PHẨM
2
PHƯƠNG
TIỆN
I.
LƯỢC VĂN KINH
Lúc
ấy, trong thành Tỳ Da Ly có trưởng giả Duy Ma Cật đã từng
cúng dường vô lượng Phật, được vô sanh pháp nhẫn, biện
tài vô ngại, du hý thần thông, chứng được các môn tổng
trì, hàng phục ma oán, thấu rõ các pháp môn thâm diệu, thông
đạt các pháp phương tiện v.v...
Vì
muốn độ người, Ngài dùng phương tiện thị hiện làm
trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly. Tuy làm cư sĩ mà giữ
gìn giới hạnh thanh tịnh của Sa môn, ở tại gia mà không
đắm nhiễm ba cõi, thị hiện có vợ con, nhưng thường tu
phạm hạnh v.v... Nếu ở trong hàng trưởng giả, cư sĩ, Bà
La Môn, Sát đế lợi, đại thần, vương tử, Phạm Thiên,
Ngài đều là bậc tôn quý nhất và dùng vô lượng phương
tiện làm cho chúng sanh đều được lợi ích.
Ngài
dùng phương tiện hiện thân có bệnh. Các vị quốc vương,
đại thần, cư sĩ, Bà La Môn cùng vương tử, vô số người
đều đến thăm bệnh.
Nhân
dịp này, Ngài nói pháp : “Này các ông, cái huyễn thân này
thật là vô thường. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ
não, bệnh hoạn. Người có trí không bao giờ nương cậy nó.
Xét cho kỹ thân này như bọt nước, như ánh nắng dợn giữa
đồng, do lòng khát ái sanh, như cây chuối không bền chắc,
như cảnh chiêm bao, như tiếng vang, như mây nổi, như điện
chớp, sanh diệt mau lẹ không dừng. Thân này vốn không, thân
này như rắn độc, như kẻ cướp, như xóm nhà không người,
do ấm, giới, nhập mà thành. Các ông hãy nên nhàm chán cái
thân này, đừng tham tiếc nó. Phải nên ưa thích thân Phật
vì thân Phật là Pháp thân do vô lượng công đức trí tuệ
sanh, do 37 phẩm trợ đạo sanh, mười lực, bốn vô sở úy,
18 pháp bất cộng sanh... Do vô lượng pháp thanh tịnh sanh ra
thân Như Lai. Các ông muốn được thân Phật, đoạn tất cả
bệnh chúng sanh phải phát tâm Vô thượng chánh đẳng giác”.
Sau
khi nghe pháp, vô số người phát tâm Vô thượng Bồ đề.
II.
GIẢI THÍCH
Sau
khi dạy cách thức kiến tạo Tịnh độ nhân gian, Phật
giới thiệu cư sĩ Duy Ma Cật bệnh sắp chết trong phẩm này.
Tại sao cư sĩ Duy Ma lại xuất hiện trong phẩm Phương tiện
và phương tiện này mang ý nghĩa gì ? Câu trả lời chính là
nội dung của phẩm này, sẽ kiến giải dưới đây.
Thông
thường, chúng ta hay chạy tội bằng cách đổ thừa sai lầm
của mình là phương tiện. Hoặc khi cần biện minh cho việc
nói láo, chúng ta cũng cho đó là phương tiện. Phương tiện
của Phật không thể hiểu như vậy.
Phương
chỉ cho không gian, tiện là thời gian hay tiện nghi. Phương
tiện là những gì chúng ta thiết đặt, sắp xếp khác nhau,
tùy theo hoàn cảnh và thời gian để đưa đến cứu cánh giải
thoát.
Khi
Phật tại thế, Ngài tùy đối tượng, tùy thời, tùy chỗ,
giảng pháp không đồng nhau. Các pháp sai biệt là pháp phương
tiện. Vì để đáp ứng nhu cầu của nhiều người, ở nhiều
trình độ trong những hoàn cảnh và thời gian khác nhau, pháp
phương tiện trở thành vô số. Kinh thường ghi rằng tám muôn
bốn ngàn pháp môn tu là phương tiện giúp hành giả đạt
cứu cánh giải thoát Niết bàn. Có thể nói phương tiện ví
như dụng cụ và mục tiêu là cứu cánh.
Phật
và chư Bồ tát đã giải thoát, sử dụng giáo pháp như phương
tiện để giáo hóa chúng sanh, khác với người chưa đắc
đạo dùng pháp môn tu như phương tiện để giải thoát.
Vấn
đề phương tiện cũng được đề cập trong kinh Pháp Hoa phẩm
thứ 2 theo đó, Phật Pháp thân bất sanh bất diệt phải hiện
thân con người tu đắc đạo mới chỉ cho chúng ta thấy được
vị Phật vĩnh hằng để hướng tâm về. Phật sanh diệt Thích
Ca Mâu Ni ở trên cuộc đời là Phật phương tiện dẫn chúng
ta đến cứu cánh quy ngưỡng Phật hằng hữu bất tử.
Ngoài
ra, kinh Pháp Hoa cũng chỉ rõ giáo pháp Phật ứng với ba trình
độ Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, nên từ nhất Phật thừa
chân thật, Ngài phải khai phương tiện thuyết tam thừa. Trở
về kinh Duy Ma, chúng ta quan sát xem phương tiện được diễn
tả như thế nào ?
Duy
Ma Cật, một tên được dịch theo âm chữ Phạn, nếu dịch
theo nghĩa Ngài còn có tên là Tịnh Danh. Duy Ma cư sĩ được
xem là phương tiện của Phật khi ông xuất hiện trên
cuộc đời, một phương tiện thể hiện qua cuộc sống thực
của con người trong xã hội và cũng nhằm mục tiêu chứng
minh Bồ tát hạnh mà Phật Thích Ca tu trong quá khứ và nay
Duy Ma thể hiện Bồ tát hạnh trong hiện tại. Nói cách khác,
Phật lấy hiện tại để chứng minh quá khứ của Ngài.
Vấn
đề phương tiện đặt ra khiến chúng ta nghĩ đến thế đối
lập của nó là cứu cánh. Duy Ma hay Tịnh Danh cư sĩ trụ ở
thế giới của Phật Vô Ðộng. Phật thì vô động và Bồ
tát thì thanh tịnh. Hai hình ảnh này gợi cho hành giả hình
dung một thế giới hoàn toàn an lành hay thế giới tu chứng
của chư Phật và Bồ tát.
Từ
thế giới hoàn toàn trong sạch ở phương Ðông, Duy Ma rời
bỏ thế giới đó để hiện thân trên cuộc đời làm cư
sĩ, hay từ không sanh tử hiện làm người ở sanh tử. Như
vậy cứu cánh của Ngài là thế giới Diệu Hỷ thanh tịnh
của Phật Vô Ðộng và mang thân cư sĩ làm đủ việc ở thế
gian được coi là phương tiện của Duy Ma.
Thế
giới Diệu Hỷ của Phật Vô Ðộng gợi cho chúng ta ít nhiều
suy nghĩ. Hỷ là lòng vui mừng, lòng hành giả luôn hoan hỷ
với mọi người, không buồn, không giận, không động.
Duy
Ma ở với Phật Vô Ðộng thường an trụ trong ba pháp căn
bản : người khen chẳng mừng, chê chẳng giận, người thờ
ơ cũng không quan tâm. Hành giả khởi tu ở Ta bà cần lưu
ý điểm này. Khi nương với Phật Vô Ðộng nghĩa là hành
giả cần giữ cho tâm hồn yên tĩnh, đừng vui buồn động
loạn theo tiếng khen chê của thế gian. Người xưa cũng dạy
“Thị phi tiếng rụng theo hoa sớm”.
Tâm
không động để làm chủ được bản thân. Hành giả biết
rõ vui buồn thương ghét khởi lên đều kéo chúng ta rời bản
vị giải thoát, rơi vào trần lao sanh tử.
Ở
trạng thái tâm vô động, hành giả mới hưởng được niềm
vui không lệ thuộc cuộc đời, bước vào thế giới Diệu
Hỷ. An trú trong thế giới này, hành giả sẽ phát hiện được
Phật tri kiến hay tạo được tự thọ dụng thân. Tự thọ
dụng thân khác với tha thọ dụng thân.
