Mục
Lục
Lời
nói đầu
Tổng
Luận
Phiên
dịch và chú sớ Kinh Duy Ma
Phẩm
1 Phật Quốc
Phẩm
2 Phương Tiện
Phẩm
3 Thanh Văn
Phẩm
4 Bồ Tát
Phẩm
5 Văn Thù Sư Lợi Thăm Bệnh
Phẩm
6 Bất Tư Nghì
Phẩm
7 Quán Chúng Sinh
Phẩm
8 Phật Đạo
Phẩm
9 Nhập Bất Nhị Pháp Môn
Phẩm
10 Phật Hương Tích
Phẩm
11 Bồ Tát Đạo
Phẩm
12 Kiến Phật A Súc
Phẩm
13 Pháp Cúng Dường
Phẩm
14 Chúc Lụy
LỜI
NÓI ĐẦU
Kinh
Duy Ma là bộ kinh quan trọng trong hệ Ðại thừa Phật giáo
và đặc biệt tư tưởng của kinh đã làm nền tảng cho giáo
nghĩa Thiền tông. Ở Việt Nam, đa số tu Thiền, nên kinh này
đã ảnh hưởng vào đời sống các Thiền sư và thể hiện
qua các bài thơ ngộ đạo.
Tuy
nhiên, từ xưa đến nay, người Việt Nam chỉ phiên dịch kinh
Duy Ma từ chữ Hán ra chữ Việt. Chưa có tác phẩm nào nghiên
cứu giảng giải về tư tưởng kinh.
Năm
1982, trường Cao cấp Phật học Việt Nam mời tôi giảng dạy
bộ kinh này. Ðể đáp ứng gấp rút yêu cầu tu học thiết
yếu của Tăng Ni sinh, chúng tôi đã biên soạn bộ Lược giải
kinh Duy Ma. Phần triển khai ý nghĩa bộ kinh này được căn
cứ trên những tài liệu mà chúng tôi đã nghiên cứu khi tu
học ở Nhật Bản của các giáo sư Nhật là ông Tamaki, Nomura,
Kyobashi, v.v...
Khi
xuất bản lần thứ nhất giới thiệu một số ý trong kinh,
chúng tôi nghĩ nó thích hợp với thời đại và hoàn cảnh
của Phật giáo Việt Nam. Chúng tôi đã nhận được nhiều
ý kiến đóng góp của Tăng Ni Phật tử. Lần này, nhằm đáp
ứng nhu cầu tu học mỗi ngày tốt đẹp hơn, chúng tôi cho
tái bản tác phẩm này với ít nhiều sửa đổi.
Tuy
nhiên, chúng tôi hy vọng rằng trong tương lai nếu đủ duyên
lành, sẽ hoàn thành một bộ tư tưởng Duy Ma để giới thiệu
đầy đủ hơn các tác phẩm và tác giả liên quan đến kinh
Duy Ma của Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản.
Mặc
dù tác phẩm tái bản đã được sửa đổi, thiết nghĩ
khó tránh khỏi những sơ suất. Kính mong các bậc cao minh từ
bi hoan hỷ chỉ giáo thêm để lần tái bản tới, tác phẩm
được hoàn mỹ hơn. Chúng tôi chân thành biết ơn quý vị.
Trong
việc thành tựu công đức cúng dường Pháp bảo này, chúng
tôi xin thành kính ghi nhớ công ơn giáo dưỡng của các bậc
cao đức : cố Hòa Thượng Thiện Hoa, cố Hòa Thượng Trí
Thủ, Hòa Thượng Trí Tịnh, giáo sư Sakamoto, giáo sư Yamamoto,
giáo sư Nakamura v.v... cùng quý tác giả mà chúng tôi đã tham
khảo sách của quý Ngài.
Mùa
An cư PL.2535 – 1991
Hòa
thượng THÍCH TRÍ QUẢNG
TỔNG
LUẬN
NHẬN
XÉT TỔNG QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
ÐẠI THỪA
Sau
khi thành đạo, từ Bồ đề đạo tràng đến Sa La song thọ
trải qua hơn 300 hội, Phật dùng tuệ giác quan sát thật tướng
các pháp và thực trạng xã hội, Ngài đưa ra nền giáo lý
trong sáng, toàn bích.
Tuy
giáo pháp của Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng
chính yếu vẫn là tinh thần “Phật pháp tại thế gian, bất
ly thế gian giác”. Phật dạy chúng ta phát triển nếp sống
đạo đức thanh cao và phát huy trí tuệ thấy đúng như thật
để hành động phù hợp với chuyển biến của quy luật khách
quan. Chính Ðức Phật đã tìm thấy chân lý ngay trên
thế gian và thể hiện chân lý trong cuộc sống dưới mọi
tình huống.
Trên
bước đường hoằng hóa độ sanh, tùy theo sinh hoạt từng
nước, Ngài dạy chúng Tăng nhận thức đúng đắn về thực
trạng xã hội và đưa ra pháp tu tương ưng, để hoán chuyển
tâm chúng hội an trú thanh tịnh ngay trong lòng cuộc đời.
Và xa hơn, họ nương theo Phật pháp, cải tạo nếp sống xã
hội trở thành thiện mỹ hơn.
