BÍ-SÔ
GIỚI KINH
(No.
1454)
Một
quyển
-ooOoo-
Thành
kính đảnh lễ đức Thế tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri.
Bài
tựa giới kinh:
Kinh
Biệt giải thoát khó được nghe
Trải
qua vô lượng, vô số kiếp
Khó
được đọc tụng và thọ trì
Hiểu
được, thực hành thật khó thay!
Vui
thay! Có chư Phật ra đời
Vui
thay! Pháp vi diệu được giảng
Vui
thay! Tăng già cùng hiểu biết
Vui
thay! Hòa hợp và tiến tu
Vui
thay! Ðược gặp bậc Thánh nhân
Vui
thay! Ðược thân cận bậc ấy
Nếu
không gặp những kẻ ngu si
Ðó
thật chính là vui mãi mãi
Vui
thay! Ðược thấy người trì giới
Vui
thay! Ðược gặp bậc đa văn
Gặp
bậc La-hán là vui thật
Vì
không còn tạo nghiệp luân hồi
Vui
thay! Ðược bước sang bờ kia
Vui
thay! Chiến thắng bằng chánh pháp
Chứng
đắc chánh tuệ, sinh quả Thánh
Trừ
hết ngã mạn là vui nhất
Ai
có năng lực ý quyết định
Hàng
phục tham dục, đủ đa văn
Từ
trẻ đến già sống trong rừng
Ưa
thích tịch tịnh nơi lan-nhã
Chư
Ðại đức! Mùa Xuân sắp tàn, đã qua... ngày. Hiện nay, với
thời gian còn lại... ngày. Già chết lại xâm lấn, mạng sống
lại giảm dần. Giáo pháp của đấng Ðạo sư không bao lâu
nữa sẽ không còn.
Chư
Ðại đức! Phải tinh tấn tỉnh giác, chớ phóng dật. Nhờ
không phóng dật, chắc chắn chứng được quả vị Như Lai,
Ứng cúng, Chánh đẳng giác, huống chi các giác phẩm thiện
pháp khác.
Ðại
đức Tăng già! Những việc gì phải làm trước? - Chúng Thanh
văn của đức Phật thì ít cầu, ít sự. Người chưa thọ
cận viên thì đi ra ngoài. Có các Bí-sô nào thuyết dục và
thanh tịnh không? (Người mang dục ra trước đây trình bày).
Có vị nào sai Bí-sô-ni đến thỉnh giáo thọ không?
Cung
kính chắp hai tay
Lạy
Thích Ca sư tử
Biệt
giải thoát điều phục
Tôi
nói, ngài khéo nghe
Nghe
xong, phải làm đúng
Như
Ðại tiên đã dạy
Ðối
với các tội nhỏ
Cũng
dõng mãnh hộ trì
Tâm
ngựa khó chế ngự
Luôn
quản thúc chặt chẽ
Giới
luật như dàm sắt
Có
trăm vuốt bén nhọn
Người
làm trái giới luật
Nghe
dạy liền chấm dứt
Ðại
sĩ như ngựa giỏi
Sẽ
thoát trận phiền não
Người
nào không dàm này
Không
thể được an vui
Bị
trận phiền não vây
Mê
chuyển trong sinh tử.
Ðại
đức Tăng già lắng nghe! Hôm nay ngày mười bốn, thuộc hắc
nguyệt (hay ngày mười lăm thuộc bạch nguyệt) Tăng già cử
hành lễ Bao-sái-đà. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng đồng ý Tăng già cử hành Bao-sái-đà, thuyết giới kinh
Ba-la-đề-mộc-xoa. Ðây là lời tác bạch.
Chư
Ðại đức! Tôi xin cử hành pháp Bao-sái-đà, thuyết minh giới
kinh Ba-la-đề-mộc-xoa. Quý vị hãy lắng nghe, suy nghĩ, ghi
nhớ kỹ, nếu có phạm phải phát lộ, không phạm thì im lặng.
Vì im lặng nên biết các Ðại đức thanh tịnh. Nếu khi khác
được hỏi đến, quý vị phải trả lời đúng sự thật.
Trước chúng Bí-sô thù thắng này, tôi xin hỏi ba lần, phải
đáp đúng sự thật. Bí-sô nào tự biết có phạm mà không
phát lộ thì mắc tội dối trá.
Chư
Ðại đức! Ðức Phật dạy: cố ý dối trá là pháp chướng
ngại đạo. Vậy nên Bí-sô nào mong cầu sự thanh tịnh, cần
phải phát lộ. Phát lộ thì an lạc. Không phát lộ thì không
an lạc.
Chư
Ðại đức! Tôi đã thuyết phần tựa của giới kinh. Xin hỏi
các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?" (Hỏi ba lần).
"Chư
Ðại đức! Trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi ghi nhận
như vậy".
I.-
Bốn pháp Ba-la-thị-ca (Pàràjika)
Chư
Ðại đức! Ðây là bốn pháp Ba-la-thị-ca, mỗi nửa tháng
được nói ra từ giới kinh.
Tụng
tóm lược:
Ai
làm hạnh bất tịnh
Trộm
cướp và giết người
Dối
chứng pháp thượng nhân
Ðều
phạm bất cộng trú.
1-
Giới thứ nhất: Bất tịnh hạnh
Bí-sô
nào cùng thọ đắc học xứ như các Bí-sô khác, không xả
học xứ, học xứ bị yếu kém, không tự nói ra, làm hạnh
bất tịnh, giao hợp với người khác, kể cả loài bàng sinh,
Bí-sô này phạm Ba-la-thị-ca, không được sống chung.
2-
Giới thứ hai: Trộm cắp
Bí-sô
nào tại xóm làng hay chỗ vắng, với tâm trộm cắp cố ý
lấy vật người khác không cho. Khi trộm cắp như vậy, bị
vua hay quan lớn bắt giữ, hoặc giết, trói, đuổi đi, trách
mắng: "Này người kia, ngươi là kẻ giặc ngu si không biết
gì nên trộm cắp như vậy". Bí-sô trộm cắp như vậy phạm
Ba-la-thị-ca, không được sống chung.
3.-
Giới thứ ba: Giết người
Bí-sô
nào đối với người hay thai nhi, cố ý tự tay giết chết,
hoặc cầm dao đưa cho họ, hoặc nhờ người khác cầm dao
giết, hoặc khuyến khích họ chết, tán thán học hết, nói
rằng: "Này người kia, với tội lỗi này còn hy vọng gì nữa,
bị chìm trong bất tịnh, ác xấu, vậy sống làm gì?! Ngươi
nên chết đi! Chết hay hơn là sống". Tùy theo tâm niệm của
mình, dùng những lời khác nhau nói, khuyến khích họ chết.
Người kia chết vì những lý do ấy, Bí-sô này phạm Ba-la-thị-ca,
không được sống chung.
4.-
Giới thứ tư: Ðại vọng ngữ
Bí-sô
nào thật không biết không hiểu, hoàn toàn tự biết rõ mình
không chứng pháp thượng nhân là tri kiến an lạc thù thắng
mà bậc Thánh giả tịch tịnh chứng ngộ, lại tự tuyên bố:
"Ta thấy, ta biết". Vị ấy vào một lúc khác, hoặc bị hỏi,
hoặc không bị hỏi, muốn tự thanh tịnh, tự nói lên: "Này
các cụ thọ, tôi thật không thấy, không biết, lại tự nói
có thấy, có biết". Nói lời dối trá vọng ngữ, trừ tăng
thượng mạn, Bí-sô này phạm Ba-la-thị-ca, không được sống
chung.
Phần
kết:
Các
Ðại đức! Tôi đã thuyết minh bốn pháp tha thắng, Bí-sô
nào phạm vào một tội nào trong bốn pháp thì không được
sống chung với các Bí-sô khác. Cũng như trước kia, sau khi
phạm tội tha thắng cũng vậy, không được sống chung.
Nay
tôi xin hỏi các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?" (Hỏi ba lần)
"Các
Ðại đức! Trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi xin ghi
nhận như vậy".
II.-
13 pháp Tăng-già-phạt-thi-sa (Sanghadisesa)
Chư
Ðại đức! Ðây là 13 pháp Tăng-già-phạt-thi-sa, mỗi nửa
tháng được nói ra từ giới kinh.
Tụng
tóm lược:
Tiết
xúc bỉ cúng môi
Tiểu
phòng đại tự báng
Phi
phần phá Tăng sự
Tùy
tùng ô mạn ngữ.
1.
Giới thứ nhất:
Bí-sô
nào cố ý thủ dâm, trừ mộng tinh, Tăng-già-phạt-thi-sa.
2.
Giới thứ hai:
Bí-sô
nào với tâm ô nhiễm, xúc chạm thân người nữ, hoặc vịn
tay, nắm tay, vuốt tóc, xúc chạm một phần nào trên thân
với tâm thíchh thú, Tăng-già-phạt-thi-sa.
3.
Giới thứ ba:
Bí-sô
nào với tâm ô nhiễm nói với người nữ bằng những lời
thô tục, không lễ pháp, lời tương ứng với dâm dục, như
vợ chồng nói với nhau, Tăng-già-phạt-thi-sa.
4.
