ. Nếu người ấy đến đây thì giặc có thể qui
hàng.
Vua
sai sứ giả đến bảo với trưởng giả:
- Trẫm
có chút việc cần gặp trưởng giả.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc vâng lệnh đến tận doanh trại của vua.
Nhưng giặc vẫn chưa chịu hàng phục, kéo dài thời gian ra.
Nhà
vua hỏi trưởng giả:
- Khanh
có nhớ nhà không?
Trưởng
giả đáp:
- Hạ
thần thật không có tâm lệ thuộc gia đình, chỉ có tâm niệm
riêng muốn gặp chúng tăng.
Vua
Thắng Quang ra lệnh quan trấn thủ:
- Ðến
nơi thánh chúng, không được ra lệnh mà nên mời và dùng
phương tiện đưa vị ấy đến, ta muốn gặp quí vị ấy.
Ðại
thần trấn thủ nghe vua ra lệnh, tự nghĩ: "Nay ta phải làm
thế nào, tuy không ra lệnh nhưng các Thánh giả đến gặp
nhà vua". Có vị lão thần bàn kế:
- Tôi
có phương kế làm cho các vị thánh chúng tự đến chỗ vua
đồn binh mà chúng ta không phải ra lệnh cho họ. Cách đây
không xa có khu vườn của nhà vua nay đã hoang phế. Ta giả
cách nói rằng sửa sang lại mương nước đi xuyên qua chùa,
do phương tiện này họ phải tự đến.
Ðại
thần trấn thủ đưa tùy tùng đến rừng Thệ đa. Họ đo
đạt trong chùa để đào mương dẫn nước.
Các
Bí-sô hỏi:
- Hiền
thủ! Các ông làm gì vậy?
Ðáp:
- Thánh
giả! Thiên tử ra lệnh cho chúng tôi sửa sang lại vườn cây
trước đây của ngài, đem dòng nước từ rừng Thệ Ða thông
sang bên ấy.
Bí-sô
bảo:
- Chẳng
lẽ các vị phá hoại tháp thờ tóc và móng tay của Phật
hay sao?
Ðáp:
- Ðây
là lệnh vua, chúng tôi biết làm thế nào đây?! Chúng tôi
đâu có hai cái đầu thì ai có thể chống lại lệnh vua.
Ðại
chúng bảo rằng:
- Mong
quí vị tạm thời đình chỉ.
Ðáp:
- Vậy
chúng ta hãy đến gặp vua để cùng bàn bạc.
Bí-sô
hỏi:
- Quí
ngài đến chỗ vua và trở về ngay trong ngày được không?
Ðáp:
- Không
được! Cho đến bảy ngày cũng không thể trở lại được.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Các
Bí-sô nếu có duyên sự của đại chúng, nay Ta cho phép vị
ấy được thủ trì trong bốn chục ngày đêm để đi.
Các
Bí-sô không biết thủ trì như thế nào.
Thế
Tôn bảo rằng:
- Trước
trên phải trải tòa, sau đó đánh kiền chùy, đem sự việc
muốn làm bạch cho đại chúng biết trước. Ðại chúng đã
vân tập, có thể khuyến khích Bí-sô có lòng vui vẻ:
- Thầy
có thể vì chúng tăng thủ trì 40 ngày đêm đi ra khỏi cương
giới không? Vị này nếu đồng ý thì trả lời:
- Tôi
làm được. Thứ đến một Bí-sô tác bạch, sau đó yết ma
thủ trì rồi đi.
Bấy
giờ cụ thọ Ô Ba Ly bạch Thế Tôn:
- Có
thể được pháp thủ trì một ngày đêm đi ra khỏi cương
giới không?
Phật
dạy:
- Ðược.
Hỏi:
- Ðược
phép thủ trì hai, ba, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi
ngày đêm đi ra khỏi cương giới không?
Phật
dạy:
- Ðược
phép.
Lại
thưa:
- Ðược
phép thủ trì hơn 40 ngày đêm đi ra khỏi cương giới không?
Phật
dạy:
- Không
được! Cần phải có hơn một nửa thời gian ở trong cương
giới (tức trường hợp an cư 90 ngày được xuất giới 40
ngày trở lại -- Người dịch)
Như
Thế Tôn dạy: - Ðược phép thủ trì một ngày đêm, vậy
đối trước ai xin phép?
