PHẨM
6
BẤT
TƯ NGHÌ
I.
LƯỢC VĂN KINH
Xá
Lợi Phất thấy trong nhà Duy Ma Cật không có đồ đạc, mới
nghĩ rằng các Bồ tát và Thanh văn sẽ ngồi nơi đâu ?
Trưởng
giả Duy Ma Cật biết được ý đó, liền nói với Xá Lợi
Phất rằng : “Ngài vì pháp mà đến, hay vì chỗ ngồi mà
đến ?”.
Xá
Lợi Phất trả lời : “Tôi vì pháp mà đến, không phải
vì chỗ ngồi”.
Duy
Ma Cật nói : “Xá Lợi Phất, người cầu pháp, thân mạng
còn không tiếc, huống chi là chỗ ngồi. Hễ là người cầu
pháp, thì chẳng cầu sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chẳng
cầu giới, nhập. Chẳng chấp trước cầu Phật, Pháp, Tăng
v.v...
“Xá
Lợi Phất, pháp là tịch diệt. Nếu thực hành pháp sanh diệt
là cầu sanh diệt, không phải cầu pháp. Pháp là không nhiễm.
Nếu nhiễm pháp, cho đến Niết bàn, đó là nhiễm đắm, không
phải cầu pháp. Pháp không có tướng. Nếu nhân tướng mà
biết, đó là cầu tướng, không phải cầu pháp. Pháp không
thể trụ. Nếu trụ pháp là không phải cầu pháp. Pháp không
thể thấy nghe, hay biết. Nếu làm theo thấy nghe hay biết là
không phải cầu pháp. Pháp là vô vi. Nếu làm hữu vi là không
phải cầu pháp, v.v...”
Khi
Duy Ma Cật nói lời ấy, 500 Thiên tử được pháp nhãn thanh
tịnh.
Trưởng
giả Duy Ma Cật hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng Ngài dạo đi trong
vô lượng nghìn muôn ức a tăng kỳ quốc độ, thấy cõi Phật
nào có những tòa sư tử tốt đẹp, thượng diệu do công
đức tạo thành ?
Văn
Thù Sư Lợi trả lời rằng về phương Ðông, cách đây 36
hằng sa cõi Phật có thế giới tên Tu Di Tướng, Phật hiệu
Tu Di Ðăng Vương, thân cao 84 ngàn do tuần, tòa sư tử cũng
cao như thế, trang nghiêm tốt đẹp bậc nhất.
Lúc
ấy, Duy Ma Cật hiện sức thần thông, tức thời Ðức Phật
ở cõi nước kia điều khiển 32 ngàn tòa sư tử cao rộng
đến nhà Duy Ma Cật. Các Bồ tát, Thanh văn, Ðế Thích, Phạm
vương, Tứ Thiên vương đều thấy việc chưa từng có.
Nhà
Duy Ma rộng rãi trùm chứa cả 32 ngàn tòa sư tử, không chướng
ngại, mà ở thành Tỳ Da Ly cho đến cõi Diêm Phù Ðề cũng
không bị chật đi.
Duy
Ma mời Văn Thù Sư Lợi và các Bồ tát ngồi tòa sư tử, tức
thì các Bồ tát có thần thông liền biến hiện thân hình
cao 42 ngàn do tuần đến ngồi tòa sư tử. Bồ tát mới phát
tâm và hàng đại chúng đều không lên được.
Lúc
đó, Duy Ma Cật mời Xá Lợi Phất lên tòa sư tử ngồi. Xá
Lợi Phất trả lời ông không lên ngồi được vì tòa này
cao quá. Duy Ma Cật bảo Xá Lợi Phất đảnh lễ Tu Di Ðăng
Vương Như Lai mới có thể ngồi được. Khi ấy, các vị Bồ
tát mới phát tâm và hàng Thanh văn đều đảnh lễ Ðức Tu
Di Ðăng Vương Như Lai rồi ngồi được ngay tòa sư tử.
