PHẨM
1
PHẬT
QUỐC
I.
LƯỢC VĂN KINH
Tôi
nghe như vầy một thuở nọ Ðức Phật ở thành Tỳ Da Ly,
nơi vườn Yêm La cùng 8.000 Tỳ kheo, 32.000 Bồ tát như Quán
Thế AÂm, Ðắc Ðại Thế, Văn Thù Sư Lợi, Di Lặc, Ðẳng
Quán, Quang Nghiêm, Bảo Tích, Thường Tinh Tấn, Bất Hưu Tức,
v.v... Thi Khí Ðại Phạm và 10.000 Phạm Thiên, Ðế Thích và
10.000 chư Thiên tùy tùng cùng bát bộ chúng : Long thần, Dạ
xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà,
đều đến pháp hội.
Phật
đang nói pháp cho đại chúng, con của trưởng giả Bảo Tích
và 500 thiếu niên đến đảnh lễ, dâng lọng báu cúng Phật.
Do oai lực của Phật khiến 500 lọng báu ấy họp thành một
cây lọng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới. Tất
cả núi, biển, sông, suối, mặt trời, mặt trăng, tinh tú,
cung điện của các vị thần và chư Phật đang nói pháp trong
mười phương đều xuất hiện trong lọng ấy.
Ðại
chúng thấy thần lực của Phật đều khen ngợi và Bảo Tích
cũng đọc kệ tán thán : “Bạch Thế Tôn, 500 thiếu niên
cùng đi với con đều phát tâm Vô thượng chánh đẳng giác,
nguyện muốn nghe cõi Phật thanh tịnh. Cúi mong Thế Tôn dạy
hạnh Bồ tát để chúng con được Tịnh độ của Phật”.
Phật
dạy rằng tất cả chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát, ví
như muốn xây dựng nhà phải xây từ mặt đất, không thể
xây giữa hư không. Trực tâm, thâm tâm, bồ đề tâm là Tịnh
độ Bồ Tát, sáu pháp ba la mật, bốn vô lượng tâm, bốn
pháp nhiếp, 37 trợ đạo phẩm, mười điều lành v.v... đều
là Tịnh độ của Bồ tát. Bồ tát muốn được cõi Phật
thanh tịnh nên làm cho tâm thanh tịnh, tùy theo tâm thanh tịnh
mà cõi Phật được thanh tịnh.
Xá
Lợi Phất nghĩ rằng tâm của Phật thanh tịnh, tại sao cõi
Ta bà của Ngài toàn là hầm hố, gai chông nhơ nhớp thế này.
Phật
biết tâm niệm ấy, liền bảo : “Mặt trời, mặt trăng há
không sáng chăng. Tại sao người mù lại không thấy? Cũng
thế, chúng sanh do tội chướng, nên không thấy thế giới
Như Lai thanh tịnh trang nghiêm”.
Loa
Kế Phạm Thiên trả lời Xá Lợi Phất rằng ông thấy nước
của Phật Thích Ca thanh tịnh như cung trời Tự Tại. Khi ấy,
Phật ấn ngón chân xuống đất, tức thì cõi tam thiên đại
thiên thế giới liền hiện ra trăm ngàn trân bảo trang nghiêm
rực rỡ.
Khi
Phật hiện ra cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, Bảo Tích và
500 thiếu niên đều chứng vô sanh pháp nhẫn, tám vạn bốn
ngàn người phát tâm Vô thượng chánh đẳng giác.
Và
khi Phật thâu nhiếp thần lực, cõi nước trở thành như xưa.
Chư Thiên được pháp nhãn thanh tịnh, 8.000 Tỳ kheo không còn
chấp pháp, tâm được giải thoát.
II.
GIẢI THÍCH
Kinh
Ðại thừa thường phân ra mười loại hình thế giới gồm
sáu thế giới phàm (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la,
người, trời) và bốn thế giới của Thánh (Thanh văn, Duyên
giác, Bồ tát và Phật). Tuy có mười loại hình thế giới
khác nhau, nhưng chúng ta thường qua lại mười thế giới này
ngay trong cuộc sống hiện tại; không phải đợi đến chết
mới thay đổi thế giới. Một sát na tâm trước ta hoan hỷ
là đang ở cõi trời, sát na tâm sau ta đau khổ cùng cực là
đang rơi vào địa ngục. Trong từng niệm tâm, chúng ta luôn
thay đổi cảnh giới mình sống như vậy.
Phật
dạy tâm con người tùy theo tác động của duyên bên ngoài
tạo thành mười loại hình thế giới, hay mười tâm của
mười thế giới. Mười tâm này kết hợp với mười cảnh
bên ngoài sanh ra 100 pháp và 100 pháp được quan sát qua một
vòng thật tướng các pháp gọi là 10 Như Thị, chúng ta có
1000 NHƯ. 1000 NHƯ tương quan với ba đời quá khứ, hiện tại,
vị lai biến thành 1000 x 3 = 3000 pháp.
Ngài
Thiên Thai phát hiện pháp nhất niệm tam thiên, nghĩa là trong
một sát na tâm, chúng ta có 3000 loại hình khác nhau.
Theo
Ngài, vì tâm chúng ta quá giao động nên không nhận được
điều này. Nếu hành giả trụ định hay được Phật ấn
tâm sẽ thấy đủ 3000 mô hình khác nhau trong một niệm tâm.
Chính
vì tâm có khả năng sanh khởi các loại hình thế giới, Phật
đưa ra pháp tu kiến tạo Tịnh độ. Ðúng như pháp tu hành,
thì loại hình đó hiện ra, tương tự như theo họa đồ, việc
xây dựng phải thành công.
Pháp
tu đầu tiên Phật dạy là phương pháp diệt khổ để có
Niết bàn. Khi làm theo đúng mô hình Phật đề ra, hành giả
đương nhiên đạt quả vị La hán, tạo dựng được loại
hình thứ nhất trong thế giới Thánh là Niết bàn của Thanh
văn.
Trong
mười loại thế giới phàm Thánh, thấp nhất là cảnh giới
địa ngục và cao nhất là thế giới Phật, một mô hình thế
giới lý tưởng mà chúng ta tu hành đều cố gắng đạt đến.
Trong
thế giới Phật, Ngài cũng vẽ ra cho chúng ta bốn loại thế
giới thanh tịnh hay bốn Tịnh độ khác nhau qua bốn bộ kinh
Di Ðà, Duy Ma, Hoa Nghiêm và Pháp Hoa.
Từng
chặng đường tu hành, tư cách và khả năng của người nghe
pháp thăng tiến đổi mới, cũng như tùy thời tùy chỗ mà
Phật thuyết pháp khác nhau. Từ đó, hình thành nên Tịnh độ
hay cảnh giới an lành không giống nhau.
Tu
chứng thâm nhập được bốn Tịnh độ nói trên, chúng ta
sẽ bước vào Tịnh độ sau cùng do chính ta tạo dựng.
Vì
vậy, có thể hiểu rằng tuy cùng một Tịnh độ, nhưng Phật
nương theo trình độ tu chứng khác nhau của chúng hội diễn
tả cảnh giới Tịnh độ dưới những dạng thức sai khác.
Khởi
đầu, chúng ta có mẫu Tịnh độ là thế giới Tây Phương
Cực Lạc của Phật A Di Ðà. Trên bước đường vân du hóa
độ khi đến thành Xá Vệ, Phật được hàng vua chúa cho đến
người dân thường hết sức kính nể. Nhất là vua Ba Tư Nặc
quá kính trọng Phật và Thánh Tăng, đã ban sắc luật rằng
người tu phạm tội gì cũng được miễn tội, kể cả giết
người cũng không bị xử tội.
Vì
thế, những thành phần xấu ác vì quyền lợi mà xuất gia.
Họ len lỏi vào Tăng đoàn và Kỳ Hoàn tịnh xá trở thành
nơi tranh chấp phức tạp với sự xuất hiện của sáu nhóm
ác Tăng, gọi là lục quần Tỳ kheo.
Những
vị chân tu không thể chịu đựng chung sống trong môi trường
tệ hại như vậy, họ xin Phật đến nơi khác. Ngài mới khuyến
khích họ cố gắng nhiếp tâm tu ở thế giới Ta bà, chết
sẽ vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Ðó là thế
giới lý tưởng được Phật vẽ ra cho chúng hội hướng tâm
đến, để an trú giải thoát, tạm quên đi môi trường tệ
ác hiện tại.
Ðến
lúc tâm chúng hội tạm an định, Phật không muốn họ thỏa
mãn với sinh hoạt đơn giản duy nhất là khất thực, ăn,
ngủ. Ngài cũng không muốn họ mãi an trú trong ba pháp : Không,
Vô tác, Vô nguyện của hàng A la hán, chẳng muốn làm gì và
cũng chẳng mong cầu gì, kể cả mong muốn thành Phật.
Phật
mới tạo điều kiện gợi ý cho chúng Tăng phát triển tâm
bồ đề. Gợi ý bằng cách dẫn pháp hội đạo tràng đến
thành Tỳ Da Ly, một thành phố văn minh để họ mở rộng
tầm nhận thức, có cái nhìn đổi mới.
Ở
thành Tỳ Da Ly, Phật giới thiệu cho chúng hội thấy thế
giới Phật ở ngay đây, ở trong vườn Yêm La, không phải
ở thế giới Tây Phương xa xôi nào như Ngài đã giới thiệu
ở thành Xá Vệ.
Thế
giới Phật hay vườn Yêm La bấy giờ gồm chúng hội đạo
tràng đang nghe Phật giảng kinh Duy Ma với 8.000 Tỳ kheo, 32
ngàn Bồ tát, 10 ngàn Phạm Thiên, 12 ngàn chư Thiên tùy tùng
Ðế Thích, cùng với bát bộ chúng.
Với
chúng hội đông như vậy, đạo tràng của Phật phải lớn
đến bao nhiêu để dung chứa được ? Và Phật phải
giảng như thế nào cho các loài hình dáng, tâm tưởng hoàn
toàn khác nhau hiểu được ?
Về
mặt tín ngưỡng của tôn giáo, thường chấp nhận hiện tượng
này như sự thật theo kiến giải “Phật thuyết nhất âm,
chúng sanh tùy loại giải”. Tuy nhiên, về phương diện tư
tưởng, chúng ta phải hiểu dưới dạng triết học, mới nắm
bắt được lý của kinh này.
Trước
hết, đối với tám ngàn Tỳ kheo dự hội, chúng ta hiểu họ
là đệ tử tùy tùng Phật để tu học. Từ cao nhất có mười
đại đệ tử, cho đến người tầm thường nhất chỉ quét
lá hốt phân, mỗi người đều nhận được pháp phần của
Phật.
Tùy
trình độ, hoàn cảnh, cuộc sống không giống nhau, mỗi thầy
đều nhận được những gì Phật truyền trao và sống với
sở đắc riêng, tâm hồn trở thành yên tĩnh. Tâm hồn yên
tĩnh của họ tương quan với tâm thanh tịnh của Phật, tạo
thành thế giới Phật.
Trong
thế giới Phật nhỏ bé này, các Thanh văn chung sống chỉ
thấy có Phật là người giải thoát và các Ngài là Thánh
chúng giải thoát. Ðó là loại hình thế giới của Tỳ kheo
mang tâm cầu đạo, siêng tu ngày đêm hay thế giới của Thanh
văn. Các Ngài đến với Phật chỉ nhằm mục tiêu học và
tu, quyền lợi và thế gian gạt bỏ bên kia bờ tường tịnh
xá. Các Ngài chinh phục tất cả phiền não nhiễm ô để thành
người trong sạch, dự vào dòng Thánh.
Ngày
nay, chúng ta khởi đầu bước theo dấu chân của Thanh văn
tu tập, sống trong chúng, trong xã hội. Ðối với mọi tranh
chấp buồn phiền, chúng ta phải dứt khoát để ngoài tai,
chỉ một lòng cầu sao cho tâm thanh tịnh giải thoát. Nếu
còn buồn phiền bực bội, rõ ràng là phàm phu trân, không
phải Thanh văn. Trên bước đường hành đạo, tôi cũng có
một khoảng thời gian dài chỉ để tâm học và tu. Trong lòng
chỉ mong sao thâm nhập thế giới Phật, sớm ra khỏi sanh tử,
còn việc hơn thua xin để nhường cho người khác.
