PHẨM
4
BỒ
TÁT
I.
LƯỢC VĂN KINH
Phật
bảo Bồ tát Di Lặc đến thăm bệnh Duy Ma Cật. Di Lặc bạch
Phật Ngài không kham lãnh đến thăm bệnh Duy Ma. Vì lúc trước
Ngài nói hạnh bất thối chuyển cho Thiên vương và chư Thiên
ở cõi trời Ðâu Suất. Duy Ma Cật đến nói : “Ngài Di Lặc,
Thế Tôn thọ ký cho Ngài một đời sẽ được quả Vô thượng
chánh đẳng giác. Ðó là đời nào mà Ngài được thọ ký.
Ðời quá khứ, đời hiện tại hay đời vị lai ?
“Nếu
dùng vô sanh mà được thọ ký thì vô sanh tức là chánh vị.
Ðối với chánh vị, không có việc thọ ký, cũng không có
việc được quả Vô thượng chánh đẳng giác. Làm sao Di Lặc
được thọ ký một đời sanh ?
“Theo
NHƯ sanh mà được thọ ký hay theo NHƯ diệt mà được. Tất
cả chúng sanh, pháp, Hiền Thánh cho đến Di Lặc đều là NHƯ.
Nếu Di Lặc được thọ ký, đáng lẽ tất cả chúng sanh cũng
phải được thọ ký. Vì hễ là NHƯ, thì chẳng có hai, chẳng
có khác. Nếu Di Lặc được quả Vô thượng đẳng giác, thì
tất cả chúng sanh cũng đều được, vì tất cả chúng sanh
là tướng bồ đề. Nếu Di Lặc được diệt độ, tất cả
chúng sanh cũng phải được diệt độ. Vì thế, Di Lặc đừng
dùng pháp đó dạy các Thiên tử.
“Di
Lặc phải làm cho các Thiên tử bỏ chỗ kiến chấp phân biệt
bồ đề. Vì bồ đề không thể dùng thân hay tâm mà đắc.
Tịch diệt là bồ đề, chẳng hành động là bồ đề, bình
đẳng là bồ đề v.v...”
Khi
Duy Ma Cật thuyết pháp xong, 200 Thiên tử chứng vô sanh pháp
nhẫn.
Phật
dạy Ðồng tử Quang Nghiêm đi thăm bệnh Duy Ma. Ngài bạch
Phật rằng không đủ sức đảm nhiệm việc đến thăm bệnh
Duy Ma. Vì nhớ lại ngày trước Ngài ở thành Tỳ Da Ly vừa
ra, gặp Duy Ma đi vào thành.
Quang
Nghiêm hỏi Duy Ma “Ngài từ đâu đến”. Duy Ma trả lời
từ đạo tràng tới. Quang Nghiêm hỏi Duy Ma đạo tràng là
gì. Ngài đáp : “Trực tâm, thâm tâm, bồ đề tâm là đạo
tràng. Sáu pháp ba la mật là đạo tràng, từ bi hỷ xả, bốn
pháp nhiếp, 37 phẩm trợ đạo là đạo tràng v.v... Nếu Bồ
tát đúng pháp ba la mật giáo hóa chúng sanh thì bao nhiêu việc
làm, hay nhất cử nhất động đều từ đạo tràng mà ra”.
Khi
Duy Ma Cật nói pháp ấy, 500 vị Trời và người đều phát
tâm Vô thượng chánh đẳng giác.
Kế
đến Phật bảo Trì Thế Bồ tát đến thăm bệnh Duy Ma. Trì
Thế bạch Phật không kham lãnh đến thăm bệnh. Vì nhớ lại
lúc Ngài ở tịnh thất, ma Ba Tuần đem 12 ngàn Thiên nữ giống
như Trời Ðế Thích trổi nhạc đàn ca, đến chỗ Trì Thế
cúi đầu đảnh lễ.
Trì
Thế tưởng là Ðế Thích thật, nên dạy chúng chớ nên buông
lung, phải quán ngũ dục là vô thường để trồng cội lành,
ở nơi thân mạng, tài sản mà tu pháp bền chắc.
Ma
vương bảo Trì Thế nhận 12 ngàn Thiên nữ để dùng hầu
hạ. Trì Thế không nhận.
Nói
chưa dứt lời, thì Duy Ma đến bảo Trì Thế rằng đây không
phải là Ðế Thích. Họ là ma đến khuấy phá. Duy Ma lại
bảo ma đem Thiên nữ cho Ngài. Ma sợ hãi muốn biến nhưng
không đi được, liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng
hãy đem Thiên nữ cho Duy Ma, mới đi được. Ma đành miễn
cưỡng cho.
Lúc
ấy, Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ nên phát tâm Vô thượng
chánh đẳng giác, rồi Ngài dạy cho họ các pháp vui để tự
vui. Không nên vui theo ngũ dục. Vui thường tin Phật, vui nghe
pháp, vui cúng dường Tăng, vui lợi ích chúng sanh, vui mở rộng
tâm bồ đề, vui với chánh pháp, vui tu vô lượng đạo phẩm
v.v...
Lúc
ấy, ma Ba Tuần bảo các Thiên nữ trở về Thiên cung. Nhưng
họ không chịu theo về. Ma liền thưa với Duy Ma nên thả các
Thiên nữ và Duy Ma bằng lòng.
Các
Thiên nữ hỏi Duy Ma họ phải làm gì ở cung ma. Duy Ma dạy
họ pháp môn vô tận đăng. Sau đó, Thiên nữ theo ma Ba Tuần
về Thiên cung.
Kế
đến, Phật dạy trưởng giả Thiện Ðức hay Cấp Cô Ðộc
đi thăm bệnh Duy Ma. Thiện Ðức cũng không nhận đến thăm
Duy Ma. Vì nhớ lại thuở trước, ông có lập hội đại thí
trong bảy ngày để cúng dường cho tất cả Sa môn, Bà La Môn,
ngoại đạo, kẻ nghèo khó, cô độc và ăn xin.
Lúc
ấy, Duy Ma đến nói với Thiện Ðức rằng hội của ông không
phải là đại thí hội. Phải lập hội pháp thí, lập hội
tài thí làm gì ? Và Duy Ma dạy Bồ tát Thiện Ðức thế nào
là hội pháp thí.
Hội
pháp thí là cúng dường tất cả chúng sanh, không trước không
sau, nghĩa là nhiếp tâm tham khởi bố thí ba la mật. Vì độ
kẻ phạm giới, khởi trì giới ba la mật. Vì không ngã pháp,
khởi nhẫn nhục ba la mật. Vì rời tướng thân tâm, khởi
tinh tấn ba la mật. Vì tướng bồ đề khởi Thiền định
ba la mật. Vì nhất thiết trí, khởi trí tuệ ba la mật. Vì
giáo hóa chúng sanh mà khởi ra KHÔNG. Vì độ chúng sanh, khởi
pháp tứ nhiếp. Vì đoạn tất cả phiền não, tất cả chướng
ngại, tất cả pháp bất thiện, khởi làm tất cả pháp trợ
Phật đạo v.v... Nếu Bồ tát trụ ở hội pháp thí, là vị
đại thí chủ, cũng là phước điền cho thế gian.
Khi
Duy Ma Cật nói pháp ấy, 200 Bà La Môn phát tâm Vô thượng
chánh đẳng giác.
Lúc
đó, tâm của Thiện Ðức thanh tịnh và ông đảnh lễ Duy
Ma Cật. Ông mở chuỗi anh lạc dâng lên Duy Ma. Duy Ma lấy chuỗi
anh lạc chia làm hai phần. Một phần cho người ăn xin hèn
hạ nhất trong hội, một phần đem dâng cho Ðức Nan Thắng
Như Lai. Tất cả chúng hội đều thấy nước Quang Minh và
đức Nan Thắng Như Lai, lại thấy chuỗi anh lạc ở trên Ðức
Phật ấy biến thành đài báu.
Duy
Ma Cật hiện thần biến xong nói rằng : “Nếu người thí
chủ dùng tâm bình đẳng bố thí cho một người ăn xin rất
hèn hạ, xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không
phân biệt. Lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo. Ðó
là đầy đủ pháp thí ”.
Trong
thành, những người ăn xin thấy thần lực và nghe lời
nói ấy đều phát tâm Vô thượng chánh đẳng giác.
II.
GIẢI THÍCH
Phật
nói pháp Thanh văn, nhưng mục tiêu chính của Ngài nhằm hướng
tâm họ qua lộ trình Bồ tát. Ngài đưa ra dụ ma ni để chúng
Tăng thấy khác biệt giữa quả vị La hán của Thanh văn và
La hán của Phật. Bên ngoài hai quả vị này giống nhau nhưng
bên trong hoàn toàn khác.
Tư
cách La hán của Phật tác động cho người thanh tịnh, phát
tâm bồ đề. Ví như ma ni bỏ vô nước làm cho nước sạch.
Trong khi La hán khác không tác động được như Phật. Ví như
thủy tinh bên ngoài trông giống ma ni, nhưng không thể làm
nước trong.
Từ
khác biệt đó, kinh Duy Ma muốn hướng dẫn chúng ta thay đổi
tính chất bên trong, tức hướng chúng ta đến Bồ tát đạo.
Tu theo Thanh văn chỉ là thay đổi hình bên ngoài rất dễ,
nhưng không có tác dụng. Nói cách khác, hành giả phải đổi
bản chất người thường thành bản chất người tu. Ðiều
này đòi hỏi phải có quá trình dài, mà kinh thường xác định
phải trải vô số kiếp tu đạo Bồ tát. Mỗi kiếp đổi
tánh bên trong một ít.
Bồ
tát đạo không nhất thiết cần mang hình thức xuất gia. Làm
vua thì phải thực hiện pháp Phật thế nào, làm dân phải
tu ra sao. Trải qua đủ các ngành nghề trong những loại
hình đều sống theo lời Phật dạy, cho đến khi thành thầy
tu, hành giả có đủ kinh nghiệm sống. Vì thế, dễ dàng điều
động người, mà không bị họ tác động.
Nhân
địa tu hành của Phật là Bồ tát hiệp trần. Nhân địa
tu hành của Thanh văn là ly trần. Hai pháp này hoàn toàn khác
nhau. Thanh văn tu tâm niệm thoát ly, trụ định, không biết
rõ đối tượng. Họ làm sao giáo hóa độ người, nên không
thể tác dụng vào cuộc sống con người. Trái lại, Phật
nhập thế, qua lại trong sáu đường sanh tử, làm cha lành
muôn loài. Vì vậy, đối với các loài, Phật biết rõ và
đứng ở lập trường của nó mà hướng dẫn làm cho lợi
lạc.
Ðề
cập đến Bồ tát, kinh Pháp Hoa nêu ra những hành động đơn
giản như cúng dường một bông hoa nhỏ hay cúi đầu trước
Phật cũng là hạnh Bồ tát Hoặc nghịch hạnh như Ðề Bà
Ðạt Ða, về sau cũng thành Phật.
Hạnh
Bồ tát từ thấp đến cao có thể tánh tràn đầy. Ðó là
vấn đề quan trọng, hiểu đã khó và đem diễn tả cho người
hiểu càng khó hơn. Ví như có người thấy tôi giảng kinh
hay và nhờ tôi dạy cách giảng. Tôi dạy được, nhưng làm
cho vị đó bằng như tôi, không được.
Pháp
này không thể diễn tả là như vậy. Dù giải thích nhiều
đến đâu, cũng khó nói cho trọn vẹn việc làm của Bồ tát
dẫn đến Phật quả. Phật dạy đại chúng pháp giống nhau.
Nhưng mỗi người tiếp thu, chứng quả khác nhau. Vì vậy,
pháp chân thật không thể dùng lời lẽ chỉ được, nói ra
là trở thành phương tiện. Mọi người nương pháp phương
tiện tự hiểu, mà đã tự hiểu là hiểu theo ý riêng của
chính mình, không thể giống người giảng.
Từ
đó, hành giả phải biết học là phương tiện, và pháp chân
thật phải tự tu tự chứng. Kinh Duy Ma đã giới hạn những
hạnh căn bản, hành giả nương theo đó tóm lược, giữ
phần chính yếu làm hành trang điều chỉnh thân tâm. Và sau
đó, từng bước va chạm với thực tế cuộc đời, trí giác
phát sanh, mới hiểu thế nào là khó khăn của Bồ tát hành
đạo.
Ðệ
tử Phật có ba hạng : Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Trong
quá trình tu giới định huệ, huệ của Thanh văn là văn huệ,
tức huệ thấp nhất. Do nghe, học mà phát huệ biết được.
Tiến đến hàng Duyên giác đạt được hiểu biết do suy nghĩ,
gọi là tư huệ. Và Bồ tát là người biết ứng dụng
lời Phật dạy để giáo hóa chúng sanh có kết quả.
Tuy
có ba hạng đệ tử, nhưng kinh Duy Ma xếp hàng Duyên giác chung
với Thanh văn, nên ở đây chỉ đề cập đến Thanh văn và
Bồ tát.