Ngài
Xá Lợi Phất nói : “Thưa cư sĩ, thật chưa từng có. Cái
nhà nhỏ bé này dung chứa được các tòa cao rộng như thế,
mà thành Tỳ Da Ly không bị ngăn ngại, các tụ lạc thành
ấp cùng những cung điện chư Thiên, Long vương, quỷ thần
ở Diêm Phù Ðề cũng không bị ép chật”.
Duy
Ma Cật nói : “Thưa Ngài Xá Lợi Phất, chư Phật và Bồ tát
có pháp giải thoát tên là Bất Khả Tư Nghì. Nếu Bồ tát
trụ pháp giải thoát đó, lấy núi Tu Di nhét vào trong hột
cải vẫn không thêm bớt. Hình núi Tu Di vẫn y nguyên, mà Trời
Tứ Thiên vương và Ðao Lợi không hay, không biết đã vào
đấy. Chỉ có những người đáng độ mới thấy núi Tu Di
vào trong hột cải. Ðó là pháp môn “Bất Khả Tư Nghì Giải
Thoát”.
“Lại
lấy nước bốn biển lớn cho vào trong lỗ chân lông, không
có khuấy động các loài thủy tộc mà các biển lớn kia vẫn
y nguyên. Các loài rồng, quỷ, thần, A tu la v.v... đều không
hay, không biết mình đi vào đấy và các loài ấy cũng không
có loạn động.
“Lại
nữa, thưa Ngài Xá Lợi Phất, bao nhiêu thế giới trong mười
phương, Bồ tát có thể hút vào trong miệng mà thân không
hề tổn hại, những cây cối bên ngoài cũng không xiêu ngã
v.v...
“Lại
nữa, thưa Ngài Xá Lợi Phất, Bồ tát trụ cảnh Bất Khả
Tư Nghì Giải Thoát hay dùng thần thông hiện làm thân Phật
hoặc hiện thân Bích Chi Phật, thân Thanh văn, Ðế Thích, Phạm
vương, Chuyển luân Thánh vương. Các thứ tiếng ở cõi nước
mười phương đều biến thành tiếng Phật nói pháp vô thường,
khổ, không, vô ngã và những pháp của chư Phật mười phương
nói ra làm cho khắp tất cả đều được nghe.
“
Ngài Xá Lợi Phất, nay tôi chỉ lược nói qua thần lực giải
thoát bất khả tư nghì của Bồ tát như thế. Nếu nói cho
đủ, đến cùng kiếp cũng không hết được”.
Khi
tất cả hàng Thanh văn nghe pháp môn Bất Khả Tư Nghì Giải
Thoát này đều than khóc, tiếng vang động cõi tam thiên đại
thiên thế giới. Tất cả Bồ tát thì đều vui mừng vâng
lãnh pháp ấy.
Khi
đo,ù Ngài Ðại Ca Diếp ngợi khen và bảo Xá Lợi Phất rằng
: “Ví như có người phô bày các thứ hình sắc cho người
mù, họ không thể thấy được. Nay tất cả Thanh văn nghe
pháp môn Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát này cũng không thể
hiểu được.
“
Người trí nghe pháp môn này đều phát tâm Vô thượng chánh
đẳng giác. Tại sao chúng ta mất hạt giống ấy. Ðối với
pháp Ðại thừa này đã như hột giống thúi? Nếu có
Bồ tát nào tin hiểu pháp môn Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát
này, thời tất cả chúng ma không thể làm gì được”.
Khi
Ngài Ca Diếp nói như thế, có 32 ngàn vị Thiên tử phát tâm
Vô thượng chánh đẳng giác.
Bấy
giờ, Duy Ma Cật nói với Ðại Ca Diếp : “Thưa Ngài Ðại
Ca Diếp, các vị làm ma vương trong vô lượng vô số cõi nước
ở mười phương, phần nhiều là bậc Bồ tát trụ pháp Bất
Khả Tư Nghì Giải Thoát. Vì dùng phương tiện giáo hóa chúng
sanh, nên thị hiện làm ma vương.
“Lại
nữa, thưa Ngài Ðại Ca Diếp, vô lượng Bồ tát ở mười
phương, có người đến xin tay chân, đầu mắt, tủy não,
vợ con, tôi tớ, xe cộ, vàng bạc v.v... Người đến xin phần
nhiều là bậc Bồ tát trụ pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát
dùng phương tiện đến thử thách để làm cho các Bồ tát
kia thêm kiên cố.