Thế
giới Thanh văn là một bộ phận thế giới nằm trong thế
giới Phật, hay nói chung tám ngàn Tỳ kheo chịu ảnh hưởng
Phật và thấy Phật đồng với các Ngài. Các Ngài nghĩ rằng
mình hiểu Phật, tu với Phật, có được sở đắc và ôm
sở đắc này được một phần giải thoát. Lần lần hạt
nhân này phát triển, các Ngài trở thành trong sạch hoàn toàn
về thể xác lẫn tinh thần. Vì vậy, tám ngàn Thanh văn là
đệ tử nhỏ của Phật cũng thanh tịnh. Tương quan của Thanh
văn đối với Phật là tương quan giải thoát.
Ngoài
tám ngàn Tỳ kheo hay Thanh văn liên hệ với Phật, xa hơn còn
có 32 ngàn Bồ tát đến nghe pháp. Bồ tát là đệ tử lớn
của Phật, làm công việc giáo hóa chúng hữu tình. Các Ngài
đã giác ngộ, thâm nhập Phật huệ, lấy trí tuệ làm thân
mạng, không lấy tứ đại ngũ uẩn làm mạng sống.
Vì
thế, Bồ tát nhằm chỉ Bồ tát tâm, Bồ tát hạnh, không
chỉ cho con người sanh diệt. Người có tâm thông với Phật,
tiếp thu được giáo nghĩa để sống với thế giới Phật
và có hạnh đồng như Phật, người đó là Bồ tát.
32
ngàn Bồ tát chúng ta không thấy, ví như âm thanh từ đài
phát thanh phát ra, bất cứ nơi nào có radio đều bắt được.
Nhưng chúng ta không thể thấy âm thanh này.
Bồ
tát từ Phật huệ lưu xuất và thâm nhập chúng sanh cũng giống
như vậy. Các Ngài vào thân hình nào, thân đó liền biến
thành Bồ tát. Bồ tát lực hoàn toàn vô hình, nói phàm thân
là Bồ tát sai, nhưng nói phàm thân không phải Bồ tát cũng
không đúng.
Giáo
sư Nomura thí dụ Bồ tát lực khi vận dụng được Phật huệ,
chẳng khác gì thể của dòng điện là một. Nhưng điện truyền
vào máy, thì tùy theo máy mà có công dụng khác nhau, năng suất
khác nhau.
Giữa
Bồ tát và Phật thông với nhau, bất cứ ở đâu vẫn thấy
và nghe được Phật, nên hành động theo Phật. Tại sao trong
pháp hội Linh Sơn lại có đến bát thập vạn ức na do tha
Bồ tát ? Ðó là việc của Phật, chúng ta chưa biết được.
Tuy nhiên, con số này gợi cho chúng ta ý thức các Ngài không
vắng bóng, chỉ vì chúng ta không thấy.
32
ngàn Bồ tát hiện hữu trong vườn Yêm La, nghĩa là đã hiện
hữu trong toàn thành Tỳ Da Ly. Bồ tát có mặt ở tất cả
ngành nghề, từ nguyên thủ quốc gia cho đến người tầm
thường nhất. Khi tiếp thu giáo lý, Bồ tát đều nhận được
Như Lai lực truyền vào và tùy căn tánh, khả năng từng người
mà phát triển lợi lạc. Chính các Ngài tạo thành sức sống
mãnh liệt cho thành Tỳ Da Ly.
Nói
cách khác, Bồ tát từ quả hướng nhân trợ hóa Phật Thích
Ca, có thể hiểu là những người bằng xương thịt có tâm
hồn rộng lớn, thương người, đang thực hiện sáu pháp ba
la mật. Họ đều hướng về Phật, được coi là 32 ngàn Bồ
tát đến pháp hội.
Bồ
tát có đến dự hội thật hay không, theo tôi, không phải
là vấn đề quan trọng. Ðiểm chính yếu là lực Bồ tát
tạo thành sức mạnh ảnh hưởng cả thành Tỳ Da Ly hay những
tâm hồn lớn chú tâm dồn lực về Phật. Họ làm những việc
của Phật làm, tạo thành uy thế mạnh mẽ cho Phật.
Ngoài
ra, còn có Thi Khí Ðại Phạm dẫn 10 ngàn Phạm Thiên đến
nghe pháp. Ðại Phạm Thiên vương, lúc nhỏ tôi nghĩ là Trời
thật. Khi trưởng thành, tôi không hiểu Ðại Phạm Thiên vương
một cách đơn giản là đấng sáng thế, mà hiểu theo nghĩa
triết học.
Ðại
Phạm Thiên vương được người Ấn thờ như đấng sáng tạo
ra thế giới này và Phật thuyết Pháp Hoa cũng chấp nhận
ông là chủ cõi Ta bà. Ðiều này muốn diễn tả ý nghĩa Phật
thuyết pháp cho Bà La Môn nghe và tu. Vì Bà La Môn thờ Ðại
Phạm Thiên vương, nhưng nay bỏ Ðại Phạm Thiên vương để
theo Phật, thì có khác gì Ðại Phạm Thiên vương sai, Phật
đúng hay sao. Tinh thần Phật giáo Ðại thừa không cho phép
chúng ta suy nghĩ như vậy, sẽ mất lòng.
Tất
cả Bà La Môn theo Phật nghe pháp, nhưng tinh thần Bà La Môn
không bỏ. Họ theo để nhận thức sáng suốt thêm và làm
lợi ích cho đời hơn, đúng với tinh thần sáng tạo của
Ðại Phạm.
Bà
La Môn được mệnh danh là người trí, nhưng trí tuệ của
họ so với Phật còn giới hạn. Họ học Phật để phát triển
trí tuệ, không phải để tiêu hủy nhận thức. Vì vậy, Bà
La Môn đến với Phật bằng tình thầy trò êm ái, không phải
đến với niềm xót xa phải bỏ đạo Bà La Môn.
Dưới
góc độ này, Bà La Môn theo Phật là theo trí tuệ. Dù Phật
không tự xưng là đấng sáng tạo, trí tuệ của Ngài đã
thắp sáng cho xã hội thời ấy. Và hàng trí thức Bà La Môn
đến với Phật hay hướng tâm về Ngài, đều coi như trực
tiếp với Ðại Phạm Thiên vương.
Kế
đến là Trời Ðế Thích dẫn 12 ngàn chư Thiên dự hội. Ðế
Thích là chúa tể cai trị 33 tầng trời. Ðế Thích tiêu biểu
cho quyền uy, nên người ở nhân gian có quyền uy bấy giờ
là vua chúa được coi như con của Ðế Thích, một dạng nhân
cách hóa các vị Trời và một dạng thần thánh hóa con người.
Ðế
Thích dẫn 12 ngàn Thiên tử nghe pháp gợi cho chúng ta hình
dung phải chăng là hình ảnh các vua chúa trên nhân gian đầy
quyền uy đến với Phật hay đang hướng tâm về Phật ?
Ngoài
ra, còn có bát bộ chúng : Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà,
A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dàø, là tất cả các
vị thần mà người Ấn Ðộ đang thờ kính.
Có
vua thường xưng là Rồng muốn dùng sức mạnh đàn áp khống
chế thiên hạ, thường làm mưa làm gió. Những vua ngang tàng
bạo ngược này thường đi đánh phá như A Xà Thế.
Hay
những người có sức mạnh là Dạ xoa, La sát, tiêu biểu cho
hạng người tung hoành ngang dọc trên trời đất.
Hoặc
Càn thát bà, Khẩn na la là thần văn nghệ, thần chim tấu
nhạc trời. Nói theo ngày nay, là những người làm văn nghệ
nổi tiếng. Tất cả đều hướng tâm đến Phật.
Người
có tâm ác độc đến với Phật cũng thành hiền là Ma hầu
la dà hay thần rắn, được cụ thể qua hình ảnh của Ưu
Lâu Tần Loa Ca Diếp là giáo chủ đạo Bà La Môn thờ thần
rắn.
Chúng
hội nghe pháp theo tinh thần Ðại thừa, không nghe qua âm thanh.
Vì nhĩ căn tiếp xúc thanh trần thành nhĩ thức, cho đến ý
thức, A lại da thức đều thuộc về thức, còn nằm
trong ngũ uẩn, không phải là đạo.
Phật
thuyết pháp không ở dạng căn trần thức. Pháp của Ngài
truyền trao, đi thẳng vào lòng người, để rồi biến thành
chất dinh dưỡng nuôi sống mạng mạch Phật giáo trường
tồn mỗi ngày một lớn mạnh thêm.
Nguồn
sinh lực của đạo pháp do Phật tỏa ra, lan rộng hàng ngàn
năm trên khắp năm châu một cách tự nhiên thanh thản, không
cần tổ chức bó buộc. Ðiều này tất nhiên nằm ngoài hiểu
biết tính toán theo căn trần thức của con người.
Dưới
kiến giải Ðại thừa, đòi hỏi chúng ta phải đắc đạo.
Nghĩa là tuệ sanh nhìn thấy đúng, sống đúng với chân lý,
làm lợi ích cuộc đời, không còn bị thế giới căn trần
thức làm phiền, được an vui giải thoát và giáo hóa chúng
sanh đi trên con đường giác ngộ. Ðó mới thật là hành Bồ
tát đạo.
Ðạo
không thể có ở con người chỉ học thuộc một số giới
điều, rồi đem giảng dạy. Người nghe chẳng được giải
thoát và cuộc sống của người giảng cũng chẳng dính líu
gì đến lời họ dạy. Ðó là phi đạo.
Trong
pháp hội này, giữa Phật và chúng hội đã thông nhau bằng
tư tưởng. Tư tưởng Phật thông với tư tưởng của các
tôn giáo, triết học đương thời, được kinh diễn tả là
Phạm Thiên, Ðế Thích, bát bộ chúng đến nghe pháp.
Quan
sát thực tế có Bà La Môn, vua quan ... đủ hạng người tham
dự, mà hình dung ra những thế giới lý tưởng hay tư duy khác
nhau. Nhìn thấy Bà La Môn nghe pháp, hình dung thành Phạm Thiên
nghe pháp. Thấy người theo đạo thờ rắn tiếp thu pháp Phật,
hình dung ra Ma hầu la dà v.v... Nghĩa là nhìn thực tế để
suy nghĩ một cái gì cao hơn.
Trong
một đời giáo hóa, có đủ thành phần xã hội theo Phật,
tiếp thu tư tưởng của Ngài để xây dựng cuộc sống. Từ
tu sĩ cho đến hàng trí thức, quyền quý hay người nghèo nhất
đều tham dự pháp hội. Có người nghe phát tâm, hoặc không
nghe trực tiếp cũng phát tâm.
Thành
phần chúng hội phức tạp, đủ loại hình tham dự thế giới
Phật, mở đầu phẩm, gợi cho chúng ta định rõ vấn đề
Phật quốc hay Ðức Phật là gì và thế giới Phật như thế
nào.
Phật
đầy đủ đức hạnh, tài năng, trí tuệ. Ba điểm siêu việt
này tỏa ra thu hút mọi người đến với Ngài, tạo thành
sức mạnh vô song bao quanh Phật. Kinh Pháp Hoa gọi là
sức mạnh do nhập định. Ở đây là sức mạnh tạo bằng
tâm của mọi thành phần trong xã hội hay rộng hơn trong mười
phương, đang hướng về Phật. Ý này được kinh diễn tả
là “Nhất Phật xuất thế thiên Phật hộ”, một Ðức Phật
ra đời, tất cả Phật khác phóng quang che chở.
Phật
ảnh hưởng đến mọi người. Dù họ đến hay không, tâm
vẫn hướng về Ngài. Ðó là mô hình thế giới Phật. Tuy
nhiên, chúng hội sống trong thế giới Phật vẫn không nhận
biết ảnh hưởng của lực này. Phải đợi đến con của
trưởng giả Bảo Tích đến vườn Yêm La dâng cúng lọng báu
cho Phật, mới hình dung ra được.
Con
trai của trưởng giả Bảo Tích có tài thuyết phục, dẫn
theo 500 thiếu niên dâng lọng bảy báu cho Phật. Các con
của trưởng giả tiêu biểu cho thành phần ưu tú trong xã
hội. Họ đóng vai trò quan trọng, mới là đối tượng thuyết
pháp của Phật. Kinh Ðại thừa đặt nặng vấn đề này.
Vì muốn xây dựng xã hội, phải cần những người có khả
năng quyết định sự đi lên của xã hội. Cần những người
trẻ đầy nhựa sống, đầy niềm tin, mới khả dĩ xây dựng
phát triển. Ở đây tiêu biểu bằng 500 thiếu niên.