Với
nhân cách siêu việt, trí tuệ tuyệt luân, việc làm thánh
thiện lợi lạc cho đời, cùng với hàng đệ tử mô phạm
Thánh chúng, Phật đã đáp ứng yêu cầu cần thiết của xã
hội lúc bấy giờ. Ngài đã là hạt nhân thu hút mọi tầng
lớp người quy ngưỡng. Một đạo Phật hiện hữu sống động,
cần thiết tất yếu như vậy đã nhẹ nhàng đẩy lùi tư
tưởng lạc hậu của Bà La Môn giáo.
Phật
tại thế, mọi người sống hạnh phúc bên Ngài, thì vấn
đề tìm hiểu về Phật tất nhiên không cần đặt ra. Tuy
nhiên, khi Ngài Niết bàn, không có người có đạo đức và
tri thức như Ngài để dìu dắt chúng hội. Từ đó, người
ta bắt đầu suy nghĩ, tìm hiểu về Phật.
Mọi
người đều có chung suy nghĩ rằng cần góp nhặt lời Phật
dạy, truyền trao cho nhau để tu hành. Trong lần kiết tập
này, dĩ nhiên không thể trùng tuyên đầy đủ lời Phật dạy,
cũng như không được mọi người tán thành hoàn toàn.
Thật
vậy, những chứng nhân quan trọng đã từng trực tiếp nghe
Phật thuyết pháp như Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên không
còn hiện diện. Các Ngài đã nhập Niết bàn. Ngoài ra, lịch
sử cũng ghi rõ đại đệ tử thuyết pháp bậc nhất Phú Lâu
Na và 500 Tỳ kheo không đồng ý với những gì được kiết
tập. Họ đã rời bỏ cuộc họp đến hang động khác để
trùng tuyên lại.
Theo
tôi, những gì các vị La hán hiểu và góp nhặt được trong
kỳ kiết tập đầu chỉ là một phần tư tưởng của Phật.
Chính Ðức Phật thường nhắc đi nhắc lại rằng pháp của
Ngài nói cho chúng ta chỉ là lá trong tay khô chết, không phải
chân lý. Ý này được xác định trong kinh Văn Thù rằng suốt
49 năm thuyết pháp, Phật chưa nói một lời. Và kinh Pháp Hoa
diễn tả các pháp vắng lặng không thể dùng lời để diễn
tả.
Như
vậy, điều Phật nói ra mà Ngài còn khẳng định là phương
tiện. Huống chi cái chúng ta nắm bắt phương tiện chỉ là
“Phương tiện nằm trong phương tiện”, ắt hẳn còn cách
xa chân lý Phật hơn nữa.
Dưới
nhãn quan Phật giáo Ðại thừa, ý tiềm tàng bên trong chúng
ta cần vận dụng mang lợi ích thiết thực cho đời sống
ví như lá trong rừng. Nó hoàn toàn khác với những gì đóng
khuôn trong lời Phật nói, không còn sức sống, giống như
nắm lá trong tay.
Ðến
đây, cần đề cập thêm về vấn đề liên quan đến sự
hưng vong của Phật giáo Ấn Ðộ để hiểu rõ thêm việc
làm tác hại của người theo chủ nghĩa giáo điều. Các nhà
sử học đều thắc mắc rằng Phật giáo sinh hoạt mạnh mẽ
khi Phật tại thế và đến thời kỳ Phật giáo phát triển,
sinh động của đạo Phật cũng còn mạnh. Nhưng đột nhiên,
Phật giáo bị suy đồi cho đến mất tích ở Ấn Ðộ. Tại
sao lại xảy ra tình trạng tệ hại như vậy; trong lúc ở
những nước khác, Phật giáo cũng gặp chống phá mạnh mẽ
mà vẫn duy trì tồn tại được ?
Theo
tôi, Thượng tọa bộ thời ấy cứ khư khư giữ nguyên những
gì họ cho là đúng theo Phật dạy. Họ không chịu nhìn vào
thực trạng xã hội để đáp ứng yêu cầu thời đó, đã
trở thành đối kháng với Bà La Môn giáo. Giáo đoàn sống
đóng khuôn trong giáo điều, nên giới trí thức trong xã hội
từ từ rời bỏ Phật giáo. Dưới mắt Bà La Môn hay xã hội,
tu sĩ Phật giáo trở thành những người ăn hại và dần dần
bị rơi vào quên lãng.
Trái
với chủ trương thoái hóa bị tàn lụn dần của Thượng
tọa bộ, giáo nghĩa Ðại thừa với tinh thần phóng khoáng,
dung hóa và thu nhiếp những gì Phật dạy Bà La Môn, cư sĩ,
hay nói chung cho xã hội phát triển.
Vì
vậy, giáo nghĩa Ðại thừa chẳng những không đối kháng
với Bà La Môn giáo, mà còn gần gũi lợi ích, nên được
họ tiếp thu để phát triển thành tân hưng Bà La Môn gọi
là Ấn Ðộ giáo.
Tóm
lại, tinh thần cục bộ, tiêu cực của Phật giáo Tiểu thừa
đã bị Bà La Môn giáo xóa bỏ. Ấn Ðộ giáo ra đời kết
hợp văn minh Vệ Ðà với tinh ba của giáo nghĩa Ðại thừa.