“Vì
Bồ tát trụ pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát có thần lực
oai đức, mới dám làm việc khó làm như thế. Còn kẻ phàm
phu hạ liệt không thể bức ngặt Bồ tát. Ví như sức mạnh
của voi không bị lừa ngựa chà đạp. Ðó là trí tuệ phương
tiện của Bồ tát ở nơi pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát”.
II.
GIẢI THÍCH
Hội
ngộ giữa Văn Thù và Duy Ma nói lên đỉnh cao nhất trong việc
tu hành hay ngầm chỉ Phật Thích Ca thành đạo dưới cội
bồ đề. Tuy nhiên, từ đỉnh cao giác ngộ này, Phật nhớ
lại bản nguyện ra đời để cứu khổ chúng sanh.
Ngài
trở lại cuộc đời chỉ cho mọi người thấy bất khả tư
nghì giải thoát mà kinh diễn tả bằng gặp gỡ giữa Văn
Thù và Duy Ma hay kết hợp giữa bản tâm thanh tịnh và trí
tuệ tuyệt luân sanh ra vô số bất tư nghì. Bên ngoài bình
thường mọi người đều như nhau. Nhưng phần bên trong là
tâm trí Phật và tâm trí chúng ta hoàn toàn khác.
Tâm
trí của Phật, đối với ta bất tư nghì. Nhưng tâm trí của
ta thì Phật thấy rõ như thấy quả táo trong lòng bàn
tay. Căn tánh hành nghiệp của chúng sanh Ngài biết rõ.
Suốt
49 năm thuyết pháp giáo hóa, Phật dùng tất cả phương tiện
giúp chúng ta hiểu được cái không hiểu được là bất tư
nghì.
Bất
tư nghì nghĩa là không thể nghĩ bàn, ngoài sức hiểu của
con người, đòi hỏi hành giả tu đến một trình độ nào
mới hiểu. Ðó là trạng thái tu chứng của Bồ tát, diệu
dụng thần thông của Bồ tát. Ở đây nêu ra một số việc
làm tiêu biểu mà Thanh văn và Bồ tát không làm nổi.
Khi
Duy Ma và Văn Thù bàn về pháp Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát,
tất cả chúng hội đều mờ mịt, không biết vị nào bệnh,
vị nào không bệnh. Người bệnh và người không bệnh nói
chuyện hay đối đáp giữa Bồ tát thọ ấm thân và Bồ tát
không thọ ấm thân hoàn toàn vô hình, tức giữa hai tâm hồn
trong sáng gặp nhau, đứng ngoài phần ngũ uẩn luận bàn. Vì
thế, người còn sống xoay vần trong sáu giác quan làm
sao hiểu được; đối với họ tất nhiên phải thành bất
tư nghì.
Sống
và làm việc của Bồ tát thật bất tư nghì hay nói khác,
tồn tại của đạo Phật làm chúng ta cảm nghĩ Ðức Phật
có một lực tương xứng như trong kinh ghi. Nếu Phật không
có những bất tư nghì này, đạo không thể tồn tại hơn
25 thế kỷ.
Chúng
ta lấy thực tế thành quả giáo hóa của Ðức Phật trên
cuộc đời trải qua lịch sử dài và không gian rộng, để
hiểu rõ lực của Phật trong kinh Duy Ma. Ngược lại, đứng
ở lập trường căn, trần lý luận chỉ hiểu giới hạn thôi.
Văn
Thù và Duy Ma bàn luận với nhau rằng nên khuyên Bồ tát bệnh
thế nào để họ vững tâm hành đạo. Và Bồ tát bệnh phải
vận dụng pháp gì để chữa bệnh. Ðó là suy tư và việc
làm của Bồ tát.
Hàng
Thanh văn tham dự pháp hội khó cảm thông được vì họ có
thâm nhập pháp này, cũng không hiểu nổi. Ví như người ở
trình độ thấp nghe hai nhà bác học nói về chuyển biến
của vũ trụ, tất nhiên họ không thể nào hiểu được.