Trong
lúc tu hạnh Thanh văn, hành giả phải gạn lọc thân tâm trong
sạch, loại bỏ thói hư tật xấu, trở thành người phạm
hạnh, không tác hại người khác. Tu hạnh Thanh văn, hành giả
chưa dám nghĩ đến giáo hóa người, chỉ lo tu dưỡng, phát
triển khả năng, đạo đức thuần thiện của một Thanh văn
La hán và từ đó bước qua Bồ tát đạo. Nếu không trải
qua giai đoạn Thanh văn, mà thực hiện Bồ tát hạnh chỉ là
Bồ tát giả danh.
Như
vậy, với quá trình theo Phật nghe pháp, suy nghĩ và ứng dụng
có kết quả, tạo thành chúng Bồ tát. Bồ tát này gọi là
Bồ tát tam thừa hay Bồ tát từ nhân hướng quả. Vì tu theo
thứ tự từ Thanh văn tiến lên Duyên giác, Bồ tát và hướng
về quả vị Phật, khác với Bồ tát nhất thừa, được nói
đến trong phẩm 5 chỉ cho Bồ tát từ quả đi ngược về
nhân. Bồ tát nhất thừa đã thành Vô thượng đẳng giác
vì thương nhân gian mà sanh lại, như Bồ tát Duy Ma từ thế
giới Diệu Hỷ của Phật Vô Ðộng hiện thân lại Ta bà.
Phẩm
4 chuyển mạch từ Thanh văn sang Bồ tát, đơn cử bốn vị
gồm ba Bồ tát xuất gia và một Bồ tát tại gia. Tuy chia ra
hai loại Bồ tát, nhưng kỳ thật chỉ là một. Ðã là Bồ
tát thì không thể đặt vấn đề xuất gia hay tại gia. Vì
trên chân lý, bản thể đồng nhất, nhưng xuất hiện ở cuộc
đời phải tùy hoàn cảnh, tùy thời gian làm những việc thích
hợp. Chính vì lý do đó mà Bồ tát Quan AÂm có 32 hiện thân.
Tùy yêu cầu và hoàn cảnh, Ngài hiện thân khác nhau, nhưng
chung quy chỉ nhằm dẫn đến nhất thiết chủng trí.
Từ
trước chúng ta quen thờ Tam Bảo cực đoan, nên Tăng bảo chỉ
có thể là hình tướng xuất gia giải thoát ly dục. Vì vậy
từ Thanh văn chuyển sang tu Bồ tát cũng phải chuyển từ các
vị Tăng tu hạnh Bồ tát. Nếu đưa mẫu cư sĩ tu Bồ tát
sẽ bị chướng ngại, nên ba vị Bồ tát được đề cập
trước tiên là Bồ Tát Thanh văn hay Bồ tát xuất gia. Sau mới
đến mẫu Bồ tát tại gia là Thiện Ðức Bồ tát hay
Cấp Cô Ðộc.
Kinh
Duy Ma đưa ra bốn vị Bồ tát tiêu biểu phạm phải những
hành động sai lầm khi bước vào lộ trình Bồ tát và bị
Duy Ma chỉnh lý. Ý này khiến chúng ta liên tưởng đến trên
bước đường tu hành, mỗi khi tiến thêm một nấc, ta lại
gặp khó khăn mới lớn hơn trước. Có chuẩn bị đạo phong
và tư cách sẵn sàng đối phó với ma chướng như vậy, ta
mới vượt được vô số chông gai nguy hiểm giăng đầy khắp
nơi. Cho đến ngày chúng ta thành Phật, cũng chưa chấm dứt
khó khăn.
Phật
dạy đừng xây lâu đài trên cát. Nền tảng vững chắc của
chúng ta là giới luật. Lúc sơ tâm, không nên để phạm lỗi
lầm. Càng ít lỗi, ta càng dễ đi lên. Công lao tu hành tích
lũy được, chỉ lỡ một bước thành tiêu tan. Người xưa
ví như ruộng muối lâu ngày sắp dùng được, gặp trận mưa
thành bỏ đi.
Tuy
nhiên, ý thức được ma chướng không phải chỉ có trong hiện
đời. Ðời này chúng ta tu, nhưng túc nghiệp đời trước
hiện lên khuấy phá, não loạn ta không ít. Ví như người
trốn nợ bỏ quê đi thật xa, làm ăn vừa khá giả thì gặp
lại chủ nợ cũ.
Ðối
trước những ác duyên, Phật dạy Bồ tát không sợ quả,
chỉ sợ nhân ác. Trái với chúng sanh sợ quả báo xấu, nhưng
thích làm chuyện ác. Quả báo đến, ta xem như thử thách để
tiến tu đạo nghiệp.
Bốn
vị Bồ tát bị chỉnh, được nêu đích danh là Di Lặc, Quang
Nghiêm, Trì Thế và Thiện Ðức. Bốn Bồ tát này làm thượng
thủ của 60 ngàn Bồ tát tham dự. Các Ngài còn vấp phải
sai lầm, huống chi chúng ta thuộc hàng sơ phát tâm.
Bốn
vị Bồ tát lãnh đạo tiêu biểu cho tất cả hạnh Bồ tát
từ khởi đầu đến kết thúc, không phải chỉ bốn người
riêng biệt. Trong quá trình hành Bồ tát đạo, chúng ta sẽ
tuần tự gặp bốn vị này. Hay nói cách khác, là bốn giai
đoạn chúng ta tu đạo Bồ tát, bốn cấp bậc chuyển biến
trong một con người.
Khi
hàng đệ tử Thanh văn không kham nhận thăm bệnh, Phật
dạy Di Lặc Bồ tát đến thăm bệnh Duy Ma. Ngài liền từ
chối, vì đã từng chạm trán với Duy Ma.
Di
Lặc chịu thua Duy Ma, nghĩa là thua cuộc đời hay đó chính
là hình ảnh thua cuộc của đệ tử Phật sau khi Ngài Niết
bàn.
Tôi
rất phục Ngài Di Lặc biết mình biết người, nên chịu thua
trước. Ðiều này gợi cho chúng ta hiểu ý nghĩa hiện nay
Di Lặc không xuất hiện, để mọi người mong chờ, còn hơn
xuất hiện mà không giáo hóa được.
Trên
thế gian, mỗi người có hoàn cảnh khó khăn riêng không tự
giải quyết được. Từ đó phát sanh ý thức mong mỏi Phật
ra đời trợ giúp. Các kinh Ðại thừa đều chú ý đến mục
tiêu này, gợi cho mọi người có tâm khát ngưỡng đối với
Phật.
Ngài
không xuất hiện trên cuộc đời, chờ cho chúng sanh có tâm
mong cầu hướng về Ngài cao độ. Lúc ấy, tâm đại bi Phật
hướng về chúng ta, hai tâm này nhập làm một. Trong phút giây
thiêng liêng cầu nguyện, chúng ta mới nhận được Phật lực
truyền đến làm tâm ta thanh tịnh. Ðó là dạng giáo hóa bằng
tâm của Phật sau khi Ngài Niết bàn. Bồ tát cũng giáo
hóa dưới dạng tâm.
Tuy
nhiên, khi Phật tại thế, cách giáo hóa của Ngài như thế
nào ? Trong kinh ghi rõ Phật thuyết pháp, số người nghe áp
dụng vào cuộc sống, đắc đạo đắc pháp không ít. Nhưng
cũng có người không nghe Phật.
Một
số người nghiên cứu đạo Phật lý luận rằng Phật có
mười hiệu, nên giải quyết được tất cả. Vậy mà thực
tế, họ thấy Phật không làm được gì, vì chúng sanh đau
khổ vẫn còn nguyên.
Theo
tôi, tuy Phật giáo hóa tất cả mà vẫn còn nguyên chúng sanh
đau khổ. Vì chính Ðức Phật trước khi Niết bàn, Ngài khẳng
định việc đáng làm Ngài đã làm, người đáng độ Ngài
đã độ. Ngài đã giải quyết mọi việc tốt đẹp.
Về
điểm này chúng ta cần hiểu những gì Phật đã làm xong hay
cái độ tận chúng sanh của Phật. Phật xác định Ngài có
ba điều làm được gọi là tam năng và ba điều không làm
được là tam bất năng. Tam năng và tam bất năng gồm có :
- Phật
không bị ràng buộc bởi các tướng. Ngài thấu triệt hết
vạn pháp “được”, nhưng diệt định nghiệp ngay trong một
lúc “không được”.
- Phật
biết tất cả căn tánh chúng sanh và những việc lâu xa cùng
tột ức kiếp “được”. Nhưng Ngài hóa độ chúng sanh vô
duyên “không được”.
- Phật
độ vô số chúng sanh “được”, mà độ tận thế giới
chúng sanh “không được”.
Tam
năng và tam bất năng của Phật có thể hiểu bằng ví dụ
ông lương y chẩn bệnh xong cho đúng thuốc. Nhưng bệnh nhân
không chịu uống, không thể lành bệnh được. Không uống
thì lương y cũng đành chịu thua.
Công
việc giáo hóa chúng sanh của Phật đã hoàn tất, giống như
công việc của lương y đã cho thuốc hay. Việc uống thuốc
để mạnh khỏe thuộc về chúng sanh. Ai uống tự lành. Không
uống, thì cứ ôm bệnh gào khóc. Ðơn giản như vậy thôi.
Thật
vậy, chúng ta thấy rõ khi Phật tại thế, chúng đương cơ
đắc độ nhìn thấy Phật. Họ tự giải thoát thanh tịnh
ngay, Phật không cần nói. Nhưng đối với người cần nghe
pháp, cần giáo dưỡng, trong hơn 300 pháp hội, Phật đã đưa
họ đến quả vị thanh tịnh giải thoát. Như vậy, không thể
phủ nhận Phật không độ chúng sanh.
Tuy
nhiên, những chúng sanh tham lam ghét ganh nghiệp nặng, Phật
dạy rằng đối với họ, tên Tam Bảo còn không nghe được.
Ðương nhiên họ không thể thấy Phật, không bước vào sống
trong thế giới Phật được, nên không thuộc phạm vi giáo
hóa của Ngài.
Thế
giới Phật hoàn toàn thanh tịnh. Phật này chỉ cho Phật tâm.
Khi tâm hành giả thanh tịnh, hướng trọn vẹn về Phật mới
tương ưng với tâm Ngài, thấy Ngài và nằm trong phạm vi giáo
hóa của Ngài.
Còn
thế giới của nghiệp, của tham sân phiền não, của vọng
thức, của chúng sanh, cứ để nó tồn tại. Không phải thành
Phật rồi thủ tiêu các loài sinh vật trên thế gian. Ðiểm
này cho thấy khác biệt giữa tâm đại bi của Phật và tâm
chúng ta.
Trong
tứ sanh lục đạo, chúng ta binh vực loài này, lại rớt qua
áp đảo, sát hại loài khác. Phật thể hiện lòng đại từ
đại bi đối với muôn loài, Ngài không bị rơi vào thế cục
bộ như chúng ta. Với tâm đại từ bi của Phật, tất cả
mọi loài đều bình đẳng Nhất Như, nên tất cả đều tồn
tại. Hiện hữu đa dạng này không xóa. Không lẽ thành Phật
rồi đoạn hết thế giới sanh diệt hay sao ?
Trên
lập trường siêu thoát, tất cả vật tương quan tồn tại
ở thế gian đều có cái hay, cái đẹp riêng của chúng. Mọi
tồn tại dưới kiến giải Ðại thừa đều cần thiết, không
phải tiêu diệt hết để chỉ còn một thứ, thì chán lắm
!
Thế
giới Phật vẫn hiện hữu trong thế giới sanh tử và thế
giới sanh tử nằm trong tâm Phật. Vì vậy, trên giải thoát
môn, không có chúng sanh nào nằm trong tâm Phật mà không
giải thoát. Phật hoàn toàn bình đẳng, thanh tịnh giáo hóa.
Cho đến người khổ đau cùng cực ở địa ngục A Tỳ khi
phát tâm nghĩ đến Phật, cũng hết đau khổ, được an vui
ngay.
Chúng
ta còn nhớ hình ảnh Vô Não quăng dao, quỳ dưới chân Phật,
liền đắc La hán, giải thoát tức thời. Giáo hóa của Phật
như vậy không vạn năng sao ? Tại sao Vô Não giải thoát, đắc
La hán dễ dàng như vậy ?
Chúng
ta phải biết tâm trạng Vô Não lúc gặp Phật, mới nhận
ra được ý nghĩa giải thoát của Ðại thừa. Nếu giải chung
chung rằng Vô Não quăng dao thành La hán, thì tất cả sát nhân
khác quăng dao cũng thành La hán ư ? Việc đó tất nhiên
không thể có. Những sát nhân khác quăng dao không thành La
hán nằm trong phạm vi “bất năng” của Phật.
Phật
khẳng định đối với người không có duyên đắc độ, Ngài
cũng không độ được. Vì càng nói nhiều, tâm thức càng
phát triển, đi sâu vào rừng rậm tà kiến. Chỉ có tâm hồn
chí đạo, mới được Phật khai ngộ. Cách giáo hóa của Bồ
tát cũng ở dạng này.