Giới thứ tư:
Bí-sô
nào với tâm ý ô nhiễm, trước người nữ tự khen mình:
"Này cô, Bí-sô nào giống như tôi đầy đủ giới luật, có
thiện pháp thù thắng, là người tu phạm hạnh, cô nên đem
pháp dâm dục đến cung dưỡng cho vị ấy". Bí-sô nào nói
như vậy, Tăng-già-phạt-thi-sa.
5.
Giới thứ năm:
Bí-sô
nào làm mai mối, lấy ý người nam đến nói với người nữ,
lấy ý người nữ đến nói cho người nam. Nếu họ thành
vợ chồng hay tư thông được với nhau, dù chỉ trong thời
gian ngắn, Tăng-già-phạt-thi-sa.
6.
Giới thứ sáu:
Bí-sô
nào tự xin vật liệu làm phòng nhỏ cho mình, không có thí
chủ cúng, phải làm đúng kích thước quy định. Kích thước
quy định là: chiều dài mười hai gang, rộng bảy gang tay Phật.
Bí-sô này phải mời chúng Bí-sô đến xem chỗ làm. Chúng
Bí-sô đến nơi, nên xem xét chỗ xây cất phòng xá phải là
tịnh xứ đúng pháp, không phải là nơi xảy ra tranh đấu,
là nơi dễ tiến tu.
Bí-sô
nào làm phòng ở nơi không đúng pháp, nơi bất tịnh, nơi
tranh cãi, nơi không tiến tu được, tự ý làm phòng cho mình,
không có thí chủ cúng, lại không mời chúng Bí-sô đến xem
xét chỗ định làm phòng, ngay tại chỗ ấy, làm phòng vượt
quá kích thước quy định, Tăng-già-phạt-thi-sa.
7.
Giới thứ bảy:
Bí-sô
nào làm chùa lớn, có thí chủ cúng, làm cho Tăng, Bí-sô này
phải mời chúng Bí-sô đến nơi định làm để xem xét. Chúng
Bí-sô phải xem xét chỗ định xây cất phải là nơi tịnh
xứ đúng pháp, nơi không tranh cãi, nơi tiến tu được. Bí-sô
nào ngay tại nơi không đúng pháp, nơi bất tịnh, nơi tranh
cãi, nơi không thể tiến tu lại làm chùa lớn có thí chủ
cúng, làm cho chúng Tăng, không mời chúng Tăng đến xem xét
nơi định xây cất, ngay tại nơi ấy xây chùa lớn, Tăng-già-phạt-thi-sa.
8.
Giới thứ tám:
Bí-sô
nào vì lòng sân hận, cố ý đối với Bí-sô thanh tịnh vu
báng vị ấy phạm pháp Ba-la-thị-ca không căn cứ, vì mục
đích phá phạm hạnh của vị ấy. Bí-sô ấy vào lúc khác,
dù được hỏi hay không được hỏi, biết rõ đây là sự
vu báng Bí-sô kia không căn cứ, do lòng sân hận nên nói ra
lời ấy, Tăng-già-phạt-thi-sa.
9.
Giới thứ chín:
Bí-sô
nào vì lòng sân hận, cố ý đối với Bí-sô thanh tịnh dùng
một phần khác không phải pháp Ba-la-thị-ca để vu báng vì
muốn phá hoại thanh tịnh của vị ấy. Vào lúc khác, vị
ấy được hỏi hay không được hỏi, biết rõ đây là pháp
thuộc phần sự khác, dùng chút ít pháp tương tự để vu
báng, Bí-sô kia vì sân hận nói ra lời ấy, Tăng-già-phạt-thi-sa.
10.
Giới thứ mười:
Bí-sô
nào tạo điều kiện để phá hòa hợp Tăng, đối với việc
phá Tăng này, vị ấy cương quyết không bỏ, các Bí-sô phải
nói với Bí-sô ấy:
"Này
cụ thọ, đừng nên phá Tăng hòa hợp với cương quyết như
vậy nữa. Này cụ thọ, nên hòa hợp sống chung với chúng
Tăng, hoan hỷ không tranh cãi, một lòng một lời như nước
hòa với sữa, làm cho giáo pháp bậc Ðại sư được sáng
chói, an lạc, trụ thế lâu dài. Này cụ thọ, thầy nên từ
bỏ việc phá Tăng đi".
Khi
các Bí-sô can gián như vậy, vị ấy từ bỏ thì tốt, nếu
không từ bỏ thì phải ba lần ân cần can gián nghiêm chỉnh,
làm đúng theo giáo pháp để sửa trị vị ấy từ bỏ hành
động phá Tăng. Vị ấy từ bỏ thì tốt, nếu không từ bỏ,
Tăng-già-phạt-thi-sa.
11.
Giới thứ mười một:
Bí-sô
nào cùng một, hai, hay nhiều người kết bè đảng với nhau,
làm việc tà, nghịch việc chánh, tùy thuận với nhau, Bí-sô
này nói với chúng Bí-sô:
"Ðại
đức, đừng cùng nhau nói chuyện với Bí-sô kia, dù tốt hay
xấu. Tại sao? - Vì Bí-sô kia tùy thuận pháp luật, y pháp
luật, nói lời không hư vọng. Vị ấy ưa thích việc gì,
tôi cũng ưa thích việc ấy".
Các
Bí-sô nên nói với vị ấy rằng:
"Cụ
thọ, đừng nói: Bí-sô kia tùy thuận pháp luật, y pháp luật,
lời nói không hư vọng, vị ấy ưa thích gì tôi cũng ưa thích
việc ấy. Tại sao? - Vì Bí-sô kia không tùy thuận pháp luật,
không y cứ pháp luật, lời nói đều hư vọng, thầy đừng
nên ưa thích việc phá Tăng, phải ưa thích hòa hợp Tăng,
phải cùng Tăng hòa hợp, hoan hỷ không tranh cãi, một lòng
một lời như nước hòa với sữa, làm cho giáo pháp của bậc
Ðại sư được sáng chói, an lạc lâu dài ở thế gian. Này
cụ thọ, hãy nên từ bỏ ác kiến phá Tăng, thuận tà nghịch
chánh, sách động việc tranh chấp, cố chấp không bỏ".
Khi
các Bí-sô can gián như vậy, vị ấy từ bỏ thì tốt, nếu
không từ bỏ thì phải ba lần can gián nghiêm chỉnh, làm đúng
theo giáo pháp để sửa trị vị ấy từ bỏ hành động phá
Tăng. Vị ấy từ bỏ thì tốt, nếu không từ bỏ, Tăng-già-phạt-thi-sa.
12.
Giới thứ mười hai:
Nhiều
Bí-sô ở tại xóm làng, thành phố, gây tiếng xấu ở nhà
người, hành động xấu. Gây tiếng xấu ở nhà người, mọi
người đều thấy, nghe, hay biết. Hành động xấu mọi người
đều thấy, nghe, hay biết. Các Bí-sô phải bảo với các Bí-sô
kia rằng:
"Này
cụ thọ, các thầy gây tiếng xấu ở nhà người và hành
động xấu. Gây tiếng xấu ở nhà người, mọi người đều
thấy, nghe, hay biết. Hành động xấu, mọi người đều thấy,
nghe, hay biết. Các thầy nên đi nơi khác, không nên ở đây
nữa".
Bí-sô
kia nói với chúng Bí-sô:
"Ðại
đức có thiên vị, giận hờn, sợ hãi, bất minh. Ðồng phạm
tội như vậy, có Bí-sô bị đuổi, có Bí-sô không bị đuổi".
Khi
ấy, các Bí-sô nên nói với Bí-sô kia:
"Cụ
thọ, đừng nói các Ðại đức có thiên vị, giận hờn, sợ
hãi, bất minh. Phạm tội như vậy mà có Bí-sô bị đuổi,
Bí-sô không bị đuổi. Tại sao? - Các Bí-sô không có ý thiên
vị, giận hờn, sợ hãi, bất minh. Các thầy gây tiếng xấu
ở nhà người và hành động xấu. Gây tiếng xấu ở nhà
người, mọi người đều thấy, nghe, hay biết. Hành động
xấu mọi người đều thấy, nghe, hay biết. Này cụ thọ,
các thầy nên từ bỏ lời nói cho rằng thiên vị, giận hờn,
sợ hãi, bất minh".
Khi
các Bí-sô can gián như vậy, nếu Bí-sô kia từ bỏ thì tốt,
nếu không từ bỏ thì chúng Bí-sô phải ba lần ân cần can
gián nghiêm chỉnh, làm đúng theo giáo pháp, sửa trị vị ấy
từ bỏ việc này. Vị ấy từ bỏ thì tốt, nếu không từ
bỏ, Tăng-già-phạt-thi-sa.
13.
Giới thứ mười ba:
Bí-sô
nào có tánh xấu không nghe lời khuyên can của vị khác. Như
khi các Bí-sô - những lời Phật dạy trong giới kinh, như pháp
như luật để khuyến hóa vị ấy. Vị ấy không nghe lời
khuyên bảo, nói với chúng Bí-sô:
"Các
Ðại đức đừng nói với tôi nữa, việc ấy tốt hay xấu
tôi vẫn không nghe. Tôi cũng không nói với các Ðại đức
về việc tốt hay xấu. Thôi đi các Ðại đức, đừng khuyên
bảo tôi nữa, đừng luận thuyết với tôi nữa".