Cũng
vậy, Xá Lợi Phất và chúng Thanh văn cảm thấy việc làm
của Duy Ma và Văn Thù không liên quan gì đến các Ngài. Các
Ngài không bắt gặp cái hay của Bồ tát đến thăm bệnh,
mới trở về tâm niệm hạn hẹp của con người, khởi lên
ý niệm tám ngàn Bồ tát và năm trăm La hán tập trung về
phòng Duy Ma. Số lượng nghe pháp quá đông và hội trường
quá nhỏ. Làm sao vào được và vào được thì trong phòng
không có bàn ghế, chỉ có giường của Duy Ma.
Xá
Lợi Phất nghĩ như vậy cũng đúng. Nhưng đúng với thực
tế của con người còn kẹt trong sanh tử, không phải thực
của người tu giải thoát. Ðến đây, mở màn cho pháp Bất
Tư Nghì phô diễn, làm đảo lộn cái thấy bằng nhãn quan
thông thường của chúng ta là phòng rộng mới chứa được
nhiều người.
Phòng
Duy Ma nhỏ nhưng dung nhiếp được số người quá lớn, là
chuyện bất tư nghì. Cũng như Thích Ca Như Lai với hai bàn
tay không, điều động dễ dàng cả năm ông vua cai trị miền
Ngũ Hà ở Ấn Ðộ và hàng vạn Tỳ kheo, vô số cư sĩ. Ðiều
này đối với chúng ta cũng bất tư nghì.
Muốn
đạt đến bất tư nghì này, nghĩa là đạt đến cứu cánh
Niết bàn hay chơn không hoàn toàn không chướng ngại, Duy Ma
dọn phòng trống, không còn gì. Chỉ để một cái giường
và một người bệnh, để chúng ta nhận ra xác thân con người
và Pháp thân Bồ tát.
Trên
lập trường KHÔNG, gian phòng trống tiêu biểu cho Bồ tát
đáo bỉ ngạn. Tuy nhiên, trong KHÔNG đó còn một xác thân,
như Hòa thượng Trí Tịnh có dạy :
Hữu lai vấn ngã vi hà tợ
Báo đạo phù thi khổ hải trung.
Trong
pháp tu của Bồ tát rộng mênh mông, mang tính chất biến hóa
không cùng, thân con người chẳng khác nào bọt nước trong
biển. Dưới mắt người thường, phòng trống không với một
giường, một người bệnh, không có gì quan trọng.
Tuy
nhiên, khi hành giả lắng yên tâm hồn, mới nhận ra pháp tiềm
ẩn ở phía sau những vật tượng trưng. Trong bể sanh diệt
có một “phù thi” là thây chết hay thân con người nổi
lên, mới có vấn đề cho chúng ta nói. Nếu hoàn toàn trống
không trên chơn tánh, còn gì để mà nói.
Vì
vậy, muốn thuyết pháp phải có đối tượng. Ở đây mượn
hiện tượng người bệnh, phòng trống để diễn tả cao siêu
của Phật pháp gọi là bất tư nghì. Kinh Pháp Hoa mô tả ý
này bằng câu : “Hoa khai liên hiện, hoa lạc liên thành”.
Xá
Lợi Phất khởi niệm phòng nhỏ, chúng đông, làm sao ngồi
đủ. Ðây là thực tế, ai làm công tác quản lý đều phải
suy nghĩ như vậy.
Tuy
nhiên, dân gian thường nói : “Của vua thua của Phật”. Ðọc
lịch sử truyền bá Phật giáo, chúng ta không hề thấy các
vị danh Tăng quyên góp tiền để xây chùa, cất giảng đường.
Các Ngài đến ở hang đá hay túp lều, nhưng đức hạnh tỏa
ra, chỉ một thời gian sau, có đủ chùa cao Phật lớn. Thấy
không có gì, nhưng có đủ là diệu hữu, hay thành tựu công
đức trang nghiêm, không quan tâm mà tùy thuộc phước đức
trí tuệ tự thành, là cái vô hình bất tư nghì. Những gì
mà chúng ta hiểu được còn nằm trong căn trần, do dụng ý
thuộc về nghiệp, nhiều khi đưa đến quả báo không tốt.