Tinh thần Phật giáo Ðại thừa tiềm ẩn trong Ấn Ðộ giáo
ngày nay được thể hiện qua lời phát biểu của cố Thủ
tướng Nerhu. Ông tự coi mình theo đạo Phật, mặc dù thực
sự ông là tín đồ của Ấn Ðộ giáo. Hoặc đọc các tác
phẩm của triết gia danh tiếng Ấn Ðộ như Tagore, cũng thấy
man mác giáo nghĩa Ðại thừa hàm chứa bên trong.
Trở
lại vấn đề thời kỳ kiết tập lần đầu của Ngài Ca
Diếp, chúng ta nhận thấy thời đó chưa soạn thành kinh điển,
chỉ truyền thừa bằng cách truyền khẩu.
Sau
đó, vì trình độ hiểu biết của mỗi người khác nhau, tuy
cùng một lời dạy của Phật lại nảy sanh những nhận thức
khác biệt. Ðó là nguyên nhân phát sinh A Tỳ Ðàm hay luận
tạng, tạo thành giáo lý tam tạng.
Kinh
tạng và luật tạng ghi lại cuộc sống của Phật và
lời dạy của Ngài. Luận tạng giải thích lời Phật.
Sự giải thích này thay đổi khác nhau tùy theo xuất xứ, hoàn
cảnh quốc độ và trình độ nhận thức của từng luận
sư. Từ đó, dẫn đến hiểu biết và nhận thức về lời
dạy của Phật không đồng nhất, mở đầu cho thời kỳ A
Tỳ Ðạt Ma phát triển. Nhiều bộ phái Phật giáo được
hình thành, nhưng chung quy có hai bộ phái chính là Thượng
tọa bộ và Ðại chúng bộ.
Thượng
tọa bộ gồm những người lớn tuổi, bảo thủ, ít thích
cải cách sửa đổi, thường quen sống theo lối mòn cũ, cảm
thấy bình ổn hơn. Họ chủ trương y kinh, y luật Phật dạy,
không được thêm bớt.
Trái
lại, Ðại chúng bộ gồm lớp người trẻ có tư tưởng tiến
bộ, chủ trương kế thừa tư tưởng của Phật, nhưng lấy
ý của đại chúng làm chính và tùy theo yêu cầu của đại
chúng mà vận dụng, phát triển giáo lý phục vụ đại chúng.
Từ
căn bản dựa trên ý thức về xã hội, về đại chúng làm
chuẩn, khác với chủ trương giáo điều của Thượng tọa
bộ, kinh điển của Ðại chúng bộ phát triển những điểm
mới lạ hơn kinh của Thượng tọa bộ biên soạn.
Tư
tưởng của hai bộ phái này bắt đầu lan rộng mạnh mẽ
thành hai con đường. Con đường Nam truyền Phật giáo đi xuống
phía Nam Ấn Ðộ và qua Xri Lanca biên soạn thành tạng kinh
Pali. Con đường Bắc truyền Phật giáo từ Trung Ấn Ðộ đi
ngược lên phía Bắc, truyền sang Apganixtan, Trung Ðông, Trung
Á đến Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam.
Tư
tưởng của Thượng tọa bộ truyền xuống phía Nam được
tiếp nhận đầy đủ nguyên vẹn, vì nơi đây nền văn hóa
còn thấp hay chưa có văn hóa.
Ngược
lại, tư tưởng Phật giáo của Ðại chúng bộ từ Trung Ấn
lên Bắc Ấn gặp ngay tư tưởng triết học có sẵn thuộc
văn hóa Hy Lạp, Ai Cập, La Mã.
Thật
vậy, sau Phật nhập diệt 400 năm, Alexandre chinh phục Ấn
Ðộ và mang đến tư tưởng Hy Lạp, một nền triết học
lớn của nhân loại thời ấy. Chính trong môi trường của
văn minh Ấn kết hợp với văn minh Hy Lạp, sản sinh ra tư
tưởng Phật giáo Ðại thừa, tạo nên một cái nhìn mới
về Phật giáo dưới dạng triết học.
Ðại
thừa Phật giáo hay Phật giáo phát triển chú trọng đến
việc vận dụng tinh thần của kinh,ï diễn tả theo chân ý
của Phật bằng lối văn thời đại. Sách giáo lý diễn tả
theo văn xưa không còn thích hợp, được thay bằng kinh điển
Ðại thừa đương đầu với tư tưởng ngoại đạo.
Ðó
là chân tinh thần Phật giáo phát triển, truyền bá đến nơi
nào cũng tiếp thu những nét sáng đẹp của văn hóa địa
phương để phát triển tinh ba của địa phương ấy. Sức
sống của Phật giáo phát triển giống như dòng nước ngọt
trôi chảy đến mọi nơi, nuôi sống, tưới mát đất đai
cây cỏ xanh tươi mà không tàn phá, cuốn trôi đi những kỳ
hoa dị thảo.
Với
sự hài hòa tốt đẹp, Phật giáo Ðại thừa hay Phật giáo
phát triển lần lần khác biệt Phật giáo gốc, đặt giá
trị truyền thừa Phật giáo trên tinh thần hơn là kế thừa
hình thức. Phát triển nội dung và xóa bỏ hình thức chính
là nguyên nhân phát xuất bộ kinh Duy Ma cũng như kinh Hoa Nghiêm,
Pháp Hoa.