Di
Lặc thưa với Ðức Thích Ca rằng không dám gặp Duy Ma hay
nói lên ý nghĩa “bất năng”, độ hết không được. Trong
lòng từ vô lượng của Di Lặc làm gì có chúng sanh đau khổ.
Ðau
khổ và thanh tịnh của chúng ta được hình thành bằng thế
giới Ðâu Suất nội viện và Ðâu Suất ngoại viện. Hoặc
điều ấy diễn tả thế giới Phật ở hai mặt “năng”
và “bất năng”.
“Năng”
là ở trong nội viện hay trong bản tâm thanh tịnh. “Bất
năng” là ở ngoại viện hay hiện tượng giới bên ngoài.
Ðối với hiện tượng giới bên ngoài, hành giả không làm
gì khác hơn được. Nhưng về mặt bản tâm thanh tịnh, hành
giả ở bất cứ tình huống nào mà không được giải thoát.
Ðiểm
này chúng ta dễ thấy rõ qua hình ảnh các vị Sa môn sống
đạm bạc với tâm hồn tràn đầy an lạc giải thoát. Trong
khi những người quá dư thừa tiện nghi vật chất, họ vẫn
không được hưởng chút hương vị giải thoát.
Ðối
với vấn đề khôn dại cũng vậy. Có người rất khôn, nhưng
quá khổ. Còn những người được coi như không biết tính
toán, mà suốt đời lại an lành. Thiết nghĩ từng bước chân
đi trên cuộc đời, muốn giải thoát, hãy vào sống trong Ðâu
Suất nội viện, tức trở về với bản tâm thanh tịnh. Muốn
đau khổ thì cứ lăn xả ra Ðâu Suất ngoại viện, sống với
hiện tượng giới. Hai thế giới quan này thường quyện với
nhau. Niệm trước thanh tịnh, niệm sau đau khổ, cứ vậy liên
tục tiếp nối không ngừng trong cuộc sống tu hành của chúng
ta.
Ở
đây vẽ lên thế giới Ðâu Suất nội viện của Di Lặc để
chuẩn bị làm Phật. Trên bước đường tu, đối với người
có căn lành, thường chập chờn trước mắt thế giới quan
này, khi thấy khi không. Nghiệp của chúng ta khởi lên, thì
Ðâu Suất nội viện tan thành mây khói. Nhưng nghiệp lắng
đọng, tâm hồn thanh tịnh, tức thì lầu các cung điện của
Ðâu Suất nội viện hiện ra rực rỡ. Thế giới này tùy
thuộc ở tâm mà hình thành.
Phật
muốn giới thiệu thế giới thanh tịnh bản tâm, nên gọi
Di Lặc đi thăm bệnh Duy Ma. Nghĩa là từ thế giới nội viện
đi ra thế giới ngoại viện. Ở ngoại viện thì “bất năng”
không kham nổi, nhưng vào nội viện, Di Lặc vẫn tiếp tục
giáo hóa chư Thiên.
Trong
kinh Tiểu thừa chỉ có Di Lặc được thọ ký thành Phật.
Tại sao Di Lặc được thọ ký ? Di Lặc là Bồ tát từ nhân
hướng quả, được Phật thọ ký để xác định rằng đệ
tử Phật nếu tiến đúng lộ trình tu Thanh văn, Duyên giác,
Bồ tát, đầy đủ đạo hạnh cũng thành Phật. Không phải
chỉ có Phật tu, mới thành Phật như đại chúng thường nghĩ
lầm.
Phật
cho biết từ vô lượng kiếp Di Lặc tu tâm từ, đạt đến
đại định, hiện tướng hoan hỷ, ai thấy cũng thương. Phật
chọn mẫu Di Lặc như vậy làm người thừa kế, tất nhiên
không ai thắc mắc.
Tên
Di Lặc nghĩa là từ tâm. Duy Ma là tịnh tâm. Hai tâm này cần
đi đôi với nhau. Thật vậy, khi ta có lòng từ và thể hiện
lòng từ phổ cập mọi người, nhưng thiếu tâm thanh tịnh,
cũng dễ đưa đến sai lạc. Vì vậy, phần kiểm chứng bên
trong mới quan trọng. Làm thật nhiều việc lợi ích cho người,
mà không được rời bản tâm thanh tịnh. Ngài Duy Nhiên Thiền
sư cũng nhắc nhở chúng ta nhập cuộc với trần lao, dấn
thân vào tất cả việc, không được để cho lòng bị giao
động, nhiễm ô với đời.
Tịnh
tâm và từ tâm nói chuyện với nhau, thể hiện bằng hai việc
làm của Bồ tát, hay hai đức tánh của con người. Từ tâm
chỉ hiện hữu trong chánh định, bên ngoài không có được.
Nó xuất phát từ bản tâm thanh tịnh.
Trên
quá trình tu hành, Di Lặc phát tâm bồ đề chuyên tu tâm từ.
Hành động và tâm niệm Ngài chỉ có mục tiêu mang niềm vui
cho chúng sanh. Với tâm niệm đó, Ngài được Phật Thích Ca
thọ ký thành Phật.
Ðược
thọ ký xong, Ngài an trú cung trời Ðâu Suất nội viện. Phật
Thích Ca trước khi thành Phật tên Hộ Minh cũng ở cung trời
Ðâu Suất nội viện, nhưng khác ở điểm Hộ Minh tái sanh
vào thế giới Ta bà nhơ xấu, giáo hóa chúng sanh tham sân phiền
não cang cường bướng bỉnh.
Còn
Di Lặc với nụ cười hoan hỷ, mang tên từ tâm Bồ tát. Khi
Ngài sanh lại, thế giới này không khổ, không bị làm nhục
như Phật Thích Ca. Thế giới của Ngài là Tịnh độ đất
bằng lưu ly, không có tâm ô uế của con người, chỉ thuần
có Bồ tát. Ngài ngồi dưới cội Long Hoa thuyết pháp. Cách
thuyết pháp của Ngài không giống Phật Thích Ca nói pháp vô
thường, khổ, không, vô ngã. Người chỉ nhìn tòa Ngài ngồi,
thấy hoa nở, tâm liền thanh tịnh, thấy nụ cười Di Lặc
liền phát tâm. Không cần tu một cách khổ cực như chúng
sanh ở thời Phật Thích Ca. Pháp tu của mỗi Ðức Phật tùy
hạnh nguyện có khác nhau .
Di
Lặc vừa nhận chức cai quản Ðâu Suất, thì Duy Ma xuất hiện.
Ðiều này gợi nhắc chúng ta dấn thân hành đạo mới thấy
lúc chưa làm, tâm chúng ta bình thản như mặt nước hồ thu.
Ðến khi khởi niệm làm, dù trái hay phải, vấn đề liền
được đặt ra.
Vì
vậy, đây là điều kiện đo bồ đề tâm, khả năng tri giác,
đức nhẫn của chúng ta. Ý thức được điều quan trọng
tất yếu này của người tu Bồ tát đạo, chúng ta phải chuẩn
bị tâm tưởng để khỏi bị đánh bất ngờ. Phải thấy
trước chướng ngại xảy đến. Nếu không, chúng ta dễ bị
đánh ngã.
Khi
Di Lặc được thọ nhiệm ở Ðâu Suất giáo hóa chư Thiên
thay thế Hộ Minh Bồ tát, tất cả thử thách đương nhiên
xảy đến với Ngài.
Chư
Thiên đang nghe Di Lặc giảng đạo Bồ tát thì Duy Ma xuất
hiện khuấy phá. Ðiều này gợi nhắc chúng ta sẽ gặp phiền
não của “tịnh” khi bước vào thế giới tâm linh, thường
được gọi là trần sa vô minh hoặc.
Thật
vậy, ban ngày bận rộn nhiều việc, nhận thức của ta bị
hạn chế. Tất cả những gì trong tiềm thức hay trong nhiều
kiếp trước không hiện lên được vì bị hiện tượng giới
che khuất mất. Chúng ta bị động trong cảnh động là tâm
trạng
của người thế gian.
Tuy
nhiên, khi màn đêm buông xuống, chúng ta vào Thiền định sẽ
thấy tất cả những gì chứa trong tiềm thức. Cái nào gần
nhất nó bung ra trước. Ðó là động trong tịnh, tức chung
quanh tịnh, nhưng động từ tâm bung ra, một thứ động mà
không bao giờ chúng ta tìm được trong cảnh động.
Duy
Ma viếng Di Lặc trong lúc Ngài đang tịnh. Nói cách khác, Di
Lặc chỉ bắt gặp Duy Ma trong định mà thôi. Theo tôi, đây
là từ tâm nói chuyện với tịnh tâm, nghĩa là ở trạng thái
yên tĩnh của Thiền định, từng sở đắc của chúng ta trong
quá trình hành Bồ tát đạo tích lũy thành công đức, tự
nó bộc phát lên. Riêng tôi, vào Thiền, cũng có lúc thấy
lại những vị thầy dạy mình hay cảnh chùa tôi học đạo
từ thuở nhỏ. Cuộn phim dĩ vãng này tự động chiếu lại
cảnh tượng một đời cho đến nhiều đời trước. Những
thứ này từ từ hiện lên lúc ta ngồi yên. Còn lăn xả vào
đời, chuyện đời cứ chồng chất nhồi thêm dầy đặc.
Tất nhiên cái cũ khó hiện ra.
Tuy
nhiên, cần lưu ý khi tâm lắng xuống, chúng ta nhớ lại khó
khăn trên bước đường hành đạo, rồi khởi niệm sân hận
rớt vào sanh tử. Ðó không phải là khởi niệm của Di Lặc.
Tất
cả sở đắc mà Di Lặc hãnh diện đã tạo được trong lũy
kiếp tu hành, khi đem trình cho Duy Ma xem, bị Duy Ma xóa
sạch, để đưa Di Lặc đến giải thoát.
Cách
tu này của Di Lặc ở thế giới Thiền định nhắc nhở chúng
ta đừng ôm ấp thành tích huân chương, không khéo đọa vào
tăng thượng mạn.
Nhờ
Duy Ma dạy Di Lặc hay dạy chúng ta, thấy tất cả thành tích
tu hành trong quá khứ phải xả bỏ mới đắc đạo. Trước
kia, nó cần cho chúng ta trên bước đường tu bao nhiêu, thì
nay nó trở thành chướng ngại bấy nhiêu. Ý này thường được
ví như qua sông cần thuyền. Vượt đường hiểm sanh tử phải
tu tạo phước đức trí tuệ giống như lượm gỗ kết bè
qua sông. Không có phước đức trí tuệ không thành Phật.
Nhưng qua sông, lên bờ, không thể ôm thuyền đi.
Trước
khi Bồ tát Di Lặc thành Phật, lần cuối phải giải quyết
phần công đức tồn đọng, xả bỏ tất cả. Di Lặc gặp
Duy Ma khuấy phá để nói lên ý nghĩa từ hiện tượng giới
bên ngoài tích lũy công đức dưới dạng Bồ tát Báo thân,
cần xả hết, để thành Phật chứng được Pháp thân thanh
tịnh. Lúc ấy, trần lao và pháp giới nhập làm một, trụ
ở bản thể mà hành đạo trên thế gian, mới không vấp ngã
vì chướng ngại.
Còn
hoàn toàn ở trên sanh diệt cuộc đời mà hành đạo, chúng
ta khó bề vượt khỏi trùng trùng điệp điệp chướng ngại
bao vây nối tiếp nhau. Ðó là cuộc vấn đáp giữa Duy Ma và
Di Lặc hay giữa từ tâm và tịnh tâm mà chúng ta nghe được.
Ðức
Phật thọ ký cho Di Lặc Bồ Tát thành Phật, là người thừa
kế Thích Ca làm giáo chủ.
Vấn
đề thừa kế gợi cho chúng ta suy nghĩ thừa kế Thích Ca về
vật chất hay tinh thần ? Thừa kế tinh thần, thì không cần
thọ ký. Người nào có đủ tư cách thay thế Phật trên thế
gian, người đó là thừa kế, không riêng gì Bồ tát
Di Lặc.
Thừa
kế tinh thần cốt sao chúng ta có đủ trình độ tu chứng
đạt được vị trí giống người đi trước. Thừa kế vật
chất nằm trên sanh diệt dễ đi đến sụp đổ và phá sản,
khi chùa cao Phật lớn trở thành mối tranh chấp quyền lợi
trong nhà lửa tam giới. Ðiển hình như những chùa 100
năm trước hưng thịnh, nhờ đạo hạnh của các Tổ sư. Ngày
nay, không có người thừa kế sự nghiệp tinh thần, chỉ còn
là di tích lịch sử hoang vắng.
Nghe
đức Thích Ca thọ ký cho Di Lặc một đời thành Phật, Duy
Ma bắt đầu suy nghĩ, nghĩa là từ bản tâm của ta tự chất
vấn ta, một đời thành Phật là đời nào ?