Con
số 500 thiếu niên gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ : Ngài Ca
Diếp kiết tập kinh lần đầu triệu tập 500 A la hán, Phú
Lâu Na độ cho 500 La hán. Và đến đây có 500 thiếu niên là
đối tượng để Phật thuyết kinh Duy Ma.
Có
500 thiếu niên thật đến với Phật cũng được hay 500 này
là 500 người từ xã hội bên ngoài đã theo Phật tu học.
Họ được Ngài giáo dưỡng thành người làm lợi ích cho
đời.
500
thiếu niên dâng 500 lọng báu cúng dường Phật. 500 cây lọng
cũng mang ý nghĩa sâu sắc về nhân quả. Trên bước đường
tu, nhờ phước báo đời trước dẫn chúng ta đến với Phật.
Người đầy nghiệp ác không thể nào gặp Phật.
500
thiếu niên không mang nghiệp chướng khổ đau mới được
diện kiến, cúng dường Phật. Cũng vậy, 500 người đến
với Phật, đắc La hán là các Ngài đã có tàng lọng sẵn,
do tích lũy công đức tu hành từ bao đời.
Tàng
lọng còn mang ý nghĩa thứ hai tiêu biểu cho việc các thiếu
niên được thừa hưởng sự nghiệp của cha ông để lại
về nội tài và ngoại tài. Họ hưởng ngoại tài là gia tài
kếch sù của cha ông, tạo thành thế đứng cho họ trong xã
hội. Và nội tài là huyết thống dòng dõi, họ được thông
minh, có khả năng làm việc hơn người. Những người như
vậy tu hành thành Phật thì hợp tình hợp lý.
Nói
theo ngày nay, muốn tạo tác phẩm phải tìm chất liệu tốt.
Không thể lấy củi mục, phải dùng gỗ quý tạc tượng Phật.
Những khúc gỗ quý hay nói cách khác, 500 thiếu niên tư chất
thông minh, khỏe mạnh, tài giỏi được Phật đào tạo. Chắc
chắn họ trở thành Bồ tát hữu ích cho đời.
500
thiếu niên con của trưởng giả bỏ tục xuất gia, dâng cúng
Phật sự nghiệp nội tài và ngoại tài. Họ đến với Phật
bằng tất cả tâm hồn khát ngưỡng kính mến, mang theo tài
sản vật chất cùng khả năng tài giỏi, kết thành 500 cây
lọng báu.
Nếu
500 sự nghiệp của họ đem sử dụng một mình riêng rẽ,
không được lợi ích bao nhiêu. Trái lại, 500 lọng báu đặt
dưới trí tuệ lãnh đạo của Phật, mang lại phúc lợi
thật lớn.
500
cây lọng được Phật hợp lại thành một cây lọng, nhằm
nhắc chúng ta một người không làm được việc. Ðừng cố
chấp giữ riêng để làm lợi riêng hoặc cố chấp theo ý
mình. Phải hòa hợp thanh tịnh để tổng hợp trí tuệ của
tập thể, tạo thành nhận thức đúng hơn. Có như vậy, đạo
pháp mới phát triển theo chân tinh thần Phật giáo phát triển.
Chính
Phật cũng là mẫu người tiêu biểu đã kết hợp được
trí tuệ của người trước với những triết thuyết đương
thời. Và Ngài đưa ra mô hình tu hành toàn mỹ, toàn bích.
500
lọng báu dâng cúng được Phật hợp lại thành một cây lọng
che mát cả thành Tỳ Da Ly và che cả tam thiên đại thiên thế
giới... Hiện tượng này chỉ đọc qua, thấy mang tính chất
huyền thoại. Người không có trình độ xem đây là câu chuyện
tầm thường của người xưa và kết luận kinh Ðại thừa
hoang đường mê tín. Tuy nhiên, với kiến giải của người
có tầm nhìn xa, mọi việc hình thành và tồn tại đều phải
có lý do. Nếu chỉ mang tính chất hoang đường suông, chắc
chắn không thể phát triển tồn tại đến ngày nay.
Theo
tôi, nếu chúng ta tin cây lọng có thật, sẽ rớt vào không
tưởng. Ðạo Phật dạy chúng ta tôn trọng sự thật, không
chấp nhận vấn đề biến hóa ảo thuật.
Phật
tại thế, trên bước đường truyền giáo, Ngài không bao giờ
sử dụng thần thông. Tại sao kinh điển Ðại thừa thường
diễn tả Phật biểu diễn nhiều thần bí ? Chúng ta theo Ðại
thừa không giải quyết được vấn đề này, thì không thể
làm Phật pháp hưng thịnh.
Cần
hiểu rằng biến hóa thần thông của ngoại đạo như đi trên
nước, ngồi trên đinh, Phật coi đó là tà đạo. Ngài thừa
sức, nhưng không làm hay chẳng đáng làm. Phật rầy người
khổ công luyện tập suốt đời để đi được trên nước
có lợi ích gì, chỉ có vài đồng để thuyền chở là qua
sông được.
Chúng
ta đã biết Phật có mười hiệu, trong đó hiệu Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh Túc chỉ sự hiểu biết đúng như thật
và khả năng vận dụng sự vật một cách toàn mỹ của Ngài.
Ðiều
này diễn tả theo ngày nay là trí khôn của loài người tạo
thành nhiều tiện nghi cho cuộc sống. Hiện nay khoa học được
coi như tiêu biểu cho trí tuệ của con người ở mức độ
cao.
Theo
tôi, trí tuệ Phật siêu việt, vượt hẳn mọi hiểu biết
của loài người từ trước đến nay, mới có thể chỉ đạo
nhân loại hơn 25 thế kỷ. Thiết nghĩ những gì con người
làm được, dù là sản phẩm của tiến bộ khoa học vượt
bực đi nữa, Phật vẫn thừa sức làm. Nhưng làm việc đó
để làm gì ? Ðó là vấn đề được đặt ra.
Cần
nhớ rằng mục tiêu của Phật nhằm đưa con người ra khỏi
sanh tử luân hồi. Và công việc duy nhất của chúng ta trên
bước đường tu cũng chỉ để thoát ly sanh tử. Thật là
quá nhàm chán với công việc sống đi chết lại trong nhà
lửa tam giới. Dù có hưởng tiện nghi vật chất gấp hàng
triệu lần so với cuộc sống tu hành đạm bạc, chúng ta cũng
không thể nào bằng lòng đánh đổi.
Phật
dạy chúng ta xây dựng Tịnh độ, một Tịnh độ an bình vĩnh
cửu cho những ai biết phát huy trí tuệ vô lậu và đời sống
đạo hạnh vượt ngoài tam độc tham sân si.
Trí
tuệ vô lậu của đệ tử Phật càng phát triển, thì thế
giới Phật càng mở rộng. Ðó là thế giới của thương yêu,
sáng suốt, cảm thông, giải thoát, hòa hợp, an vui. Vì vậy
khởi niệm của người sống trong Tịnh độ toàn là niệm
lành. Khởi niệm thì có thức ăn, có vàng bạc châu báu, hoa
thơm cỏ lạ, trong chớp mắt qua lại đi về thế giới cách
xa hàng muôn ức.
Mô
hình này hoàn toàn không giống thế giới của phát triển
khoa học, nhấn nút là đến cung trăng, nhấn nút là băng ngàn
vượt đại dương. Sướng thiệt ! Nhưng cũng nhấn nút là
hàng triệu sanh linh biến thành tro bụi, hàng triệu sanh linh
dở sống, dở chết.
Phật
không dạy chúng ta những gì của phù thủy làm, vì chúng ta
mê bùa chú không được giải thoát. Ngài cũng không dạy phát
triển trí tuệ cùng một lượt với phát triển tham sân si,
vì tam độc này sẽ tiêu hủy chúng ta trăm kiếp ngàn đời
trong sanh tử.
Trở
lại vấn đề lọng báu, đối với người nhiệt tình cầu
đạo đạt đến một trình độ tương đối để hưởng được
pháp lạc, thì dưới mắt họ, hiện tượng 500 lọng báu được
Phật hợp lại thành một cây lọng, là có thật. Phật làm
được điều này, họ mới theo.
500
công tử sẵn sàng bỏ ngôi vị theo Phật, chứng minh cho chúng
ta thấy Ngài đã hình thành một thế giới nằm ngoài căn
trần thức, mà người thường không làm được, không thấy
được.
500
lọng báu được Phật kết hợp thành một cây lọng. Nghĩa
là bằng trí tuệ siêu tuyệt, Ngài đã tổng hợp được nhận
thức của người trước và người đương thời, đúc kết
thành tư tưởng chỉ đạo mọi người, có khả năng làm mát
lòng mọi loài.
Ở
đây, hiện tượng cây lọng của Phật che mát phải ẩn chứa
ý nghĩa sâu xa bên trong. Theo tôi, đó là triết lý sống, là
lý tưởng của người cầu đạo.
Thật
vậy, tác động của Phật Thích Ca vào xã hội thật mãnh
liệt. Mọi tầng lớp đến với Ngài đều cảm thấy an ổn,
hạnh phúc hay Ngài là bóng mát tàng lọng che chở cho người
phước lạc. Ý này được kinh diễn tả bằng cây lọng che
mát cả thành Tỳ Da Ly và tam thiên đại thiên thế giới.
Khởi
đầu, cây lọng che mát vườn Yêm La không mang ý nghĩa gì
khác hơn là chư Tăng xuất gia tu hành sống dưới bóng mát
Phật. Họ nương theo uy thế của Phật được sự cúng dường
của 500 thiếu niên cũng như của thập phương tín thí. Từ
đó, họ phát triển tâm linh, chứng từ sơ quả đến A la
hán và mang hình bóng giải thoát vào nhân gian khiến cho người
thanh tịnh, mát mẻ, xa rời trần cấu.
Sức
che mát của Phật và chư Tăng tuy vô hình, nhưng đó là sự
thật, tác động cho người dân được nhiều phước lợi.
Ðiều này thể hiện ý nghĩa cây lọng đã mở ra che cho cả
thành Tỳ Da Ly.
Thật
vậy, dưới sự giáo dưỡng của Phật, từ nhóm người nhỏ
ở Tỳ Da Ly lần lần phát triển, số người theo Ngài lan
rộng toàn xứ Ấn Ðộ. Sau đó, đạo Phật được truyền
sang các nước phương Ðông và các nước ở Trung Á, Trung
Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Miến Ðiện, Việt Nam. Ngày nay
Phật giáo phổ cập trên thế giới với lịch sử truyền
bá lâu dài êm đẹp và số lượng tín đồ quan trọng.
Tất
cả gợi cho chúng ta hình dung toàn vũ trụ đặt dưới sự
che chở của đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni hay giáo lý của
Ngài để lại làm mát lòng người. Chúng ta vẫn tiếp tục
sống với pháp nhũ của Phật. Phải chăng tàng lọng Phật
mở rộng khắp thế giới, được từng thế hệ trưởng dưỡng,
nối tiếp. Cho đến ngày nay, tôi vẫn có cảm nghĩ chúng ta
còn đang ngồi dưới cây lọng mát của Phật.
Nhìn
dưới mắt người cầu đạo, sẽ thấy được cây lọng vô
hình che mát chúng ta, không phải thấy đạo là cây lọng vải.
Phải chăng Phật huệ của Ngài làm chất keo gắn niềm tin
của đệ tử khắp năm châu thành một khối.
Với
cách nhìn của Ðại thừa, Phật giáo tồn tại dưới dạng
trầm lặng kỳ diệu, tồn tại không do lừa dối, chinh phục,
mua chuộc. Thật vậy, tôi tiếp xúc nhiều tầng lớp tu sĩ,
thấy rõ những thầy khôn ngoan thủ đoạn, nhưng cuộc đời
họ thật khổ. Những người thực dạ tu hành, chẳng muốn
chi phối người. Họ yên lặng tu, đạt được phần nào chứng
ngộ, tự nhiên có lực vô hình thu hút người đến học đạo.
Tu
hành cần lưu ý điều quan trọng là phải ngộ đạo. Và chúng
ta có mở đạo cũng theo tinh thần này. Nếu chỉ nói suông,
lừa bịp người khác, có được chăng, cũng chỉ tạm thời
mà thôi.
Cây
lọng mát của Phật được người đời sau triển khai thành
cây bồ đề :
Bồ đề thọ trưởng
Ảnh giá bá vạn nhơn thiên.