Tha
thọ dụng thân chỉ cho thân tứ đại ngũ uẩn của con người.
Muốn giữ cho thân tứ đại sống, chúng ta phải cung cấp
cho nó liên tục mỗi ngày một số đồ ăn thức uống. Và
ngũ uẩn : thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, chúng ta luôn
tiếp xúc với cuộc đời, luôn suy nghĩ, nhận thức. Chỉ
khi nào chúng ta chết, thì ngũ uẩn mới ngưng hoành hành.
Duy
Ma hay Tịnh Danh sống với Phật Vô Ðộng đã lìa ngũ uẩn,
vấn đề tiếp tế cho ngũ uẩn thân không còn. Nghĩa là vui
buồn vinh nhục của cuộc đời không còn làm hoen ố bản
tâm Ngài. Thiên nhiên, xã hội, hoàn cảnh... Nói chung, những
gì bên ngoài không tác động Duy Ma và Ngài cũng không cần
nương tựa nó để sống. Như vậy đối với Ngài, tha thọ
dụng thân đã chấm dứt, Duy Ma chỉ sinh hoạt với tự thọ
dụng thân là Phật tri kiến.
Ngược
lại, phàm phu luôn sống với tha thọ dụng thân, hay mượn
bên ngoài lamø mình, rồi đem nó bao vây trói chặt tự thọ
dụng thân, quên mất bản tâm. Thật vậy, chúng ta là chủ,
nhưng lại lấy khách làm mình. Mỗi ngày ăn một số lượng
thực phẩm vào cơ thể, nuôi lớn thân vật chất tứ đại
và nhận lầm nó là con người thật của mình. Thức ăn vật
chất đem vô sản sanh ra yếu tố tâm lý : nhận lãnh, hưởng
thụ, suy nghĩ, hành động, hiểu biết, phân biệt...
Tất
cả những thứ này là hành trang càng ngày góp nhặt càng nhiều
hơn theo bước chân tiếp xúc cuộc đời của chúng ta. Nó
ở trong chúng ta lâu ngày, xâm lấn toàn bộ thân tâm đến
độ chúng ta lầm nó là TA. Chẳng khác gì người ở trọ
chiếm lần nhà, đến khi chủ nhà không còn một góc để
dung thân.
Ðó
là những tên giặc sắc, thọ, tưởng, hành, thức quấy nhiễu
che lấp chân thân bên trong của chúng ta. Vì vậy, người nào
còn vướng mắc, chấp vào tứ đại ngũ uẩn là TA, họ sẽ
lệ thuộc hoàn toàn bản thân, xã hội và thiên nhiên. Càng
nô lệ nhiều chừng nào, chúng ta càng trở nên nhỏ bé; vì
đối với vũ trụ bao la trong thời gian vô tận, không gian
vô cùng, chúng ta có nghĩa lý gì.
Duy
Ma nhắc nhở rằng mạng sống con người quá ngắn ngủi so
với thời gian vô tận. Ðem cái thân tứ đại ngũ uẩn mỏng
manh này đi vào vũ trụ bao la không cùng mà chinh phục thiên
nhiên, thì chúng ta chỉ là hạt cát trong sa mạc.
Việc
trước mắt cần nhổ ngay mũi tên độc sanh tử đang ghim vào
người. Hiểu biết của ta về pháp giới thật là ít ỏi,
chẳng thấm vào đâu. Mang tham vọng lớn chỉ phí công, nuốt
hận chui xuống mồ.
Ngoài
ý tưởng chinh phục thiên nhiên, chúng ta sử dụng tứ đại
ngũ uẩn để chinh phục xã hội cũng không hợp lý. Vì không
thể nào bắt người khác làm theo mình, khi hiểu biết và
hoàn cảnh mỗi người không giống nhau.
Chúng
ta tu hành chỉ có cách duy nhất phải chinh phục chính bản
thân và tham vọng của mình, xóa sạch những gì đòi hỏi
ràng buộc mình.
Vì
thế, Phật đặt vấn đề căn bản thiểu dục tri túc. Càng
hạn chế ham muốn, giảm bớt đòi hỏi càng được giải
thoát. Chúng ta làm chủ được bản thân với điều kiện
không nhờ vả nó. Yêu cầu của bản thân quá ít hay không
có đòi hỏi gì, trong khi mức cung của chúng ta cho đời lại
phát triển.
Yêu
cầu, tham vọng được diệt sạch, tất nhiên sự xung đột
với tham vọng, với cuộc đời, với thiên nhiên không xảy
ra. Chẳng những không xung đột, chúng ta còn hài hòa với
tất cả để chứng Pháp thân.
Như
vậy, dẹp bỏ tham vọng, tự trong sạch hóa chính mình, thì
không cần đối phó chinh phục gì cả, mọi việc tự thành.
Ngược lại, chỉ lo đấu tranh, chinh phục bên ngoài tạo thành
thế xung đột; rồi lại tiếp tục đấu tranh nữa chăng?
Trong khi chính bản thân mình không ra gì, đầy rẫy những
thứ xấu xa tội lỗi mà muốn chinh phục đủ thứ; thật
đáng thương hại.
Cổ
nhân có nói “Các nhân tự tảo môn tiền tuyết. Bất quản
tha nhân ốc thượng sương”, nghĩa là tuyết đầy ngập sân
nhà mình không lo quét dọn, cứ lo chỉ trích nóc nhà thiên
hạ phủ sương. Nói cách khác, chúng ta tu hành cần sửa mình,
dọn tâm nhơ của chúng ta trước nhất. Khi bực bội, ham muốn
khởi lên phải dập tắt ngay. Lo chạy ra ngoài xã hội, đánh
mất bản tâm, chính mình đã sai rồi. Lại lấy thêm tội
lỗi người khác tích lũy vào lòng, đến ngày nào đầy ắp
nó tự bộc phát thành ngôn ngữ, cử chỉ, hành động tội
lỗi.
Có
thể nói đạo Ðức Phật giáo là trau giồi đạo đức chính
bản thân. Ðừng để miệng nói đạo đức mà cuộc sống
hoàn toàn trái ngược, thật đáng buồn.
Thoát
ly được chi phối bên ngoài, mới sống được với tự thọ
dụng thân, sống với nguồn vui không thể diễn tả bằng
ngôn ngữ. Hình ảnh tiêu biểu chính là cuộc sống của Phật
luôn an lạc mỉm cười với chúng sanh, trong lúc cuộc đời
thực sự chẳng có gì vui. Kinh gọi thế giới này là Diệu
Hỷ, thế giới của những tâm hồn không bị gió trần lay
động.
Từ
thế giới Diệu Hỷ vô hình, Duy Ma là Bồ tát lớn thương
nhân gian sanh lại cuộc đời. Tuy mang thân người, nhưng Ngài
không giống mọi người. Ðiều này phải chăng ngầm chỉ
cho Phật Thích Ca có thân người nhưng khác người. Khác ở
phần bên trong Ngài có đầy đủ đại từ, đại bi, thập
lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng, phiền não không
còn.
Thật
vậy, trước khi hiện thân Ta bà, Ngài là Bồ tát Hộ Minh.
Nghĩa là minh linh tánh hay Phật tri kiến của Ngài được bao
bọc bằng thân tứ đại ngũ uẩn Thích Ca mang tặng cho đời.
Phật biết rõ tiền thân của Ngài như vậy và Ngài đến
thế gian theo mục tiêu đã dự định và chủ động mọi việc
trong cuộc sống.
Còn
chúng ta lớn lên theo biết bao vui buồn vinh nhục của đời
đổ trút cho ta. Xét cho cùng thân này do cha mẹ tác thành,
xã hội nhồi nhét cho chúng ta đủ thứ ý niệm phân biệt
phải trái. Mang những thứ ta không đồng ý để nhồi nặn
lại thành Ta. Còn TA thật là cái gì, có ai biết được !
Sự
khác biệt giữa thân tứ đại ngũ uẩn và chân thân gợi
nhắc hành giả hiểu rõ hơn về phương tiện của Phật. Phật
đã giải thoát hoàn toàn nhưng thương nhân gian sanh lại cuộc
đời, đó là phương tiện của Phật. Hoặc hiểu gần hơn,
khi Phật thành đạo ở Bồ đề đạo tràng đạt đến trí
tuệ tuyệt luân. Mọi loài không thể nào hiểu được, tiếp
thu được thế giới tâm chứng này. Phật muốn truyền đạt
sở đắc cũng phải rời Bồ đề đạo tràng xuống Lộc Uyển,
tiếp cận chúng sanh.