Suy
nghĩ sâu hơn, nói đến một đời khiến chúng ta liên tưởng
nhiều đời, là chuỗi thời gian từ quá khứ dẫn đến hiện
tại và xuyên suốt tương lai. Một đời của Di Lặc là quá
khứ, hiện tại hay vị lai ?
Nếu
một đời là quá khứ, thì quá khứ đã trôi qua, là hiện
tại thì hiện tại không dừng. Trong sanh có diệt và ngược
lại trong diệt có sanh, niệm niệm sanh diệt không ngừng.
Nếu
một đời chỉ cho thân tứ đại ngũ uẩn, thì thân này luôn
luôn biến đổi từ vi trần này thành vi trần khác, chịu
sự chi phối của luật đào thải, biến hóa trong từng sát
na. Như vậy, trong thân con người quán sát, nó luôn sanh và
chết. Di Lặc lấy cái nào trong con người để được thọ
ký ?
Một
đời trên sanh diệt môn luôn luôn biến đổi, có gì đáng
cho ta quan tâm. Và cuộc đời hạn cuộc trong một lần sanh,
một lần chết, thì Duy Ma chẳng muốn được thành Phật làm
gì.
Một
đời theo Ðại thừa đánh dấu từ khi phát tâm cho đến thành
Phật. Thời gian không quyết định trong một kiếp người
sanh diệt, nên sinh mệnh của Bồ tát gọi là sinh mệnh tương
tục.
Từ
lúc phát tâm, từng kiếp tu hành liên tục, cho đến thành
Phật, giống như xâu chuỗi có nhiều hạt. Mỗi hạt tượng
trưng cho một lần Bồ tát thay đổi xác thân. Và sinh mệnh
tương tục của Bồ tát là sợi dây nối liền các chuỗi
lại không gián đoạn.
Tuy
nhiên, Bồ tát không lấy tứ đại ngũ uẩn làm sinh mệnh.
Vì đứng ở lập trường Bồ tát, tứ đại này không khác
gì chiếc áo bên ngoài, tâm bồ đề bên trong mới thực là
sinh mệnh của Bồ tát.
Hàng
nhị thừa hiểu lầm Di Lặc được thọ ký lên Ðâu Suất
và sau đó giáng xuống Ta bà thành Phật. Cách hiểu này không
đúng.
Theo
Ðại thừa, thành Phật hay không là do quá trình tu tập của
hành giả. Ðức Phật không nói hư vọng, nhưng đừng hiểu
thọ ký là Phật cho Bồ tát quả vị Phật.
Ngài
thọ ký cho Bồ tát từ nhân hướng quả, để xác định quá
trình tu chứng được Báo thân phải thể nghiệm đầy đủ
Bồ tát hạnh. Không chỗ nào Bồ tát không thị hiện, không
việc nào Bồ tát không làm. Bồ tát hiện hữu trong tứ sanh
lục đạo với tư cách cứu khổ chúng sanh.
Khi
tu Bồ tát đạo, Bồ tát xả vô số sanh thân, trải qua vô
số sinh mệnh tương tục, tiến đến thành tựu Báo thân,
chứng Pháp thân, thâm nhập pháp giới mới thành Phật. Lúc
ấy, Báo thân của Bồ tát tu chứng sát nhập vô Pháp thân
thường hằng, để trở thành diệu dụng của Bồ tát ứng
xử lợi lạc trong mọi tình huống.
Ðó
là quá trình Bồ tát phải trải qua để được thọ ký. Không
phải được thọ ký thành Phật, rồi thành ngay.
Ngoài
ra, chúng ta cần lưu ý rằng không phải thân ngũ uẩn thành
Phật. Tuy nhiên, bỏ ngũ uẩn, chúng ta cũng không thành Phật
được.
Trên
bước đường tu, sử dụng ngũ uẩn thân để đoạn phiền
não. Phiền não xóa sạch, chơn tâm hay Pháp thân thường trú
sẽ hiển hiện. Thiền tông thường ví chơn tâm như gương
bị bụi ngũ uẩn ngăn che. Nếu lau sạch bụi ngũ uẩn, chơn
tâm tự hiện. Ðó là ý nghĩa Phật thọ ký cho Di Lặc.
Về
vấn đề chơn tâm, chúng ta đừng hiểu lầm nó là cái gì
chúng ta tạo được. Trong dòng sinh mệnh tương tục của Bồ
tát, từ khi phát tâm tu, trải qua quá trình gia công đoạn
phiền não, sau cùng thành Phật phát hiện Pháp thân thường
trú.
Trong
suốt quá trình tu này, Pháp thân Bồ tát vẫn vĩnh hằng không
thay đổi. Nó có từ khi hành giả chưa phát tâm, khi tu nó
vẫn có và đến khi thành Phật cũng vẫn là nó. Khi thành
Phật, Pháp thân hành giả không thêm không bớt. Lúc còn
là phàm phu, nó không giảm.
Chính
ở dạng pháp tánh bất sanh bất diệt này, không cần đặt
vấn đề thọ ký. Vì bản thể vốn vô sanh, bản lai diện
mục của ta từ nghìn xưa cho đến nay và mãi đến nghìn sau,
không thay đổi.
Thật
vậy, Duy Ma quan sát trong thân sanh diệt hàm chứa tâm niệm
luôn biến đổi, giống như dòng thác không ngừng. Trong biến
đổi không dừng của thân tâm, Duy Ma nhận chân được Pháp
thân kỳ diệu không biến đổi gọi là chánh vị.
Ở
dạng không thay đổi bất sanh bất diệt, Duy Ma thấy Di Lặc,
chúng sanh và Ngài đồng một thể tánh. Như vậy Duy Ma, Di
Lặc và chúng sanh đều thành Phật, thì cần gì phải thọ
ký cho riêng Di Lặc một đời sẽ thành Phật.
Tóm
lại, Duy Ma nhắc nhở Di Lặc cũng là nhắc nhở chúng ta nên
kế thừa sự nghiệp tinh thần của Phật. Ði theo con đường
Bồ tát, chúng ta phát huy đời sống tâm linh, càng thăng hoa
càng tốt đẹp, trở thành một biểu tượng tri thức và đạo
đức không ai tranh dành được.
Di
Lặc Bồ tát không kham lãnh thăm Duy Ma. Phật dạy Quang Nghiêm
đồng tử đến thăm Duy Ma.
Quang
Nghiêm đồng tử là Bồ tát ly trần, hoàn toàn trong sạch,
từ nhỏ đến lớn, không phạm lỗi lầm nào. Ngài chuyên
tu sửa mình, hoàn toàn thánh thiện, trở thành mẫu người
mô phạm tiêu biểu, không có gia đình gọi là đồng tử.
Quang
Nghiêm đồng tử chính là mẫu Bồ tát theo kinh Pháp Hoa diễn
tả vì thương nhân gian mà sanh lại. Ở đây cần giải thích
rõ sự khác biệt giữa Bồ tát thương nhân gian sanh lại mang
ngũ ấm thân và chúng phàm phu mang thân ngũ ấm.
Khi
Bồ tát thọ ngũ ấm thân, Bồ tát tâm hay bản vị Pháp thân
Bồ tát bị ngăn che. Từ nhỏ lớn lên, đồng tử sống với
cuộc đời, mọi nhận thức, tình cảm đều phát xuất từ
thấy nghe tiếp xúc với đời. Thí dụ sanh ở Việt Nam thì
nói tiếng Việt, có sinh hoạt tình cảm, thấy biết theo người
Việt. Nhưng sanh ở Trung Hoa thì được nhồi nắn theo người
Trung Hoa.
Nói
chung, sanh ở chỗ nào được xã hội nơi đó un đúc theo kiểu
của họ đặt ra. Rõ ràng ảnh hưởng bốn phía từ từ bao
vây đồng tử. Cuộc đời đem tặng cho Bồ tát suy tư, hiểu
biết, phải trái, vui buồn từ lúc chào đời.
Những
thứ này mỗi ngày lớn dần theo cuộc sống gắn chặt với
ngoại cảnh qua sáu căn tiếp xúc sáu trần, đến độ lầm
tưởng những gồng gánh bên ngoài là TA thực. Lúc ấy, lấy
tứ đại ngũ uẩn làm TA, khiến chơn tánh bất sanh bất diệt
bị che mất.
Tuy
nhiên, Bồ tát mất bản tâm, khác với chúng sanh mất bản
tâm. Chúng sanh trải qua trần lao sanh tử đánh mất bản tâm
trong vô lượng kiếp. Trong khi Bồ tát thương nhân gian sanh
lại, chỉ mất bản tâm trong một kiếp.
Vì
Bồ tát Quang Nghiêm được thọ ký thành Phật thương nhân
gian sanh lại, nên khác với người trần trôi lăn trong sanh
tử nhiều đời. Tuy Pháp thân Bồ tát bị tứ đại ngũ uẩn
bên ngoài bao che, nhưng bức màn vô minh ngăn cách Ngài và Phật
mỏng hơn. Mặc dù tiếp xúc với nhân gian, trong lòng Bồ tát
vẫn thao thức xuất ly, vượt lên trên cái bình thường của
con người.
Kinh
diễn tả ý này bằng hình ảnh đồng tử Quang Nghiêm từ
thành đi ra. Nói cách khác, từ Trí thân Bồ tát vượt khỏi
tứ đại ngũ uẩn thân, vượt lên trên phiền não trí mà
cuộc đời đã đem tặng cho Bồ tát, khi Ngài bước vào sống
với chúng.
Từ
dạng được Phật thọ ký sanh lại cuộc đời, hay từ bản
tâm thanh tịnh sanh trên nhân gian. Và từ con người nhân gian
có tâm hướng thượng đi lên, để diễn tả Bồ tát ở giai
đoạn hai, phải hiện hữu trên cuộc đời, không thể ở
luôn trong Ðâu Suất nội viện.
Ở
cuộc đời, thì có vấn đề của đời đặt ra. Kinh
diễn tả rằng Quang Nghiêm gặp Duy Ma ở cổng thành. Nếu
không gặp Duy Ma, Quang Nghiêm tu một lúc sẽ hướng tâm về
hư vô tịch tĩnh, không biết gì đến cuộc đời.
Ðiều
đó có nghĩa là từ bản tâm thanh tịnh sanh trên cuộc đời,
ở trong trần lao sanh tử, Bồ tát nhận ra đây không phải
là thế giới của mình nên bỏ về Niết bàn. Và từ Niết
bàn khởi lòng thương nhân gian sanh trở lại sanh tử. Rồi
sống một lúc với sanh tử, thấy chán sợ, lại bỏ về Niết
bàn. Nếu cứ ở trong vòng luẩn quẩn như vậy, không khác
gì đứng núi này trông núi nọ, chẳng làm được gì, không
phải là pháp tu của Bồ tát.
Bồ
tát Quang Nghiêm trong sạch nhưng quan niệm sai lầm về vấn
đề trong sạch đến mức cách biệt trần thế. Ông tưởng
rằng xa cuộc đời, sẽ thấy đạo, nhưng sau cùng, cũng không
nắm bắt được chân lý. Phải nhờ Duy Ma điều chỉnh, để
ông thấy Bồ đề đạo tràng, tức thấy Phật.
Thật
vậy, khi tu chúng ta hướng về giải thoát quá mạnh, thường
vấp phải khuyết điểm lúc trở về thực tế dễ trở thành
ngây ngô. Kinh Viên Giác nhắc chúng ta Phật pháp bất ly thế
gian giác để khỏi rơi vào sai lầm này.
Riêng
tôi, theo kinh nghiệm tu hành, trong nhiều năm tôi miệt mài
kinh điển, như người chứa một bồ kinh, nhưng khi nhìn ra
cuộc đời, quả thật không biết gì.
Tuy
nhiên, có điều lạ, mặc dù tôi sống với kinh điển tưởng
chừng như xa lạ đối với cuộc đời, nhưng không ai gạt
được tôi. Có lẽ vì thấy tôi khờ, nên họ thương hại.
Ðến
giai đoạn hai, người không hại tôi, vì họ sợ tội. Tôi
lại cảm được lẽ mầu nhiệm mà chư Phật bố trí cho người
tu qua các vị thủ hộ Thần.
Ðến
giai đoạn ba, thiên hạ không hại được, vì thật sự họ
không thể hại, không phải vì thương hay vì sợ tội như
trước kia. Bấy giờ, chúng ta cứ hành đạo một cách bình
thản. Không cần người thương hại, không cần người sợ.
Nhưng thâm nhập lý Pháp Hoa, “tất nhiên phải như vậy”
là “như thị như thị”, không thể làm khác hơn.
Hành
giả luôn hướng thượng, thấy được siêu xuất và mang lý
tưởng ứng dụng cho nhịp nhàng với thực tế cuộc sống
xã hội. Ðó là hình ảnh Bồ tát Quang Nghiêm gặp Duy Ma.
Bồ
tát Quang Nghiêm gặp Duy Ma để chứng nghiệm pháp tu không
thương không sợ, hành đạo hoàn toàn tự tại giải thoát.