Các
Bí-sô nên nói với Bí-sô kia:
"Cụ
thọ, thầy không nên không nghe lời khuyên can. Khi các Bí-sô
đã căn cứ giới kinh như pháp như luật khuyến hóa, thầy
nên nghe lời khuyên can. Cụ thọ! Thầy như pháp để khuyên
can các Bí-sô, các Bí-sô đã theo đúng pháp ấy để khuyên
can thầy. Vậy, chúng Thanh văn của đức Như Lai, Ứng cúng
Chánh đẳng giác sẽ được tăng trưởng vì cùng can gián
sám hối với nhau. Này cụ thọ, thầy nên từ bỏ việc ấy".
Khi
các Bí-sô can gián như vậy, vị ấy từ bỏ thì tốt, nếu
không từ bỏ, các Bí-sô phải ba lần ân cần can gián nghiêm
chỉnh, làm theo đúng giáo pháp để sửa trị, để vị ấy
từ bỏ việc này. Vị ấy từ bỏ thì tốt, nếu không từ
bỏ, Tăng-già-phạt-thi-sa.
Chư
Ðại đức, tôi đã thuyết xong mười ba pháp Tăng-già-phạt-thi-sa.
Chín giới đầu, làm thì phạm. Bốn giới sau phải ba lần
can gián mới phạm. Bí-sô nào phạm một trong mười ba giới
này mà cố ý che dấu, tùy theo số ngày che dấu, chúng Tăng
phải bắt vị ấy hành Ba-lị-bà-sa. Sau khi làm Ba-lị-bà-sa,
chúng Tăng phải cho vị ấy thêm sáu đêm ma-na-đỏa. Sau khi
hành ma-na-đỏa, vị ấy còn phải xuất tội.
Xuất
tội vị Bí-sô này, cần phải giữa Tăng đủ hai mươi vị.
Nếu Tăng thiếu một vị, không đủ hai mươi thì tội Bí-sô
không được trừ. Các Bí-sô tác pháp bị mắc tội.
Nay
tôi xin hỏi các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?" (Hỏi ba lần).
"Các
Ðại đức, trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi xin ghi
nhận như vậy".
III.-
Hai pháp bất định: (Aniyatta)
Các
Ðại đức, đây là hai pháp bất định, mỗi nửa tháng được
nói ra từ giới kinh.
Kệ
tóm lược:
Nếu
ở tại chỗ khuất
Chỗ
có thể hành dâm
Và
tại nơi trống vắng
Không
có người thứ ba.
1-
Bí-sô nào ngồi một mình cùng với người nữ tại chỗ kín
có thể hành dâm được, có vị chánh tín Ô-ba-tư-ca nói vị
ấy phạm một trong ba pháp: Ba-la-thi-ca, Tăng-già-phạt-thi-sa
hoặc Ba-dật-để-ca. Vị Bí-sô ấy phải tự trình bày về
việc này. Ðối với ba pháp trên, phạm pháp nào, trị phạt
theo pháp ấy, hoặc Ba-la-thi-ca, hoặc Tăng-già-phạt-thi-sa,
hoặc Ba-dật-để-ca, hoặc căn cứ sự trình bày của vị
chánh tín Ô-ba-tư-ca để trị phạt vị Bí-sô ấy. Ðây gọi
là pháp bất định.
2-
Bí-sô nào ngồi một mình cùng người nữ ở chỗ không thể
hành dâm, có vị chánh tín Ô-ba-tư-ca nói vị ấy phạm một
trong hai pháp: Tăng-già-phạt-thi-sa hoặc Ba-dật-để-ca. Vị
Bí-sô ấy phải tự trình bày về việc này. Ðối với hai
pháp trên, phạm pháp nào trị phạt theo pháp ấy, hoặc Tăng-già-phạt-thi-sa,
hoặc Ba-dật-để-ca, hoặc căn cứ sự trình bày của vị
chánh tín Ô-ba-tư-ca để trị phạt vị Bí-sô ấy. Ðây gọi
là pháp bất định.
Các
Ðại đức, tôi đã thuyết xong hai pháp bất định. Nay xin
hỏi các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?" (Hỏi ba lần)
"Các
Ðại đức, trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi xin ghi
nhận như vậy".
IV.-
30 pháp Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca: (Nissaggiya Pàcittita)
Các
Ðại đức, đây là ba mươi pháp Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca,
mỗi nửa tháng được nói ra từ giới kinh.
Tụng
tóm tắt một:
Giữ,
lìa, chứa, giặt y
Lấy
y, xin, nhận nhiều
Ðồng
giá và khác chủ
Sai
người nói giá y.
1.-
Bí-sô nào làm y đã xong, thời gian y Yết-sĩ-na đã hết, nếu
được thêm y, không làm pháp phân biệt, chỉ được chứa
trong phạm vi mười ngày. Nếu chứa cất y dư quá thời hạn
này, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
2.-
Bí-sô nào làm y đã xong, thời gian y Yết-sĩ-na đã hết, nếu
lìa một trong ba y, ra ngủ ngoài cương giới, dù chỉ một
đêm, trừ khi được Tăng Yết-ma cho phép, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
3.-
Bí-sô nào làm y đã xong, thời gian y Yết-sĩ-na đã hết, được
cúng y phi thời theo nhu cầu cần phải nhận, đã nhận phải
may thành y cho xong. Nếu hy vọng có chỗ cúng cho đủ số vải,
nếu không đủ vải thì được chứa trong thời gian một tháng
để chờ đủ số. Nếu quá thời gian này, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
4.-
Bí-sô nào bảo Bí-sô ni không phải thân thuộc giặt y dơ,
Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
5.-
Bí-sô nào xin y từ Bí-sô ni không phải thân quyến, trừ trao
đổi, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
6.-
Bí-sô nào xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến,
trừ trường hợp đặc biệt, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
Trường
hợp đặc biệt là khi Bí-sô bị đoạt y, mất y, cháy y, gió
bay y, nước trôi y.
7.-
Bí-sô nào bị đoạt y, mất y, cháy y, gió bay y, nước trôi
y, nên xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến.
Họ cúng nhiều y, nếu cần Bí-sô chỉ được nhận hai y thượng
và hạ. Nếu nhận quá nhiều y, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
8.-
Bí-sô nào có cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến cùng
góp tiền sắm y, sẽ mua y thanh tịnh với giá trị đã góp
để cúng cho Bí-sô... sẽ sử dụng đúng lúc. Bí-sô này không
được thỉnh trước, lại được người khác mách cho biết
về việc này. Bí-sô này liền đến nhà sắm y nói:
"Lành
thay! Nhân giả vì tôi góp tiền sắm y! Quý vị nên sắm y
thanh tịnh như vậy... và cúng cho tôi đúng lúc".
Bí-sô
này vì muốn y tốt, khi được y, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
9.-
Bí-sô nào, có hai nhà cư sĩ hay vợ cư sĩ không thân quyến,
riêng mỗi nhà góp tiền để sắm y, dự định sẽ mua y thanh
tịnh với giá trị như vậy để cúng cho Bí-sô... Bí-sô này
không được thỉnh trước, lại được người khác mách cho
biết về việc này, liền đến những nhà kia bảo với họ:
"Lành
thay nhân giả! Quý vị cùng có ý định sắm y cho tôi, quý
vị nên góp chung giá trị lại để sắm y thanh tịnh như vậy
và đúng lúc cúng cho tôi".
Bí-sô
ấy vì muốn y tốt, nếu được y, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
10.-
Bí-sô nào, hoặc vua, đại thần, Bà la môn, hoặc cư sĩ.v.v...
sai sứ mang tiền đến cúng Bí-sô ấy để sắm y. Sứ giả
mang tiền đến Bí-sô ấy, bảo rằng:
"Ðại
đức, vật này là của vua..., đại thần..., Bà la môn... ,
cư sĩ... , sai tôi mang đến đây. Xin Ðại đức từ mẫn tiếp
nhận".
Bí-sô
này nói với sứ giả ấy:
"Này
nhân giả, số tiền sắm y này tôi không được nhận. Tôi
chỉ được nhận tịnh y đúng lúc".
Sứ
giả thưa rằng:
"Ðại
đức, ngài có người chấp sự không?"
Bí-sô
cần y nói có. Hoặc là tịnh nhân của Tăng, hoặc là Ô-ba-sách-ca
(nam Phật tử). Ðấy là người chấp sự của Bí-sô. Sứ
giả đến chỗ người chấp sự, đưa tiền và nói rằng:
" Ông
hãy dùng số tiền này đúng lúc sắm y thanh tịnh cho Bí-sô...
và đưa cho vị ấy sử dụng".
Sứ
giả khéo léo dặn bảo người chấp sự xong, trở lại gặp
Bí-sô ấy và thưa rằng:
"Ðại
đức, tôi đã đưa tiền sắm y cho người chấp sự để được
y thanh tịnh".
Vị
Bí-sô được nhận y, khi cần y nên đến chỗ người chấp
sự, hoặc nói hai hay ba lần cho vị ấy nhớ lại, bảo rằng:
"Tôi
cần y"
Ðược
y thì tốt. Nếu không được, thì vị ấy phải bốn, năm,
sáu lần đến chỗ ấy, đứng im lặng. Ðến bốn, năm, sáu
lần để đòi mà được y thì tốt. Nếu không được y, mà
đòi quá số lần quy định này để được y, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
Nếu
cuối cùng không được y, Bí-sô này nên đến chỗ cúng tiền
sắm y, hoặc tự mình, hoặc nhờ người đáng tin cậy đến
bảo với người cúng y:
"Nhân
giả, ngài vì Bí-sô... gửi tiền cúng y đến. Cuối cùng Bí-sô...
không được y. Nhân giả nên biết, đừng để bị mất".