Cũng
vậy, Duy Ma ở thế giới Diệu Hỷ tịch tĩnh. Chúng sanh làm
thế nào biết được Ngài và Ngài làm thế nào giáo hóa chúng
sanh, nếu cứ an trụ trong Niết bàn tịch tĩnh. Thế giới
thanh tịnh và thế giới sanh diệt cách ly nhau. Muốn giáo hóa
chúng sanh Ta bà, Duy Ma phải khai phương tiện, hiện thân lại
ở thế giới Ta bà.
Cư tài chi sĩ
Cư gia chi sĩ
Tại gia chí Phật đạo giả.
Ðó
là hình ảnh cư sĩ Duy Ma với tấm lòng chí đạo không hề
thua sút giới xuất gia, hay đúng hơn không kém Phật. Ngài
đã đạt bản tâm thanh tịnh, nhưng hiện thân lại trên cuộc
đời, có đủ tài sản để cúng dường chư Phật.
Ngày
nay, cả hai chúng tại gia và xuất gia đồng tu phải tương
ưng. Nếu chúng tại gia quá yếu, không có người hằng tâm
hằng sản, có thế lực bên ngoài để hộ đạo, chúng ta
không phát triển Phật đạo được. Hiện thân cư sĩ làm
việc cúng dường là bước theo lộ trình thượng cầu Phật
đạo hạ hóa chúng sanh, nhằm duy trì Tam Bảo tồn tại trên
thế gian.
Dù
Duy Ma sống với thật tướng các pháp ở bản thể, nhưng
Ngài tùy người, tùy chỗ, thị hiện trong đủ các ngành nghề
của xã hội, để từng bước dìu dắt mọi người tiến
gần đến Vô thượng chánh đẳng giác.
Trong
mười hai năm đầu, Duy Ma xuất hiện ở thành Tỳ Da Ly, chưa
ai nghĩ đến Phật và đạo Phật. Chính Duy Ma cũng không xác
định Ngài là đệ tử Phật. Sự lặng thinh của Duy Ma về
tư cách Phật tử của mình cũng là phương tiện của Ngài.
Ðiều này cũng gợi cho ta cân nhắc mỗi khi muốn nhân danh
đệ tử Phật để làm gì.
Duy
Ma dấu bặt tông tích của Ngài. Mọi người trong thành Tỳ
Da Ly vẫn thấy Ngài như một người bạn thân của mình. Ý
này ngầm chỉ các Bồ tát xuất hiện trên cuộc đời không
bao giờ vỗ ngực xưng tên. Các Ngài âm thầm giúp đỡ người
thăng hoa và lặng lẽ ra đi, để lại dấu ấn sâu sắc, khiến
người liên tưởng đến Phật, Bồ tát.
Ðây
cũng là cách sống của Phật Thích Ca trong bốn mươi chín
năm thuyết pháp giáo hóa ở cõi đời. Ngài sống bình dị,
không phô trương biểu diễn như hàng ngoại đạo. Nhưng Ngài
Niết bàn, để lại cho nhân loại một kho tàng vô giá, mở
ra cho loài người con đường sống bất tử.
Duy
Ma nhận chân được rằng Ngài mang hình thức cư sĩ có nhiều
điều kiện thuận lợi trong việc phát triển những nét sáng
đẹp tràn đầy ý nghĩa của Phật đạo. Ðiều đó tốt hơn
là tự khoác lên mình chiếc áo xuất gia, chỉ làm vướng
bận, hạn chế những bước tiến sinh động trên lộ trình
vô ngã vị tha.
Với
khối óc và đôi tay, Duy Ma đóng góp nhiều lợi lạc cho đời,
thắp sáng ngọn đèn chánh pháp trong tâm tưởng mọi người.
Ðó là cái thấy như thật của Bồ tát, thấy việc gì thành
tựu lợi ích chúng sanh sẵn sàng xả thân thực hiện. Còn
phương tiện hay hình thức thì đa dạng, tùy nhu cầu mà biến
đổi.
Ðối
với Bồ tát, hình thức cư sĩ, xuất gia, Thanh văn hay Bồ
tát, bất cứ vai trò nào chẳng qua chỉ là lớp áo đổi thay
thay đổi không dừng trên sân khấu cuộc đời. Trong tâm niệm
các Ngài luôn mong mỏi đem lại an lạc giải thoát cho người.
Ý
này được một danh Tăng diễn tả bằng câu “Phương tiện
môn trung bất xả nhất pháp”. Nói đến phương tiện thì
thật vô cùng. Tuy nhiều vô số, nhưng phương tiện nào cũng
đúng, vì nó đáp ứng được cho từng căn cơ, trình độ,
hoàn cảnh khác nhau.
Duy
Ma xuất hiện với tư cách cư sĩ nổi bật hơn xuất gia, để
giới thiệu phương tiện của Ngài là trí tuệ và đạo đức.
Ở trên cuộc đời, lời nói của người đạo đức mới
có giá trị và người trí thức mới đủ khả năng để nói
điều đúng hay chân lý. Duy Ma trọn vẹn hai tư cách trí thức
và đạo đức, được mọi người kính trọng và Ngài vận
dụng được mọi phương tiện hoàn hảo.
Trái
lại, nếu hành giả thiếu trí tuệ đạo đức, thì phương
tiện sử dụng sẽ trở thành nguy hiểm. Duy Ma vào đời truyền
bá Phật pháp, cảm hóa người một cách nhẹ nhàng bằng bản
tâm thanh tịnh giải thoát và sáng suốt của Ngài.
Tuy
nhiên, cần lưu ý rằng cư sĩ muốn thành tựu công đức như
Duy Ma phải ở trình độ nào? Ở đây cư sĩ Duy Ma thành
Phật rồi, thương nhân gian sanh lại, thân cư sĩ là phương
tiện của Duy Ma để trợ hóa Phật. Hay chúng ta có thể hiểu
thêm nghĩa khác nữa, Duy Ma chính là hiện thân của Phật Thích
Ca.
Thật
vậy, hòa mình trong ba giới thượng lưu trí thức nòng cốt
của xã hội và được kính nể như hàng lãnh đạo tài đức,
Duy Ma đã thể hiện trọn vẹn tư chất trọng yếu của Phật
là trí tuệ. Dấn thân vào sống với dân nghèo làm người
cha che chở, dạy dỗ nuôi nấng, cứu giúp họ, Duy Ma đóng
trọn vẹn vai của Phật hiện hữu trên thế gian nhằm ban
vui cứu khổ cho chúng sanh.
Nói
chung, mọi tầng lớp xã hội trong thành Tỳ Da Ly đều xem
Duy Ma là Thầy. Ngài vận dụng tất cả phương tiện trên
cuộc đời xây đắp cho xã hội phát triển an lạc. Tuy hiện
hữu như một người bình thường, nhưng thâm tâm Duy Ma tôn
thờ các Ðức Phật làm Thầy, đã từng gần gũi cúng dường
vô lượng Phật.
Trong
mười hai năm, Ngài hoàn thành xong hình ảnh của người con
Phật với trí tuệ tuyệt vời và tình thương bao la. Từ giai
cấp Bà La Môn, vua chúa, trưởng giả, cho đến cùng đinh đều
ghi đậm nét cảm tình, lòng khâm phục đối với Ngài. Lúc
ấy, Phật và các đệ tử mới đến thành phố này. Phải
chăng Duy Ma đã đóng vai trò chuẩn bị, sắp xếp bối cảnh
thuận tiện cho Ðức Phật xuất hiện. Nói cách khác, Duy Ma
không phải người nào xa lạ. Ngài chính là hiện thân của
Thích Ca Như Lai.
Ở
dạng thể tánh, Duy Ma và Thích Ca tuy hai mà một. Trên mặt
sanh diệt của cuộc đời, có Duy Ma. Nhưng trên bản thể giải
thoát trở thành Thích Ca. Mối liên hệ vô hình giữa Phật
và Duy Ma mới là việc quan trọng.