Tạm
dịch là :
Cây bồ đề cao vòi vọi
Tàng lọng che mát cả nhân thiên.
Cây
bồ đề là tri giác. Tổ Huệ Năng nói “Bồ đề bản vô
thọ”. Bồ đề không phải là cây, nhưng làm mát lòng người
đau khổ trên nhân gian, nên không thấy cây che mà vẫn thấy
mát. Ý này được diễn tả qua câu đối ở chùa Dư Hàng,
Hà Nội mà tôi rất tâm đắc :
“Bồ đề bản vô thọ
Xuân đáo hoa khai”
Vâng,
bồ đề đúng là vô thọ, nhưng không phải là KHÔNG suông.
Phía sau cái KHÔNG, biết bao hoa đẹp hiện ra tô điểm cuộc
đời ngộ đạo của hành giả.
Những
cánh hoa lòng hay cây che mát như thế nào thì chỉ người tu
hành bằng niềm tin tự chứng biết. Người ngoại cuộc chắc
chắn phải chấp nhận oi bức trần gian, không thể nào bước
vào nghỉ ngơi dưới bóng mát bồ đề.
Ý
nghĩa trí giác hay cây bồ đề làm thế nào hiểu hết
được. Chỉ khi nào thành Phật, chúng ta mới biết tường
tận thế nào là trí giác. Trên bước đường tu học, tùy
trình độ tu chứng mà tự thấy cây lọng trí giác được
Phật biến hóa cho ta như thế nào.
Tàng
lọng Phật che mát mọi người, nhưng quan trọng hơn là phải
có các Ðức Phật hiện hữu dưới cây lọng của Phật Thích
Ca. Hay nói cách khác, sau Phật diệt độ, có các vị Thánh
Tăng ra đời thừa kế sự nghiệp. Tiêu biểu như Ngài Ðường
Huyền Trang vì đạo không tiếc thân mạng, dấn thân đi cầu
chánh pháp, vượt bao hiểm nguy. Ngài chỉ có mục tiêu duy
nhất làm giáo pháp Phật sáng tỏ để làm tàng lọng che mát
cho nhân gian.
Những
người sống bám vào đạo là cây tầm gởi làm chết cây
bồ đề hay là con chuột uống dầu Phật. Ðèn dầu trên bàn
Phật tiêu biểu cho tuệ giác Phật để lại soi đường cho
người, nhưng bị chuột uống hết dầu.
Chuột
uống dầu làm cho đèn tắt là hình ảnh của người tu hành
không hết lòng cầu đạo, chỉ sống qua ngày, không làm gì
tiêu biểu cho đạo. Người thấy vậy, chê chán và bỏ đạo
Phật.
Người
ta không dám nói thẳng, sợ mất lòng, nên lấy hình ảnh chuột
uống dầu để ám chỉ việc chư Tăng thất học. Tăng là
thừa kế Phật truyền đăng tục diệm, tiếp nối ngọn đèn
trí tuệ Phật để chánh pháp còn soi sáng mãi trên nhân gian.
Nếu chúng ta không thể hiện được điều này, cũng chỉ
là chuột uống dầu, làm cho đèn mau tắt mà thôi.
Sự
thật lịch sử đã chứng minh ở những Tổ đình hàng trăm
năm phát triển nhờ có các danh Tăng. Nhưng nay trở thành cảnh
hoang vắng, rơi vào lãng quên, vì nơi đó chỉ còn chuột uống
dầu.
Người
thắp sáng mãi ngọn đèn của Phật trong nhân gian, được
kinh Duy Ma tiêu biểu bằng hình ảnh các hóa Phật ngồi dưới
lọng của Phật Thích Ca.
Hóa
Phật không phải là Phật thật, nhưng là các vị Tăng đã
vận dụng giáo lý vào cuộc sống, biến họ thành những ông
Phật. Phật này cũng có nghĩa là người có trí tuệ,
dùng trí tuệ chỉ đạo cuộc sống, giúp người được an
lành giải thoát.
Do
đó, vấn đề đạo yếu Tăng hoằng, hay Tăng năng hoằng đạo,
trở thành quan trọng. Ðạo còn hay không là trách nhiệm của
chư Tăng. Chư Tăng không thể núp tàng lọng hay núp bóng Phật
để uống dầu, mà phải là người có khả năng làm ngọn
đèn chánh pháp rực sáng thêm. Phật đóng rêu trong nhà bảo
tàng hay Phật tỏa hào quang trong cuộc sống đều tùy thuộc
nơi Tăng. Tăng sáng suốt chỉ đạo thì Phật pháp hưng thạnh.
Chỉ có toàn chuột, chắc chắn Phật pháp phải lụn bại.
Dưới
tàng lọng của Phật Thích Ca có vô số Phật nhằm chỉ các
tông phái ra đời. Mỗi hoàn cảnh, quốc độ đều có hàng
Tăng già sáng suốt triển khai giáo lý cho thích hợp với cuộc
sống.
Giáo
lý của Phật Thích Ca là một, nhưng các danh Tăng ứng dụng
hoàn toàn không giống nhau. Kinh Duy Ma diễn tả là các Phật
hình thành Phật quốc tùy theo yêu cầu của nhân gian.
Ðạo
Phật ở Ấn Ðộ truyền sang Việt Nam trong hoàn cảnh đất
nước ta phải luôn đối phó, chống lại ngoại xâm. Chư Tăng
khất thực theo Ấn Ðộ đã biến dạng thành Ðỗ Thuận pháp
sư khoác áo chèo đò, hoặc sư Khuông Việt làm Thủ tướng
hay một Ðiều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn.
Như
vậy, các Ðức Phật vị lai tiếp tục ra đời từ cây lọng
đầu tiên của Phật Thích Ca. Các Ngài hiện hữu khắp nơi,
ở Trung Hoa, Nhật Bản, Miến Ðiện, Thái Lan, Kampuchia, Việt
Nam v.v... Ðâu đâu cũng có hoạt Phật sống động, lợi lạc,
để kế thừa chọn lọc và sáng tạo sự nghiệp của Phật
Thích Ca. Ðó là ý nghĩa cây lọng che khắp mọi người, che
khắp tam thiên đại thiên thế giới.
500
thiếu niên đến với Phật, nghĩa là họ đã xả ái tài,
bỏ tất cả sự nghiệp để cầu thắng pháp. Họ giống với
Phật Thích Ca khi xuất gia nên đạt thanh tịnh. Giữa tâm họ
và tâm Phật thông nhau, mới thấy được lực của Phật che
mát, ảnh hưởng bao trùm cả vũ trụ. Họ cũng thấy cả thế
giới Phật và sự tương thông của Phật với chúng sanh. Trong
khi chúng hội cũng hiện hữu bên cạnh Phật, mà không một
ai nhìn thấy điều ấy.
500
thiếu niên trực nhận được tác động vô hình và thế giới
bao la của Phật, không phải chỉ hạn hẹp với thân ngũ uẩn
nhỏ bé ở thành Tỳ Da Ly mà phổ biến cả châu sa giới.
Họ liền phát tâm bồ đề, nghĩa là phát ý chí muốn thành
Phật.
Con
của trưởng giả Bảo Tích hỏi Phật rằng họ đã phát tâm
bồ đề, làm thế nào thành Phật và tạo được Thật báo
trang nghiêm Tịnh độ như Phật vừa phô diễn. Phật nhận
thấy 500 thiếu niên thông minh, khỏe mạnh và đầy đủ phước
báo. Họ hội đủ những điều kiện y như Phật Thích Ca,
Ngài mới dạy họ xây dựng Tịnh độ. Chúng ta hiểu Tịnh
độ như thế nào ?
Tịnh
trái nghĩa với uế, nên Tịnh độ đối lại với Ta bà, vì
ở đó không có đủ thứ lăng xăng lộn xộn không tốt đẹp,
không có những cái bất như ý của Ta bà.
Ðộ
là thế giới, cũng còn có nghĩa là tâm của con người. Phật
thường dạy “Tâm địa” hay lấy đất ví cho tâm. Người
ta có thể gieo trồng trên đất nhiều cây cỏ, hoa màu hay
cỏ dại đều từ đất mà sanh ra. Cũng vậy, tâm con người
có thể sanh pháp lành hay phiền não nhiễm ô.
Với
trình độ hiểu biết, chúng ta có thể khai thác biến đổi
vùng đất hoang dã thành đồng bằng phì nhiêu. Người tu cũng
vậy, dùng trí tuệ sáng suốt để thanh lọc những tánh
xấu ác ra khỏi mảnh đất tâm và gieo trồng pháp lành. Chắc
chắn tâm trong sáng sẽ tạo thành cảnh giới thanh tịnh, tốt
đẹp.
Tuy
nhiên, khi chúng ta chưa có khả năng tự tịnh hóa tâm mình,
nhưng có duyên gặp bậc đức hạnh. Nương theo tâm thanh tịnh
của các vị này, lòng chúng ta cũng được bình ổn.
Trong
lịch sử Thiền, Ngài Thần Quang quyết tâm cầu đạo, đã
chặt đứt cánh tay trái. Theo tôi, điều này thể hiện ý
nghĩa Ngài dứt khoát vứt bỏ mọi sai trái chông gai của cuộc
đời khi được Tổ Ðạt Ma an tâm. Và lạ lùng thay, tâm an
rồi, thì toàn bộ núi rừng chông gai lại biến thành lầu
các đối với Ngài.
Nhờ
tâm đứng yên, trí bừng sáng và dùng trí quán sát pháp, thấy
được thật tướng các pháp. Như vậy, trí sanh thì pháp tự
hiện, phiền não sanh thì Ta bà hiện. Tùy tâm hay tùy nhận
thức mà thế giới quan thay đổi theo.
Các
thiếu niên hỏi về Tịnh độ của Phật, nhưng Ngài lại
trả lời về Tịnh độ của Bồ tát vì có Tịnh độ của
Bồ tát mới tạo Tịnh độ Phật được. Phật dạy các thiếu
niên là dạy kinh nghiệm tu hành vô số kiếp trước của Ngài,
cũng để ngầm giáo hóa 8000 Tỳ kheo trong pháp hội. Vì vậy,
kinh Duy Ma được xếp vào thời kỳ ức dương giáo, đề cao
Bồ tát biết xây dựng, phát triển cuộc sống và chỉ trích
tư tưởng yếm thế của Thanh văn.
Kinh
Duy Ma mở đầu với phẩm Phật quốc nói lên nhận thức về
Tịnh độ bao gồm lời dạy của kinh điển Nguyên thủy và
Ðại thừa để xây dựng Niết bàn hay thế giới an bình vĩnh
cửu.
Tịnh
độ trong kinh Duy Ma khởi đầu bằng trí Bát Nhã quán chiếu,
rọi vào xã hội thấy và nói đúng với sự thật, Phật mới
đưa ra mô hình Tịnh độ rất hiện thực.
Ngài
biết tâm niệm các thiếu niên kế thừa sự nghiệp của cha
ông họ đã dày công xây dựng từ trắng tay di dân đến thành
này và từng bước tạo thành một nước văn minh tráng lệ.
Ðối với họ, những người trí thức tích cực hoạt động,
có đời sống cao trong xã hội, không thể nào chấp nhận
một mẫu Tịnh độ Tây Phương cách đây mười muôn ức thế
giới do người khác xây dựng sẵn và chỉ việc đến hưởng.
Ứng
theo bối cảnh của thành phố sinh hoạt phát đạt, cũng như
tâm niệm hăng say phát triển xã hội của các thiếu niên,
Phật vẽ ra mẫu Tịnh độ của Bồ tát.
Tịnh
độ này do chính bàn tay và khối óc của Bồ tát xây dựng,
nghĩa là mẫu thế giới lý tưởng phải được thực hiện
ngay trong thành Tỳ Da Ly. Tịnh Ðộ ở thế giới xa xăm nào
khác chỉ là không tưởng. Ví như lầu các không thể xây
trên hư không, phải dựng từ mặt đất.
Tuy
nhiên, muốn hình thành Tịnh độ hay thế giới Phật, phải
xây dựng căn bản trên con người. Từ bỏ con người, không
có thế giới Phật. Bằng tuệ nhãn quán sát chúng sanh, Phật
dạy rằng con người thế nào thì thế giới tùy đó mà hiện
ra.
Như
vậy, phải xây dựng tư cách chúng ta thế nào để thành Phật?