Bồ
tát luôn giữ tư cách vô nhiễm, ví như hoa sen vươn lên từ
bùn. Sen không là bùn, một đề tài lớn cho hành giả Ðại
thừa để tâm suy nghĩ.
Bồ
tát hiện thân trên cuộc đời dưới dạng sen tỏa hương
trong vũng bùn, lúc nào cũng tỉnh táo quan sát sự vật. Quan
sát xem sen hút bùn như thế nào để tỏa hương cho đời,
Bồ tát sử dụng thân thế nào để thành Hiền Thánh. Ðứt
gốc bùn, không thành sen, cũng như Bồ tát bỏ thân ngũ
uẩn không thành Phật và phải chuyển ngũ uẩn thân thành
ngũ phần Pháp thân bằng cách tu tập giới, định, huệ.
Trong
quá trình tu, tinh lọc phần bùn đất thành hương sen, hay chuyển
nhận thức phiền não thành trí giác. Cứ một phần ngũ uẩn
thân được gỡ bỏ, Bồ tát chứng được một phần Pháp
thân, cho đến cải thiện hoàn toàn thân ngũ uẩn thành Pháp
thân.
Như
vậy, ở giai đoạn một, Bồ tát tích lũy công đức. Và giai
đoạn hai, Bồ tát phải tiếp tục hiện thân ở cuộc đời
giáo hóa chúng sanh y như trước.
Tuy
nhiên, khác ở điểm Bồ tát thành tựu công đức rồi, phải
xả bỏ tất cả để tiến lên bờ giải thoát. Hiện hữu
trong cuộc đời làm mọi việc bình thường, thể hiện mẫu
người giải thoát trong chốn không giải thoát. Ðó là hình
ảnh Duy Ma từ ngoài đi vào thành, nhắc nhở Quang Nghiêm hay
vẽ lên cho chúng ta pháp tu Bồ tát thành tựu lợi ích chúng
sanh, mà không hề sanh tâm chấp trước.
Bồ
tát Quang Nghiêm từ thành ra gặp Duy Ma ở cổng thành. Nhìn
qua bề ngoài, Quang Nghiêm hoàn toàn trong sạch, Duy Ma hoàn toàn
nhơ bẩn, việc gì cũng làm, chỗ nào cũng đến. Ðối với
ông “dâm phòng tửu điếm, vô phi thanh tịnh đạo tràng”.
Quang
Nghiêm đồng tử từ cuộc đời hướng về chân lý, gặp
Duy Ma từ chân lý đi ngược về nhân gian. Hai lập trường
tương phản gặp nhau, trí mới bừng sáng. Hai người gặp
nhau ở cửa thành là hai thế giới thanh tịnh và nhiễm ô
giao nhau, tạo thành thế giới bất nhị cho Bồ tát bước
vào.
Trì
giới của Quang Nghiêm đồng tử không gặp Duy Ma khai ngộ,
không có ý nghĩa. Trong sạch của Quang Nghiêm ví như ma ni bảo
châu vào bùn lầy cuộc đời, đi đến đâu, thanh tịnh hóa
người đến đó. Tiếp xúc với mọi hạng người trong xã
hội đều được quý mến kính nể, Ngài hướng dẫn và cải
thiện họ thăng hoa.
Với
tâm hồn cao cả trong sạch hoàn toàn, Duy Ma hội nhập vào
đời độ sanh, không gì chướng ngại, thường được ví
như hoa sen thơm ngát vươn lên từ bùn lầy.
Riêng
chúng ta còn đầy phiền não nhiễm ô, đức hạnh không trọn
lành như Duy Ma, phải tu pháp Thanh văn và giữ giới trong sạch
như đồng tử Quang Nghiêm. Ta chờ đủ nhân duyên gặp Duy
Ma khai ngộ.
Do
suốt đời giữ giới thanh tịnh, được Phật Thích Ca ấn
chứng, Quang Nghiêm đồng tử mới gặp Duy Ma. Duy Ma khuyên
Bồ tát Quang Nghiêm đừng theo đuổi chân lý, hãy trở lại
thực tế cuộc đời, mới thấy Bồ đề đạo tràng, mới
bắt gặp chân lý, gặp Thích Ca ở đây. Bỏ cuộc đời, tìm
Thích Ca không có. Vì chính Duy Ma thấy Phật, nghe được pháp
âm vi diệu ở ngay trên cuộc đời này.
Duy
Ma nói với Bồ tát Quang Nghiêm rằng trực tâm, thâm tâm, bồ
đề tâm là đạo tràng, sáu pháp ba la mật là đạo tràng
v.v... Ðâu có gì trên cuộc đời không phải là chỗ giác
ngộ. Nếu rời bỏ những hiện thực này sẽ rớt qua không
tưởng.
Ðây
là ý niệm khi chúng ta hành đạo, xa rời thực tế sẽ không
thấy đạo. Ðạo ở ngay trước mặt, ngay trong lòng chúng
ta. Sự hiểu biết của chúng ta phát xuất từ quá trình hành
đạo, tức trí tuệ ta phát sinh do cọ sát với đời. Phật
dạy trong kinh Hoa Nghiêm rằng bồ đề ở nơi chúng sanh. Chúng
sanh càng cang cường, Bồ tát càng mau đắc đạo.
Duy
Ma là bản tâm thanh tịnh. Bồ tát Quang Nghiêm do giữ giới
thanh tịnh cao độ mới bắt gặp được bản tâm thanh tịnh.
Từ bản tâm thanh tịnh phát bồ đề tâm hướng về đạo
tràng, nghĩa là nhập cuộc và song hành với đời bằng tâm
hồn hoàn toàn thánh thiện. Từng bước chân đi của Bồ tát
mở rộng Tịnh độ an lạc và giải thoát cho người.
Với
Bồ tát giữ giới trong sạch như Quang Nghiêm, Duy Ma khuyên
ông vào đời hành đạo. Nhưng gặp người tâm hồn chưa thanh
tịnh, bị đời làm hoen ố đạo tâm, Duy Ma liền xuất hiện
chỉnh lý.
Từ
đồng tử Quang Nghiêm trong sạch xuất gia nâng lên một nấc,
trở lại cuộc đời giáo hóa chúng sanh. Ðó là hình ảnh
Trì Thế Bồ tát xuất gia, an trụ quả vị giải thoát, nhưng
không bỏ thế tục, khi thế gian cần cũng sẵn lòng đến
với họ.
Trì
Thế nghĩa là giữ lại sự sống cho mọi người, nên trong
kinh ghi Trì Thế làm quốc sư cho Kiều Thy Ca vương là vua cõi
trời cai quản nhân gian. Ðây là quan niệm có sẵn của Ấn
Ðộ.
Dựa
trên tinh thần này, chúng ta thấy các vị Tăng xuất gia tu
hành giải thoát, mà vẫn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu cho đời,
tham gia vào việc quốc sự. Ví dụ Vạn Hạnh Thiền sư hay
Khuông Việt Thái sư, thể hiện khẩu hiệu của Phật giáo
Ðại thừa “mang đạo vào đời, làm sáng đẹp cuộc đời”.
Ðại
thừa triển khai tinh thần này cao độ, nhất là Phật giáo
Việt Nam và Phật giáo Nhật Bản, các nhà sư đều là vị
Tổ của các ngành nghề. Các Ngài giải thoát, không kẹt danh
lợi, đạt được trí tuệ sáng suốt, nhìn đời khách quan
chính xác hơn người đời và dùng hiểu biết thông thái phục
vụ nhân sinh.
Tuy
nhiên, hành giả tu một mình giải thoát. Nhưng nhập cuộc
với đời, coi chừng bị đời làm đen tối, nhận lầm ma
là Phật. Có nhiều quốc sư thường rơi vào lỗi lầm này.
Chưa nhập cuộc hoàn toàn sáng suốt, phân biệt được chánh
tà chơn vọng. Ðến khi tham gia với đời bị thế tục hóa,
ám nghiệp sanh ra.
Ở
Việt Nam có Phù Vân quốc sư đời Trần không bao giờ về
triều. Ngài e ngại bụi bặm trần thế sẽ phủ lên mình
theo bước chân lún sâu vào đời. Vua cần thì phải lên núi
thỉnh ý Ngài.
Ở
đây điển hình là Trì Thế Bồ tát bị đời làm hoa mắt,
tưởng ma là Ðế Thích. Sai lầm của Trì Thế gợi cho chúng
ta suy nghĩ khi quá tha thiết với sự sống của chúng sanh,
nhiệt tình lo cho đời, thường dễ bị đời làm phiền muộn
chúng ta.
Chưa
bước chân vào đời, không có vấn đề đặt ra cho chúng
ta. Nhưng nghe Duy Ma khởi sự nhập cuộc, liền gặp vô số
khó khăn, tiêu biểu qua hình ảnh của Thiên ma, cao nhất là
ma Ba Tuần.
Trì
Thế làm quốc sư của Kiều Thy Ca là Ðao Lợi Thiên vương
ngang với Chuyển luân Thánh vương cai trị 33 tầng trời. Công
việc của Ngài thường tiếp xúc với mọi người. Trước
kia, theo Quang Nghiêm Bồ tát, tự lánh đời dễ tịnh hóa thân
tâm. Nhưng nay cùng với Trì Thế Bồ tát hội nhập vào đời
tiếp xúc nhiều, khó thanh tịnh.
Thật
vậy, khi làm nhiều, những việc làm thường dính mắc vào
tâm thức chúng ta. Nếu còn thọ ngũ uẩn thân, những sự
kiện, cảm thọ hay suy tư lúc va chạm với đời luôn hiện
hữu trong tâm ta. Vì vậy, chưa vượt qua 500 do tuần đường
hiểm, chưa phá ngũ uẩn, những động chạm tiếp xúc với
sự vật còn nằm trong A lại da thức, khó quên mà dễ hiện.
Ý thức điều ấy, phải tự kiểm chứng thân tâm, đừng
nhận lầm tâm bồ đề với “thức” sẽ đọa.
Trì
Thế Bồ tát làm cố vấn cho Kiều Thy Ca ở Ðao Lợi lâu ngày,
nên mang tên Trì Thế có tư cách lãnh tụ hơn là Bồ tát dấn
thân vào đời. Ðạo phong của ông biến mất, trở thành Bồ
tát hình thức. Hay nói rõ hơn Trì Thế vào đời là hình ảnh
của một số quốc sư ra giúp nước, được vua trọng vọng
kính nể. Nhiều lúc lòng tham nổi lên, họ cũng có ý định
soán ngôi vua.
Tuy
nhiên, nhờ căn lành, vừa khởi niệm tà, liền được
Duy Ma xuất hiện chỉnh lại, nhắc nhở Trì Thế hay nhắc
chúng ta đừng để lòng tham làm hoen ố bản tâm thanh tịnh.
Thực tế thường thấy hoàn cảnh tốt dễ làm hư người.
Ngược lại, sống trong hoàn cảnh xấu, chúng ta thường phải
cân nhắc làm thế nào để giữ vị trí đạo, không bị trần
ai làm nhơ bẩn.
Trì
Thế Bồ tát mới đến cung trời Ðao Lợi, thân tâm hoàn toàn
trong sạch. Tuy nhiên, ở đó lâu sanh tâm biến đổi, không
còn thanh tịnh. Vì khi Ngài ngồi tĩnh tâm, Thiên ma hiện ra.
Ma này ở trong lòng, tâm động nên cảnh động. Lúc trước,
Trì Thế đã từng tiếp xúc với Kiều Thy Ca và Thiên nữ
có đàn ca. Nay ngồi nhập định thấy Kiều Thy Ca và Thiên
nữ xuất hiện là điều tất yếu.
Thật
vậy, ban ngày hành Bồ tát đạo. Nếu chưa vượt ngũ ấm,
khi tham Thiền, những gì ta tiếp cận sẽ hiện trong tâm thức.
Nó nhiễu loạn và tác hại công đức của chúng ta. Vì vậy,
tiếp xúc cuộc đời, làm được mọi việc nhưng phải xả
tất cả. Nếu còn nhớ nghĩ, nó sẽ làm ta đọa ngay trong
ngày đó.
Thiên
ma đến, Trì Thế lầm là Kiều Thy Ca và khuyên Kiều Thy Ca
nên nương phước báo có sẵn tìm đến ba điều không thay
đổi của Như Lai. Ðó là thân vô hạn, mạng sống vô cùng
và thánh tài vô tận.
1/
Dùng phước báo làm nền tảng tiến tu đạo Bồ tát, thành
tựu Như Lai thân, đạt được Pháp thân Kim cang bất hoại,
mới là chân thân. Giả thân này không tồn tại miên viễn.
2/
Mạng sống của chúng ta giới hạn trong từng hơi thở, dù
là chư Thiên cũng có đời sống hạn hẹp. Phải trở về
sống với thể tánh thường hằng của pháp, mới trường
cửu bất tử.
3/
Dùng phước báo hữu hạn thuộc pháp hữu vi để đổi pháp
vô vi là vô tận thánh tài của Như Lai. Ta sanh ở nơi nào,
phước lạc vô cùng theo ta đến đó. Còn tài sản chúng ta
thuộc phước báo hữu vi giới hạn trong cuộc đời này và
cũng không chắc gì chúng ta giữ được nó trọn đời này.