Như
vậy là đúng pháp.
Tụng
tóm tắt hai:
Tơ
tằm, lông dê đen
Phần
sáu, ny-sư-đàn
Mang
lông, giặt, vàng bạc
Ðổi
chác và buôn bán.
11.-
Bí-sô nào dùng tơ tằm mới làm phu cụ, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
12.-
Bí-sô nào dùng lông dê toàn màu đen làm phu cụ mới, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
13.-
Bí-sô nào làm phu cụ mới bằng lông dê, phải dùng hai phần
lông đen, phần thứ ba lông trắng, phần thứ tư lông xám.
Nếu Bí-sô không dùng hai phần lông đen, phần thứ ba lông
trắng, phần thứ tư lông xám để làm phu cụ mới, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
14.-
Bí-sô nào làm phu cụ mới, dù tâm không ưa thích cũng phải
sử dụng đủ sáu năm. Chưa đủ sáu năm, nếu không xả cái
cũ, làm thêm phu cụ nới, trừ trường hợp Tăng cho phép,
Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
15.-
Bí-sô nào làm ny-sư-đản-na mới, phải lấy một mảnh ny-sư-đản-na
cũ còn sử dụng được, dài rộng vừa bằng một gang tay
Phật đắp lên trên cái mới, vì để hoại sắc. Nếu Bí-sô
làm ny-sư-đản-na mới, không dùng một mảnh cũ đắp lên
để cho hoại sắc, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
16.-
Bí-sô nào đi trên đường được lông dê, cần dùng thì lấy.
Nếu không người thì được phép tự cầm đi xa đến ba du-thiện-na.
Nếu đi xa hơn, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca. (Du-thiện-na: do-tuần)
17.-
Bí-sô nào bảo Bí-sô ni không phải thân quyến giặt nhuộm,
chải lông dê, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
18.-
Bí-sô nào tự tay cầm vàng bạc, tiền.v.v... hay bảo người
cầm, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
19.-
Bí-sô nào đổi chác các thứ để cầu lợi, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
20.-
Bí-sô nào buôn bán các thứ, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
Tụng
tóm tắt ba:
Hai
bát, hai thợ dệt
Ðoạt
y và cấp thí
A-lan-nhã,
vũ y
Hồi
tăng thuốc bảy ngày.
21.-
Bí-sô nào chứa bát dư quá bảy ngày, không tác pháp phân
biệt, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
22.-
Bí-sô nào có bát lũng dưới năm chỗ, còn có thể dùng được,
vì muốn tốt nên cầu bát khác, được bát, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
Bí-sô
này phải đem bát này ra xả giữa chúng Tăng, tuần tự đem
bát của vị Bí-sô nh? hạ nhất trao cho Bí-sô ấy, nói rằng:
"Bát
này trả lại cho thầy, không nên tác pháp thọ, không nên
tác pháp phân biệt, cũng không nên cho người khác, nên cẩn
thận giữ gìn chu đáo, từ từ thọ dụng, giữ cho đến khi
nào vỡ mới thôi".
Ðây
chính là đúng pháp.
23.-
Bí-sô nào tự mình xin chỉ sợi, bảo thợ dệt không phải
thân quyến dệt y. Nếu nhận được y dệt xong, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
24.-
Bí-sô nào, có cư sĩ, vợ cư sĩ không phải thân quyến vì
Bí-sô ấy bảo thợ dệt không phải thân quyến dệt y. Bí-sô
ấy không được thọ thỉnh trước , sinh ý niệm khác , đến
chỗ thợ dệt nói rằng:
"Ông
biết không, y này dệt cho tôi. Lành thay thợ dệt! Cần phải
dệt cho đẹp, cho dày, chải cho thật sạch, khéo lựa chọn
tơ, dệt thật sít chặt. Tôi sẽ lấy một ít thức ăn trong
bát hoặc như thức ăn trong bát, hoặc giá trị bằng cả bữa
ăn để trả công".
Nếu
Bí-sô lấy vật như vậy trao cho thợ dệt để mong cầu và
được y theo ý mình, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
25.-
Bí-sô nào trước đó đã đem y cho Bí-sô khác. Sau đó, vị
ấy vì phiền não, sân hận, chửi mắng, có tâm hiềm khích
với vị kia. Nếu Bí-sô ấy tự đoạt lại hay bảo người
khác đoạt, bảo rằng:
"Hãy
trả y cho tôi, không cho ngươi nữa".
Nếu
lấy y ra khỏi thân vị kia và đem sử dụng, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
26.-
Bí-sô nào còn mười ngày nữa mới hết ba tháng tiền an cư
mùa mưa, được y cấp thí. Nếu cần, Bí-sô này có thể nhận
và chứa đến lúc thí y. Nếu chứa y quá thời hạn này, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
27.-
Nhiều Bí-sô nào cùng ở tại một trú xứ A-lan-nhã tác hậu
an cư, chỗ có sự sợ hãi nguy hiểm. Nếu muốn, Bí-sô có
thể gửi một trong ba y trong nhà ở thôn xóm. Bí-sô có duyên
sự cần ra khỏi cương giới của A-lan-nhã, thời gian được
phép ngủ lìa y là sáu đêm. Nếu quá thời hạn này, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
28.-
Nếu Bí-sô nào còn một tháng nữa là hết mùa xuân, nên tìm
y tắm mưa để vào nửa tháng cuối xuân có thể đem sử dụng.
Nếu Bí-sô chưa đến tháng cuối xuân mà tìm y tắm mưa, nửa
tháng tiếp theo đã đem sử dụng, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
29.-
Bí-sô nào biết người khác cúng lợi vật cho Tăng, tự ý
xoay vật ấy về cho mình, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
30.-
Bí-sô nào, như Thế tôn dạy, cho phép các Bí-sô bị bệnh,
đối với các loại thuốc tùy ý sử dụng. Các loại thuốc
ấy là bơ, dầu, đường, mật, trong phạm vi bảy ngày được
phép thủ trì, cất giữ luôn đêm để sử dụng. Bí-sô nào
cất giữ những vật ấy quá bảy ngày để sử dụng, Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
Các
Ðại đức, tôi đã thuyết xong ba mươi pháp Ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca.
Nay tôi xin hỏi các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?" (Hỏi ba lần).
"Các
Ðại đức, trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi xin ghi
nhận như vậy".
V.-
90 pháp Ba-dật-để-ca: (Pàcittiya)
Các
Ðại đức, đây là chín mươi pháp Ba-dật-để-ca, nửa tháng
được nói ra từ giới kinh.
Tụng
tổng quát:
Cố
vọng tinh chủng tử
Bất
sai tinh sác thực
Trùng
thủy mạng bạn hành
Bàng
sinh tặc đồ thỉnh.
Tụng
thứ nhất:
Vọng
hủy cập ly gián
Phát
cử thuyết đồng thanh
Thuyết
tội đắc thượng nhân
Tùy
thân triếp khinh hủy.
1-
Bí-sô nào cố ý nói dối, Ba-dật-để-ca.
2-
Bí-sô nào nói lời hủy báng, bôi bác, Ba-dật-để-ca.
3-
Bí-sô nào nói lời ly gián, Ba-dật-để-ca.
4-
Bí-sô nào biết rõ Tăng đã hòa hợp như pháp dập tắt tránh
sự rồi. Sau khi Tăng đã dập tắt tránh sự rồi, vị ấy
lại cố ý khơi lại việc Tăng Yết-ma này, Ba-dật-để-ca.
5-
Bí-sô nào nói pháp cho người nữ năm sáu câu, trừ khi có
mặt người đàn ông có trí, Ba-dật-để-ca.
6-
Bí-sô nào cùng người chưa thọ cận viên cùng nhau đọc tụng,
dạy bảo giáo pháp, Ba-dật-để-ca.
7-
Bí-sô nào biết Bí-sô khác phạm tội thô ác, đem nói với
người chưa thọ cận viên, trừ Tăng đã Yết-ma cho phép,
Ba-dật-để-ca.
8-
Bí-sô nào thật chứng pháp thượng nhân, đem việc này nói
với người chưa thọ cận viên, Ba-dật-để-ca.
9-
Bí-sô nào trước đã đồng ý với Tăng, sau lại nói:
"Các
cụ thọ tùy theo chỗ thân tình, lấy vật của Tăng xoay cho
người khác" , Ba-dật-để-ca.
10-
Bí-sô nào khi mỗi nửa tháng thuyết giới, tự nói rằng:
" Các
cụ thọ, cần gì phải thuyết minh các học giới nhỏ nhặt
này làm gì? Khi thuyết các giới nhỏ này, làm cho các Bí-sô
sinh tâm chán ghét, bực bội, lo buồn".
Nếu
phát biểu lời khinh chê giới như vậy, Ba-dật-để-ca.
Tụng
thứ hai:
Chủng
tử khinh não giáo
An
sàng thảo nhục khiên
Cưởng
trú thoát nước sàng
Nhiễu
thảo ưng tam nhị.
11-
Bí-sô nào tự phá hoại hạt giống, cây sống, chỗ ở của
hữu tình, hay bảo người khác phá hoại, Ba-dật-để-ca.