Duy
Ma làm tất cả việc nhân gian nhờ lực của Thích Ca Như Lai
truyền đến. Lực Như Lai hay cứu cánh của Phật Thích Ca
thể hiện thành những phương tiện của Ngài với vô số
cư sĩ gánh vác mọi việc.
Ở
thành Tỳ Da Ly, mọi người kính trọng Phật qua hình ảnh
cư sĩ Duy Ma có trí tuệ siêu việt và đạo đức thánh thiện.
Bước chân vào đời, Duy Ma thực hiện được lợi lạc nào
cho chúng sanh đều hồi hướng Phật đạo. Ngài vận dụng
khéo léo tất cả pháp Phật dạy như sáu pháp ba la mật, bốn
pháp nhiếp, bốn tâm vô lượng, 37 trợ đạo phẩm trong việc
hành đạo ở thế gian.
Phật
thuyết pháp 49 năm cũng không ngoài những pháp này, một kho
tàng Phật pháp vô tận mà Duy Ma ứng dụng một cách linh động
và hữu hiệu vào cuộc sống thực tế. Ngài trở thành nhân
vật trí thức gần gũi quần chúng, giải tỏa những khó khăn
vật chất, tâm linh và thăng hoa cuộc sống của họ.
Ðóng
vai trò trí thức luận đạo với Bà La Môn, Duy Ma không thể
mang hình tướng một Sa môn Phật giáo. Vì Sa môn và Bà La
Môn là hai thái cực đối lập. Một bên tích lũy tài sản,
một bên chủ trương vô sản. Hai lập trường này hoàn toàn
khác biệt, khó cảm thông đàm đạo với nhau.
Ðối
với hàng vua chúa, võ sĩ, Duy Ma luận bàn chính trị rất chính
xác, với tầm nhìn bao quát phổ cập sinh hoạt xã hội, kinh
tế, văn hóa. Họ kính trọng Duy Ma như một trưởng lão có
tầm trí thức rộng lớn, nghĩa là một dạng khác của Phật,
đầy đủ tài đức cố vấn cho họ trong việc trị nước
an dân.
Nếu
đến với tư cách Sa môn, Duy Ma sẽ không tránh khỏi sự khinh
bỉ của hạng người nhiều quyền thế ngã mạn này.
Ngoài
hai giai cấp Bà La Môn, Sát đế lợi nói trên, Duy Ma còn chỉ
đạo cho giới kinh doanh, trong đó có 500 thương gia từ Hy Lạp
đến thành Tỳ Da Ly buôn bán phát đạt. Nếu khoác áo Sa môn,
Duy Ma khó hành đạo trong môi trường nhiều toan tính của
giới thương gia.
Không
những lãnh đạo hàng vua chúa, ngoại đạo, thương gia, ngay
cả đối với các Tỳ kheo, Duy Ma cũng thừa lệnh Phật chỉnh
lý các Tỳ kheo lạc đường.
Các
Tỳ kheo quen sống theo lối mòn cũ được sự cung kính ở
thành Xá Vệ, bước chân đến thành phố Tỳ Da Ly phát đạt.
Nơi đó, dân chúng có trình độ hiểu biết rộng lớn, không
dễ dãi sùng kính Sa môn như ở thành Xá Vệ. Họ liền chạm
trán ngay với cư sĩ Duy Ma.
Duy
Ma cho những nhát búa sấm sét làm các Tỳ kheo phải khiếp
sợ cư sĩ. Ðó cũng là phương tiện của Phật nhằm gián
tiếp dạy dỗ Tỳ kheo sơ phát tâm nhiều tự mãn. Tâm
lý của người được sống đầy đủ dễ dàng thường hay
ỷ lại, bướng bỉnh khó giáo hóa. Phật mới dẫn các Tỳ
kheo đến thành Tỳ Da Ly cho họ chạm trán với thực tế cuộc
đời qua sự chất vấn của cư sĩ cự phách Duy Ma.
Các
Tỳ kheo chợt bừng tỉnh, nhận ra yếu điểm và mang tâm hồn
thua cuộc đau khổ về trình với Phật. Không có Duy Ma cho
những bài học kinh nghiệm đích đáng ở đời, các Tỳ kheo
vẫn tiếp tục nếp sống đóng khuôn, không chịu tiến thân.
Gánh
vác việc làm mang sắc thái khác, Văn Thù Sư Lợi là mẫu
người xuất gia trí có tuệ cao tột, không thể xuất hiện
trong khung cảnh Tỳ Da Ly. Chỉ có lớp áo cư sĩ Duy Ma thích
ứng tốt đẹp cho bối cảnh như vậy.
Duy
Ma giao thiệp rộng với đủ thành phần xã hội gợi cho chúng
ta ý niệm giao thiệp rộng của Ngài để làm gì ? Riêng chúng
ta, tiếp xúc nhiều với người nhằm mục đích gì ?
Suốt
quá trình hiện hữu ở cuộc đời, Duy Ma luôn mang lợi lạc
cho người. Sức sống mà Duy Ma vận dụng được ở đây là
sức sống của chúng sanh. Nghĩa là con người còn tồn tại
thì Phật và chư Bồ tát còn hiện hữu bên cạnh họ, một
biểu tượng thế gian tướng thường trụ trong Duy Ma.
Khi
Duy Ma thành tựu mọi việc tốt đẹp, sử dụng phương tiện
một cách khéo léo xong, Ngài mới xóa các phương tiện này
để giới thiệu một cái gì xa hơn mọi người chưa biết
đến. Ðó là chân thân khác với giả thân.
Một
lần nữa, Duy Ma lại sử dụng thêm phương tiện khác với
những phương tiện trước. Ngài tuyên bố có bệnh. Bệnh
là phương tiện của Bồ tát. Bồ tát sử dụng phương tiện
thân bệnh hay phương tiện chết để giáo hóa chúng sanh.
Cũng
vậy, Phật hiện thân trên cuộc đời hay từ giã cuộc đời
cũng đều là phương tiện. Vì cứu cánh của Ngài mang bản
chất thường, lạc, ngã, tịnh, không có sanh tử, nhưng phương
tiện hiện sanh tử. Phật nói : “Những người đáng độ
đã độ xong, những việc đáng làm đã làm xong”.
Duy
Ma cũng không đi ngoài lộ trình này. Những gì cần làm để
hồi hướng Phật đạo, Ngài đã hoàn thành. Ngài là người
đi trước đến thành Tỳ Da Ly để sắp xếp cho Phật Thích
Ca xuất hiện. Và Phật Thích Ca là người đi trước ở Ta
bà để sắp xếp cho bổn Phật hay Pháp thân Phật thuyết
pháp.
Phật
Thích Ca thuyết pháp mãi ở Ta bà, chúng ta sẽ nhàm chán, nghe
nhiều mà ít quan tâm vận dụng. Ngài vào Niết bàn để chúng
ta lóng tai nghe bổn Phật thuyết pháp. Nói cách khác, Phật
Niết bàn, chúng Tăng chới với, bắt buộc phải đối phó
với mọi nghịch cảnh bằng cách tự nỗ lực phát huy trí
tuệ. Tự giải quyết thì trí thân mới sáng thêm. Nhờ vậy,
từ Phật Niết bàn đến nay, các danh Tăng hiện hữu khắp
mọi nơi tu hành đắc đạo, tỏa hương cho đời. Các Ngài
kiến giải kinh Ðại thừa dưới mọi dạng thức, hợp thành
tam tạng giáo điển thật bao la và thật sâu sắc. Vì vậy,
Niết bàn của Phật vẫn là phương tiện.
Ý
này cũng được diễn tả trong kinh Pháp Hoa qua thí dụ lương
y và cuồng tử. Những đứa con uống lầm thuốc độc nghe
tin cha chết, cảm thấy côi cút, không còn chỗ nương tựa.
Họ phải cố gắng khắc phục mọi khó khăn, tự vươn lên.
Nếu cha không chết, họ suốt đời ỷ lại sống dưới sự
bao che, trở thành ngờ nghệch, dại khờ.
Duy
Ma nói vì chúng sanh bệnh, Ngài có bệnh, chúng sanh lành, Ngài
hết bệnh. Rõ ràng bệnh của Ngài phát xuất từ tâm đại
bi. Vì thật sự Ngài ở Niết bàn, nhưng thương chúng sanh
bệnh ở nhân gian, mà hiện lên cuộc đời. Có thân phải
có bệnh.