Theo
sự nghiên cứu lịch sử, những bộ kinh này thực sự được
hình thành vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên. Vì vậy,
các học giả thế giới không cho rằng kinh này do Phật nói
ra và Ngài A Nan kiết tập để lại cho chúng ta.
Ngày
nay, các học giả đều đồng ý rằng kinh điển Ðại thừa
được biên soạn sớm nhất trước công nguyên 100 năm. Có
người dựa vào đây để chỉ trích kinh Ðại thừa không
phải của Phật.
Tuy
nhiên, có thể kết luận rằng tam tạng kinh điển của Phật
dù thuộc hệ Nam truyền hay Bắc truyền đều không phải ghi
nhận một cách chính xác trực tiếp từ lời nói của Phật.
Ý kinh thuộc về phần thuyết giảng của Phật, nhưng văn
kinh do người đời sau ghi lại. Mỗi khi thuyết pháp, Phật
ứng căn cơ, trình độ, hoàn cảnh địa phương mà nói pháp
khác nhau. Trong chúng hội, người nghe pháp trình độ không
đồng, nên sức tiếp thu và ghi nhận phải khác nhau, là điều
tất yếu.
Kinh
thuộc hệ Nam truyền với lối văn mộc mạc, bình dân diễn
tả sự kiện thực tế hơn. Kinh điển của Phật giáo phát
triển thì văn lý hàm chứa ý nghĩa sâu sắc và chải chuốt,
rất linh hoạt như kinh Hoa Nghiêm có đến 45 ngàn bài kệ.
Ngoài
ra, xây dựng trên tinh thần phát triển nội dung, Phật giáo
Ðại thừa thường chia giáo lý Phật thành hai phần : phương
tiện môn và chân thật môn. Giáo lý thuộc chân thật môn
không thể dùng ngôn ngữ diễn tả. Phật cũng thường nhắc
trong kinh Pháp Hoa rằng các pháp tướng thường tự vắng lặng,
chỉ có thể dùng tâm mà trực nhận. Chính vì sự khó khăn
trong việc chỉ dạy cũng như trực nhận chân thật pháp, Phật
khởi lòng đại bi, tạm dùng giáo lý phương tiện. Phật thường
ví pháp phương tiện đó như nắm lá trong tay, đã rời khỏi
sự sống. Sự hiểu biết và diệu dụng của Ngài như lá
trong rừng luôn xanh tươi theo bốn mùa.
Tinh
thần Ðại thừa nhằm triển khai sức sống của lá trong rừng.
Hay nói cách khác, nhìn sự vật hiện hữu, sinh hoạt đúng
như thời đại và phân tích, vận dụng giáo lý cho phù hợp
với xã hội đang sống. Còn giáo pháp Phật thuyết ra chỉ
là phương tiện hướng dẫn chúng ta tiếp cận chân lý.
Phát
huy tinh thần này, Phật giáo Ðại thừa cố gắng tìm hiểu
ý nghĩa sâu xa hàm chứa bên trong lời nói của Phật, cố
diễn tả chân ý của Phật. Quan niệm bảo thủ thì chỉ
ghi nhận lời Phật và luôn luôn trân trọng giữ nguyên, không
thay đổi.
Người
thể hiện tinh thần tìm hiểu nghĩa lý thâm sâu của kinh điển
Ðại thừa một cách chân thành là Trần Huyền Trang. Ngài
là pháp sư đời Ðường, mà vua Ðường Thái Tông quý mến,
nhận làm em. Ngài tha thiết với việc tìm hiểu chân ý của
giáo pháp Ðại thừa, đã vượt mọi khó khăn, hiểm nguy gian
khổ sang Ấn Ðộ cầu pháp.
Trước
Ngài, kinh Duy Ma đã có 5 bản và bản gần nhất của Ngài
Cưu Ma La Thập dịch, cách Ngài 100 năm. Ngài Huyền Trang cảm
nghĩ kinh Duy Ma còn hàm chứa nhiều nghĩa sâu xa bên trong mà
Cưu Ma La Thập chưa dịch được. Vì Cưu Ma La Thập là người
Quy Tư, không hiểu rõ văn Trung Quốc, phải nhờ Tăng Duệ,
Tăng Triệu sửa kinh, thì ý không còn đúng nữa.
Ðiều
này thôi thúc Ngài Huyền Trang ra đi tìm áo nghĩa kinh, trải
qua 17 năm ở Ấn Ðộ. Trở về, Ngài dịch lại bản kinh Duy
Ma có tính cách học thuật. Bản của Ngài Cưu Ma La Thập dịch
mang tính chất tín ngưỡng.
Học
giáo lý Ðại thừa không nắm được chân ý của kinh, chúng
ta dễ thế tục hóa hay không tưởng hóa đạo Phật, trở
thành xiển đề. Chính Phật cũng xác định rằng Ngài hiện
hữu trên cuộc đời để dìu dắt chúng sanh từ bờ mê đến
bến giác. Và kinh không phải là cứu cánh, chỉ là phương
tiện nhằm chuyển đổi ta từ con người phàm phu vô minh thành
bậc sáng suốt.
Tất
cả kinh Ðại thừa nói chung đều thể hiện tính chất này
rõ rệt và kinh Duy Ma cũng không nằm ngoài mục tiêu ấy.