12-
Bí-sô nào chửi rủa, khinh khi Bí-sô khác, Ba-dật-để-ca.
13-
Bí-sô nào chống cự và gây phiền phức cho người khuyên
bảo, Ba-dật-để-ca.
14-
Bí-sô nào bố trí phu cụ và sàng tọa của Tăng ra ngoài trời,
khi đi không xếp cất, không bảo người xếp cất, gặp Bí-sô
khác lại không dặn bảo nhờ thu xếp, trừ có duyên sự,
Ba-dật-để-ca.
15-
Bí-sô nào tự mình hay bảo người bố trí cỏ, lá trong phòng
của Tăng. Khi đi không thu dọn, không bảo người thu dọn,
gặp Bí-sô khác cũng không nhờ thu dọn, trừ có duyên sự
khác, Ba-dật-để-ca.
16-
Bí-sô nào vì sân hận, lôi kéo Bí-sô khác ra khỏi phòng của
Tăng, hoặc bảo người khác lôi kéo ra, trừ có duyên sự
khác, Ba-dật-để-ca.
17-
Bí sô nào ngay tại trú xứ của Tăng biết rõ các Bí-sô đã
ở chỗ ấy trước, tuy đến sau nhưng cố ý gây phiền phức
cho các vị đến trước. Ngay tại chỗ nằm của các vị trước,
cố ý nằm ngồi lên, tự nghĩ: "Nếu họ sinh tâm khó chịu
sẽ bỏ đi chỗ khác, nhường chỗ này cho ta" , Ba-dật-để-ca.
18-
Bí-sô nào ngay tại trú xứ của Tăng biết rõ là giường
hư chân trên lầu, trên gác và các vật để ngồi khác bị
hư, cố ý nằm ngồi trên ấy, Ba-dật-để-ca.
19-
Bí-sô nào biết trong nước có trùng, tự rưới nước ấy
trên cỏ, trên đất, hay trộn với phân trâu bò, hoặc bảo
người khác làm, Ba-dật-để-ca.
20-
Bí-sô nào làm nhà lớn, ngay trên khung bệ cửa nên đặt cây
ngang và các khung cửa sổ nên bố trí máng nước. Khi trát
tường bằng đất bùn ướt chỉ nên dày hai ba lớp, vừa
bằng chỗ cây ngang. Nếu quá mức này, Ba-dật-để-ca.
Bài
tụng thứ ba:
Bất
sai chí nhật một
Vị
thực nhị chủng y
Ðồng
lộ cập thừa thuyền
Nhị
bình giáo hóa thực.
21-
Bí-sô nào Tăng không sai, tự ý đi giáo giới Bí-sô ni, trừ
vị chứng đắc thắng pháp, Ba-dật-để-ca.
22-
Bí-sô nào tuy được Tăng sai đi giáo giới Bí-sô ni, nhưng
giáo giới mãi đến tối, Ba-dật-để-ca.
23-
Bí-sô nào nói với các Bí-sô khác rằng: "Thầy vì việc cúng
dường ăn uống nên giáo giới Bí-sô ni" , Ba-dật-để-ca.
24-
Bí-sô nào cho y phục đến Bí-sô ni không phải thân quyến,
trừ trao đổi, Ba-dật-để-ca.
25-
Bí-sô nào may y cho Bí-sô ni không phải thân quyến, Ba-dật-để-ca.
26-
Bí-sô nào cùng Bí-sô ni hẹn cùng đi chung với đoàn buôn,
trừ thời khác, Ba-dật-để-ca.
Thời
khác là: đi chỗ có tai nạn nguy hiểm đáng sợ.
27-
Bí-sô nào hẹn cùng Bí-sô ni đi chung một thuyền, hoặc đi
xuôi, hoặc đi ngược, trừ đi đò ngang, Ba-dật-để-ca.
28-
Bí-sô nào ngồi một mình cùng người nữ tại chỗ khuất,
Ba-dật-để-ca.
29-
Bí-sô nào ngồi một mình cùng Bí-sô ni tại chỗ khuất, Ba-dật-để-ca.
30-
Bí-sô nào ăn thức ăn mà biết rõ vật ấy do Bí-sô ni tạo
điều kiện cho người khác cúng, trừ khi thí chủ có ý cúng
trước, Ba-dật-để-ca.
Tụng
thứ tư:
Sác
thực nhất túc xứ
Thọ
bát bất vi dư
Túc
thực biệt phi thời
Xúc
bất thọ diệu thực.
31-
Bí-sô nào ăn nhiều lần, trừ lúc khác, Ba-dật-để-ca.
Lúc
khác: khi bệnh, khi làm việc, khi đi đường, khi thí y, v.v...
32-
Bí-sô nào tại trú xứ của ngoại đạo được phép ở một
đêm, chỉ được ăn một bữa, trừ trường hợp vì bệnh.
Nếu vượt quá quy định này, Ba-dật-để-ca.
33-
Nhiều Bí-sô đến nhà thế tục, có Bà la môn, cư sĩ tịnh
tín, ân cần mời bánh bún, thức ăn. Bí-sô nào cần, có thể
lãnh thọ hai đến ba bát. Nếu nhận quá số lượng này, Ba-dật-để-ca.
Ðã
nhận xong, phải trở về trú xứ của mình. Nếu có Bí-sô
khác phải cùng chia nhau số thức ăn này.
34-
Bí-sô nào đã ăn xong, không làm pháp dư thực, lại ăn thêm
nữa, Ba-dật-để-ca.
35-
Bí-sô nào biết Bí-sô kia đã ăn xong, không làm pháp dư thực,
lại khuyên vị ấy ăn nữa, bảo: "Này cụ thọ, nên ăn thức
ăn này" , chỉ vì lý do là muốn cho vị kia phạm giới để
sinh ra buồn khổ, Ba-dật-để-ca.
36-
Bí-sô nào ăn chúng riêng, trừ thời khác, Ba-dật-để-ca.
Thời
khác là: khi bị bệnh, khi làm y, khi đi đường, khi đi thuyền,
khi đại chúng ăn, khi Sa môn thí thực.
37-
Bí-sô nào ăn phi thời, Ba-dật-để-ca.
38-
Bí-sô nào ăn thức ăn bị xúc chạm đến, Ba-dật-để-ca.
39-
Bí-sô nào thức ăn không được mời, tự ý cầm đưa lên
miệng nhai, nuốt ; trừ nước và tăm xỉa răng, Ba-dật-để-ca.
40-
Bí-sô nào như Thế tôn dạy, các món ăn thơm ngon như sữa,
lạc, sanh tô, cá, thịt, nếu Bí-sô không vì bệnh, tự mình
đến nhà người xin các thức ăn ấy, Ba-dật-để-ca.
Tụng
thứ năm:
Trùng
thủy nhị thực xá
Vô
phục vãng quán quân
Lưỡng
dạ quán du binh
Ðã
nghĩ phú thô tội.
41-
Bí-sô nào biết nước có trùng vẫn lấy xử dụng, Ba-dật-để-ca.
42-
Bí-sô nào biết rõ đó là chỗ thực gia, lại cố ý ngồi
lâu, Ba-dật-để-ca.
43-
Bí-sô nào biết rõ đó là chỗ thực gia, lại cố ý đứng
lâu ở chỗ khuất, Ba-dật-để-ca.
44-
Bí-sô nào tự tay đem thức ăn cho ngoại đạo lõa thể và
nam nữ ngoại đạo khác, Ba-dật-để-ca.
45-
Bí-sô nào tự ý đến xem quân đội dàn binh, Ba-dật-để-ca.
46-Bí-sô
nào có duyên sự đến trại lính, chỉ được ở lại hai
đêm, nếu ở quá hạn, Ba-dật-để-ca.
47-
Bí-sô nào ở trong trại quân đội trong thời gian hai đêm,
nếu xem quân đội diễn binh, bố trận, tan trận để chuẩn
bị xuất chinh, Ba-dật-để-ca.
48-
Bí-sô nào vì sân hận, không hoan hỷ, đánh Bí-sô khác, Ba-dật-để-ca.
49-
Bí-sô nào vì sân hận, không hoan hỷ, đưa tay dọa đánh Bí-sô
khác, Ba-dật-để-ca.
50-
Bí-sô nào biết Bí-sô khác phạm tội thô ác mà cố ý che
dấu, Ba-dật-để-ca.
Tụng
thứ sáu:
Bạn
não xúc hỏa dục
Ðồng
miên pháp phi chướng
Vị
xả cầu tịch nhiễm
Thâu
bảo cực viêm thời.
51-
Bí-sô nào nói với Bí-sô khác với lời thế này:
"Cụ
thọ, thầy đi cùng tôi đến nhà cư sĩ, sẽ cho thầy thức
ăn ngon để được ăn no".
Sau
khi đến nhà cư sĩ, Bí-sô này lại không cho thức ăn đến
Bí-sô kia, còn nói:
"Cụ
thọ, thấy đi chỗ khác đi, tôi không thích ngồi nói chuyện
với thầy, tôi thích ngồi một mình".
Khi
Bí-sô này nói lời ấy vì muốn Bí-sô kia sinh buồn bực (để
bỏ đi) , Ba-dật-để-ca.
52-
Bí-sô
nào không vì bệnh, tự đốt lửa hoặc bảo người khác đốt,
Ba-dật-để-ca.