Bệnh
hạnh là một trong năm hạnh của Bồ tát. Bồ tát có năm
hạnh : thánh hạnh, thiên hạnh, phạm hạnh, anh nhi hạnh và
bệnh hạnh. Bồ tát sống ở nhân gian vượt ra ngoài năm hạnh
này, sẽ mất tư cách Bồ tát.
Bồ
tát ở trên cuộc đời, không bị hạn cuộc trong việc làm
cố định. Làm bất cứ việc gì cũng được, nhưng phải
gợi cho người nhìn về Bồ tát, nghĩ đến Bồ tát, đều
thấy thuần thiện. Ðó là thánh hạnh. Hạnh cao quý này phát
xuất từ bản tâm thanh tịnh, nên gọi là thiên hạnh.
Ngoài
ra, Bồ tát còn có những việc làm, những hành động mô phạm
cho mọi người là phạm hạnh. Tuy đầy đủ ba hạnh cao quý
trên thế gian, nhưng Bồ tát phải kèm theo hạnh thứ tư là
anh nhi hạnh. Nghĩa là không bao giờ thấy mình lớn hay hơn
người. Dù làm được mọi việc, nhưng luôn luôn biết kính
trên nhường dưới. Bồ tát càng giỏi càng khiêm tốn, vì
cảm nhận sâu sắc rằng sự thành tựu công đức là nhờ
Như Lai lực truyền đến. Vì vậy, Bồ tát trong kinh Ðại
thừa muốn hỏi Phật điều gì, đều xác định nhờ nương
theo thần lực, không phải tự mình.
Tròn
đầy bốn hạnh, được mọi người thương yêu kính trọng,
Bồ tát không hiện hữu ở đây chi nữa. Với tinh thần vô
ngã vị tha, Bồ tát góp mặt lúc khó khăn, nhưng xong việc
để phước lạc cho nhân gian hưởng. Bệnh hạnh là hạnh
cuối cùng kết thúc bước chân hành đạo của Bồ tát. Phật
dạy Bồ tát thành tựu mục tiêu, nên nhẹ nhàng ra đi. Chẳng
có việc gì lưu giữ được Bồ tát trên thế gian này. Ðối
với Bồ tát, sự hiện hữu hay vắng bóng chỉ nhằm làm sáng
đẹp cho đời.
Duy
Ma xuất hiện ở thành Tỳ Da Ly cũng không ngoài mục tiêu
này. Sau khi nâng cao đời sống cho dân trong thành, ông mới
thị hiện có bệnh.
Duy
Ma vận dụng phương tiện có bệnh để mọi người đến
thăm Ngài. Thăm một người giàu có, sang trọng, nhiều uy tín
đang bệnh, đối diện với cái chết. Bao nhiêu của cải,
danh vọng, quyền lực đều sắp rũ sạch gợi lên cho mọi
người ý tưởng kính trọng, thương mến, ham muốn. Lúc ấy,
thời cơ mới đến để Duy Ma khai pháp. Nhất là lời nhắc
nhở sau cùng của một người sắp chết thường lưu lại
sâu đậm trong tâm hồn người nghe.
Duy
Ma sử dụng phương tiện của Ngài là bệnh, nên pháp Ngài
thuyết phải là pháp vô thường. Sắp chết nói vô thường,
mọi người sẽ hiểu vô thường một cách sâu sắc hơn. Ðó
là bài pháp sống mà Ngài thể nghiệm và phơi bày trước
mắt mọi người, truyền đạt thẳng đến con tim từng người
đến thăm bệnh, tác động cho họ ý thức được cái gì
thường hằng vĩnh cửu và cái gì luôn thay đổi không thể
tồn tại.
Vì
bệnh nên Duy Ma nhắm vô thân bệnh hay thân con người mà thuyết
pháp. Trước hết, Duy Ma quan sát thấy con người từ lúc sanh
đến khi từ giã cuộc đời, giống như cây chuối không bền
chắc. Con người khởi điểm từ sự biến hóa của tinh cha
huyết mẹ, phát triển thành bào thai cho đến khi mở mắt
chào đời và mỗi ngày lớn lên. Nghĩa là từ vật nhỏ xíu
biến chất, thay đổi, lột bỏ lần để có hình hài. Rồi
từ bên trong này bung ra để phát triển. Những gì trong cơ
thể con người ngày hôm nay không phải của ngày hôm qua và
cũng không phải là của ngày mai. Cứ như vậy, cơ thể mòn
lần, đến khi nhắm mắt lìa đời. Cũng giống như cây chuối
lớn lần, đến ngày nào chúng ta lột hết bẹ, nó cũng không
còn gì bên trong.
Ðiều
thứ
hai Duy Ma quán thấy mọi người sanh trên thế gian là do lòng
khát ái. Và mang vào hình hài con người, lại tiếp tục lao
công nhọc sức tìm cầu tham ái, thúc giục ta tạo muôn vàn
tội lỗi. Chúng ta lao vào lợi danh tình ái chẳng khác gì
người lữ hành đi trong sa mạc cổ khát bỏng, nhìn xa thấy
phản chiếu nắng tưởng như nước. Người càng tham đắm
say mê hưởng thụ bao nhiêu, cổ càng khô bỏng bấy nhiêu.
Ngoài
ra, hành giả quán thân như là mộng, là chiêm bao. Chúng ta
hiện hữu trên cuộc đời và biến mất như một giấc mộng.
Hiện hữu của con người trên cuộc đời chẳng khác nào
giấc chiêm bao trên bản thể, nên khi chấm dứt hơi thở là
chấm dứt chiêm bao dài. Vì vậy, kiếp người được coi là
đại mộng.
Duy
Ma từ thế giới Diệu Hỷ nằm mơ thấy ở Ta bà làm bao nhiêu
việc, sực tỉnh lại trở về thế giới Diệu Hỷ của Ngài.
Cũng như Diệu AÂm Bồ tát ở thế giới Tịnh Quang bắt được
ánh quang của Phật Thích Ca, biết được yêu cầu của Ta
bà, nên xuất hiện với 84 ngàn Bồ tát. Và xong việc, lại
trở về thế giới của Ngài.
Ðời
là giấc mộng lớn. Bồ tát tỉnh giấc mộng lớn, trở về
nguyên gốc của Ngài là thế giới Phật. Chúng ta đầy nghiệp
chướng tội lỗi, tỉnh giấc đại mộng, chúng ta sẽ về
đâu ?
Duy
Ma còn ví thân tứ đại như bọt nước bể khơi tan ra không
còn gì. Nếu coi tứ đại là của ta mà chấp ngã, thì chúng
ta quá tham lam, không có trí tuệ.
Phật
dạy ngũ uẩn vô ngã, thân này không có chủ, mọi người
tự đặt ra và tự nhận của mình. Tồn tại của thân chỉ
do vay mượn ăn nuốt lẫn nhau. Ví dụ đơn giản, chúng ta
sinh tồn do tiêu thụ một số thức ăn. Khi thân này hoại,
đem thiêu thành tro bụi. Lấy tro này bón cho dây tiêu. Lúc
ấy, “cái ta” này trở thành thức ăn giúp cho dây tiêu lớn
lên, sanh ra hột. Và chúng ta lại lấy hột tiêu ăn. Cứ như
vậy, thân tứ đại ngũ uẩn cộng hữu sinh tồn, phát triển,
sanh sanh hóa hóa liên tục, không dừng, do nhiều nguyên nhân
giả hợp mà thành.
Cuối
cùng, Duy Ma dẫn thí dụ thân người như rắn độc, như kẻ
trộm cứ đục khoét lần cho đến khi cướp hết thánh tài
của chúng ta. Ðể hiểu rõ ý nghĩa của thí dụ này, xin nhắc
lại câu chuyện trong kinh Tạp A Hàm.
Xưa
có một ông vua bắt bốn con rắn độc bỏ vô hộp đưa cho
người hầu cận. Hắn quá sợ, bỏ chạy. Vua sai năm người
lính rượt bắt. Chạy một lúc, hắn ngó lại thấy phía sau
thấy sáu thằng ăn cướp đuổi theo. Chạy đến một khu phố
không có bóng người, trước mắt là con sông rộng, không
có cách nào thoát thân, hắn mới nảy sanh ra ý cắt khúc gỗ,
lấy dây kết thành bè để qua sông.