Nếu cứ xây dựng con người địa ngục mà muốn có thế
giới Phật, chỉ là việc vô ích, giống như người muốn
nấu cát thành cơm.
Trên
bước đường tu, tùy tư cách, vị trí của hành giả đến
chặng đường nào, thế giới giải thoát mở ra đến đó.
Bước khởi đầu tu của Thanh văn trải qua bốn trạm chuyển
đổi tầm nhìn hay thế giới Niết bàn của Tu đà hoàn, Tư
đà hàm, A na hàm, A la hán.
Chứng
được sơ quả Tu đà hoàn, hành giả bước vào thế giới
ly sanh hỷ lạc. Cần lưu tâm rằng thông thường chúng ta sống
với trạng thái vui buồn. Vui hay buồn đều do ngoại duyên
tác động vào tâm hồn. Cuộc sống của mọi người hoàn
toàn bị các pháp sanh diệt xoay vần chi phối. Nhận chân được
điều đó, trên bước đường tu, việc trước nhất phải
bắt đầu giảm bớt ảnh hưởng của tác động bên ngoài.
Tùy mức hạn chế phần tác động đến đâu, tâm hành giả
tạm bình ổn đến đó.
Khi
bớt tiếp xúc cuộc đời, tâm hồn lắng yên, thấy được
trong vui có buồn và trong buồn có vui. Nó chỉ là pháp sanh
diệt. Biết vậy, hành giả không quan tâm, trạng thái vui buồn
trần thế chấm dứt, đạt đến trạng thái ly sanh.
Hành
giả rời bỏ vui buồn sanh diệt mới tìm được nguồn vui
vô sanh của đạo, một niềm vui kỳ diệu luân chuyển trong
tâm, không tùy thuộc hoàn cảnh bên ngoài, gọi là hỷ lạc.
Tu
đến một lúc nào đó, hành giả được ly sanh hỷ lạc, không
còn bị thế gian tác động. Hành giả phát hiện được con
người thực của chính mình không phải là tứ đại ngũ uẩn
mà nó là hỷ lạc, là cái gì tiếp xúc được với hàng tứ
Thánh. Cánh cửa của thế giới tứ Thánh đã mở ra, thế
giới cũ không còn tác động nữa, người xung quanh không còn
khả năng mang tin vui buồn đến cho hành giả.
Quyết
tâm theo Phật tu hành, ngày đêm cần khắc phục ảnh hưởng
của ngoại duyên. Nhờ chánh quán vui buồn vinh nhục, chúng
ta không thiết đến nó và an trú trong thế giới mầu nhiệm
của Phật. Ngược lại, cứ chạy rong bên ngoài, dù trải
qua trăm kiếp ngàn đời cũng không thể nào hưởng được
pháp hỷ lạc.
Kế
đến, trạng thái thứ hai của người chứng quả Tu đà hoàn
là đi hỏng mặt đất. Theo tôi, đi hỏng đất nghĩa là mọi
việc thế gian không đụng vào hành giả, không đâm thủng
hành giả. Khi bước đi trên mặt đất, chông gai hầm hố
chọc thủng chân hành giả. Nói cách khác, tâm hành giả ngang
bằng với cuộc đời, nó đương nhiên quấy nhiễu, xâm hại
hành giả. Nhưng đi hỏng đất hay tâm vượt hơn cuộc đời,
cao thượng hơn thế gian, nó không thể nào tác hại. Hành
giả vân du giáo hóa khắp vạn nẻo đường đời, không làn
tên mũi đạn nào của thế gian có khả năng làm thương tổn
tâm hồn.
Từ
tâm thanh tịnh lắng yên ở sơ quả, hành giả luôn tiếp nhận
pháp vào lòng, sống với lời Phật dạy, với tạng sâu kín
của Như Lai và nhận được pháp Thiền duyệt thực và pháp
hỷ thực.
An
trú trong chánh pháp, hành giả không còn bị nóng lạnh đói
khát chi phối, nhưng nhục thân vẫn còn, nên phải ăn uống
để duy trì thân tứ đại.
Từ
thế giới ly sanh hỷ lạc, hành giả tuần tự bước vào thế
giới ly hỷ diệu lạc, xả niệm thanh tịnh. Ðó là những
Tịnh độ mà Phật xây dựng cho Thanh văn an trú. Trên bước
đường tu, tìm được sự bằng an cho tâm hồn là việc chính
yếu của Thanh văn.
Nếu
bước căn bản để vào sống trong Tịnh độ nhỏ đầu tiên,
hành giả không thực hiện nổi, còn mong gì đạt được những
quả vị khác. Thật vậy, trong cuộc đời tu, hành giả không
nương được bóng mát an lành của bất cứ Tịnh độ nào
mà Phật đã vẽ ra, chỉ sống hoàn toàn với trần thế, tất
nhiên ngàn đời vẫn đứng ngoài cửa Tịnh độ.
Trong
phẩm này, Phật đưa ra một số mẫu Tịnh độ của Bồ tát
khác với Tịnh độ của Phật. Thế giới Phật hoàn toàn
an lành. Thế giới Bồ tát là thế giới giáo hóa chúng sanh,
nên chúng sanh thế nào Bồ tát tương ưng theo đó để giáo
hóa.
Mẫu
Tịnh độ một Phật gọi là trực tâm. Khởi điểm, Phật
dạy Bồ tát xây dựng thế giới an lành bằng trực tâm. Nếu
hành giả tu tâm ngay thật, không quanh co, luyện tâm đến
mức ngay thẳng, đúng đắn hoàn toàn được coi như Tịnh
độ của Bồ tát hiện ra.
Với
tâm chánh trực, hành giả biết sống thành thật với lòng
mình và với người xung quanh. Ta bà đau khổ chỉ vì lòng
chúng sanh không ngay thẳng, thường lừa dối nhau đến phá
sản tinh thần, không còn ai tin nhau.
Vì
vậy, muốn xây dựng người, phải xây dựng chính mình trước.
Sống đúng với sự thật, không gian dối, tâm an lành sẽ
tự hiện ra. Bối cảnh tâm linh có trước, lòng hành giả
luôn bình ổn, thể hiện ra việc làm và cuộc sống hoàn toàn
chân thật. Chắc chắn hành giả không còn gì để lo âu tính
toán.
Ngược
lại, sống âm mưu dối trá, càng được che đậy kỹ lưỡng,
nó càng sống dậy mãnh liệt trong tâm, không thể nào thanh
tịnh được. Tất nhiên, thế giới an lành cũng vượt khỏi
tầm tay hành giả.
Trang
nghiêm bằng tâm chân thật không dua dối, hành giả lắng nghe
những lời chỉ trích để tự sửa mình. Tinh tấn cải thiện
suy tư và hành động tốt đẹp bao nhiêu, bản tánh giác ngộ
trong sáng thêm bấy nhiêu.
Trực
tâm hướng dẫn việc làm của hành giả đúng đắn ngay thật,
sẽ tạo niềm tin tưởng cho người. Người sẽ đến với
hành giả bằng chân tình. Sống chung với những người bạn
ngay thẳng, chuyện rắc rối không thể xảy ra.
Cần
nhớ rằng tâm mình thế nào sẽ kết thành chúng nhân theo
mình như vậy. Người xấu ác không thể sống chung với người
lành, tự nhiên có những mâu thuẫn kỳ lạ đẩy họ cách
xa nhau.
Hành
giả thành thật với mình trước và người chung quanh sẽ
thành thật theo. Từ đó, thế giới tin yêu an lành đã mở
ra cho chính mình và mọi người, một bình an của Tịnh độ
nhỏ bé trong lòng thế giới Ta bà bao la để chúng ta yên ổn
tu hành.
Nhờ
trực tâm thấy ta và người đúng như sự thật, dám sống
theo sự thật. Ðó là nền tảng cho hành giả tiến tu đạo
hạnh. Sống dối trá, đời đời vẫn là chúng sanh.
Khi
thân tâm đã yên ổn trong thế giới thành thật rồi, hành
giả thấy người khổ đau đói rét, khởi tâm giúp đỡ.
Hành giả bắt đầu nghĩ đến mở rộng thế giới an lành
cho người, chan hòa tình thương cho mọi người. Nghĩa là từ
Tịnh độ một tiến lên Tịnh độ hai, Phật dạy thâm tâm
là Tịnh độ của Bồ tát.
Thâm
tâm hay đại bi tâm là thế giới tình thương hình thành sau
thế giới của thành thật. Thâm tâm chính là bổn hoài của
Phật khi Ngài hiện thân trên cuộc đời. Kinh Pháp Hoa, phẩm
Như Lai thọ lượng đã dạy :
“Ta hằng nghĩ thế này
Lấy gì cho chúng sanh
Ðược vào huệ vô thượng
Mau thành tựu Phật thân”
Phật
trải rộng tình thương với mọi người, nên nhận được
cảm tình vô hạn của người hướng về Ngài, coi Ngài là
đấng cha lành.
Bước
theo dấu chân Phật, đầu tiên hoa tình thương nở ra trong
tâm hành giả, tạo thành sự thao thức quyết cứu tất cả
chúng sanh. Tình thương được thể hiện thành hành động,
việc làm cụ thể nhằm nâng cao đời sống người bằng với
ta, truyền trao kiến thức cho người hiểu biết như ta và
làm cho người được hạnh phúc như ta.
Tình
thương chân thật của hành giả được người đáp lại bằng
mối thiện cảm sâu xa, tạo thành thế giới thương yêu an
lành là Tịnh độ của Bồ tát.
Ý
thức điều này, cần lưu ý rằng đến nơi nào không được
quần chúng thương mến, làm công việc gì cũng bị chống
báng, chúng ta biết nơi đó không thể lưu lại. Vì Bồ tát
phải an trú trong Tịnh độ, thì giáo hóa chúng sanh mới không
bị rớt vào khổ đau. Dù ở trần lao, nhưng Bồ tát vẫn
có Tịnh độ riêng để sống. Sống với lòng từ bi, với
tình thương, tất nhiên tạo được cảnh giới an vui, hòa
hợp.
Ông
Cấp Cô Ðộc hay trưởng giả Thiện Ðức trong kinh Duy Ma tiêu
biểu cho mẫu người có lòng từ bi cao độ. Ông trải lòng
từ nuôi dưỡng người nghèo khổ, côi cút trong thành Tỳ
Da Ly. Người có tâm lượng rộng lớn mang của cải đến
hợp tác với ông trong công tác từ thiện. Và người được
giúp đỡ hết lòng làm việc để mong đền đáp tình thương
mà ông đã chan hòa cho họ.
Tạo
được thế giới tình thương rồi, hành giả phải có Tịnh
độ thứ ba là bồ đề tâm. Bồ đề tâm là trí giác, là
khả năng nhận thức sáng suốt để hành động đúng đắn
lợi cho mình và người. Vì thế, tuy xếp vào hàng thứ ba
nhưng tâm này quan trọng nhất, vì chỗ nào có bồ đề tâm,
mới có tình thương và ngay thật.
Tình
thương phát xuất từ bồ đề tâm là tình thương chân thật.
Không có bồ đề tâm hướng dẫn, sẽ rơi vào tình thương
giả dối hay có giới hạn. Thương trong tham dục, thương để
rồi đau khổ thì thương làm chi.
Người
tu khởi tâm từ giúp đỡ người bằng trí giác, bước chân
hành đạo mới nở hoa và không bị vấp ngã. Hành giả phải
biết chính xác, tùy căn tánh hành nghiệp của người mà dìu
dắt họ cùng tiến bước trên con đường Vô thượng chánh
đẳng giác. Người tin tưởng đem cả tài sản và thân mạng
giao cho hành giả. Nếu không sáng suốt, không biết cách sử
dụng thì thật là khổ tâm. Sự nghiệp càng lớn đòi hỏi
người lãnh đạo càng phải sáng suốt.
Hành
giả sống một mình muốn làm gì cũng được, nhưng lãnh đạo
quần chúng phải làm thế nào cho người phát triển an vui
hạnh phúc. Yêu cầu tri thức trở thành quan trọng. Hành giả
thương người và ngay thẳng đến đâu chăng nữa, nhưng không
đủ sáng suốt cũng thất bại, làm cho người đau khổ. Riêng
tôi, thường cân nhắc thà không làm còn hơn làm không lợi
ích, làm mất lòng người.
Thành
Tỳ Da Ly phát triển giàu mạnh nhờ Phật khéo kết hợp người
trí thức và điều động mọi người cùng chung xây dựng.