Phật
dạy:
- Ðối
thủ trước một người xin phép, cho đến khi trong bảy ngày
cũng đối thủ với một người xin phép. Nếu vượt qua thời
gian này phải đối trước tăng già xin phép.
Như
Thế Tôn dạy: - Da không phải tịnh vậy thịt có tịnh không?
Phật
dạy:
- Da
không phải tịnh, thịt không phải tịnh, cho đến gân cốt
đều không phải tịnh.
Tụng
thứ tư.
Ảnh
thắng vương sàng thí
Vương
mẫu vật nhập tăng
Ô
tư hạc thứu điêu
Bí-sô
bất ưng thực.
Tại
nước Ma Yết Ðà, thành Vương Xá, vua Vị Sanh Oán con vua Bình
Ðề Yết, do cực ác tri thức là Ðề Bà Ðạt Ða phá hoại,
giết oan phụ hoàng là Thánh Vương Ảnh Thắng trị nước
như pháp.
Bấy
giờ vua Vị Sanh Oán sanh lòng hối hận thấy giường ngồi
của vua cha, rơi lệ đầm đìa.
Ðại
thần bảo rằng:
- Ngày
trước tiên vương rất tín ngưỡng thánh chúng. Nên đem giường
tòa này cúng cho tăng già. Vua liền sai sứ giả mang giường
của vua cha cúng cho trú xứ tăng già.
Các
Bí-sô nhận giường này bố trí ngay dưới cửa nhà. Một
hôm, vua đến trú xứ này, thấy giường của vua cha để dưới
cửa nhà, càng thêm buồn khóc.
Bấy
giờ đại thần bạch rằng:
- Thánh
giả! Bản ý của nhà vua không muốn thấy giường của phụ
hoàng. Do đó nên đem cúng đến đây. Tại sao quí ngài để
dưới cửa làm cho vua thấy càng thêm bi thương.
Các
Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Không
nên đem ngọa cụ của vua đặt ngay dưới cửa.
Các
Bí-sô lại đem giường đặt giữa hành lang, sự việc lại
xảy ra như trước.
Phật
dạy:
- Không
nên để giường dưới hành lang.
Bí-sô
đem giường này vào phòng. Những người không có lòng tin
sinh lòng chê bai:
- Các
Bí-sô đã bán giường của tiên vương để ăn uống.
Thế
Tôn dạy:
- Vào
ngày mồng tám hay ngày mười lăm hàng tháng nên đặt giường
của vua dưới hành lang có mái che.
Những
người không có tín tâm lại nói:
- Ðấy
không phải là giường của vua. Giường của vua các Bí-sô
đã bán để cùng nhau ăn uống.
Các
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Ngay
trên giường ghi rõ: Ðây là giường của vua Tần Tỳ Sa La
cúng thí. Giường này đã giải quyết như vậy.
Vua
Thắng Quang vì mẹ cúng vật (cho Tăng) cũng thuyết minh rõ
như vậy.
Duyên
xứ như trước. Một đêm nọ trời nổi mưa đá lớn làm
cầm thú bị thương rất nhiều. Lúc ấy mọi người chạy
đi trong đêm, họ mang những cầm thú ăn được về nhà.
Lục
chúng Bí-sô tính ưa ăn thích ngủ. Sáng thức dậy họ xem
xét bốn phía, nếu nhà ai có khói bốc lên, hoặc nơi đồng
trống thấy chim bay từng bầy vần vũ liền tìm đến nơi
ấy để liếm thức ăn.
Bấy
giờ thấy kên kên từ trên không bay xuống, nhân đó họ bảo
nhau cùng đến chỗ ấy để nhặt lấy những quạ, cuốc,
cò cú, hạt, kên kên đã chết, xỏ xâu khiêng về.
Bà
la môn cư sĩ thấy vậy hỏi rằng:
- A
dá lợi da dùng vật này làm gì?
Ðáp:
- Tôi
đem về để ăn.
Hỏi:
- Tại
sao ăn những vật không nên ăn.
Ðáp:
- Những
vật ăn được thì tìm không có, tại sao không ăn vật có
sẵn này.
Bí-sô
bị chê bai, đem việc này bạch Phật. Phật dạy:
- Bí-sô
không nên ăn các loài chim con cuốc, cò, trắng, hạt, kên kên
người nào ăn bị tội vượt pháp.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
MỤC
ÐẮC CA
Hết
quyển 6.