Câu
chuyện này theo kiến giải Ðại thừa hàm chứa triết lý
sâu xa liên hệ đến việc hiện hữu sinh hoạt của thân tứ
đại ngũ uẩn con người. Khởi đầu, ông vua trao hộp cho
người hầu cận, ví cho chúng ta từ bản thể tâm vương mà
hiện hữu trên cuộc đời. Chúng ta mang đủ loại thân hình,
hoặc hai chân, bốn chân, nhiều chân hoặc không chân.
Thân
tứ đại tiêu biểu cho bốn con rắn, vì chúng ta có thân phải
chịu muôn ngàn đắng cay với nó. Tứ đại không điều hòa
vì thiếu dinh dưỡng thành bệnh, phát triển quá mức thành
bướu hay tạo thành vô số bệnh hành hạ vô cùng khổ sở.
Thân tứ đại chẳng khác gì rắn độc đục khoét, làm cho
chúng ta suy yếu bệnh hoạn.
Phải
làm thế nào điều hòa cả bốn anh dữ tợn này? Chúng ta
hiện hữu trên cuộc đời hay Bồ tát được Phật giao cho
cái hộp có bốn con rắn này, cảm thấy khiếp sợ. Nghĩa
là mang thân tứ đại, thì có vô số cơ man vấn đề được
đặt ra cho chúng ta giải quyết.
Khởi
đầu với thân tứ đại hay sắc chất và từ sắc chất mới
nảy sinh ra tinh thần là ngũ uẩn : thọ, tưởng, hành, thức,
ví dụ bằng hình ảnh năm anh lính đuổi theo. Như vậy, có
thân thì chúng ta cứ bị ràng buộc sinh hoạt liên tục theo
vận hành của tứ đại ngũ uẩn diễn tiến trong vòng luân
hồi của mắt xích thập nhị nhân duyên.
Ngũ
uẩn là năm anh lính đuổi theo phải luôn để ý hay đó là
tâm chúng ta luôn bị vướng mắc, quay cuồng theo chuyến xe
đời. Từ sáu giác quan của thân (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)
sanh ra sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức, ý thức) mà trong chuyện ví dụ cho sáu tên ăn
trộm đuổi theo. Nghĩa là chúng ta sống lẩn thẩn khổ mãi
với chuyện mắt thấy tai nghe.
Ðiều
này nhắc hành giả đừng để tâm đến chuyện thị phi của
thiên hạ. Ai làm gì mặc họ, hành giả cố gắng giữ cho
ngôi nhà ngũ ấm của mình thanh tịnh, trống trơn như xóm
không người. Tuy có sáu giác quan hay có nhà, nhưng không có
sáu trần tác ý, không có đối tượng, không thể thành nghiệp.
Từ
xóm không người, nhìn thấy trước mặt dòng sông. Nói cách
khác, từ thân ngũ ấm thanh tịnh quán sát, chúng ta nhận rõ
dòng sông mê này. Phật trao cho ta tám khúc gỗ bát chánh đạo
kết bằng sáu pháp ba la mật nhẹ nhàng vượt qua dòng sông
ái tới Niết bàn được thường, lạc, ngã, tịnh.
Nói
chung, phương tiện của Duy Ma tổng hợp được tứ thánh đế
: Khổ của thế gian và Niết bàn của chư Phật. Duy Ma luận
về pháp thế gian và xuất thế gian nhằm mục tiêu gợi cho
mọi người ý thức về cuộc sống con người, tức khai tri
kiến cho họ.
Duy
Ma hỏi mọi người tới thăm thân tứ đại ngũ uẩn của
Ngài hay thăm một cái gì khác. Nếu chỉ có tứ đại ngũ
uẩn
là thân thì ở đâu lại không có tứ đại ngũ uẩn mà phải
đến nhà Ngài.
Ðiểm
này gợi ý ngoài thân tứ đại, còn có một cái gì đáng
quý hơn. Thân ngũ uẩn của con người không có gì đáng thăm,
chỉ do nhân duyên giả hợp mà thành. Người đời vì quá
tham lam, nhiều ham muốn, trở thành mờ mắt. Họ cho thân tứ
đại ngũ uẩn là thật và đến ngày nào không giữ được
nữa thì lại càng khổ sở hơn.
Duy
Ma ví sự giả hợp của thân người như cây chuối lột hết
bẹ, như làn chớp, như bọt nước, như cảnh chiêm bao, như
tiếng vang, như mây nổi, như cái bóng, như rắn độc, như
kẻ cướp oán thù, như xóm không người.Và cuối cùng, ai
mang thân người cũng phải già, bệnh, chết, rồi thân tứ
đại cũng trả về cho tứ đại.
Nếu
mọi người đến thăm Duy Ma vì cảm mến đức hạnh, muốn
thăm cốt lõi của Ngài, không phải thăm cái thân già bệnh,
Ngài sẽ nói về cốt lõi đó. Cốt lõi quý báu đó là Pháp
thân, Báo thân của Duy Ma. Hay đạo đức và trí tuệ sáng
suốt vận dụng được quy luật làm tốt cho đời, lợi ích
cho người, tạo ấn tượng đẹp khi người nhớ nghĩ tới
Ngài.
Báo
thân và Pháp thân theo Duy Ma là chân thân đối lại với giả
Thân. Giả thân tứ đại tất nhiên có già bệnh chết. Duy
Ma cho biết Ngài khác mọi người vì Ngài thành tựu được
chân thân. Còn khôn dại ở cuộc đời chưa chắc ai hơn ai.
Phần này Duy Ma từ bỏ đã lâu. Ngài chỉ sống với chân
thân kết tinh bằng đạo đức và tri thức. Mọi người được
Ngài giúp đỡ cứ ngỡ rằng giả thân giúp đỡ. Nhưng Duy
Ma khẳng định chính đạo đức và tri thức của Ngài hay
chân thân Ngài phổ cập, tác động đến mọi người, mới
quan trọng. Giả thân tứ đại chẳng qua chỉ là phương tiện
để chuyên chở đạo đức và tri thức mà thôi.
Duy
Ma dùng phương tiện đó thuyết pháp gợi ý cho họ về chân
thân bất tử của Ngài. Giờ đây, phương tiện giả thân
này sắp phải bỏ, Ngài trở về với chân thân.
Duy
Ma thành tựu tư cách làm thầy thiên hạ, khi bệnh sắp chết,
Ngài mới giới thiệu Phật Thích Ca là tôn sư của Ngài đang
ở vườn Yêm La. Ðiểm này tương tự như khi Phật Thích Ca
Niết bàn, Ngài cũng nhắc nhở chúng ta còn chánh pháp Ngài
để lại, cũng không khác gì như có Ngài bên cạnh vậy.
Theo
Duy Ma, cái đáng tôn kính là Pháp thân Phật kết tinh bằng
trí và pháp. Phật được tôn danh là bậc Ðiều ngự trượng
phu, vì Ngài có bốn điều trọn vẹn tiêu biểu cho tất cả
việc trên cuộc đời hay tứ vô sở úy, không ai có được.
Ðiều
thứ nhất, Phật có nhất thiết trí vô sở úy, tức trí Phật
tổng hợp trí thế gian, không điều gì trên đời Ngài không
biết. Phật hiểu tất cả một cách chính xác, có tầm nhận
thức vượt hơn người thế gian để chỉ đạo họ. Những
gì Ngài nói ra đều phù hợp với chân lý. Vì vậy, Phật
không sợ thế gian về phương diện tri thức.
Duy
Ma vẽ ra cho mọi người trí tuệ tuyệt vời của Phật như
vậy và Ngài tự nhận chỉ được một phần của Phật. Tuy
nhiên, các trưởng giả đều thấy trí Duy Ma rất siêu việt.
Ðối với họ, thành Tỳ Da Ly phát đạt thịnh vượng được
chỉ nhờ Duy Ma. Họ chưa biết Phật.
Duy
Ma gợi lên nhất thiết trí của Phật làm mọi người liên
tưởng đến nhất thiết trí của Duy Ma. Ðiều đó, họ chưa
hề nghĩ tới vì chỉ lo buôn bán giao dịch. Nay Duy Ma mượn
nhất thiết trí của Phật để triển khai.