53-
Bí-sô nào đã gửi dục cho người khác rồi, sau hối hận
nói lên: "Tôi lấy dục lại, không gửi dục cho ông nữa"
, Ba-dật-để-ca.
54-
Bí-sô nào cùng người chưa thọ cận viên ngủ cùng phòng
hơn hai đêm, Ba-dật-để-ca.
55-
Bí-sô nào nói:
"Theo
tôi biết pháp Phật đã dạy: dục là pháp chướng ngại,
khi hành động theo thói quen không phải là pháp chướng ngại".
Các Bí-sô nên nói với Bí-sô ấy: "Thầy đừng nói lời:
theo tôi biết pháp Phật đã dạy: dục là pháp chướng ngại,
khi hành động theo thói quen không phải là pháp chướng ngại.
Thầy đừng vu báng Thế tôn. Vu báng Thế tôn không tốt. Thế
tôn không nói lời ấy. Thế tôn dùng vô lượng pháp môn nói:
các pháp, dục là chướng ngại. Thầy nên từ bỏ các ác
kiến như vậy".
Khi
các Bí-sô can gián như vậy, vị ấy từ bỏ thì tốt. Nếu
không từ bỏ, phải ba lần ân cần can gián nghiêm chỉnh,
làm đúng theo giáo pháp sửa trị vị ấy từ bỏ ác kiến
này. Vị ấy từ bỏ thì tốt, nếu không từ bỏ, Ba-dật-để-ca.
56-
Bí-sô nào biết vị Bí-sô đã nói lời như trên, lại không
nghe lời can gián từ bỏ ác kiến, lại cùng sống chung, cùng
thọ dụng, ở cùng phòng, cùng ngủ chung, Ba-dật-để-ca.
57-
Bí-sô nào thấy vị cầu tịch nói:
"Theo
tôi hiểu lời Phật dạy, dục là pháp chướng ngại, khi làm
theo thói quen không phải là pháp chướng ngại"
Các
Bí-sô phải nói với cầu tịch ấy:
"Người
đừng nói: theo tôi hiểu lời Phật dạy, dục là pháp chướng
ngại, nhưng khi làm theo thói quen, không phải là pháp chướng
ngại. Người đừng vu báng Thế tôn. Vu báng Thế tôn không
tốt, Thế tôn không nói lời này. Thế tôn dùng vô lượng
pháp môn nói các dục là chướng ngại. Người phải từ bỏ
các ác kiến như vậy".
Khi
các Bí-sô nói như vậy với vị cầu tịch ấy, vị ấy từ
bỏ thì tốt, nếu không từ bỏ, phải khuyên bảo nghiêm chỉnh
đến hai ba lần, giáo dục vị ấy từ bỏ ác kiến ấy. Cầu
tịch này từ bỏ thì tốt, nếu không từ bỏ thì bảo với
cầu tịch ấy:
"Từ
đây về sau, ngươi không được nói: đức Như Lai Ứng cúng
Chánh đẳng giác là thầy tôi và không được phép đồng
hành với các vị tôn túc và các vị đồng phạm hạnh. Các
cầu tịch khác được phép ngủ chung phòng với các Bí-sô
khác hai đêm, từ nay ngươi không được dự việc này. Ngươi
là kẻ ngu si, hãy mau đi đi! Hãy mau đi luôn đi!".
Bí-sô
nào biết rõ vị kia là cầu tịch bị diệt tẫn, lại nhận
đem về nuôi dưỡng, cho ngủ cùng phòng, Ba-dật-để-ca.
58-
Bí-sô nào được y mới, phải nhuộm hoại sắc bằng ba cách:
xanh, bùn, đỏ, tùy theo mỗi loại làm cho hoại sắc. Nếu
không làm cho y bị hoại sắc bằng ba cách trên mà đem xử
dụng, Ba-dật-để-ca.
59-
Bí-sô nào đối với các bảo vật hay vật quý như bảo vật,
tự tay cầm hay bảo người cầm, trừ trong chùa hay trong nhà
bạch y, Ba-dật-để-ca.
Nếu
trong chùa hay trong nhà bạch y, thấy các bảo vật hay như bảo
vật, trước khi lấy nên suy nghĩ: "Khi có người đến nhận,
ta sẽ đưa cho họ".
60-
Bí-sô nên nửa tháng tắm một lần, nếu cố ý tắm thêm,
trừ trường hợp khác, Ba-dật-để-ca.
Trường
hợp khác: khi nóng nực, khi bệnh, khi làm việc, khi đi đường,
khi gió mưa.
Tụng
thứ bảy:
Sát
bàng sinh cố não
Kích
lịch thủy đồng miên
Bố
tàng tư ký y
Vô
căn nữ đồng lộ.
61-
Bí-sô nào cố ý giết hại sinh mạng loài vật, Ba-dật-để-ca.
62-
Bí-sô nào cố ý gây phiền phức cho Bí-sô khác, dù cho vì
lý do ấy làm Bí-sô kia không vui trong chốc lát, Ba-dật-để-ca.
63-
Bí-sô nào dùng tay cù-léc Bí-sô khác, Ba-dật-để-ca.
64-
Bí-sô nào đùa giỡn trong nước, Ba-dật-để-ca.
65-
Bí-sô nào ngủ cùng phòng với người nữ, Ba-dật-để-ca.
66-
Bí-sô nào tự mình hay bảo người khủng bố Bí-sô khác,
dù cho để đùa giỡn, Ba-dật-để-ca.
67-
Bí-sô nào tự mình hay bảo người cất giấu y bát, hoặc
tư cụ của Bí-sô khác, Bí-sô ni, chánh học, cầu tịch, cầu
tịch nữ, trừ duyên sự khác, Ba-dật-để-ca.
68-
Bí-sô nào được người khác gửi y, sau đó không hỏi chủ,
tự ý lấy xử dụng, Ba-dật-để-ca.
69-
Bí-sô nào do sân nhuế, biết Bí-sô kia thanh tịnh không phạm
giới, lại vu báng vị ấy phạm Tăng-già-phạt-thi-sa không
căn cứ, Ba-dật-để-ca.
70-
Bí-sô nào cùng đi chung đường với người nữ, không có
người nam, cho đến khoảng cách trong một thôn, Ba-dật-để-ca.
Tụng
thứ tám:
Tặc
tùng niên vị mãn
Quật
địa thỉnh vi giáo
Thiết
thính mặc nhiên khứ
Bất
kính tửu phi thời.
71-
Bí-sô nào đi chung đường với giặc, đoàn buôn lậu cho đến
khoảng cách trong một thôn, Ba-dật-để-ca.
72-
Bí-sô nào biết người kia chưa đủ hai mươi tuổi, lại cho
họ thọ cận viên để thành tựu tánh Bí-sô, Ba-dật-để-ca.
Người
thọ giới không đắc cận viên, các Bí-sô mắc tội.
73-
Bí-sô nào tự mình hay bảo người đào đất, Ba-dật-để-ca.
74-
Bí-sô nào được thọ thỉnh sử dụng những thứ cần dùng
trong bốn tháng. Nếu quá hạn này mà vẫn thọ nhận những
thứ ấy, trừ thời khác, Ba-dật-để-ca.
Thời
khác là: biệt thỉnh, cách thỉnh, ân cần thỉnh, thường
thỉnh.
75-
Bí-sô nào nghe các Bí-sô khác nói:
"Cụ
thọ, thầy nên học tập các học xứ như vậy".
Vị
ấy nghe nói, lại đáp:
"Tôi
không thể vì nghe lời nói ngu si không phân minh, không hiểu
biết của ông mà thọ hành học xứ đâu. Tôi sẽ tìm những
vị giỏi tam tạng và nghe theo lời dạy của các vị ấy để
học học xứ" , Ba-dật-để-ca.
Bí-sô
nào thật lòng muốn hiểu biết, được phép hỏi tam tạng
giáo điển.
76-
Bí-sô nào biết các Bí-sô khác có sự tranh chấp, đang tìm
vạch chỗ sai lầm để gây gỗ nhau, nên lén đến nghe những
lời họ nói, nghĩ rằng: "Ta cần nghe để làm cho họ tranh
chấp nhau" , chỉ vì mục đích ấy chứ không gì khác, Ba-dật-để-ca.
77-
Bí-sô nào biết chúng Tăng đang như pháp bình luận sự việc,
lại im lặng bỏ chỗ đi ra, tuy có Bí-sô khác nhưng cũng không
xin phép, trừ các duyên sự khác, Ba-dật-để-ca.
78-
Bí-sô nào không cung kính đối với thầy bạn, Ba-dật-để-ca.
79-
Bí-sô nào uống các loại rượu, Ba-dật-để-ca.
80-
Bí-sô nào phi thời đi vào xóm làng, không báo lại cho các
Bí-sô khác biết, trừ duyên sự khác, Ba-dật-để-ca.
Tụng
thứ chín:
Thực
minh tướng kim tri
Châm
đồng sàng cước lượng
Trữ
hoa tinh ngọa cụ
San,
vũ, đại sư y.
81-
Bí-sô nào nhận lời mời bữa ăn tại nhà người, trước
hay sau bữa ăn lại bỏ đi sang nhà người khác, không báo
lại, Ba-dật-để-ca.