VỊ
TRÍ CỦA KINH DUY MA TRONG HỆ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ÐẠI THỪA
Kinh
Duy Ma là bộ kinh Ðại thừa có sớm nhất, phát sinh từ ngã
rẽ của bộ phái Phật giáo và 10 điều phi pháp ở thành
Tỳ Da Ly.
(Nguyên
vì đức Thích Tôn diệt độ sau khoảng 100 năm, các vị Tỳ
kheo xuất thân từ dòng họ Tỳ Xá Ly, đề xướng ra 10 hành
vi chủ trương là thích hợp với giới luật của Tỳ kheo.
10 hành vi đó như sau : 1- Diêm tịnh : Căn cứ vào giới luật,
các Tỳ kheo không được để đồ ăn cách đêm. Nghĩa là
các thứ đồ ăn thông thường, không được để đến ngày
hôm sau rồi lại ăn. Nhưng nếu đồ ăn đó đem ướp với
muối, thì vẫn có thể được dùng ngày hôm sau. 2- Chỉ tịnh
: Về bữa ăn của Tỳ kheo phải ở lúc chính ngọ. Nếu đúng
lúc đang đi giữa đường, thì bữa ăn có thể được dùng
ở quá giờ ngọ một chút, nghĩa là mặt trời đã xế bóng
chừng độ 2 chủ, mỗi chủ 1 thước 5 tấc ta. 3- Tụ lạc
gian tịnh : Tỳ kheo sau khi ăn rồi, nếu ở trước giờ ngọ,
tới chốn tụ lạc khác, xin được thức ăn, vẫn có thể
được thụ dụng. 4- Trụ xứ tịnh : Một tháng hai kỳ các
Tỳ kheo phải tụ tập ở một trụ xứ nào đó để làm lễ
Bố tát. Nếu trụ xứ quá hẹp, có thể được phân chia làm
hai nơi để làm lễ Bố tát. 5- Tùy ý tịnh : Quyết nghị
của đoàn thể xuất gia, cần phải toàn viên tận tập để
giải quyết. Nếu trường hợp không thể xuất tịch được,
sau khi giáo đoàn quyết nghị, sẽ có thể đem những quyết
nghị đó thông cáo sau. 6- Cửu trụ tịnh : Có thể noi theo
vào tiền lệ, nghĩa là noi theo thể lệ của người trước
đã làm. 7- Sinh hòa hợp tịnh : Sau giờ ngọ, các Tỳ kheo
không được ăn phi thời. Nhưng có thể được dùng nước
hòa lẫn với sữa, không cần phải để sữa lắng xuống.
8- Bất ích lũ ni sư đàn tịnh : Tọa cụ của Tỳ kheo kích
thước bề dài, bề rộng phải theo đúng như quy định trong
giới luật. Nếu là tọa cụ không có viền xung quanh, có thể
được dùng quá khuôn khổ đã định. 9- Thủy tịnh : Tỳ
kheo không được uống rượu, nhưng vì trường hợp bệnh
hoạn, dùng để làm thuốc, có thể pha lẫn với nước để
uống. 10- Kim tiền tịnh : Tỳ kheo vốn dĩ không được cầm
tiền. Nếu bất đắc dĩ, có thể được cầm tiền bạc và
xúc tích tiền bạc.
Mười
điều trên thực ra vi phạm giới luật. Ðứng về phương
diện nghiêm khắc của giới luật mà giải thích là phi pháp.
Nhưng đứng về mặt khoan đại mà giải thích, thì thích hợp
với giới luật.
Các
Tỳ kheo ở phương Ðông, đứng về phe tự do mà giải thích,
nên dung hứa 10 điều kể trên. Trong lúc đó, ở phương Tây
có một học giả tinh thông giới luật là trưởng lão Da Xá
du hành tới thành Phệ Xá Ly, gặp ngày Bố tát. Ngài nhận
thấy các Tỳ kheo thuộc dòng Tỳ Xá Ly khuyến hóa tín đồ
cúng dường tiền bạc. Ngài rất kinh ngạc.
Vì
can ngăn việc đó, Ngài đối trước tín đồ mà tuyên cáo
: “Việc Tỳ kheo cầm tiền và nhận tiền là một cấm giới
nghiêm trọng trong giới luật”, để cảnh cáo các Tỳ kheo.
Các
Tỳ kheo cho rằng trưởng lão Da Xá làm phương ngại sự cúng
dường của tín đồ và lăng mạ đại chúng. Họ bắt Ngài
phải xin lỗi trước đại chúng và tín đồ. Nhưng Ngài không
nghe theo, trốn vào thành, đối trước dân chúng công nhiên
phát biểu 10 hành vi phi pháp như trên. Ðại chúng thấy vậy
liền tập Tăng tác pháp sấn xuất (đuổi ra khỏi chúng, theo
luật Phật, nếu một Tỳ kheo nào đem lỗi xấu của đại
chúng công bố trước tín đồ sẽ bị xuất chúng).
Trưởng
lão Da Xá trở lại phương Tây, cảm thấy giới luật của
Phật bị suy tàn. Ngài quyết đi vận động các bậc trưởng
lão để giải quyết 10 điều phi pháp. Các trưởng lão kết
luận 10 điều kể trên là phi pháp.