Duy
Ma xác định chúng hội đến thăm cái gì họ không biết là
thăm tri thức của Ngài. Và Ngài nhắc nhở mọi người rằng
tri thức mới đáng quan tâm, suy nghĩ. Tất cả việc làm của
người tu đều nhằm mục tiêu phát triển trí tuệ, còn thân
tứ đại nào rồi cũng chấm dứt bằng cái chết. Chúng hội
quý trọng ông già bệnh, vì quý trọng trí tuệ tiềm ẩn
trong thân ông. Không có trí tuệ của Duy Ma chỉ đạo, gia
nghiệp họ như lâu đài xây trên cát.
Ðiều
thứ hai, Phật có lậu tận vô sở úy. Duy Ma giới thiệu Phật
thánh thiện hoàn toàn. Từ bỏ cuộc sống vương tử, Phật
xả thân, vào sống trong lòng xã hội, để tùy cơ giáo hóa.
Phật không sợ người đời vì Ngài không phạm lỗi lầm
nào với họ. Ngài không có một tỳ vết nào khiến ngoại
đạo, tà ma chê trách được. Thân trong sạch này Duy Ma thường
diễn tả như lưu ly, tức việc làm của Phật toàn thiện,
không ai phê phán được.
Chẳng
những không có lỗi lầm thế gian, mà cả lỗi lầm trong Thiền
định, Phật cũng đoạn hết. Sự trong sạch ở cảnh giới
Thiền định hay trên Thánh vị, chúng ta khó đạt, được
dù trải qua nhiều đời. Mặc dù Duy Ma ca ngợi đạo đức
thuần thiện của Phật, nhưng mọi người vẫn thấy Duy Ma
là người cao thượng.
Ðiều
thứ ba, Phật có thuyết chướng đạo vô sở úy. Tất cả
Sa môn, Bà La Môn không đắc đạo, vì không thấy những chướng
ngăn thánh đạo. Ðối với các pháp tu, Phật phê phán sai
lầm của người tu trước và những người đồng thời. Nhất
là nhận thức sai lạc của lục sư ngoại đạo được Phật
đem ra phân tích rõ ràng. Họ không có Nhất thiết trí, tất
nhiên phải hành động sai. Như trường hợp Mục Kiền Liên,
Xá Lợi Phất, Ca Diếp là những giáo chủ của thần đạo.
Phật nói thẳng sai lầm của họ và nghe xong họ đều phát
tâm theo Ngài. Phật chỉ cho ngoại đạo thấy chướng đạo
như giết súc vật tế thần chẳng lợi ích gì, ngoài việc
tăng trưởng lòng ác. Không có thần minh hay thượng đế nào
có thể chấp nhận sự cầu nguyện như vậy. Thượng đế
chỉ giúp người có lòng tốt. Từ trước họ hiểu sai, làm
chướng ngại thánh đạo, đưa đến cùng mằn trí tuệ.
Phật
có hiểu biết cùng tột và đạo đức toàn thiện, mới dám
nói thẳng vào sai trái của người nhiều quyền thế, mà họ
không tức giận hay không hại được Ngài. Ta chưa đạt đến
trình độ hiểu biết sâu rộng bằng Phật, chưa đắc đạo,
thì khuyên người chỉ chuốc họa vào thân. Duy Ma nêu ra đặc
tính vô sở úy thứ ba của Phật, chúng hội cũng liên tưởng
đó là việc làm của Duy Ma.
Ðiều
thứ tư, Phật có thuyết tận khổ đạo vô sở úy. Phật
chỉ chúng ta thấy con đường sai lầm và con đường chân
chính, tu thế nào để thành Thánh, thành Phật, là vẽ ra ba
con đường Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Duy Ma hội nhập
vào lộ trình Bồ tát tuyệt diệu. Nói đến vô sở úy thứ
tư của Phật, mọi người cũng nghĩ đến Duy Ma đã dìu dắt
họ trên con đường Bồ tát bình ổn, an vui.
Duy
Ma giới thiệu Phật thành tựu bốn vô sở úy, hay nói rộng,
Phật còn có mười lực, mười tám pháp bất cộngï, gợi
cho mọi người ý tưởng Duy Ma cũng đầy đủ những nét đặc
trưng như vậy.
Duy
Ma thuyết pháp xong, chúng hội đều thấy Pháp thân đáng quý,
sanh thân là giả thân không đáng kể. Sanh thân thay đổi,
nhưng Pháp thân thường hằng. Trên bước đường như pháp
tu hành, mỗi lần Bồ tát hạnh tăng trưởng, Pháp thân ta
thăng hoa.
Khởi
điểm từ đây, Phật đưa ra mẫu tiêu biểu để sau thuyết
kinh Dược Sư. Với mười hai lời nguyện của Ðức Dược
Sư, không tạo thành một Dược Sư bên ngoài nào khác, Phật
ngầm chỉ thân trong suốt của Ngài. Hoặc Phật A Di Ðà được
xem là Phật vì có 48 đại nguyện. Tất cả đều hình thành
bằng bản nguyện và thể hiện bản nguyện.
Ðối
với tôi, hình ảnh các Ðức Phật do Ngài đưa ra đều là
Phật Thích Ca, không phải Phật khác. Nếu có một vị Phật
khác thì Phật Thích Ca trở thành một ông Phật khô chết
hay sao ?
Qua
phần trình bày trên, chúng ta nhận thấy Duy Ma sử dụng hai
phương tiện chính yếu. Phương tiện thứ nhất là Duy Ma từ
thế giới thanh tịnh Diệu Hỷ muốn giáo hóa chúng sanh Ta
bà, phải xuất hiện trên cuộc đời mang thân tứ đại y
như mọi người. Nhưng Ngài khác người ở điểm lăn xả
vào đời vận dụng bốn pháp nhiếp để gần gũi, làm việc
lợi ích cho người, không mệt mỏi.
Ðến
giai đoạn hai, Duy Ma dùng phương tiện bệnh để giảng về
vô thường của giả thân và chỉ mọi người Báo thân, Pháp
thân vĩnh hằng. Duy Ma đã sử dụng phương tiện đúng lúc,
đúng chỗ.
Kinh
điển đã ghi rõ như vậy. Tuy nhiên, điều tôi muốn lưu ý
quý vị cần suy nghĩ tại sao lại phải nói phương tiện này
và phương tiện này được đề cập đến vào thời kỳ nào.
Nói cách khác, trong hoàn cảnh sống của Tăng Ni như thế nào
mà hình thành kinh này. Chúng ta suy nghĩ và giải đáp cách
nào cho phù hợp với khoa học lịch sử là vấn đề đặt
ra.
Trong
phần đầu đã xác định kinh Duy Ma thuộc hệ phát triển
và được kiết tập sau Phật diệt độ vào khoảng thế kỷ
thứ nhất trước công nguyên. Như vậy, muốn hiểu được
vấn đề, chúng ta cần khảo sát ngược lại thời Phật tại
thế và mang đối chiếu thời đại hoàng kim này với thực
trạng cuộc sống trong thời Phật giáo phát triển.
Khi
Phật tại thế, xã hội Ấn Ðộ chịu ảnh hưởng nặng tinh
thần giai cấp, đặt dưới sự cai trị khắc nghiệt của
bộ luật Manu, theo đó hai giai cấp thống trị Sát đế lợi
và Bà La Môn có toàn quyền sinh sát hai giai cấp dưới. Phật
nhìn thấy tồn tại của con người trong xã hội thời ấy
là tồn tại bằng cách chà đạp tiêu diệt người khác.
Từ
đó, Phật đưa ra phương tiện chỉ cho thấy các pháp đều
là giả ảo, không cần tranh giành giết hại nhau làm gì. Ngài
vẽ ra con đường Thánh đạo hay cách sống của Sa môn làm
kiểu mẫu cho mọi người để hạn chế tham vọng. Và chính
Ngài đi tiên phong trong cuộc sống bỏ tục xuất gia, gợi
cho mọi người nhận thức ngôi vua cao quý tột đỉnh mà Ngài
còn bỏ, huống chi những thứ lặt vặt tầm thường của
chúng ta có ý nghĩa gì.