Ðiều
Trì Thế khuyên Kiều Thy Ca có thể hiểu rằng thật sự ông
nói với chính lòng ông, gợi cho chúng ta suy nghĩ. Trên bước
đường tu hành, cần nỗ lực tích tụ nghị lực, trí tuệ,
công đức để làm hạt nhân đưa chúng ta đến quả vị Phật.
Kiều
Thy Ca xin cúng dường tất cả tài sản cho Trì Thế. Trì Thế
cũng muốn nhận, nhưng chưa dứt khoát. Duy Ma hiện ra bảo
không phải là Ðế Thích, nhưng là ác ma nhiễu loạn tâm ông.
Duy
Ma nhắc Trì Thế hay nhắc chúng ta đừng lầm Thiên ma với
Ðế Thích. Theo tôi, Ðế Thích tiêu biểu cho người hộ đạo.
Chúng ta muốn thành tựu Phật sự cần nhờ đàn việt hằng
tâm hằng sản hỗ trợ. Tuy nhiên, khi chúng ta mừng rỡ đưa
hai tay đón nhận sự giúp đỡ và sẵn sàng tán thán công
đức họ, để rồi sau đó bao nhiêu vấn đề đặt ra cho
chúng ta. Vì bên trong bất cứ sự trợ giúp nào đều có điều
kiện kèm theo. Chúng ta không đáp ứng yêu cầu của họ là
có chuyện.
Ðiều
kiện họ đặt ra cho chúng ta khi ta đã lỡ thọ ơn, tôi coi
đó là Thiên ma. Khi tu có người mang quà đến tặng. Bằng
tâm thanh tịnh, chúng ta quan sát người cho, vật cho để khỏi
lầm người tốt xấu. Thấy ma phải biết là ma, mới không
rơi vào cạm bẫy, tiêu mất công phu tu tập.
Riêng
tôi, thường chịu cực sống nghèo, không thích nhờ vả, nên
ít lệ thuộc người, nhẹ bước trên đường giải thoát.
Ngoài
ra, trên bước đường tu, coi chừng lòng tham nổi dậy xúi
mình đòi hỏi quyền lợi thế gian. Khởi đầu, hành giả
hoàn toàn giải thoát nên các chánh khách rất tin và quý trọng.
Nhưng khi tham vọng nổi lên, họ sợ chúng ta cướp quyền,
chắc chắn họ sẽ thủ tiêu hay đưa ta đi đày.
Trì
Thế gặp hoàn cảnh ma chướng như vậy, nhưng nhờ căn lành,
ông được Duy Ma xuất hiện hóa giải. Duy Ma đến với Trì
Thế trong lúc tâm Trì Thế giao động. Nghĩa là hành giả tu
giải thoát, nhưng tiếp cận cuộc đời bị giao động, liền
có Duy Ma thật hay tri thức bên ngoài đến giúp đỡ.
Hoặc
hiểu dưới dạng khác là khi hành giả vấp phải sa ngã, từ
trong bản tâm thịnh văng vẳng lời Phật dạy chỉ đạo hành
giả tự thức tỉnh. Nhờ đó phát hiện ra pháp tu và giải
quyết vấn đề đúng đắn theo chánh đạo.
Trì
Thế Bồ tát nhờ tu lâu nên có tịnh tâm, tức khi tâm niệm
sai lầm khởi lên, liền có tâm tốt chỉnh lại ngay. Duy Ma
và Trì Thế tiêu biểu cho sự gặp gỡ giữa người lãnh trách
nhiệm hướng dẫn cuộc đời và người ở thế giới thanh
tịnh.
Hành
giả nhập cuộc với đời thường bị đời lôi kéo. Nếu
không có tâm thanh tịnh, dễ đọa. Nương theo công đức, niệm
ác sanh, niệm lành cứu lại ngay.
Thiên
ma không chống cự nổi với Duy Ma, liền dùng thần thông trốn,
tiêu biểu cho giữa chân lý với tội lỗi, giữa ánh sáng
và bóng tối. Ánh sáng xuất hiện, bóng tối mất. Ta giác
ngộ, chân tâm hiện lên, thì tội lỗi không còn.
Thiên
ma trốn không được và nghe trên hư không bảo hãy đem Thiên
nữ cho Duy Ma Cật mới đi được. Ðiều này gợi cho chúng
ta suy nghĩ khi chúng ta có đầy đủ công danh sự nghiệp, bỏ
nó không dễ. Tuy thất bại, nhưng cũng muốn gánh gồng mang
theo cho đủ.
Ma
Ba Tuần đành giao các Thiên ma cho Duy Ma. Trì Thế không thể
tiếp nhận ma, nhưng Duy Ma nhận được. Trong quá trình tu hành,
đạo đức và khả năng ta còn kém, tiếp cận ma chướng nhiều
trở thành nguy hiểm. Nhưng khi ta là Duy Ma hay bản tâm thanh
tịnh hoàn toàn, thì thiện ác đôi bề nước một sông, những
điều ác xấu không tác hại ta nữa. Ta tốt, ma thành pháp
lữ. Còn tâm không thanh tịnh, pháp lữ thành ma.
Duy
Ma đón nhận ma nữ, nhìn thẳng vào tâm họ, tùy từng người,
từng hoàn cảnh mà thuyết pháp
giáo
hóa. Ma nữ tiếp cận bản tâm thanh tịnh của Duy Ma, lòng
tốt tuyệt đối của Duy Ma, liền phát tâm bồ đề. Gặp
Trì Thế nó biến thành ma. Nhưng gặp Duy Ma, nó trở thành
Phật tử.
Duy
Ma khuyên họ từ đây nên từng bước từ bỏ thú vui vật
chất dục lạc của thế gian làm cho tâm hồn họ thấp lần.
Ðến ngày nào, vui này biến thành nghiệp, càng mong muốn,
vui càng lánh xa.
Phải
chuyển thú vui tầm thường thành niềm vui đạo. An trú trong
đạo pháp, mới cảm nhận được niềm vui vô tận, nhẹ nhàng,
thanh thoát. Duy Ma dạy các Thiên ma :
1/
Vui thấy Phật, vui ưa thân cận các Ðức Phật là nguồn vui
chính trong việc phát triển tri giác. Càng đi sâu trong việc
tu học Phật, càng vui với trí giác mở rộng, nâng cao hạnh
phúc và vị trí của chính mình.
2/
Vui nghe pháp, tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá chân lý. Nhờ
sống với pháp, Phật huệ phát sinh, rọi qua cuộc sống, thấy
được chân lý cuộc đời, mỗi ngày như pháp tu hành. Vui
thú an lạc sẽ lớn dần theo tầm nhìn mở rộng.
Giữa
Phật và pháp tương ưng với nhau tạo thành niềm vui kỳ diệu.
Nhờ đó, nuôi dưỡng thân tâm hành giả thăng hoa trong môi
trường tràn ngập chướng ngại khó khăn.
3/
Vui với Tăng là vui sống tập thể. Lúc mới, sống trong tổ
chức cảm thấy bực bội khó chịu. Vì không thấy Phật,
không nghe pháp. Chỉ quan sát hiện tượng bằng nghiệp nên
mối bất hòa, phiền phức cứ mãi gây khó khăn cho chúng ta.
Lần lần ý thức được sai lầm ấy, hành giả tự sửa đổi,
tháo gỡ được những khó khăn bất hòa. Mỗi lần gỡ bỏ
được một vướng mắc tồn đọng, hành giả lại thấy vui
hơn. Ðến khi mọi việc thế gian được giải quyết dứt
khoát, êm đẹp, mới thể hiện trọn vẹn ý nghĩa vui với
Tăng.
4/
Vui làm lợi ích chúng sanh. Trên bước đường hành đạo,
hành giả nuôi dưỡng, đào tạo, xây dựng người. Mai kia,
nhìn thành quả do bàn tay hành giả uốn nắn, tự cảm thấy
niềm vui vô tận với sự phát triển thăng hoa của mọi người.
Khi
Phật, Pháp, Tăng kết hợp thành cuộc sống, hành giả đạt
đến thể của sự vật hay chánh pháp giới. Nghĩa là đối
với sự kiện xã hội phức tạp và hiện tượng thiên nhiên
khắc nghiệt, hành giả hoàn toàn khắc phục, không còn vấn
đề tồn đọng. Nói cách khác, hành giả chuyển vật theo
ý muốn. Lúc ấy, mạng sống của hành giả mới thực sự
vô cùng tận và sở hữu kho báu không dùng hết giống như
chư Phật mười phương.
Khi
Duy Ma dạy Thiên ma các thứ vui cao thượng như phát tâm bồ
đề, làm việc để phát triển bồ đề, thì ma Ba Tuần xuất
hiện, đòi các Thiên ma về. Hình ảnh này tiêu biểu cho những
quần thần hay cung phi, nói chung, những người hưởng đầy
đủ phước lạc thế gian một lúc sanh tâm chán, muốn tìm
Phật pháp để tu. Họ tìm ba điều quý giá là thân vô hạn,
mạng sống vô cùng và tài sản vô tận. Ở đây diễn tả
bằng hình ảnh ma nữ đi tu. Khi gặp phiền muộn, họ vô chùa
học đạo. Nhưng sống lâu ngày với tương rau, lại sanh tâm
chán muốn trở về. Ý này được kinh ghi là hình ảnh ma vương
xuất hiện, nghĩa là họ bắt đầu nhớ lại phước lạc
thế gian, nhớ đời sống vật chất sung sướng trước kia,
nên thấy ma xuất hiện gọi về. Ma xuất hiện là tâm muốn
về, không muốn tu nữa.
Các
Thiên ma tuy nói không muốn về nhưng thật trong lòng muốn.
Ðiều này chúng ta dễ hiểu vì đó là phản ánh của tâm
ham muốn mới thấy ma xuất hiện. Duy Ma biết rõ tim đen của
Thiên ma mới bảo họ trở về.
Câu
chuyện này nhằm dạy chúng ta tu phải biết diễn tiến tâm
lý của người. Có lúc họ muốn tu giải thoát, nhưng cũng
có lúc không thích tu.
Duy
Ma tiêu biểu bản tâm thanh tịnh, mới thấy rõ tâm trạng
của người, tùy theo đó giáo hóa họ, không phải áp dụng
khuôn cố định.
Lúc
ấy, Duy Ma dạy họ pháp môn vô tận đăng, ví như một ngọn
đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng.
Ông khuyên họ nên trở về Thiên cung chỉ dạy, dìu dắt các
Thiên ma khác phát tâm bồ đề như họ.
Ðiểm
này nhắc hành giả giáo hóa chúng sanh, cần quan sát rõ tâm
trạng và yêu cầu từng người đúng hay sai, có chánh đáng
hay không để giúp đỡ. Khi giúp xong, hành giả liền trả
họ về vị trí riêng của chính họ, để từ đó họ tự
phát triển.
Ðiển
hình như Phù Vân quốc sư không giữ vua Trần Thái Tôn ở
lại với Ngài, dù vua hết sức khẩn khoản xin. Ngài dạy
vua Phật pháp xong và khuyên vua trở về triều lo việc trị
nước an dân nhưng đừng quên Phật pháp. Ðó chính là thể
hiện pháp môn vô tận đăng, nghĩa là tác động Phật pháp
vào lòng người, làm họ sống với Phật pháp hay sống với
trí tuệ, với chân lý, với hòa hợp.
Duy
Ma nhắc nhở chúng ta khi tu hành dù bất cứ ở nơi đâu, luôn
nung nấu trong tâm ba niềm vui giải thoát nói trên. Tùy nhân
duyên ở chỗ nào, ta làm đạo ngay ở đó. Hành Bồ tát đạo,
chúng ta có trách nhiệm nâng đỡ người bằng như ta. Phát
tâm rồi, cần giúp người cũng phát tâm thanh tịnh, giải
thoát theo. Ðến khi tất cả thành Phật, ta mới thực sự
đạt được quả Vô thượng đẳng giác. Chỉ có pháp môn
vô tận đăng mới đền đáp ơn Phật được.
Các
ma nữ nghe lời Duy Ma dạy, họ theo ma Ba Tuần về Trời. Trì
Thế Bồ tát kết luận Ngài lầm Thiên ma là Ðế Thích. Duy
Ma chẳng những dẹp các ma, còn giáo hóa được chúng và đưa
chúng về Thiên cung để dạy lại người khác. Vì thế, Ngài
không đủ tài đức đến thăm Duy Ma.
Kế
đến trưởng giả Thiện Ðức là người sau cùng không dám
đến thăm bệnh Duy Ma. Trưởng giả Thiện Ðức hay Cấp Cô
Ðộc chuyên hành bố thí. Theo truyền thống gia đình của
cha ông nhiều đời, mỗi năm đều mở đàn chẩn tế. Nay
ông nối chí cha ông, lập đàn bố thí cúng dường trong bảy
ngày. Bao nhiêu tài sản của Thiện Ðức chất lên, ai đến
muốn lấy gì cũng được, gọi là thí vô giá hội hay bố
thí bất nghịch như ý, không có gì chướng ngại. Ðối với
chư Tăng, ông hết lòng cung kính cúng dường.