Thanh
văn thấy phòng nhỏ không có chỗ ngồi. Ðiều này gợi cho
chúng ta biết rằng nếu suy nghĩ theo con người phàm phu dễ
rớt qua tham vọng. Vì túi tham không đáy, rộng bao nhiêu cũng
không dung được. Nhưng đối với Bồ tát an trú pháp KHÔNG,
nhỏ bao nhiêu cũng chứa đủ.
Ðứng
trên lập trường Phật pháp, không có vấn đề nhỏ lớn
nhiều ít. Chỉ ở trên sanh diệt pháp, mới có vấn đề này.
Chúng ta cần lưu ý, không khéo chỉ tu hành trên sanh diệt,
trăm kiếp ngàn đời vẫn ở trong sanh diệt.
Phật
ấn chứng cho Xá Lợi Phất quả A la hán, nghĩa là chứng Vô
Sanh, tại sao còn sanh ? Duy Ma chỉnh Xá Lợi Phất tu trên sanh
diệt, làm thế nào chứng Vô Sanh. Cũng vậy chúng ta tu hành
cân nhắc xem mình thật sự xuất gia hay chưa.
Chỉ
có một niệm tâm Vô Sanh được Phật ấn chứng. Nhưng niệm
kế tiếp sanh, liền lạc mất tâm chứng này. Chúng ta còn
nhớ trong phẩm trước, Duy Ma chất vấn Di Lặc rằng Phật
thọ ký cho ông một đời thành Phật là đời nào. Ở đây
cũng vậy, cái hành giả chứng được Vô Sanh là Vô Sanh nào,
và cái chúng ta đang sống là gì ?
Tất
nhiên, chúng ta đang sống, đang làm việc là sanh. Tâm lý của
chúng ta luôn luôn sanh. Tâm sanh thì pháp sanh. Tâm và pháp phản
ánh hỗ tương sanh ra vô số, cho nên thấy pháp sanh phải biết
ngay tâm sanh. Nghĩa là chúng ta đã tu trên pháp sanh diệt, mà
ngộ nhận không sanh. Sai lầm này theo kinh Pháp Hoa là uống
lầm thuốc độc.
Ngoài
ra, Xá Lợi Phất không thấy chỗ ngồi, còn có thêm ý nghĩa
thứ hai mà người Việt Nam thường nói phải biết chỗ mình
ngồi, ngồi cho đúng chỗ. Nói cách khác, hai vị thượng thủ
Duy Ma và Văn Thù luận bàn về pháp Bồ tát thì Thanh văn không
còn chỗ nào chen vô. Mang tâm niệm Thanh văn, nên nghe pháp
Bồ tát cảm thấy lạc lõng.
Ðến
đây, Duy Ma muốn nói lên tâm niệm sai lầm, tự ti mặc cảm
của Thanh văn. Họ thường nghĩ Phật cao vòi vọi, còn thân
phận chúng ta thấp kém. Hay đó là tư tưởng của hàng Thượng
tọa bộ thường khẳng định chúng ta chỉ đạt quả vị
A la hán là cùng, không thể thành Phật, không thể tu hạnh
Bồ tát hay không thấy chỗ ngồi của mình trong hàng Bồ tát.
Duy
Ma muốn phá bỏ tự ti mặc cảm này. Ngài tìm chỗ ngồi cho
Thanh văn, bằng cách nương theo khởi niệm của Xá Lợi Phất
để hỏi Xá Lợi Phất đến tìm chỗ ngồi hay cầu pháp.
Câu
chuyện giữa Văn Thù và Duy Ma đến đỉnh cao, thay vì kết
thúc, nhưng bị Xá Lợi Phất cắt đứt, vì hiểu biết
con người không vói tới được. Vì vậy, Duy Ma phải quay
ngược lại.
Ðỉnh
cao của Văn Thù và Duy Ma gặp nhau ví như Phật thuyết kinh
Hoa Nghiêm cho Bồ tát siêu hình trong pháp giới quá cao. Làm
thế nào con người trong sanh tử nắm bắt được. Ngài phải
trở lại pháp phương tiện nói kinh A Hàm.