Khi
thoát tục tu hành như vậy, lần hồi số người xuất gia
theo Phật mỗi ngày một đông. Dù số Tỳ kheo tăng nhiều,
sự cúng dường vẫn đầy đủ. Ngoài ra, tuy chủ trương sống
thoát ly xuất thế, cuộc sống của Phật và Thánh chúng đã
ảnh hưởng mãnh liệt đến xã hội đương thời. Bước chân
du hóa của Phật đến đâu, tịnh lạc an vui đến đó.
Tuy
nhiên, Phật Niết bàn, chư Tăng trong thời bộ phái hoặc theo
nếp sống u tịch để rồi bị cuộc đời lãng quên hoặc
ra hành đạo gây tranh chấp mâu thuẫn, rớt vào hơn thua tầm
thường của thế nhân. Lúc ấy, Phật giáo chỉ còn hiện
diện, kế thừa trên hình thức, danh tự. Như vậy, giới xuất
gia càng đông, giá trị càng bị hạ thấp.
Chúng
ta so sánh ảnh hưởng lực của Phật và Thánh chúng với ảnh
hưởng của Tăng đoàn thời kiết tập kinh Duy Ma, quả là
cách nhau một trời một vực. Phật và Thánh chúng thể hiện
mô hình sống thánh thiện rực rỡ. Trái lại, Tăng đoàn thời
bộ phái phân hóa trầm trọng và bị xã hội ghét bỏ. Với
thực tại thê thảm đó của Phật giáo đem đặt vô khung
cảnh thành Tỳ Da Ly đang phát triển mạnh về kinh tế, tất
nhiên không cần phải nói, thân phận của Tăng chúng trở
nên rất mong manh.
Thật
vậy, khi yêu cầu của xã hội là sản xuất. Vấn đề xã
hội quan tâm là nâng cao đời sống vật chất con người,
thì tu sĩ thoát ly, ngồi yên tiêu thụ dễ bị xã hội
xếp vào lực lượng phi sản xuất. Chính vì sự tồn tại
mong manh của Phật giáo trong giai đoạn này làm nảy sanh ý
thức bung ra để đáp ứng yêu cầu xã hội lúc ấy. Ðó là
phương tiện sử dụng đẩy tinh thần Duy Ma lên.
Bấy
giờ, giới xuất gia nhận chân rõ Phật giáo phải tồn tại
trong cuộc đời, không phải cách ly đời, nằm ngoài cuộc
đời. Ðây là tư tưởng chính mà chúng ta bắt gặp trong kinh
này và hình thành bằng hiện diện của Duy Ma.
Phật
và Thánh chúng tu hành ở vườn Yêm La, nhưng ảnh hưởng lực
tác động cả thành Tỳ Da Ly. Và ảnh hưởng đó được tiêu
biểu qua hình ảnh cư sĩ Duy Ma.
Hình
ảnh Duy Ma là Tịnh Danh ở thế giới Phật Vô Ðộng sanh lại,
thường sống trong lòng xã hội, tiếp xúc mọi người, xây
dựng làm đẹp cuộc đời. Hay đó chính là sự nhắc nhở
của kinh Duy Ma cho người xuất gia cần phát triển phần tu
chứng nội tâm. Và chỉ dùng bản tâm thanh tịnh đi vào đời,
tác động cho Phật tử tại gia để họ trở thành phần tử
ưu tú trong mọi giai cấp. Không phải chúng ta mang cả thân
xác thầy tu vào đời để làm việc thế gian.
Phật
cũng quy định rõ người xuất gia không được tham gia chính
trị, thương mại, sản xuất. Chúng ta dùng tâm thanh tịnh
ảnh hưởng cho Phật tử tại gia làm thay. Họ là chuyên viên,
nhà giáo, nhà chính trị, nhà buôn, thợ thuyền... Nói chung,
hàng Phật tử tại gia thuộc các ngành nghề đóng góp lợi
ích cho xã hội đều ủng hộ đạo Phật, nhất định đạo
pháp sẽ phát triển mạnh.
Chúng
ta còn nhớ thời Phật tại thế, giới xuất gia và tại gia
phần nhiều thuộc thành phần ưu tú trong xã hội. Người
giàu có như Cấp Cô Ðộc hay quyền thế như vua Tần Bà Sa
La, Ba Tư Nặc ủng hộ giới xuất gia trí thức như Xá Lợi
Phất, Mục Kiền Liên, tạo thành thượng tầng xã hội Phật
giáo.
Nhưng
Phật diệt độ, người tu khất thực xong, tìm rừng cây ẩn
mình, không dính líu đến cuộc đời và người tại gia cũng
không có ai được như Cấp Cô Ðộc hay Tần Bà Sa La, Ba Tư
Nặc. Trong tư thế như vậy, Phật giáo có tồn tại chăng,
cũng chỉ èo uột.
Vì
vậy, ngọn gió Duy Ma thổi lên phục hưng con đường Thánh
đạo, làm hồi sinh những người xả tục xuất gia, đẩy
họ rời khỏi ốc đảo củi mục ở bên lề xã hội, giúp
họ tiến bước đến thế giới huy hoàng tràn đầy sinh lực
của bậc xuất trần thượng sĩ.
Bước
vào đời hành đạo, Duy Ma đầy đủ tư cách giáo hóa chúng
sanh, thành tựu ở những môi trường tương phản, ví như
con rùa sống dưới nước cũng được mà lên bờ cũng hay.
Nghĩa là Duy Ma đóng vai trò Bồ tát không trụ Niết bàn, không
trước sanh tử. Ngài tự tại giải thoát thực sự, thể hiện
tư chất Bồ tát vô sở đắc. Ngài hành đạo hòa hợp
với chúng sanh, vẫn không đánh mất bản tánh cao thượng,
luôn luôn là mô phạm chỉ đạo trong nhân gian.
Trước
kia, Duy Ma dìu dắt những người tham đắm sanh tử như quốc
vương, vương tử, Bà La Môn. Nhưng nay, Ngài giảng dạy Sa
môn, những người thích trụ Niết bàn. Hai hạng người thế
tục và Sa môn ví như mặt trời mặt trăng không bao giờ gặp
nhau. Họ không ở chung được, nên khi thuyết xong cho cư sĩ,
Duy Ma dọn phòng trống tiếp Sa môn, vì Sa môn tu pháp KHÔNG.
Chỗ trống này là tâm KHÔNG.
Sa
môn nhận thức sai lầm về pháp KHÔNG. Ðối với họ, KHÔNG
là không có gì. Duy Ma chỉnh lý tư tưởng NGOAN KHÔNG này,
chỉ cho họ nhận thức đúng đắn hơn. KHÔNG là không cố
chấp việc làm của mình, không để tâm kẹt trong các pháp,
dù là thiện pháp.
_Tóm
lại, khi Bồ Tát lãnh được tâm ấn và thể hiện việc làm
kết hợp tâm họ với tâm Phật, mới thực sự tiến bước
theo Bồ tát hạnh. Lúc ấy, nương giáo pháp Như Lai hành đạo
lợi lạc chúng hữu tình. Dù khoác vào chiếc áo Tăng già
hay cư sĩ đều nhận lãnh ý Phật mà hội nhập vào đời,
tự tại tới lui trong vòng quỹ đạo của Phật.
Bồ
tát Duy Ma với trí tuệ tuyệt vời, đạo đức thánh thiện
và việc làm cao cả, thể hiện trọn vẹn hình ảnh một Bồ
tát thương nhân gian sanh lại trên cuộc đời. Ngài là người
thay Phật giáo hóa chúng sanh.
Duy
Ma xuất hiện ở thành Tỳ Da Ly theo phương tiện của Phật.
Nói cách khác, Ngài là hiện thân của Thích Ca Như Lai trên
cuộc đời, hay Ngài là Tịnh Danh Bồ tát từ cảnh giới thuần
tịnh bước vào thế giới Ta bà sai biệt, hoàn toàn an trú
trong bản thể chơn như mà ra vào khắp chốn sanh tử.
Khởi
nguồn từ Tịnh Danh, Ngài dấn thân trên vạn nẻo luân hồi
theo ý muốn chư Phật mười phương. Duy Ma là ngọn hải đăng
trí tuệ hòa hợp cùng nhịp điệu tâm linh của chúng ta, soi
đường dẫn bước đưa ta qua sông mê bể khổ, đến bờ
giải thoát an lạc vĩnh cửu.