82-
Bí-sô nào minh tướng chưa xuất hiện, vua quán đảnh sát
đế lợi chưa thu cất các bảo vật và các loại như bảo
vật, bước vào trong cửa cung riêng của vua, trừ có duyên
sự khác, Ba-dật-để-ca.
83-
Bí-sô nào khi nửa tháng thuyết giới, nói:
"Cụ
thọ, đến nay tôi mới biết những pháp này từ giới kinh
nói ra".
Các
Bí-sô đều biết rõ Bí-sô này đã hai ba lần cùng dự trưởng
tịnh, nào phải chỉ mới lần này, nên nói với vị ấy:
"Này
cụ thọ, chẳng phải không biết là được miễn tội đâu.
Những tội thầy đã phạm phải như pháp phát lộ sám hối"
Và
phải khuyên vị ấy:
"Này
cụ thọ, pháp này hy hữu khó được gặp, vậy mà khi thuyết
giới ông không cung kính, không trú tâm, không tôn trọng, không
chú ý, không nhất tưởng, không lắng nghe, không chánh niệm
để nghe pháp", Ba-dật-để-ca.
84-
Bí-sô nào dùng xương, ngà, sừng làm thành ống đựng kim,
phải đập vụn bỏ đi, Ba-dật-để-ca.
85-
Bí-sô
nào làm giường lớn hay nhỏ, chân giường phải cao vừa bằng
tám ngón tay Như Lai, trừ khoảng tra mộng diềm giường. Nếu
làm quá phải cắt bỏ bớt, Ba-dật-để-ca.
86-
Bí-sô nào dùng bông gòn, v.v... độn lót nệm giường tòa,
phải lấy ra, Ba-dật-để-ca.
87-
Bí-sô nào làm ny-sư-đản-na phải làm đúng lượng. Lượng
đúng là: dài hai gang tay Phật, rộng một gang tay rưỡi Phật,
mỗi bên có thể dài hơn một gang. Nếu làm quá lượng này,
phải cắt bỏ bớt, Ba-dật-để-ca.
88-
Bí-sô nào làm y che ghẻ phải đúng kích thước. Kích thước
đúng là: dài bốn gang tay Phật, rộng bằng hai gang tay Phật.
Nếu quá kích thước này phải cắt bớt, Ba-dật-để-ca.
89-
Bí-sô nào làm y tắm mưa phải làm đúng kích thước. Kích
thước đúng là: dài bằng sáu gang tay, rộng bằng hai gang
tay rưỡi của Phật. Nếu làm quá kích thước này phải cắt
bỏ, Ba-dật-để-ca.
90-
Bí-sô nào làm y, bằng hay lớn hơn y của Phật, Ba-dật-để-ca.
Kích
thước y của Phật: dài 10 gang tay Phật và rộng sáu gang tay
Phật. Ðây là kích thước y của Phật.
Các
Ðại đức, tôi đã thuyết xong chín mươi pháp Ba-dật-để-ca.
Nay xin hỏi các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?". (Hỏi ba lần)
"Các
Ðại đức, trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi xin ghi
nhận như vậy".
VI.-
Bốn pháp Ba-la-để-đề-xá-ni: (Patidesaniya)
Các
Ðại đức, đây là bốn pháp đối thuyết Ba-la-để-đề-xá-ni,
mỗi nửa tháng được nói ra từ giới kinh.
Tụng
tóm lược:
Phi
thân ni tự thọ
Xá
trung xử phần thực
Bất
thỉnh hướng học gia
Thọ
thực ư tự ngoại.
1-
Bí-sô nào trên đường đi trong làng xóm, tự tay nhận thức
ăn để ăn từ Bí-sô ni không phải thân quyến. Bí-sô này
phải trở về trú xứ của mình ngoài làng xóm, đến chỗ
các Bí-sô, tự mình nói với từng vị:
"Ðại
đức, tôi đã phạm ác pháp đối thuyết. Ðây là điều không
được vi phạm. Nay tôi đối thuyết để sám hối".
Ðây
là pháp đối thuyết.
2-
Nhiều Bí-sô đến thọ thực tại nhà bạch y, có Bí-sô ni
chỉ vào Bí-sô này:
"Nên
dâng cho vị này thức ăn thơm ngon..."
Các
Bí-sô phải nói với Bí-sô ni ấy:
"Này
cô, đừng chỉ định như vậy nữa. Hãy chờ các Bí-sô ăn
xong".
Nếu
không một Bí-sô nào nói như vậy, các Bí-sô phải trở về
trú xứ ngoài làng xóm, đến gặp các Bí-sô, nói với từng
vị:
"Ðại
đức, tôi đã phạm ác pháp đối thuyết. Ðây là điều không
được vi phạm. Nay tôi đối thuyết để sám hối".
Ðây
là pháp đối thuyết.
3-
Bí-sô nào biết đó là nhà học gia, Tăng đã tác pháp Yết-ma
học gia, Bí-sô này không được thọ thỉnh trước, tự tiện
đến nhà ấy, tự tay nhận thức ăn để ăn. Bí-sô này phải
trở về trú xứ ngoài làng xóm, đến gặp các Bí-sô, nói
với với từng vị:
"Ðại
đức, tôi đã phạm ác pháp đối thuyết. Ðây là điều không
được vi phạm. Nay tôi đối thuyết để sám hối".
Ðây
là pháp đối thuyết.
4-
Bí-sô nào ở tại A-lan-nhã, thuộc trú xứ có sự khủng bố
nguy hiểm, trước không đưa người thăm dò tình hình nguy
hiểm, nếu ra bên ngoài trú xứ thọ nhận thức ăn, Bí-sô
này phải trở về trú xứ, đến gặp các Bí-sô, nói với
từng vị:
"Ðại
đức, tôi đã phạm ác pháp đối thuyết. Ðây là điều không
được vi phạm. Nay tôi đối thuyết để sám hối".
Ðây
là pháp đối thuyết.
Chư
Ðại đức, tôi đã thuyết xong bốn pháp Ba-la-để-đề-xá-ni.
Nay xin hỏi các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?" (Hỏi ba lần)
"Chư
Ðại đức, trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi xin ghi
nhận như vậy".
VII.-
Pháp chúng học: (Sekkhiyavatta)
Các
Ðại đức, đây là pháp chúng học, mỗi nửa tháng được
nói ra từ giới kinh.
Tụng
tóm lược:
Y thực
hình tề chỉnh
Tục
xá thiện dung nghi
Hộ
bát trừ bệnh nhân
Thảo
thủy quá nhân thọ.
1-
Mặc quần tề chỉnh, cần phải học.
2-
Mặc quần không quá cao, không quá thấp, không cuốn hình vòi
voi, không cuốn hình đầu rắn, không xếp hình lá đa-la, không
xếp hình miếng đậu - cần ph?i học.
3-
Mặc ba y tề chỉnh - cần phải học.
4-
Mặc ba y không quá cao, không quá thấp,mặc ngay ngắn, kín
đáo, không nói nhiều, không nhìn lên cao khi vào nhà bạch
y - cần phải học.
5-
Không che đầu, không lật một bên y, không lật hai bên y,
không chống nạnh, không vung tay khi vào nhà bạch y - cần phải
học.
6-
Không nhún nhảy, không nhón chân, không nhảy cò cò, không
đi nghiêng người, không đi hấp tấp khi đi vào nhà bạch
y, - cần phải học.
7-
Không uốn éo, không vẫy tay, không lắc đầu, không vung tay,
không đánh đồng xa khi đi vào nhà bạch y, - cần phải học.
8-
Trong nhà bạch y, chưa được mời không được tự tiện ngồi
- cần phải học.
9-
Trong nhà bạch y, chưa xem xét kỹ, không được ngồi - cần
phải học.
10-
Trong nhà bạch y, không được ngồi bừa bãi - cần phải học.
11-
Trong nhà bạch y, không ngồi gác chân, tréo chân, bó gối,
duỗi hết hai chân, hay bày lộ thân thể - cần phải học.
12-
Cung kính nhận thức ăn - cần phải học.
13-
Không được nhận cơm đầy bát, rồi nhận canh, rau làm thức
ăn tràn ra ngoài, cẩn thận dùng ngón tay giữ bát để ăn
- cần phải học.
14-
Thức ăn chưa đem đến, không được hứng bát ra chờ - cần
phải học.
15-Không
đặt bát trên thức ăn - cần phải học.
16-
Cung kính ăn thức ăn - cần phải học.
17-Không
nắn vắt cơm quá lớn, quá nhỏ - cần phải học.
18-
Thức ăn chưa đến miệng, không há miệng chờ - cần phải
học.
19-
Không ngậm thức ăn nói chuyện - cần phải học.
20-
Không lấy cơm lấp trên canh, lấy canh lấp trên cơm để mong
được nhiều - cần phải học.
21-
Không liếm thức ăn, không nhai cơm có tiếng, không hà hơi
trên thức ăn, không thổi thức ăn, không bươi thức ăn, không
chê thức ăn, không giữ thức ăn hai bên má, không cắn nửa
miếng ăn, không lè lưỡi ăn, không nên làm thức ăn như hình
tháp - cần phải học.
22-
Không liếm tay, không liếm bát, không chấn tay, không chấn
bát, thường nhìn vào bát để ăn - cần phải học.
23-
Không có tâm khinh mạn, cố nhìn vào bát vị đang ăn gần
bên - cần phải học.
24-
Không được dùng tay bẩn cầm bình nước sạch - cần phải
học.