Tu bồ đề tâm, những người có chí hướng thượng sẽ đến
Bồ tát tìm cầu phát triển trí tuệ.
Khi
bồ đề tâm tăng trưởng hay trí giác phát triển, hành giả
biết rõ được nguyên tố cấu tạo con người và thế giới
con người. Hành giả vận dụng những công thức này để
thăng hoa đời sống cho người và xã hội. Nơi nào có bồ
đề tâm hay có trí tuệ, nơi đó phát triển, có đời sống
cao, là mẫu Tịnh độ của Bồ tát.
Như
vậy, muốn xây dựng Tịnh độ giống Phật Thích Ca phải
xây dựng ba Tịnh độ căn bản của Bồ tát ngay trên nhân
gian. Nghĩa là xây dựng xã hội của lòng ngay thật, của tình
thương, của hiểu biết. Vì sống chung với nhau bằng hiểu
biết, tình thương, ngay thật sẽ dễ dàng hài hòa, an vui.
Phật
dạy ba tâm : trực tâm, thâm tâm, bồ đề tâm kết thành Tịnh
độ Bồ tát. Và chính Ngài đã sử dụng ba tâm này để hình
thành Tam Bảo trên nhân gian ngay từ thời thuyết pháp ở Lộc
Uyển.
Thật
vậy, bồ đề tâm là tâm sáng suốt hay trí tuệ mà Phật
là người tiêu biểu. Với tâm sáng suốt, Phật thấy
rõ tâm trạng, yêu cầu của từng người. Ngài giải
quyết được tất cả, điều động mọi việc thành tựu
tốt đẹp và hình thành Tịnh độ ngay ở Lộc Uyển. Nhưng
Thanh văn theo Phật không thấy họ đang sống trong thế giới
an lành của Ngài, chỉ thấy cùng sống chung, đi khất thực
với Phật.
Trang
nghiêm bằng tâm sáng suốt, Phật mở rộng thế giới tình
thương cho mọi người, truyền trao bồ đề tâm cho họ. Nghĩa
là giúp họ nhận thức đúng như thật để làm lợi ích cho
đời. Pháp của Ngài dạy là thâm tâm. Và hàng đệ tử theo
Phật, an trú trong pháp, sống ngay thật diệu hòa với nhau.
Như
vậy mô hình Tam Bảo lập giáo khai tông ở Lộc Uyển chính
là thế giới an lành đầu tiên mà Phật đã xây dựng. Các
Tỳ kheo không thấy nhưng con của trưởng giả Bảo Tích và
các thiếu niên đã thấy Tịnh độ nhân gian này ở ngay đây,
không phải ở nơi xa xôi nào khác.
Tuy
nhiên, sau Phật diệt độ, đệ tử Ngài đã từ bỏ ba tâm
này để lo xây dựng chùa tháp. Họ đã dại khờ đem sự
nghiệp tinh thần đánh đổi lấy cơ sở vật chất. Tình trạng
suy đồi này khiến cho một danh Tăng Việt Nam phải thốt lên
:
Trúc ly mao xá phong quang hảo
Ðạo viện Tăng phòng tổng bất như.
Nhớ
xưa Phật tại thế không có chùa tháp, đệ tử sống với
Ngài ở vườn trúc trong những túp lều lá đơn sơ. Phong cảnh
ôi đẹp biết bao, tâm hồn giải thoát an vui kỳ lạ. Giờ
đây, Phật nhập diệt, chùa tháp xây lên nguy nga đồ sộ,
đầy đủ phòng ốc tiện nghi. Nhưng than ôi, nó lại trở
thành mối tranh chấp lớn trong Tăng đoàn. Lúc ấy, chỉ lo
nghĩ đến quyền lợi, chống đối lẫn nhau, tâm thành cong
quẹo, không an. Yếu tố bồ đề chỉ đạo người tu đã
đánh mất, làm cháy rụi Tịnh độ. Lúc ấy, lại lấy phương
tiện là chùa làm cứu cánh.
Thành
tựu ba tâm này, Phật dạy chúng ta phát triển Tịnh độ bằng
cách kết hợp ba tâm với sáu pháp ba la mật. Không đặt căn
bản trên ba tâm mà tu sáu pháp ba la mật, không thành tựu
pháp của Bồ tát.
Vận
dụng ba tâm và sáu pháp ba la mật là vấn đề không đơn
giản. Ba tâm và sáu pháp ba la mật để riêng rất dễ. Nhưng
kết hợp ba tâm và sáu pháp ba la mật để ứng dụng từng
chỗ khác nhau rất khó. Việc này đòi hỏi hành giả phải
biết cách tổng hợp để có sáng tạo riêng, mới tu
Bồ tát đạo được. Ví như đồng một lúc, địch tấn công
bốn phía mà ta đều chống đỡ được.
Không
kết hợp, mà tu ba tâm và sáu pháp ba la mật rời rạc sẽ
không kết quả. Ví dụ tu bố thí chung chung không được.
Phải kết hợp bố thí với ba tâm. Hành giả bố thí trên
căn bản tình thương, nên phẩm vật lớn hay nhỏ không quan
trọng. Việc chính là lòng chúng ta rộng hay hẹp. Nếu thực
sự thể hiện đại bi tâm, thì muối cũng thành ngọt.
Tuy
nhiên, bố thí trên căn bản đại bi, nhưng thiếu bồ đề
tâm hay trí giác, sẽ dễ bị người lợi dụng lòng tốt của
chúng ta. Sử dụng tiền của bố thí cũng phải kết hợp
với bồ đề tâm hay trí khôn mới chỉ đạo được. Không
bố thí tràn lan vì của kho cho cũng không đủ. Thấy đúng
đối tượng và đúng yêu cầu mới cho, mới giúp.
Phật
có 18 pháp bất cộng, một trong 18 pháp này là thân, khẩu,
ý tùy trí tuệ hành, tức suy nghĩ, lời nói, hành động đều
đặt
trên sự chỉ đạo của trí tuệ. Ngài sử dụng trí tuệ
rọi vào cuộc sống chính xác, thấy rõ yêu cầu thế nào
và đáp ứng nhằm mục tiêu phát triển mọi người. Không
giúp đỡ để họ trở thành người ăn hại.
Vì
thế, thâm tâm kết hợp ngược lại bồ đề tâm, xem có đáng
cho không và cho để họ được gì mới là vấn đề
quan trọng. Cho người ăn bát cơm, trong niệm tâm đó họ được
no dạ. Nhưng niệm thứ nhì, họ đói thì sẽ ra sao? Bồ tát
dùng bồ đề tâm xoáy sâu vào nghiệp của người được
bố thí để giải quyết vấn đề nghiệp mới là chính. Không
giải quyết được nghiệp, mà cứ cho ăn là làm chuyện vô
ích. Kinh Pháp Hoa dạy nuôi một người cho đầy đủ đến
80 tuổi thành La hán, cũng không bằng dạy người nghe một
chữ của kinh Pháp Hoa, thoát kiếp sanh tử luân hồi.
Chúng
ta không dùng bốn tâm để xóa nghiệp của người, mà bố
thí làm cho nghiệp của họ tăng thêm, làm cho họ sung sướng,
thỏa mãn yêu cầu tham lam. Vì thế, càng giúp nó càng tham,
đến độ ta không còn khả năng che chở, họ sẽ quay lại
chống ta. Chúng ta đã tạo điều kiện cho họ chống, mà cứ
lầm tưởng rằng ta dìu dắt họ; khác gì chúng ta vào đời
phá hại chúng sanh, không phải giúp đỡ chúng sanh.
Phật
dùng trí giác để bố thí, nên người theo Phật nghe pháp
lần xóa nghiệp của họ. Cuộc sống vui lên, họ tự phát
triển. Dù Phật không cho, mà đó mới thật là cho. Ðiển
hình như bà ăn mày cắt tóc mua dầu cúng Phật, thoát được
kiếp ăn mày, vì đúng như pháp cúng dường. Trên thực tế
bà ăn mày cúng Phật, nhưng mười phương chư Phật nhìn thấy
chính Ðức Thích Ca đã bố thí cho bà ăn mày; nhờ đó bà
mới chuyển kiếp được .
Dùng
bồ đề tâm và thâm tâm hành bố thí chưa đủ, phải vận
dụng thêm trực tâm là lòng ngay thẳng, bình đẳng tuyệt
đối. Không có trực tâm hay Như Lai tâm, bình đẳng tâm, hành
giả tu suốt đời cũng không thành Phật. Vì vậy, Duy Ma nói
với Bồ tát Văn Thù rằng Ngài coi Ðức Phật Vô Nan Thắng
và bà ăn mày đồng nhau không khác. Tuy có cho người này,
không cho người kia, nhưng trên bình đẳng tâm không có phân
biệt. Mắt thường không thấy bình đẳng, nhưng dưới mắt
Như Lai thấy Duy Ma bình đẳng. Ðối với quốc vương, Bà
La Môn, thương gia, v.v..., Duy Ma đối xử khác nhau. Làm trăm
việc không giống nhau, nhưng Duy Ma nói với Văn Thù rằng Ngài
đã hoàn toàn hành bình đẳng pháp.
Khi
hành giả kết hợp ba tâm vào việc bố thí, tác động hỗ
tương cho nhau trở thành chín lần. Người thọ được pháp
bố thí cũng tự phát triển ba tâm. Hay nói cách khác, lấy
tâm ta để vào tâm người, tác động cho người phát triển
tâm tốt như ta, là đã hành bố thí của Bồ tát.
Ông
Cấp Cô Ðộc thể hiện được pháp bố thí trên dạng ba
tâm. Những người nghèo đói được ông nuôi dưỡng, giúp
đỡ đều phát triển ba tâm này, trở thành tài giỏi, thay
thế ông quản lý sự nghiệp.
Ngoài
ra, tu pháp trì giới cũng đặt trên căn bản ba tâm. Kinh Duy
Ma lấy giới thập thiện làm chuẩn để trang nghiêm ba nghiệp
thân, khẩu, ý. Vì vậy, quan trọng là hành giả phải đoạn
hẳn tam độc tham, sân, si, dùng bồ đề tâm cân nhắc xem
Phật chế giới này cho ai, nhằm mục đích gì. Nếu không,
hành giả sẽ kẹt giới điều, rơi vào giới cấm thủ. Hành
giả dùng trí tuệ xem giới nào thích hợp, mới tạo thành
mẫu giới đức.
Hành
giả cũng sử dụng thâm tâm để thực hiện giới. Ví dụ
như Phật vì tâm đại bi giết tên cướp biển để cứu
đoàn thương buôn. Trong 12 năm đầu giáo hóa, chúng hội thanh
tịnh nên Phật không chế giới. Về sau, Phật mới đặt ra
giới để ngăn cản người không thanh tịnh.
Trì
giới thanh tịnh của Ðại thừa trên căn bản thanh tịnh từ
bản tâm, nên giới Bồ tát thuộc về giới thể hơn là giới
tướng. Từ đó, hành động thiện mà tâm ác sẽ trở thành
việc ác. Ví dụ giúp người để lợi dụng, nhưng không lợi
dụng được, tâm ác sẽ bung ra.
Nói
chung, hành giả dùng ba tâm rọi vào sáu pháp ba la mật, vận
dụng sáu pháp ba la mật tu đạt nghĩa rốt ráo, nên tâm hoàn
toàn thanh tịnh. Nhờ đó, Tịnh độ Bồ tát hiện ra dưới
dạng sáu pháp ba la mật.
Kế
đến, Phật dạy 37 trợ đạo phẩm cũng là Tịnh độ của
Bồ tát. Khi tu 37 trợ đạo phẩm cũng phải đặt căn bản
trên ba tâm, vì hành 37 trợ đạo phẩm riêng sẽ không đắc
đạo. 37 trợ đạo phẩm dùng để đối trị nghiệp như tứ
niệm xứ giúp hành giả đánh ngã ái nghiệp sẽ được giải
thoát.
Ðối
với người nhiều ái dục, Phật dạy cửu tưởng quán, nhìn
người dưới dạng thực cho đến chết rữa ra, để thủ
tiêu ái dục. Nhưng khi tiêu diệt được ái dục xong, tứ
niệm xứ quán không còn cần thiết. Ví như sử dụng vũ khí
để đánh giặc, giặc tan thì vũ khí cũng không cần.
Ðiều
chính yếu phải biết giặc ở đâu mới đánh được. Vì
vậy, sử dụng bồ đề tâm để lựa xem trong thất bồ đề
phần, hành giả tu pháp nào có kết quả cũng như sử dụng
bồ đề tâm trong việc tu bát chánh đạo.