Ngược
lại, các Tỳ kheo thuộc Ðông bộ không phục tùng nghị quyết
này. Họ cùng nhau hội họp tại nơi khác và cũng để kiết
tập kinh điển, gọi là Ðại kiết tập hay Ðại chúng kiết
tập) (Trích Lược sử Phật giáo Ấn Ðộ tr. 89 của HT. Thích
Thanh Kiểm).
Có
thể nói kinh Duy Ma là cái nôi của Ðại thừa Phật giáo,
kiến giải giáo lý theo chân tinh thần Ðại thừa “Mang đạo
vào đời làm sáng đẹp cho đời, mà không bị đời làm ô
nhiễm”.
Thật
vậy, kinh Duy Ma phát xuất từ cách nhìn khách quan về xã hội.
Bằng trí Bát Nhã của hệ Ðại thừa rọi vào lòng xã hội
sau Phật nhập diệt 100 năm, tư tưởng Duy Ma đã ra đời tại
thành Tỳ Da Ly và manh nha phát triển trong giới trí thức.
Ðứng trên lập trường Bát Nhã quán chiếu sự vật đúng
như thật, Ðại chúng bộ nhận thấy thành Tỳ Da Ly là trung
tâm giao lưu về tư tưởng, văn hóa, thương mại. Nơi đó
có 500 trưởng giả thuộc thành phần giàu có, trí thức. Họ
là những người ưu tú nồng cốt của xã hội, không thể
chấp nhận tôn giáo mang tính chất lạc hậu; cũng như ngày
nay hình thức khất thực không tồn tại được ở các nước
văn minh.
Sự
quan sát chính xác của Phật giáo Ðại thừa về hiện thực
xã hội ở thành Tỳ Da Ly ngày nay được chứng minh rõ rệt.
Theo khảo chứng căn cứ vào Ðại Ðường Tây Vực thuật
ký của Ngài Huyền Trang, các nhà khảo cổ tìm thấy nền
nhà của Duy Ma và trưởng giả Bảo Tích cùng các dấu vết
lưu lại của một thành phố trù phú.
Sinh
hoạt trong môi trường của nền văn hóa giao lưu, những nhà
Phật giáo Ðại thừa nhận chân được thực trạng của Phật
giáo đang đổ dốc trong một xã hội phát triển với tư tưởng
văn minh của Hy Lạp truyền xuống, cộng thêm lý luận sắc
bén có sẵn lâu đời của giáo lý Vệ Ðà. Vậy mà các vị
trưởng lão thuộc Thượng tọa bộ lại còn quá câu nệ hình
thức, tự sống khép mình trong vỏ giới luật cứng nhắc.
Sinh hoạt tôn giáo đối với họ chỉ đóng khuôn vào công
việc lập đi lập lại một cách đơn thuần, máy móc, là
đi khất thực và truyền bá những giáo điều không còn thích
hợp với xã hội văn minh.
Ðối
trước những tệ trạng đó, những nhà tâm huyết Ðại thừa
thao thức cho sự sống còn của Phật giáo. Trước trào lưu
tiến hóa xã hội, họ đã vận dụng tôn chỉ của Phật cho
phù hợp với thời đại. Văn minh loài người tiến đến
đâu, tri thức của Phật giáo mở rộng và chỉ đạo cho sinh
hoạt thế gian đến đó. Nếu tri thức của giới Phật giáo
thấp hơn xã hội, thì sẽ bị nhận chìm. Tư tưởng Duy Ma
được hình thành theo tinh thần này.
Vì
vậy, có thể nói kinh Duy Ma khởi đầu cho sự duy tân Phật
giáo. Bộ kinh này tổng hợp toàn bộ nhận thức của cả
Tiểu thừa lẫn Ðại thừa. Tuy nhiên, chỉ lọc lấy những
sâu kín hay phần cốt tủy của kinh và loại bỏ phần không
cần thiết.
Theo
lối kiến giải mới về giáo lý Ðại thừa, kinh Duy Ma được
xếp vào thời kỳ chỉnh lý giáo lý của Phật. Từ giáo
lý khô chết, sống đóng khuôn, không ích lợi gì cho xã hội,
kinh Duy Ma rút ra những điểm tinh ba đem trang nghiêm cho thân
tâm chúng ta để thăng hoa cuộc sống. Và rộng hơn nữa, rọi
giáo lý giác ngộ vào lòng xã hội để kiến tạo xã hội
văn minh, hạnh phúc, tức xây dựng một Tịnh độ ngay trên
nhân gian .
Công
việc chỉnh lý được thể hiện qua nội dung kinh bằng sự
kiện 10 đại đệ tử của Phật tiêu biểu cho 10 vị Thanh
văn xuất gia đều không dám đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma.
Họ không dám đến, vì quá nể sợ nhận thức rộng
lớn của Duy Ma đã đánh ngã kiến giải thấp kém của họ.
Kinh
Duy Ma mượn hình ảnh 10 đại đệ tử bị một cư sĩ vấn
nạn để diễn tả thao thức của Ðại chúng bộ, hay nói
chung tâm trạng của hàng Tăng lữ sau khi Phật Niết bàn. Họ
bước chân vào đời chạm trán với thực tế phũ phàng. Làm
thế nào truyền đạo, giữ vững tư cách làm thầy của thiên
hạ, khi họ phải đối đầu với người trí thức thế gian
vượt hẳn giới xuất gia về mọi lãnh vực.