Xá
Lợi Phất trả lời Duy Ma rằng Ngài đến cầu pháp, không
cầu chỗ ngồi. Duy Ma liền chỉnh không cầu chỗ ngồi, tại
sao lại nghĩ đến chỗ ngồi ?
Xá
Lợi Phất có khởi niệm chỗ ngồi, là đã rớt vô sai lầm,
mà vẫn không biết mình sai. Ðiểm này gợi chúng ta suy nghĩ
trên bước đường tu, cần biết rõ được chính mình
là việc quan trọng. Riêng Bồ tát, chắc chắn nhận biết
và kiểm soát được từng tâm niệm của các Ngài. Chúng ta
tu suốt đời, không đắc đạo vì khởi tâm động niệm liền
liền. Hãy thử kiểm tra xem một ngày, chúng ta động niệm
bao nhiêu lần.
Duy
Ma hỏi Xá Lợi Phất cầu pháp gì, có phải pháp trần nằm
trong sắc, thanh, hương, vị, xúc hay không? Câu hỏi này
nêu lên cho Xá Lợi Phất cũng là vấn đề đặt ra cho chính
chúng ta. Chúng ta tu hành cầu pháp Thanh văn, Bồ tát hay pháp
thế gian ?
Pháp
thế gian nghe bằng tai và nhận biết bằng tâm niệm thế gian,
nên nghe pháp rồi không đắc đạo, không giải thoát. Phật
dạy “Tà nhân thuyết chánh pháp, chánh pháp tức quy tà. Nghĩa
là đứng lập trường vọng niệm căn trần thức, mà thuyết
pháp và nghe pháp. Ðó chỉ là pháp thế gian hay pháp sanh diệt
mà Duy Ma gọi là cầu sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Trên
bước đường tu, chúng ta thường dễ lầm điều này. Có
người nghiên cứu lý giải Phật pháp thật nhiều, nhưng không
giải thoát. Họ từ bỏ tham vọng buồn phiền trên cuộc đời
còn không được, huống chi là bất tư nghì giải thoát.
Hoặc
có người suốt đời nghe pháp, nhưng chỉ toàn phiền não
chồng chất thêm. Trong khi có người nghe pháp, không biết
nghe cái gì. Nhưng nghe xong, họ cảm thấy chuyển biến thay
đổi trong lòng, phiền não trần cấu tự sạch và thấy được
sự thật của sự vật.
Do
cảm pháp mà biến phiền não thành hương sen. Ðó là một
phần nhỏ trong bất tư nghì giải thoát, nên pháp Phật được
ví như nước có công năng rửa tất cả cấu uế.
Người
ngoài không thể biết hương vị giải thoát của người tu
chứng. Kinh diễn tả như người uống nước mới biết mùi
vị của nước.
Cùng
một pháp, nhưng hai tâm niệm khác nhau, nên tiếp thu phải
khác. Người nghe pháp lòng nhẹ nhàng, phiền não tự rơi rụng
là người cầu pháp Thanh văn. Hành giả nghe thanh trần
mà chứng Pháp thân.
Người
cầu sắc, thanh, hương hay cầu pháp thế gian chỉ nghe chơi,
rồi đâu cũng vào đó, cuộc sống của họ vẫn đầy đủ
tham sân tội lỗi. Người cầu pháp sanh diệt và tu pháp sanh
diệt như vậy rớt qua không tưởng. Tu suốt đời vẫn hoàn
tay không, có được chăng chỉ được phiền não. Biết nhiều
nghe nhiều, sanh phiền muộn nhiều, chắc chắn Phật không
hề mong muốn chúng ta như vậy.
Tuy
nhiên, cần lưu tâm rằng mặc dù pháp không phải là sắc,
thanh, hương, vị, xúc. Chúng ta chấp nó là thật thì không
đúng. Nhưng lìa, sắc, thanh, hương, vị, xúc để cầu pháp,
cũng không được.
Chúng
ta cần nương pháp để được giải thoát. Rời nó, chúng
ta càng rơi vào không tưởng hơn nữa. Chẳng khác gì giấc
mơ nằm trong giấc mơ hay bỏ thế gian này đi tìm thế gian
khác. Ðó là vấn đề chúng ta nên suy nghĩ.