Dưới
thời cha ông của Thiện Ðức, chưa có đệ tử Phật, nên
đối tượng của họ cúng dường là những người đức hạnh,
trong sạch, thông thái, tức hàng Sa môn, cư sĩ, Bà La Môn.
Nói chung, toàn bộ xã hội đều được Thiện Ðức giúp đỡ.
Ðiều này có nhiều người cho rằng không thực tế, không
thể có.
Theo
tôi, có những việc chúng ta chỉ hiểu được bằng niềm
tin, không thể giải thích. Từ bỏ lý luận và bằng niềm
tin nhìn thẳng sự thật, tôi thấy được những việc không
thể có mà có. Tôi gặp những nhà từ thiện khởi đầu từ
tay không, nhưng làm được biết bao chuyện lợi ích cho cuộc
đời. Trong khi những người làm đầu tắt mặt tối còn không
đủ ăn, hay chắt chiu từng đồng mà không bao giờ dư. Còn
người tiêu xài rộng rãi nhưng không thiếu.
Truyền
thống cúng dường của Thiện Ðức có sẵn. Phật thấy tốt
nhưng Ngài điều chỉnh lại cho hoàn mỹ hơn. Qua tuệ giác
của Phật, việc làm chỉ có ý nghĩa khi thấy rõ mục tiêu
của nó. Trưởng giả Thiện Ðức làm theo truyền thống, mà
không hiểu ý nghĩa.
Thiện
Ðức giàu có, biết kính trọng chư Tăng, cúng dường tạo
điều kiện trợ duyên cho chúng Tăng tu hành đắc đạo, giáo
hóa chúng sanh. Ông cũng hết lòng giúp đỡ người nghèo, làm
vơi nỗi khổ đau cho họ.
Duy
Ma bảo việc Thiện Ðức làm tốt, nhưng còn quá nhỏ mà mang
tên đại thí hội. Phải chi ông bố thí cúng dường theo Phật
thì công đức lớn vô lượng.
Hai
trăm trưởng giả nghe thấy vậy khiếp sợ, nghi ngờ. Ðối
với họ, bố thí cúng dường của Bồ tát Thiện Ðức quá
lớn lao, từ trước đến nay chưa ai thực hiện được. Thiện
Ðức là đệ tử của Phật thường được Phật khen
ngợi. Ông không làm theo Phật thì theo ai?
Tuy
nhiên, Thiện Ðức vừa nghe Duy Ma dạy xong liền đảnh lễ
Duy Ma và thỉnh cầu chỉ dạy bố thí cúng dường thế nào
đúng chánh pháp gọi là đại thí hội.
Ðiểm
này nhắc nhở chúng ta giáo hóa chúng sanh phải nói đúng chỗ,
đúng người. Người như Thiện Ðức có tư cách nghe, hết
lòng cầu pháp, muốn tìm cách bố thí cúng dường cao hơn,
Duy Ma mới dạy.
Theo
Duy Ma, có hai cách bố thí, bố thí theo nhân gian và theo Phật.
Bố thí theo Phật gồm có bố thí của Thanh văn và của Bồ
tát.
Tuy
có hai cách bố thí, nhưng Phật dạy hai cách bố thí không
rời nhau. Vì Ngài đứng ở lập trường nhất thừa để nâng
tư cách của con người, làm cho việc bố thí của họ có
tác dụng lợi lạc lâu dài và sâu rộng hơn.
Cả
hai cách bố thí đều lấy con người làm chính. Từ bố thí
theo nhân gian, Phật triển khai thành bố thí của Thanh văn
và của Bồ tát. Phật không từ bỏ những gì tốt đẹp của
thế gian, cũng như không chấp nhận hoàn toàn. Ngài quan sát
thực tế cuộc sống, tiếp thu và vận dụng cái có sẵn để
nâng cuộc sống con người thăng hoa.
Nói
chung, Phật dạy bố thí theo quá trình phát triển của con
người. Khởi đầu thấy người nghèo đói, hành giả khởi
tâm thương và giúp đỡ, không suy nghĩ. Phật không phủ
nhận pháp bố thí của nhân gian. Nhưng Ngài xác minh lại đây
chỉ là tình người đối xử với nhau, có tính cách tương
thân tương trợ, là làm việc tốt của người đời, chưa
phải là đạo Bồ tát.
Từ
bố thí bình thường của nhân gian, Phật dạy tiến lên, bố
thí theo nhân quả, nghĩa là hành động có suy xét có hiểu
biết của hàng Thanh văn. Và khi hoàn bị xong cách bố thí
theo Thanh văn, hành giả chuyển sang bố thí theo Bồ tát.
Trước
hết bố thí theo thế tục là tài thí, tức giúp đỡ người
nghèo bằng cách cho ăn. Việc làm này có tính cách giai đoạn
nhất thời. Dù bố thí kéo dài đến bảy ngày, những gì
họ nhận được cũng theo quá khứ trôi mất và sau đó, họ
vẫn bị gậy lên đường tiếp tục ăn xin. Ðó chỉ là bố
thí hữu hạn. Hơn nữa bố thí cho họ sống sung sướng một
tuần, rồi sau đó xóa bỏ thiên đường này, họ còn khổ
hơn nữa.
Bố
thí theo Phật nhằm giúp cho đối tượng thăng hoa, không phải
làm giống như Cấp Cô Ðộc một tuần xong. Việc làm của
Bồ tát liên tục cho đến bao giờ họ thành Phật, việc mới
chấm dứt.
Trên
bước đường du hóa, Phật giúp đỡ mọi người, nâng tư
cách họ trở thành Bố tát, thành người cộng tác với Phật
để làm công tác cứu khổ.
Vì
vậy, Duy Ma khuyên Thiện Ðức nên đổi bố thí hữu hạn
thành bố thí vô cùng. Bảy ngày so với kiếp người quá ngắn
ngủi và so với dòng thời gian vô tận tính từng đại kiếp,
lại càng vô nghĩa.
Bố
thí của Thiện Ðức đứng về không gian xét cũng hữu hạn.
Chỉ có dân nghèo, Sa môn, Bà La Môn, cư sĩ thành Tỳ Da Ly
tới nhận, còn người trong thành Xá Vệ không đến. Ngay trong
thành Tỳ Da Ly, ông cũng chưa bố thí đủ.
Triển
khai pháp bố thí theo Phật phải siêu thời gian và siêu không
gian, phổ cập cho tất cả loài hữu tình bốn phương, từ
khởi thủy cho đến ngày nay và mãi về sau. Từ chỗ siêu
thời gian và không gian khó lãnh hội, Duy Ma trở lại thực
tế giảng dạy.
Nếu
ta đem cơm gạo bố thí cho người nghèo, cho họ bữa ăn sáng,
thì họ sẽ giải quyết bữa ăn chiều ở đâu ? Trong xã hội,
có nhiều người bố thí như Thiện Ðức, chắc chắn sản
sinh ra toàn người ăn mày. Họ lười biếng, không chịu làm
việc, chỉ ngửa tay xin ăn và không bao giờ phát triển khả
năng. Họ đã trở thành người ăn hại suốt đời và đời
đời. Duy Ma muốn chỉnh lý quan niệm bố thí sai lầm như
vậy.
Duy
Ma điều chỉnh cách bố thí theo nhân gian cho tốt hơn, không
muốn để họ nghèo và phải nuôi hoài. Phải đào tạo họ
trở thành người tốt, giỏi, dạy nghề cho họ tự phát triển,
tự làm ra của cải.
Bố
thí theo Phật, phải làm cho người phát tâm bồ đề, nghĩa
là nâng cao trình độ, khả năng và đạo đức của
người thọ thí, từ đó đời sống của họ cũng phát triển
theo. Ta dạy họ làm và họ truyền lại cho người khác. Ðó
là bố thí vô tận theo thời gian.
Ðức
Phật cũng vậy, Ngài không chủ trương đào tạo, nuôi dưỡng
lớp người ăn hại. Ngài xây dựng chúng ta thành người tài
giỏi, thấp nhất được hưởng phước lạc nhân thiên, cao
hơn thành A la hán, Bồ tát, Phật. Vì vậy, Phật là đại
thí chủ, dù Ngài chưa cho ai đồng nào.
Trưởng
giả Thiện Ðức bố thí thật nhiều nhưng chỉ là tiểu thí
chủ. Ngày nay, còn ai nhớ đến ông mà tổ chức đám giỗ
không ? Việc làm nào sanh được lợi ích theo vô tận thời
gian, mới là pháp bố thí của Phật.
Phật
Thích Ca từ bỏ hữu hạn, chứng được pháp vô cùng. Ngài
truyền đạt pháp vô cùng vào tâm tư mọi người từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Cho đến nay, khắp nơi trên thế
giới, đều kỷ niệm ngày Phật nhập diệt 2543 năm. Ðối
với thọ mạng Phật pháp kéo dài cả ngàn năm như vậy, mà
mọi người vẫn còn tôn thờ kính ngưỡng Ðức Phật. Bây
giờ và mãi mãi về sau, chúng ta vẫn cảm thấy thọ ơn Ngài.
Vì vậy, vô hình trung Ðức Phật Thích Ca là đại thí chủ,
dù Ngài chưa cho ai đồng nào. Với trí tuệ siêu việt nhìn
thấy rõ nên bố thí cái gì, nhờ vậy những người theo Phật
lần tiến tới nhất thiết chủng trí.
Ðức
Phật là đại thí chủ cho rất đúng chỗ. Theo tôi, thậm
chí có lúc Phật bỏ đói tôi, nhưng tôi cũng thầm cảm ơn
Ngài. Vì nhớ đó, tôi cảm nhận được vui buồn vinh nhục
của cuộc đời và trưởng thành trên bước đường tiến
tu đạo hạnh.
Ðức
Phật dạy và nuôi đệ tử rất đúng. Theo Duy Ma, ai phát tâm
bồ đề, Phật đều nuôi dưỡng tâm bồ đề cho họ đến
khi thành Phật.
Ngài
Thiên Thai khi nhập Thiền, trực nhận được thế giới Phật
Thích Ca hiện ra và thấy Phật vẫn hiện hữu ở Ta bà, chưa
nhập diệt. Dưới huệ nhãn của Ngài, hột giống bồ đề
do Ðức Thích Ca gieo trồng ở Diêm Phù Ðề cứ tiếp tục
nẩy mầm, đơm hoa kết trái. Ngài ví thế giới Phật như
một đầm sen, có sen còn tượng hình trong lòng đất, có hoa
sen lên khỏi nước chưa nở, có hoa đã nở, có hoa đã thành
gương sen v.v... Tất cả tiêu biểu cho đệ tử Phật từ Thanh
văn, Duyên giác cho đến Bồ tát lớn, nhỏ dưới sự chăm
sóc giáo dưỡng của Phật tu hành ở Ta bà, đang từ từ tiến
về Vô thượng giác.
Quan
niệm bố thí theo vô tận thời gian phổ cập đến mọi người,
thường được Ðức Phật ca ngợi. Ðiển hình Ngài dạy sửa
cầu đắp đường được công đức lớn nhất, công đức
lo cho người ăn không thể nào sánh bằng. Nếu đắp một
con đường hay bắc một cây cầu cho người đi qua, mỗi ngày
hàng trăm người qua lại phải thọ ơn ta bố thí. Về mặt
thời gian, từng thế hệ tu bồi mỗi ngày tốt thêm, từng
thế hệ đều thọ ơn ta. Vị Bồ tát thể hiện hạnh tiêu
biểu này là Ngài Trì Ðịa.
Ngày
nay, tất cả thành tựu của các nhà bác học khắp nơi trên
thế giới về khoa học, kỹ thuật, y tế giúp nâng cao đời
sống vật chất lẫn tinh thần cho con người mỗi ngày tốt
đẹp, tiện nghi hơn, cũng là hình thức bố thí vượt thời
gian và không gian .
Duy
Ma xác định tác dụng của bố thí càng lâu dài và lan rộng
xa bao nhiêu, thì lợi ích của nó càng lớn bấy nhiêu. Kéo
dài một năm, nhiều năm, một kiếp, nhiều kiếp, cho đến
khi thành Phật tròn đầy pháp giới, mới thực là đại thí
hội.
Sau
khi Bồ tát Thiện Ðức được Duy Ma giáo hóa, ông đổi cách
chăm lo, phục vụ cho chúng sanh. Những người theo ông được
đào tạo, phát triển khả năng, xây dựng thành tài. Và cuối
cuộc đời, ông giao sự nghiệp cho họ cai quản, mà không
hề thất thoát. Cùng việc làm bố thí như trước, nhưng nay
trưởng giả Thiện Ðức chuyển đổi tâm niệm theo Phật
pháp, liền dẫn đến kết quả tốt lành. Mọi người kính
trọng, quý mến, nhớ ơn ông, xem ông như người cha. Trong
khi bố thí theo truyền thống gia đình ông, chỉ có giá trị
giới hạn trong bảy ngày.