Kinh
Duy Ma vẽ ra câu chuyện 10 đại đệ tử của Phật đã trả
lời một cách lúng túng những câu hỏi của cư sĩ Duy Ma hay
phải chịu thua, cúi đầu im lặng. Ý này gợi chúng ta hình
dung cuộc sống của tu sĩ đóng khuôn trong lớp vỏ tôn giáo,
mà không sử dụng được kho tàng giáo lý của Phật quá diệu
dụng, trong khi xã hội mỗi ngày một tiến triển nhanh chóng,
không ngừng. Nếu cứ tiếp tục lối sống lạc hậu, quay
lưng lại với xã hội, đi ngược lại đà phát triển của
văn minh nhân loại, chẳng bao lâu Phật giáo sẽ bị tự đào
thải ra khỏi cuộc đời.
Trước
mối ưu tư đó, giai tầng trí thức chủ trương phải tổ
chức lại Phật giáo có một hướng đi rõ rệt, cao thượng
và lợi ích thiết thực trên nhân gian. Và kinh Duy Ma xây dựng
trên tinh thần này đã hình thành hai mẫu người lý tưởng
của đạo Phật : một mẫu người tiêu biểu cho giới tu sĩ
là Văn Thù Sư Lợi Bồ tát và một người gương mẫu đại
diện cho giới cư sĩ tại gia tu hành đúng pháp, thể hiện
được trí tuệ sáng suốt, đời sống đạo đức, làm sáng
đẹp cho đạo và đời. Cả hai mẫu người xuất gia và tại
gia như vậy đều có giá trị ngang nhau. Tuy hai sắc thái nhưng
là một, đưa đến kiến giải cao nhất của giáo lý Ðại
thừa là pháp môn bất nhị. Theo pháp bất nhị, những gì
còn chia chẻ, còn phân biệt được, thì còn nằm trong vòng
đối đãi của pháp sanh diệt thế gian.
Việc
vấn đáp với cư sĩ Duy Ma, tất cả đại đệ tử của Phật
đều thất bại, ngoại trừ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.
Văn
Thù tiêu biểu cho giới xuất gia có tri thức tuyệt vời, đã
đối đáp trôi chảy mọi thắc mắc của cư sĩ. Hình ảnh
này gợi nhắc hàng tu sĩ chúng ta muốn giáp mặt với đời,
giáo hóa chúng sanh, ngoài đời sống phạm hạnh cao quý, còn
phải trang bị sự hiểu biết chính xác. Với kiến thức thế
gian và siêu thế gian, chúng ta chỉ đạo mọi việc thành công.
Thực hiện được điều này, tự động xóa bỏ được chỉ
trích tu sĩ là lớp người ăn bám.
Hình
ảnh kiểu mẫu thứ hai hộ trì chánh pháp thể hiện qua cư
sĩ Duy Ma. Ngài sử dụng trí tuệ sáng suốt, tùy hoàn cảnh,
tùy người mà hiện thân tương ưng để mang đến an vui lợi
lạc.
Việc
làm của Duy Ma gợi nhắc hàng cư sĩ rằng tuy lăn lóc trên
mọi nẻo đường đời, nhưng tâm phải luôn hướng về Vô
thượng chánh đẳng giác, giống như như hoa sen vẫn tỏa hương
thơm ngát trong vũng bùn nhơ. Cư sĩ mang tinh thần Duy Ma lấy
trí tuệ và tâm từ bi làm hành trang xây dựng cho chính mình
và người cùng thăng hoa, tạo dựng một xã hội an lạc giải
thoát.
Tóm
lại, hai hình ảnh Văn Thù và Duy Ma là hai mẫu người mô
phạm lý tưởng duy trì và bảo vệ chánh pháp còn mãi trên
thế gian. Nối gót theo các Ngài trên bước đường tu, đi
theo lộ trình của kinh Duy Ma, chúng ta không an trú Niết bàn,
cũng không trước sanh tử, phải giải thoát ngay trên cuộc
đời này. Nghĩa là với trí Bát Nhã quán sát, chúng ta không
theo đuổi con đường hoàn toàn thế tục nhiễm ô, nhưng cũng
không đi trên Thánh đạo xa lánh cuộc đời.
Chúng
ta bước theo Trung đạo, tức con đường xây dựng thế giới
giác ngộ, tình thương và hạnh phúc ngay trong lòng thế gian.
Thành tựu được như vậy, chúng ta xứng đáng là người
kế thừa của Phật hiện hữu trên cuộc đời chỉ nhằm
mang ánh sáng trí tuệ và phước lạc đến cho mọi người.
PHIÊN
DỊCH VÀ CHÚ SỚ KINH DUY MA
Kinh
Duy Ma nguyên tên là Vimalakirti Nirdesa được lưu truyền từ
Ấn Ðộ sang Tây Vực, Trung Quốc, Tây Tạng, Mông Cổ, Triều
Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Ðặc biệt về mặt tư tưởng
giáo lýù đã biểu hiệu đặc sắc về văn học cho đến
nghệ thuật, cũng như xã hội cho đến lịch sử giáo hội,
mà ngày nay hãy còn được chú ý.
Tư
tưởng Duy Ma là căn bản cho tư tưởng Trung đạo của Long
Thọ và cũng là căn bản cho giáo nghĩa của các tông phái
như Tịnh độ tông, Mật tông, Ðịa Luận tông, Thiên Thai
tông, Thiền tông, Pháp Tướng tông. Tuy nhiên, đến nay thông
thường người ta vẫn xem kinh này là của Thiền tông.