25-
Trong nhà bạch y, không được đổ nước rửa bát, trừ khi
hỏi chủ nhà - cần phải học.
26-
Không được lấy thức ăn thừa bỏ vào bát đựng nước
- cần phải học.
27-
Trên đất không có vật kê lót, không được để bát - cần
phải học.
28-
Không đứng rửa bát - cần phải học.
29-
Không được đặt bát chỗ dễ rơi v?, dễ mất ; không dùng
bát múc nước ngược dòng - cần phải học.
30-
Người ngồi ta đứng, không được nói pháp, trừ bệnh -
cần phải học.
31-
Người nằm ta ngồi, không được nói pháp, trừ bệnh - cần
phải học.
32-
Người ngồi tòa cao, ta ngồi tòa thấp, không được nói pháp,
trừ bệnh - cần phải học.
33-
Người đi trước, ta đi sau, không được nói pháp, trừ bệnh
- cần phải học.
34-
Người đi giữa đường, ta đi bên lề, không được nói pháp,
trừ bệnh - cần phải học.
35-
Không thuyết pháp cho người che đầu, người lật y một bên,
người lật y hai bên, người chống nạnh, người vẫy tay,
trừ bệnh - cần phải học.
36-
Không thuyết pháp cho người đang cỡi voi, cỡi ngựa, ngồi
kiệu, đi xe, trừ bệnh - cần phải học.
37-
Không thuyết pháp cho người đang mang guốc, giày, dép - cần
phải học.
38-
Không thuyết pháp cho người đang đội mũ, nón, mão như nhục
đảnh Phật, người quấn đầu, đội vòng hoa, trừ bệnh
- cần phải học.
39-
Không được thuyết pháp cho người đang che dù - cần phải
học.
40-
Không được đứng đại tiểu tiện, trừ bệnh - cần phải
học.
41-
Không được đại tiểu tiện, khạc nhổ trong nước sạch,
trừ bệnh - cần phải học.
42-
Không được đại tiểu tiện hay khạc nhổ trên cỏ xanh -
trừ bệnh - cần phải học.
43-
Không được leo cây cao hơn đầu người, trừ nạn duyên -
cần phải học.
Các
Ðại đức, tôi đã thuyết xong các pháp chúng học, xin hỏi
các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?" (Hỏi ba lần)
"Các
Ðại đức, trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi xin ghi
nhận như vậy".
VIII.-
Bảy pháp diệt tránh: (Adhikarana samatha)
Các
Ðại đức, đây là bảy pháp diệt tránh, mỗi nửa tháng
được nói ra từ giới kinh.
Tụng
tóm lược:
Hiện
tiền tinh ức niệm
Bất
si dữ cầu tội
Ða
nhân ngữ, tự ngôn
Thảo
yểm trừ chúng tránh.
1-
Cần giải quyết bằng Hiện tiền Tỳ-nại-da, nên giải quyết
bằng Hiện tiền Tỳ-nại-da.
2-
Cần giải quyết bằng Ức niệm Tỳ-nại-da, nên giải quyết
bằng Ức niệm Tỳ-mại-da.
3-
Cần giải quyết bằng Bất si Tỳ-nại-da, nên giải quyết
bằng Bất si Tỳ- nại-da.
4-
Cần giải quyết bằng Cầu tội tự tánh Tỳ-nại-da, nên
giải quyết bằng Cầu tội tự tánh Tỳ- nại-da.
5-
Cần giải quyết bằng Ða nhân ngữ Tỳ-nại-da, nên giải
quyết bằng Ða nhân ngữ Tỳ- nại-da.
6-
Cần giải quyết bằng Tự ngôn trị Tỳ-nại-da, nên giải
quyết bằng Tự ngôn Tỳ- nại-da.
7-
Cần giải quyết bằng Thảo yểm Tỳ-nại-da, nên giải quyết
bằng Thảo yểm Tỳ- nại-da.
Nếu
có tránh sự phát sinh, phải dùng bảy pháp này, thuận theo
lời dạy của Ðấng Ðạo sư, như pháp, như luật để diệt
trừ tránh sự ấy.
Các
Ðại đức, tôi đã thuyết xong bảy pháp diệt tránh, xin hỏi
các Ðại đức:
"Trong
chúng này thanh tịnh không?" (Hỏi ba lần)
"Các
Ðại đức, trong chúng này thanh tịnh vì im lặng. Tôi xin ghi
nhận như vậy".
PHẦN
KẾT:
Các
Ðại đức, tôi đã thuyết minh bài tựa giới kinh, bốn pháp
Ba-la-thị-ca, mười ba pháp Tăng-già-phạt-thi-sa, hai pháp bất
định, ba mươi pháp Ny-tát-kỳ-ba-dật-để-ca, chín mươi pháp
Ba-dật-để-ca, bốn pháp Ba-la-để-đề-xá-ni, các pháp chúng
học, bảy pháp diệt tránh.
Các
pháp này đều được giữ gìn trong giới kinh của đức Như
Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác. Nếu có những tùy pháp khác
tương ứng với những pháp này, đều phải tu học.
Các
Ðại đức cùng nhau hội họp với tinh thần hoan hỷ không
tranh cãi, một lòng một lời như nước hòa với sữa, siêng
năng phát huy rực rỡ Thánh giáo của bậc Ðại sư, làm cho
đời sống an lạc, không sống phóng dật, cần phải tu học
như vậy.
1-
Nhẫn tinh cần bậc nhất
Ðưa
đến chứng Niết-bàn
Xuất
gia não hại người
Không
phải là Sa môn.
Ðây
là giới kinh của Tỳ-Bát-Thi Như Lai Ðẳng chánh giác giảng
dạy.
2-
Mắt sáng tránh đường hiểm
Ðến
được chỗ an ổn
Bậc
trí sống trong đời
Tránh
xa các xấu ác.
Ðây
là giới kinh của đức Thi Khí Như Lai Chánh đẳng giác giảng
dạy.
3-
Không hủy báng, não hại
Khéo
hộ trì giới kinh
Ăn
uống biết vừa đủ
Dùng
ngọa cụ tầm thường
Siêng
tu tăng thượng định
Là
lời chư Phật dạy.
Ðây
là giới kinh của đức Tỳ Xá Phù Như Lai Chánh đẳng giác
giảng dạy.
4-
Như ong đến tìm hoa
Không
hoại sắc và hương
Chỉ
hút mật rồi đi
Bí-sô
cũng như vậy.
Ðây
là giới kinh của đức Câu Lưu Tôn Như Lai Chánh đẳng giác
giảng dạy.
5-
Không chống phá người khác
Xét
người làm, không làm
Tự
xét hành động mình
Làm
đúng hay không đúng.
Ðây
là giới kinh của đức Yết-Nặc-Ca Mâu-Ni Như Lai Ðẳng chánh
giác giảng dạy.
6-
Chớ đắm mùi vị định
Siêng
tu nơi tịch tĩnh
Ðạt
vậy, dứt ưu sầu
Thường
giữ gìn chánh niệm.
Người
nào thường bố thí
Thêm
phước, oán không còn
Tu
thiện, trừ các ác
Hết
hoặc, chứng Niết-bàn.
Ðây
là giới kinh của đức Ca Nhiếp Ba Như Lai Chánh đẳng giác
giảng dạy.
7-
Không làm các điều ác
Thực
hành các hạnh lành
Ðiều
phục được tự tâm
Là
lời chư Phật dạy.
Lành
thay hộ trì thân
Lành
thay hộ trì lời
Lành
thay hộ trì ý
Lành
thay phòng hộ hết.
Bí-sô
hộ tất cả
Trừ
diệt tất cả khổ
Khéo
hộ trì miệng, lời
Khéo
hộ trì ý tưởng
Thân
không làm việc ác
Thường
thanh tịnh ba nghiệp
Thế
nên phải tùy thuận
Giáo
pháp bậc Ðại tiên.
Ðây
là giới kinh của đức Thích Ca Như Lai Ðẳng chánh giác giảng
dạy.
Tỳ-Bát-Thi,
Thi Khí
Tỳ
Xá, Câu Lưu Tôn
Yết
Nặc Ca Mâu Ni
Ca
Nhiếp, Thích Ca tôn
Bậc
trời giữa các trời
BậcVô
thượng Ðiều ngự
Bảy
Phật đều hùng dũng
Thường
cứu hộ thế gian
Ðầy
đủ tiếng khen lớn
Ðều
thuyết giới pháp này
Chư
Phật cùng đệ tử
Ðều
kính tôn trọng giới
Nhờ
cung kính giới kinh
Chứng
đắc quả Vô thượng
Người
hãy cầu giải thoát
Siêng
tu lời Phật dạy
Hàng
phục quân sinh tử
Như
voi xô nhà cỏ
Ngay
trong pháp luật này
Thường
sống không phóng dật
Tát
cạn biển phiền não
Vượt
qua khỏi bờ khổ
Mỗi
khi thuyết giới kinh
Hòa
hợp làm trưởng tịnh
Phải
cùng tôn kính giới
Như
trâu mao giữ đuôi
Tôi
đã thuyết giới kinh
Chúng
Tăng trưởng tịnh xong
Phước
lợi các hữu tình
Ðều
cùng thành Phật đạo.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THẾ HỮU BỘ
TỲ
NẠI DA
BÍ-SÔ
GIỚI KINH
- Hết
-