Trong
bát chánh đạo, hành giả chỉ mới sử dụng được một
pháp chánh kiến, đã có Tịnh độ hiện ra. Thật vậy, thế
giới này sẽ tốt đối với người có tầm nhìn chính xác.
Hành giả không sống trong ảo giác, cũng không nhìn thực tế
bên ngoài dẫn đến đau khổ thất bại. Với chánh kiến,
hành giả luôn thấy đúng như thật, nhờ đó người có đồng
quan điểm sẽ đến kết bạn, tạo thành một tập thể không
sai lầm. Không lỗi lầm tất nhiên không đau khổ.
Khi
tập thể đều thấy giống nhau, cùng sống chung tu tập dễ
trở thành hòa hợp thanh tịnh, môi trường sống an vui. Hình
ảnh Ðức Phật và năm Tỳ kheo đầu tiên ở Lộc Uyển tu
tập theo chánh kiến, thể hiện rõ nét mô hình Tịnh độ
ngay tại Ta bà. Lúc ấy, Phật đưa ra quy luật sống,
theo đó Ngài và Kiều Trần Như đi khất thực, bốn Tỳ kheo
còn lại ở yên một chỗ tu tập. Riêng Kiều Trần Như đắc
La hán hay quả vị Ưng Cúng hiện nét mặt và dáng đi giải
thoát khiến cho người cung kính. Phật mới cho vào làng khất
thực chung với Ngài, không phải để xin ăn, nhưng dùng phương
tiện đó giáo hóa chúng sanh.
Việc
giáo hóa của Phật tuy trông bề ngoài đơn giản. Nhưng đứng
trên mặt tâm linh quan sát đúng hoàn toàn, mới xây dựng được
cảnh giới Tịnh độ an lành thực sự và trở thành hạt
nhân thu hút nhiều người đến quy ngưỡng.
Ngoài
ra, tu bốn pháp nhiếp : bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng
sự cũng trên căn bản ba tâm. Ví dụ tu pháp đồng sự, muốn
giáo hóa người, hành giả phải chung sống với họ. Cũng
như Phật muốn độ Sa môn, phải bỏ áo vua chúa, mặc áo
phấn tảo và đi xin ăn giống họ, để gần gũi dìu dắt
họ lên Thánh quả.
Trên
bước đường giáo hóa chúng sanh, hành giả lập hạnh đồng
với người, đặt mình vào hoàn cảnh người. Tuy nhiên, hành
giả vẫn phải dùng bồ đề tâm cân nhắc xem đến nơi nào,
sống chung với người, có làm được gì cho họ hay không.
Sức mình có nhiếp được họ không, hay là đồng sự để
rồi chẳng những không lợi ích, còn bị chúng sanh nhiếp
ngược lại mình, thì cả hai nắm tay nhau đi vào địa
ngục.
Tạo
Tịnh độ dưới dạng bốn pháp nhiếp, không ngoài ba tâm,
hành giả luôn bình tĩnh sáng suốt, chỉ đạo tâm từ và
tâm bình đẳng. Hành giả mới không lạc lối và trở thành
người tốt. Ngược lại, rời ba tâm, dễ bị người lợi
dụng lòng tốt, sẽ biến thành hành động xấu.
Tóm
lại, hành sáu pháp ba la mật, mười nghiệp lành v.v... trên
căn bản ba tâm để xây dựng Tịnh độ của Bồ tát. Mỗi
hoàn cảnh đều có Tịnh độ riêng, nay ở Tịnh độ này,
mai ở Tịnh độ khác. Hành đạo ở nhân gian mà lúc nào Bồ
tát cũng an trú trong Tịnh độ, mới giáo hóa thành tựu. Rời
bỏ Tịnh độ vào trần thế giáo hóa, coi chừng bị nhiễm
ô, bị trần thế giáo hóa ngược lại.
Thánh
Ðức thái tử ở thế kỷ 6 nghiên cứu các mẫu Tịnh độ
này, hình thành Hiến pháp 17 điều là Hiến pháp đầu tiên
của Nhật Bản. Ngài chú sớ cả bộ kinh Duy Ma, xây dựng
một quốc gia theo mô hình của Tịnh độ Bồ tát.
Phật
cho biết các Phật quá khứ cũng từng xây dựng Tịnh độ
Bồ tát theo các mô hình trên cho quyến thuộc của các Ngài
an trú. Tịnh độ của Phật chỉ hiện ra khi hành giả tổng
hợp được tất cả Tịnh độ của Bồ tát, cũng có nghĩa
là khi ta đầy đủ hạnh Bồ tát.
Nói
chung, tất cả những gì Phật dạy từ Lộc Uyển đến thành
Tỳ Da Ly, không có pháp nào không hình thành Tịnh độ. Nhưng
có người không chịu sử dụng, không chịu an trú thế giới
an lành này. Họ cứ lang thang ra ngoài rồi than vãn khổ sở,
oi bức quá và chạy tìm mãi Tịnh độ xa xăm nào đâu. Trong
khi con của trưởng giả Bảo Tích và 500 thiếu niên thích
thú với thế giới giải thoát của Phật mà họ bắt gặp
được, nên hướng tâm xuất gia.
Xá
Lợi Phất đại diện đệ tử Phật cảm thấy lạ, vụt nghi
ngờ lời Phật dạy. Các thiếu niên chỉ tu một pháp đã
có Tịnh độ, còn các Ngài theo Phật đã lâu, tu bao nhiêu
pháp và chính Phật tu vô lượng kiếp còn không có Tịnh độ,
nghĩa là sao ?
Thế
giới Phật dạy lý tưởng như vậy, nhưng thực tế lại phũ
phàng. Phật cũng phải đầu trần, chân đất đi khất thực,
có lúc cũng không có cơm ăn. Vậy Tịnh độ Phật ở đâu,
không lẽ Ðức Phật hư vọng sao ?
Ðiểm
này gợi nhắc việc tu của hành giả bằng hình thức và bằng
tâm chứng hoàn toàn khác nhau. Thật vậy, đồng tu nhưng có
người cảm tâm, được Tịnh độ. Không cảm tâm, chẳng
bao giờ bước chân vào Tịnh Ðộ được.
Hành
giả cầu đạo thực lòng, sẽ thấy Tịnh độ theo thứ bậc.
Từ Tịnh độ một mình, đến Tịnh độ một số người
hiểu ta, Tịnh độ của một số người cộng tác với ta,
đó là thế giới thanh lọc. Tâm được thanh lọc sẽ hình
thành thế giới thanh lọc hay là quan hệ giữa hành giả và
người xung quanh hoàn toàn tốt hoặc tốt một phần. Ðó là
thế giới thanh tịnh, không ô nhiễm, phiền toái.
500
thiếu niên mới nghe Phật dạy, sống được với pháp. Chư
Tăng theo Phật lâu ngày, nhưng không thấy, vì vướng mắc
hình thức, không sống với nội tâm. Người có tâm hồn hướng
thượng đem so thực tế phũ phàng với lý tưởng Phật dạy,
phát hiện ra thế giới an lành để an trú. Chỉ vì chúng ta
không biết nên không hưởng được. Phật pháp có công năng
làm cho giải thoát, nhưng ta không giải thoát là tại ta, không
phải do pháp.
Theo
đúng pháp tu hành, hành giả dễ dàng kiến tạo Tịnh độ.
Nương pháp Phật, hành giả đến với người bằng tâm pháp
và ngược lại, người cảm tâm, cảm hạnh đến với hành
giả. Thế giới tự tại giải thoát bắt đầu hình thành
từ đây.
Mối
nghi ngờ của Xá Lợi Phất thật ra nhằm nhắc nhở cho những
ai tu hành sống trong chốn giải thoát mà không hưởng được
hương vị giải thoát của đạo. Thật sự Xá Lợi Phất là
đại La hán đã sống trong pháp Phật từ lâu. Khi chưa theo
Phật, Ngài đã chứng quả Tu đà hoàn và chưa nghe pháp, chỉ
mới nhìn thấy Phật đã đắc La hán, thể hiện một sự
cảm tâm cao độ giữa Xá Lợi Phất và Phật. Nghĩa là Ngài
đã thâm nhập Tịnh độ của Phật, lẽ nào Ngài lại không
biết.
Sự
thật Xá Lợi Phất biết rõ tâm niệm nghi ngờ của đại
chúng. Ngài đặt câu hỏi để Phật giải đáp mối nghi ngờ
đó cho chúng hội, cũng là giải đáp cho chính chúng ta.
Nói
đúng hơn, kinh mượn lời Xá Lợi Phất để nói lên thao thức
của các tu sĩ trong thời kỳ Phật giáo phát triển, vì ai
cũng biết thời kỳ này làm gì còn Xá Lợi Phất. Ở đây
muốn diễn tả sự băn khoăn của tầng lớp tu sĩ trẻ thuộc
Ðại chúng bộ trước tiền đồ Phật giáo. Lúc ấy, có thể
nói nhiều người tu nhưng không mấy người tìm được lý
tưởng của đời sống phạm hạnh.
Khi
chưa xuất gia, chúng ta đọc kinh Phật thấy hay quá, cả một
bầu trời lý tưởng. Nhưng bắt đầu khoác áo tu dấn thân
hành đạo, bao nhiêu khó khăn đụng chạm, tranh chấp phiền
lụy tràn ngập bước chân ta. Ý này được kinh diễn tả
qua nhận xét của Xá Lợi Phất thấy thế giới của Ðức
Thích Ca toàn hầm hố gai chông mà Ngài cứ nói là đẹp.
Riêng
tôi, trải qua mấy chục năm tu hành, cố gắng vượt qua hầm
hố gai chông, mới lấy lại sức bình tĩnh để an trú trong
thế giới thanh tịnh phạm hạnh. Những người không đủ
sức vượt hiểm nguy, đành bỏ cuộc, hoàn tục.
Hình
ảnh 500 thiếu niên tu sống đúng lời Phật dạy, mỗi pháp
tác dụng vào tâm và thể hiện trong cuộc sống, tạo thành
một Tịnh độ hay đời sống an lành của chính họ. Cũng
vậy, cuộc đời hẩm hiu khổ đau hay gai chông hầm hố, tùy
phiền não tác động mà thành.
Sau
cùng, Phật kết luận muốn kiến tạo Tịnh độ, trên nguyên
tắc phải tạo từ tâm trước. Tâm tịnh thế giới tịnh,
tâm uế trược không thể nào sanh Tịnh độ.
Hành
giả tu tâm nào sẽ kết thành thế giới tương ưng. Hành giả
muốn tạo thế giới quan tốt nhưng mang tâm niệm xấu ác,
tất nhiên không thể hình thành thế giới an vui được.
Trang
bị bằng tâm chông gai, nên cuộc đời cũng phải nếm mật
nằm gai. Ngược lại, tâm bình thế giới bình. Tâm Phật A
Di Ðà hoàn toàn thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Hành giả
là một đơn vị trong pháp giới. Nếu trang nghiêm bằng tâm
ngay thật diệu hòa, hành giả sẽ bắt gặp được tâm của
Ngài dễ dàng. Lúc đó, hành giả và Phật A Di Ðà ở dạng
đồng thể, đồng bản tánh thanh tịnh, nên thâm nhập thế
giới của A Di Ðà hoàn toàn tự tại. Vì vậy, điều chỉnh
tâm, tịnh hóa tâm là việc chính yếu.
Xá
Lợi Phất nghĩ rằng tâm của Ðức Thế Tôn lẽ nào không
thanh tịnh, sao cõi Phật này của Ngài toàn là hầm hố chông
gai, núi non nhơ nhớp dẫy đầy như thế ? Ðiểm này hành
giả được quyền suy nghĩ như vậy. Nhưng nên nhớ hành giả
đứng trên lập trường nào để xác minh là điều quan trọng;
trên lập trường Thanh văn, Bồ tát hay Như Lai đều khác nhau.
Phật
hỏi Xá Lợi Phất có thấy mặt trời, mặt trăng sáng hay
không và người mù có thấy sáng không ? Xá Lợi Phất trả
lời người mù không thấy sáng nhưng Xá Lợi Phất thấy sáng.
Cảnh vật lúc nào cũng có nhưng vì mù nên không thấy. Cũng
vậy, có thế giới Phật, mà phàm phu nghiệp chướng bị phiền
não bao vây nên không thấy, không phải không có.