Và thực tế thì về mặt sắc bén của giáo lý, kinh này đã
phát huy được tính đại biểu về Thiền tông của Phật
giáo Ðại thừa. Do đó, kinh Duy Ma quan hệ chặt chẽ với
Thiền tông qua suốt các quá trình truyền bá.
Ðiều
đó thấy rõ nhất ở Trung Quốc, Triều Tiên. Sau đây lược
qua các điểm chủ yếu :
- Tư
tưởng Trung đạo : Ðây là ý nghĩa bao quát toàn bộ kinh,
thực hành tư tưởng này là “Hạnh Bồ tát” như được
hiển thị trong “Tận, vô tận giải thoát”, “Bất tận
hữu vi, bất tận vô vi”. Toàn thể kinh toát ra tính chất
của hạnh Bồ tát, đặc biệt được nói rõ trong nửa phẩm
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát thăm bệnh và phẩm 11 Bồ tát đạo.
- Tinh
thần giới luật : Các vấn đề “tọa cụ” tác pháp trong
khi ăn, vấn đề nam nữ căn để phát xuất từ bản vị Tỳ
kheo, Tỳ kheo Ni của Tiểu thừa giới tiến triển đến Ðại
thừa giới hoặc Bồ tát học xứ. Vì kinh Duy Ma xuất hiện
trong bối cảnh sau Phật nhập diệt 100 năm. Ðó là lúc mà
giáo đoàn khởi xướng tư tưởng cải cách, nên kinh Duy Ma
mang tinh thần phóng khoáng để triển khai vấn đề giới luật
theo nghĩa của Niết bàn và Phật tánh luận.
Kinh
Duy Ma được phiên dịch ra Hán văn trước sau 6 lần,
hiện còn 3 bản dịch sau :
1.-
Chi Khiêm đời Ngô dịch “Phật thuyết Duy Ma Cật kinh” 2
quyển.
2.-
Cưu Ma La Thập đời Dao Tần dịch “Duy Ma Cật Sở Thuyết
kinh” 3 quyển.
3.-
Huyền Trang đời Ðường dịch “Thuyết Vô Cấu Xưng kinh”
6 quyển.
Trong
đó bản dịch của La Thập được phổ biến và truyền bá
sâu rộng hơn cả. Về vấn đề nghiên cứu kinh Duy Ma hiện
nay, vì nguyên bản tiếng Phạn không tìm thấy, nên ngoài bản
dịch tiếng Tây Tạng, chủ yếu đều lấy Hán dịch làm cơ
sở.
Về
chú sớ, có thể nói “Chú Duy Ma” của Tăng Triệu cho đến
nay vẫn được coi là tác phẩm tiêu chuẩn về giải thích
kinh Duy Ma.
Ngoài
ra, có “Duy Ma kinh sớ” gồm quảng sớ và lược sớ của
Thiên Thai, “Duy Ma kinh Nghĩa Ký” của Tịnh Ảnh, “Tịnh
Danh Huyền luận” của Gia Tường, “Thuyết Vô Cấu Xưng
kinh sớ” của Từ Ân và “Duy Ma kinh nghĩa sớ” của Thánh
Ðức thái tử là những tác phẩm đại biểu. Trong số các
tác phẩm chú sớ kể trên chỉ có Từ Ân sử dụng bản tân
dịch, còn ngoài ra đều dựa vào bản cựu dịch của La Thập.
Gần
đây, kinh Duy Ma đã 4 lần được dịch sang tiếng Âu Mỹ.
Lần thứ nhất năm 1897 và 1898, Ðại Nguyên Gia Cát đã dịch
ra Anh văn, đăng tải liên tục trong The Hansei Zasshi.
Lần
thứ hai do Hòa thượng Tuyền Phương Hoàn dịch ra Anh văn,
đăng tải liên tục trong Eastern Buddhist hoàn toàn dịch xong
14 phẩm.
Lần
thứ ba, giáo sư Jacob Fischer của Trường phổ thông
Trung học Niigala, năm Chiêu Hòa thứ 19 với sự cộng tác
của Hoàng Ðiền Vũ Tam đã dịch ra tiếng Ðức.
Lần
thứ tư, năm Chiêu Hòa thứ 37, giáo sư Etienne Lamotte dùng
bản dịch tiếng Tây Tạng và tham chiếu bản Hán dịch của
Huyền Trang đã dịch ra tiếng Pháp. Tên các dịch bản kể
trên như sau :
-Bản
dịch của Ðại Nguyên : The Vimalakirti Nirdesa Sutra (The discourse
of the Wonderous Law of Emancipation).
-Bản
dịch của Tuyền Phương: The Vimalakirti Sutra, Vimalakirti’s
Discourse on Emancipation.
-Bản
tiếng Pháp: L’Enseignement du Vimalakirti (Vimalakirtinirdésa).
Riêng
bản sau cùng của Lamotte có sử dụng đối chiếu Tây Tạng
và bản Hán của Huyền Trang đã dịch và chú giải (Traduite
et Annotée).
Mùa
An cư PL. 2543-1999
Hòa
thượng THÍCH TRÍ QUẢNG