Từ
cách bố thí chung chung theo nhân gian có giới hạn, Phật chuyển
sang dạy Thanh văn nhìn thấy rõ nhân quả mà hành bố thí.
Hàng
Thanh văn bố thí không cầu phước lạc nhơn thiên. Họ cầu
quả Niết bàn. Họ bố thí, cúng dường nhiều để tích lũy
công đức, vì biết không có công đức không hành đạo được.
Bố thí, cúng dường tạo thắng nhân xuất gia hành đạo.
Thanh văn bố thí vật chất và tinh thần để sau được hưởng
quả này. Có bố thí vật chất, sau này xuất gia, ta được
người cúng lại. Có un đúc, dìu dắt lớp sau. ta mới gặp
được các bậc cha anh dạy dỗ.
Xuất
gia nối chí Phật, bước đúng con đường của Phật, ta mới
tiếp cận Phật. Còn việc làm, suy tư trái với Phật, ta và
Ngài cách xa vạn dặm. Hành bố thí vật chất và tinh thần
theo Phật, phước lạc minh sư sẽ đến với ta. Người tu
hành không nắm yếu chỉ này, phát khởi lòng ganh tỵ với
phước báo của người, chỉ chuốc họa vào thân.
Bố
thí theo Thanh văn, ta căn cứ vào nhân quả mà hành đạo, thuộc
về bố thí hạng trung. Ngoài ra, bố thí theo Thanh văn còn
nhằm xóa bỏ lòng tham. Theo ý niệm thông thường, chúng ta
muốn thu tài vật về mình, không muốn cho, biết thì muốn
giữ, không chịu truyền cho người. Nay bố thí để dẹp bỏ
tánh tham, đạt đến Niết Bàn KHÔNG, cảm thấy nhẹ nhàng,
thanh thản, tạo điều kiện cho ta đắc đạo.
Khi
lợi ích bản thần của Thanh văn đã thỏa mãn nhờ hoàn bị
pháp bố thí theo nhân quả, Phật tiến lên một nấc dạy
các Ngài pháp bố thí siêu nhân quả của Bồ tát. Nghĩa là
thành tựu quả vị La hán, Phật dạy các Ngài đi ngược trở
lại cuộc đời để hành bố thí theo Bồ tát. Vì bố thí
theo nhân gian chỉ luẩn quẩn trong vòng sanh tử luân hồi,
không ích lợi gì. Bố thí theo Thanh văn thì còn hạn hẹp.
Chúng
ta lấy bố thí theo Bồ tát là chính, bố thí không có sự
mong cầu nào. Tâm lượng Bồ tát hành bố thí khác với tâm
lượng Thanh văn hay phàm phu. Vì Bồ tát nhìn cuộc đời không
giống tiểu thừa và thế gian nhìn.
Người
thế gian nhìn cuộc đời qua bề mặt. Vì thế, họ bố thí
để phát triển đời sống vật chất đến mức cao nhất
có thể làm được.
Dưới
lăng kính Bồ tát, nâng đời sống vật chất của chúng sanh
lên cao để làm gì ? Dù có dẫn họ đến thiên đường trần
gian, thì cái chết cũng chào đón họ ở cuối cuộc đời.
Người
thế tục xem hưởng thụ vật chất quý trọng. Người tu xem
nhẹ chuyện này. Bồ tát quán sát chúng sanh dù sang, nghèo,
ngu giỏi, tất cả cùng chung một nấm mồ.
Nhìn
thấy rõ như vậy, Bồ tát không như người phàm phu chán nản
xuôi tay. Các Ngài tìm ra lẽ sống trong cái chết, tìm cái
không sanh tử trong sanh tử, cái thường hằng không sanh diệt
nằm bên trong sanh diệt.
Phật
dạy tuy biết tất cả đều chết, nhưng Ngài rất quý trọng
mạng sống con người. Vì nhờ nó, ta mới tìm ra cái bất
tử hay chân lý. Bỏ mạng sống, chúng ta mất tất cả.
Thật
vậy, Phật dạy được làm người không dễ. Vì thế, khi
cần sử dụng thân người để bố thí, Bồ tát phải suy
nghĩ chín chắn. Chúng ta hẳn còn nhớ câu chuyện tiền thân
Xá Lợi Phất đã từng tu hạnh bố thí bất nghịch như ý.
Khi có người đến xin đôi mắt của Ngài, Xá Lợi Phất liền
móc mắt cho ngay. Và nhẫn tâm thay! Người xin liền vứt
bỏ đôi mắt và chà đạp lên. Cú đánh bất ngờ này của
ma đã khiến Xá Lợi Phất thối tâm bồ đề, thề không bao
giờ tu hạnh bố thí.
Câu
chuyện trên gợi cho chúng ta suy nghĩ Bồ tát tu pháp bố thí
phải giải quyết vấn đề nên cho hay không cho, khi có người
xin.
Ở
lập trường Bồ tát quán sát kỹ trong tứ sanh lục đạo,
chúng ta hiện hữu được như vầy, không đơn giản. Quá trình
chuyển đổi từ vị trí ở địa ngục A Tỳ hay ba đường
ác, rồi tiến lên mang thân người thật quá nhiều cực khổ.
Nhưng
khi sanh làm người xấu xí, ngu dốt, nghèo đói cũng mệt lắm.
Và từ con người bần cùng cô lộ làm thế nào trở thành
người bình thường sáu căn đầy đủ, đời sống vật chất
dư dả, cũng không phải là việc dễ.
Ðến
khi có thừa của cải, lại đem bố thí một cách bừa bãi,
thì thật uổng. Tất cả những gì chúng ta tạo được bằng
máu xương, mồ hôi, nước mắt cực khổ như vậy, rồi lại
đem cho phí phạm. Sau đó, phải cong lưng ra sức tạo lại.
Ðó không phải là việc làm của người trí hay Bồ tát.
Chúng
ta biết rõ pháp bố thí mà chúng ta phải tu cho đến ngày
thành Phật mới xong. Duy Ma nhắc nhở Thiện Ðức hay nhắc
chúng ta khó khăn của Bồ tát từ quả hướng nhân. Khi tu
Bồ tát đạo, muốn vượt đường hiểm sanh tử và dắt chúng
nhân cùng đi trên lộ trình này, đối với thì giờ, sức
khỏe, tiền bạc, chúng ta phải giữ gìn tiết kiệm từng
chút, như những giọt nước quý trong sa mạc.
Ðể
làm nên đạo cả, xây dựng Tịnh độ, chúng ta phải dùng
phước báo, trí tuệ đúng đạo Bồ tát, vì nó quý báu, cần
thiết cho việc thành tựu Báo thân. Tạo không dễ, nhưng phí
phạm phá hết tư lương này, chúng ta sẽ chết trước khi
ra khỏi đồng hoang sanh tử.
Hiện
hữu trên cuộc đời, chúng ta mang thân hữu hạn và tài sản
hữu hạn. Tài sản gồm nội tài và ngoại tài. Ngoại tài
là những sở hữu ta tạo được, nội tài là phần tri thức
của chúng ta. Nội tài tuy hơn ngoại tài, nhưng cũng hữu hạn,
vì tầm nhìn của chúng ta hạn hẹp, không quá đường chân
trời.
Duy
Ma dạy Thiện Ðức bố thí theo Bồ tát, dùng ngay hữu hạn
để đổi lấy vô cùng, lợi dụng thân hữu hạn phát triển
Pháp thân có chiều cao cùng tột vũ trụ, chiều sâu tận địa
ngục A Tỳ.
Tất
cả sở hữu của ta về nội và ngoại tài đều mang truyền
đạt cho người. Truyền đến hai người, thân ta lớn gấp
đôi. Truyền cho triệu người, thân ta lớn thành triệu người.
Cứ phát triển như thế, thân ta lớn mãi tới vô cùng.
Nói
cách khác, lấy thân hữu hạn chi phối toàn bộ vô cùng. Ta
tốt và thương người thực sự, sẽ tập trung được người
tốt đến với ta. Thương mười người, mười người đến
với ta, thương cả dân tộc, dân tộc sẽ quý mến ta. Tình
thương phủ cả nhân loại, thì thân ta tràn đầy pháp giới.
Hành
bố thí của Bồ tát quên thân mình, chỉ nghĩ đến lợi ích
chúng sanh. Thương người đến độ quên mất bản ngã, thì
hai người đồng một thể. Tiến đến tột đỉnh tình thương
phủ cả vũ trụ, vũ trụ biến dạng thành ta. Ðó là con đường
vô ngã, vị tha của Bồ tát. Bồ tát chỉ bố thí tâm lượng,
còn vật có bố thí hay không vẫn là vật, tác dụng chính
ở lòng người.
Ðức
Phật thương người thực sự, tuy không cho gì mọi người
vẫn kính trọng Ngài. Kho vô tận thánh tài của Ngài tràn
đầy tình thương, dùng hoài không hết. Vì quên mình, nên
tình cảm và tri thức của Ngài lan rộng mãi trong tình cảm,
trong suy tư của mọi người là Pháp thân Phật.
Duy
Ma dạy muốn bố thí phải có bốn tâm vô lượng là từ,
bi, hỷ, xả. Hành giả xuất hiện chỗ nào mang niềm vui đến
nơi đó. Ai mang nguồn vui vô tận và rước khổ hoạn cho chúng
sanh, đem đến an lành là bố thí theo Bồ tát. Bồ tát an trú
pháp KHÔNG, giúp đỡ người thật nhiều, lòng vẫn nhẹ nhàng
không vướng mắc.
Tròn
đủ bốn tâm vô lượng, hành giả đương nhiên thành tựu
bốn pháp nhiếp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.
Tuy mang an lành và niềm vui cho người, nhưng lời nói của
hành giả lúc nào cũng êm dịu, truyền đạt lòng thương chân
tình, khác với ỷ ngữ là lời nói hoa mỹ lừa dối người.
Phát
xuất từ tình thương chân thật, dù hành giả rầy mắng người,
họ vẫn cảm thấy lời nói ấy chứa chan lòng từ vô hạn.
Lời nói nhẹ nhàng tác động cho người từng bước ly trần,
đến gần với Phật.
Trước
đã thành tựu bốn tâm vô lượng, nên hành động của hành
giả đều lợi tha. Trang nghiêm Phật độ bằng cách phục
vụ chúng sanh quên mình, đó chính là Bồ tát hành bố thí.
Nâng
lên độ cao giữa người và hành giả đồng thể, phát triển
khả năng người là phát triển khả năng của hành giả, an
lành của người trong đó có an lành của hành giả. Hình thành
pháp bố thí như vậy, Bồ tát xây dựng được Phật quốc.
Kế
tiếp, Duy Ma dạy pháp cúng dường theo Phật khác với cúng
dường theo truyền thống gia đình của trưởng giả Thiện
Ðức.
Cúng
dường theo Phật có ba cấp : phẩm vật cúng dường, kính
tín cúng dường và hạnh cúng dường.
Trong
ba pháp cúng dường trên, pháp thứ nhất chỉ là phương tiện.
Tuy nhiên, khi cúng dường phẩm vật cho Phật, cho Bồ tát,
cho La hán, ta nhằm mục tiêu gì và đưa đến kết quả như
thế nào.
Ta
cúng cho một vị Tu đà hoàn vật thực, nhờ đó họ có đủ
thì giờ và sức khỏe tu hành đắc quả A la hán, ta đã như
pháp cúng dường, tạo điều kiện cho họ đắc đạo.
Ngược
lại, ta cúng dường tràn lan. Thay vì một vị Tăng sống cuộc
đời đơn giản, tiến tu được. Nhưng họ nhận sự cúng
dường đầy đủ dư thừa của ta, ác nghiệp lại sanh ra.
Do tài vật không thanh tịnh, người thọ lãnh bị nhiễm độc.
Cúng xong, họ không tu được nữa, là ta hại họ. Pháp cúng
dường chỉ thanh tịnh đúng pháp khi tâm người cúng, tâm
người thọ lãnh và vật cúng dường, cả ba đều thanh tịnh.
Pháp
cúng dường thứ hai là kính tín cúng dường. Ta dâng lên cúng
dường Phật tấm lòng thành kính và niềm tin tuyệt đối
lời dạy chân thật của Ngài. Phần kính tín cao hơn phẩm
vật cúng dường, vì Phật có tự thọ dụng thân, chắc chắn
Ngài không thọ lãnh vật thực cúng dường của chúng ta.
Lòng
thành kính đối với Ðức Phật thể hiện cao độ ở trường
hợp bà già ăn mày cúng đèn dầu cho Ngài. Ðề Bà Ðạt Ða
thổi tắt đèn của các trưởng giả, nhưng vận dụng thần
thông cũng không làm tắt được đèn của bà. Trái lại, đèn
càng sáng thêm, vì lòng thành của bà quá cao. Không ai làm
tắt được ngọn đèn đốt lên từ tâm con người.
Pháp
cúng dường thứ ba là hạnh cúng dường. Ðem tất cả việc
l