Lúc
ấy, Loa Kế Phạm Thiên trả lời Xá Lợi Phất rằng ông thấy
nước của Phật Thích Ca thanh tịnh, toàn lầu các cung điện
như cung trời Ðại Tự Tại. Còn tâm Xá Lợi Phất có cao
thấp, không nương theo trí tuệ Phật, nên thấy cõi Ta bà
không thanh tịnh.
Ðiểm
này thể hiện tâm Xá Lợi Phất và tâm Ðại Phạm Thiên Vương
khác nhau. Tâm khác là do nghiệp khác và nghiệp là cái gì
liên hệ đến quá khứ; quá khứ đã tác động cho chúng ta
có cái nhìn đổi khác.
Xá
Lợi Phất trong lúc tu tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như
ý túc quan sát trần thế đầy tội lỗi đáng chán, đáng
bỏ. Ấn tượng xấu tràn ngập trong tâm Ngài, nên nhìn ra
cuộc đời chỉ thấy toàn gai chông hầm hố là chúng sanh,
chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não. Quán sát như vậy,
hàng Thanh văn không dám nhìn, không dám nghĩ, không dám đi
vào trần thế, chỉ thu mình lại trong Niết bàn.
Ngược
lại, Loa Kế Phạm Thiên có óc sáng tạo, là đấng tạo hóa,
nên thấy vạn vật xanh tươi theo bốn mùa. Dưới nhãn quan
của Ðại Phạm Thiên vương, vạn vật là thiên đường.
Nghi
ngờ của Xá Lợi Phất hay nói khác là từ nỗi nghi của người
tu không đắc đạo sanh nghi pháp, được kinh diễn tả, mượn
nhân vật Loa Kế Phạm Thiên thuộc tôn giáo có sẵn thời
bấy giờ. Phạm Thiên khẳng định cõi Trời Ðại Tự Tại
không đẹp bằng Tịnh độ của Phật Thích Ca, để ngầm
chỉ giáo nghĩa của Phật cao siêu hơn kinh Phệ Ðà của Bà
La Môn.
Ðiều
này gợi nhắc tu sĩ Phật giáo rằng Phật tại thế, Ngài
đã điều phục các thầy Bà La Môn quy ngưỡng Phật pháp.
Và đã từng có những thời kỳ Phật giáo vàng son rực rỡ
chỉ đạo cho sinh hoạt xã hội. Nhưng tại sao chúng ta không
biết sử dụng giáo nghĩa cao quý, để cho đạo Phật xuống
dốc thê thảm.
Tinh
thần khơi dậy trách nhiệm phục hưng Phật pháp bàng bạc
trong hầu hết bộ kinh, cho chúng ta nhận thấy rõ kinh Duy Ma
được kiết tập trong thời kỳ Phật giáo bị lu mờ ở Ấn
Ðộ. Ðây là thời kỳ phản tỉnh, để sau này các Thánh
Tăng như Long Thọ, Mã Minh, Vô Trước, Thế Thân ra đời.
Nói
chung, từ thế giới Phật cao nhất cho đến thế giới Bồ
tát, Thanh văn, chư Thiên, bát bộ chúng, tất cả loại hình
thế giới đều có ở đây, ở cùng một cõi. Tuy nhiên, mỗi
loài đều thấy thế giới này quả tình là thế giới của
riêng họ.
Hay
nói cách khác, cùng một thế giới mà loài nào thấy theo nhãn
quan của loài đó. Chư Thiên thấy Phật dưới dạng chư Thiên,
La hán thấy theo La hán; nhưng Phật vẫn là vị Ðạo Sư của
tất cả. Vì nếu Phật giới hạn trong phạm vi Thầy của
những người đi khất thực, mặc áo phấn tảo nghèo khổ,
thì Ngài không thể làm Thầy của vua chúa ưa thích cung cách
sang trọng. Tâm niệm và nghiệp lực thế nào, thì hiện thế
giới tương ưng, để trả lời câu của Phật dạy : Tâm tịnh
thế giới tịnh.
Khi
Phật ấn chân xuống đất, Xá Lợi Phất liền thấy Ta bà
biến thành toàn thất bảo. Ðiều này chúng ta nghĩ có thật
không, phải hiểu sao ?
Hiện
tượng này được giải thích theo nhiều nghĩa. Thực tế,
từ thế giới này biến thành thất bảo tức khắc, không
được. Muốn biến đổi thế giới sống của chúng ta,
phải có một quá trình. Từ thời đại cổ sơ đến thế
giới văn minh ngày nay, là cả một quá trình xây dựng. Chúng
ta có quyền tin vào thế hệ con cháu sẽ thay đổi được;
đó là ý nghĩa thứ nhất của biến đổi.
Nghĩa
thứ hai của việc ấn chân xuống thành thất bảo được
hiểu là ảo thuật. Ðối với ngoại đạo, Phật có thần
thông biến hóa không lường. Thần thông này có thể hiểu
giống như ảo thuật, nghĩa là Phật tạo điều kiện
cho chúng ta thấy khác. Giáo sư Nomura lấy ví dụ tương tự
như nhà ảo thuật làm cho chúng ta sống trong mộng. Nhà
ảo thuật còn làm được, chẳng lẽ Như Lai không làm được
sao? Tuy nhiên, vì là ảo thuật, làm tức khắc được,
nhưng vì không thật nên Phật phải thu trở lại thực tế.
Nghĩa
thứ ba được giải thích là Xá Lợi Phất mượn lực Phật
để thấy thế giới Phật. Ví như trong phút giây bị thôi
miên, bị dừng suy tư lại và hướng tâm về thế giới của
người điều khiển.
Ấn
chân xuống đất, Tịnh độ hiện. Ý này được diễn tả
theo Thiền là “Tâm ấn tâm”. Người có cuộc sống dù đau
khổ thế nào chăng nữa khi gặp Phật, tâm cũng được giải
thoát. Thế giới Tịnh độ này là thế giới của tâm, từng
pháp từng pháp đưa vào tâm, sống theo lời Phật dạy, bình
an thanh thản tự đến.
Tiến
xa hơn một nấc, người theo Phật có cảm tâm mạnh, liền
chứng La hán. Ðiển hình là Xá Lợi Phất gặp Phật, râu
tóc cuả ông rụng ngay tức khắc. Râu tóc rụng tiêu biểu
cho phiền não và nghiệp thế gian dứt sạch, không phải râu
tóc rụng thật. Với nghề nghiệp là đại luận sư, tâm Xá
Lợi Phất tràn đầy vấn đề phức tạp, nhưng nhìn thấy
Phật thanh tịnh, lòng ông tự thanh tịnh theo.
Ngày
nay hồi tưởng lại quá khứ, Xá Lợi Phất được phước
duyên gặp Phật, đắc La hán dễ dàng như vậy. Chúng ta cảm
thấy số phận mình ngày nay tu trầy trật vất vả, mà không
có mấy người đắc được La hán, nên tiếc nuối than thở
rằng :
Phật
tại thế thời ngã trầm luân,
Kim
đắc nhân thân thời Phật nhập diệt.
Áo
não tự thân đa nghiệp chướng,
Bất
kiến Như Lai kim sắc thân.
Hàng
Thanh văn nhờ nương theo Phật vào sống được trong Tịnh
độ của Phật. Nếu tách rời Phật, họ cũng trở lại thân
phận riêng, trở lại thế giới không giải thoát. Vì vậy,
khi Phật không ấn chân xuống đất nữa, mọi người hoàn
lại trạng thái cũ. Kinh Pháp Hoa gọi Tịnh độ tạm bợ của
Thanh văn là hóa thành. Nếu Phật nói Tịnh độ thật của
Ngài, nghĩa là nói Phật đạo dài xa, mọi người sanh chán
nản, sẽ không muốn tu.
Thật
vậy, lần đầu Xá Lợi Phất mới nhìn thấy tướng hảo
thanh tịnh của Phật liền đắc La hán. Quý vị thử nghĩ
xem đắc quả La hán đơn giản như vậy sao ? Ðến hội Pháp
Hoa, Phật mới nói sự thật rằng Xá Lợi Phất có khả năng
bộc phá ngay tức khắc kiến hoặc phiền não, được tâm
thanh tịnh, vì nhờ Phật tạo điều kiện, nhờ nương lực
Phật mà phiền não tự rơi rụng và đắc quả này. Nói nôm
na cho dễ hiểu là “Ăn theo”, không phải thực của chính
mình.
Vì
thế, đạt quả vị La hán xong, còn phải trải qua vô lượng
kiếp tu hành Bồ tát đạo, mới thành Phật hiệu Hoa Quang.
Riêng chúng ta cũng vậy, ngày nay tu hành nương nhờ công đức
lực của Phật, an trú trong thế giới hoàng kim của Ngài cảm
thấy tạm bình ổn, quên đi oi bức của cuộc đời. Tách
rời Phật, chúng ta trở lại hoàn cảnh hẩm hiu ngay.
Kiến
tạo được Tịnh độ nhân gian xong, Phật hướng dẫn chúng
hội qua thành Vương Xá, lên Linh Thứu sơn, để chỉ mẫu
Tịnh độ lý tưởng cao hơn. Ðó là thế giới an lành vĩnh
cửu thật sự, không còn thuộc phạm vi con người phàm phu.
Tịnh
độ Linh Sơn chỉ mở ra cho những người chứng quả A la hán,
kiến hoặc và tư hoặc đã đoạn sạch. Hàng A la hán phá
được kiến hoặc, không còn nhận thức sai lầm. Các Ngài
trang bị bằng lục thông, có cái nhìn sự vật rất chính
xác, thấy được quá khứ dẫn đến hiện tại và xuyên suốt
vị lai. Chẳng những các Ngài phá được kiến hoặc mà cả
tư hoặc cũng được tận diệt. Tư hoặc là nhận thức bằng
trí óc. Khi nhận thức đã chính xác và tình cảm nhiễm ô
bên trong đã hoàn toàn quét sạch, mới đủ tư cách thâm nhập
Tịnh độ Linh Sơn. Tịnh độ này của những người đã đạt
đến Niết bàn KHÔNG, không còn bị hoàn cảnh chi phối, do
tu được nhân Không và pháp Không. Chúng hội đứng ở vị
trí này, Phật mới dạy thật tướng các pháp.
Xa
hơn nữa, trong kinh Pháp Hoa, Phật gợi cho chúng ta khái niệm
về hai Niết bàn Chân Không Diệu Hữu của Bồ tát lai thính
Pháp Hoa kinh và Bồ tát thân sắc vàng Tùng địa dũng xuất.
Hai thế giới quan này thuộc phần tâm chứng, ở ngoài phạm
vi hiểu biết, lạm bàn của hàng phàm phu chúng ta.
Như
vậy, từ hạt nhân phát triển tư tưởng Tịnh độ của Duy
Ma, quá trình tu hành theo sự tiến triển của những mô hình
Tịnh độ kiểu mẫu nói trên được Ngài Vĩnh Gia tóm lược
trong bài kệ sau :
Tam giới du hỏa trạch
Bát đức bản thanh lương
Dục ly kham nhẫn độ
Thê tâm an dưỡng hương
Lục tự như luân chuyển
Tịnh niệm tự tương tương
Di Ðà phi biệt hữu
Trí nhân đương tự cường
Bát vạn tứ thiên tướng
Bất ly ngã tâm vương
Hà lao tái án chỉ
Phương vi Cực Lạc hương.
Qua
bài kệ trên, Ngài cho chúng ta thấy xây dựng một Tịnh độ
nhân gian lý tưởng theo tinh thần kinh Duy Ma, là việc tất
yếu của Bồ tát.
Nhưng
mẫu Tịnh độ này vượt ngoài khả năng của Thanh văn. Phật
mới phải chỉ họ gá tâm tu hành ở thế giới lý tưởng
xa xôi là An dưỡng quốc của Phật A Di Ðà để tạm quên
đi những bức ngặt của nhà lửa tam giới.
Khi
an tâm rồi, Phật dạy người trí phải nhận biết Tịnh độ
Tây Phương chỉ là phương tiện và dùng trí Bát Nhã rọi
lại hiện thực cuộc sống. Nếu rời Bát Nhã, sẽ bị đọa,
vì đi thẳng về không tưởng mất.
Từ
Tịnh độ Tây Phương kéo chúng hội trở lại xây dựng Tịnh
độ tâm vương của Pháp Hoa là Thường Tịch Quang chân cảnh,
thế giới quan của những người trở về được với b