Phật
tại thế, người theo Ngài nghe pháp, thâm nhập pháp, lòng
ham muốn thú vui cuộc đời tự nhiên không còn. Cuộc sống
đổi khác, bước đầu họ đã chứng được một pháp của
Phật là sơ quả Tu đà hoàn. Bất luận vua chúa hay người
ăn xin hoặc người xuất gia, nếu cảm nhận được pháp,
đều hưởng quả vị đầu tiên trong hàng Thánh.
Từ
độ cảm này nâng lên, dù thân hành giả còn tại tục, nhưng
tâm xuất gia thường hướng về giải thoát. Ðến ngày nào
đủ duyên, hành giả sẽ xuất gia. Thông thường, Thanh văn
tu triển khai sáu thức do sáu căn tiếp xúc sáu trần. Họ
lóng tai nghe giảng pháp và Duy Ma bảo đó không phải là pháp,
chỉ là thanh trần còn cách đạo xa lắm.
Ðến
đây, chúng ta thấy chuyển từ Thanh văn thừa sang Bồ tát
thừa. Hành giả hướng về chân lý cầu pháp, nên pháp thông
qua tâm. Vì thế, không sử dụng sáu giác quan nắm bắt Bồ
tát pháp được. Nó là tịch diệt tướng, không phải nhìn
thấy bên ngoài mà phát tâm.
Hành
giả tự nhiên phát tâm, dù chưa nghe chưa thấy. Lúc ấy tâm
bồ đề của hành giả ngang qua tâm giải thoát của Phật,
mà Nhật Liên ví chim ngoài trời hót làm thức tỉnh chim trong
lồng. Nói cách khác, Như Lai thuyết pháp tịch diệt, làm sao
hành giả nghe. Tuy nhiên, tâm hoàn toàn lắng yên, liền trực
nhận được pháp này, nên không thấy mà thấy, không nghe
mà nghe.
Bồ
tát nương pháp tịch diệt này tu chứng nhất thiết chủng
trí, pháp không ai nói, không ai dạy là pháp Như Lai hay vô
sư trí, tự nhiên trí.
Duy
Ma gợi nhắc Xá Lợi Phất pháp Ngài cầu là pháp trần của
thế gian hay pháp giải thoát của Thanh văn.
Xá
Lợi Phất đạt đến pháp của nhị thừa, nhưng chưa đến
pháp Bồ tát, là pháp không diễn tả bằng ngôn ngữ được.
Hành giả nào có nhân duyên căn lành tự phát tâm, tự chứng
ngộ.
Và
tâm hành giả đến mức nào, pháp theo đó tương ưng, không
phải đồng nhau cho tất cả mọi người. Nếu ngày hôm nay,
chúng ta tương ưng với cấp bậc sơ tín, pháp đối với ta
là sơ tín. Nếu tiến lên hàng thập tín, thập địa, chúng
ta có pháp của thập tín, thập địa.
Trong
kinh Văn Thù xác định 49 năm thuyết pháp, Phật chưa nói một
lời. Nhưng Bồ tát vi trần đều chứng chân lý tức được
Phật giáo hóa. Cũng trên tinh thần này, những gì tôi hiểu
về Ðức Phật không giống điều tôi học trong kinh. Nhưng
cái tôi giảng nói không giống cái tôi hiểu. Nhờ đọc kinh
không vướng mắc văn tự, mới hiểu và thuyết pháp được.
Tôi đọc kinh, hiểu kinh, thuyết kinh, ba kinh này triển khai
khác nhau, nhưng chung quy chỉ có một, là tôi.
Duy
Ma nhắc Xá Lợi Phất nhớ ra Ngài cầu sắc, thanh, hương,
vị, xúc hay cầu pháp sanh tử mà lại lầm là pháp không sanh
tử.
Duy
Ma dạy pháp không phải là sáu trần mà dùng sáu căn để
tiếp xúc, ta đã rớt qua Thức ,thuộc về pháp sanh diệt.
Pháp
cũng không phải là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo mà tự khởi, vì
pháp vốn vắng lặng. Duy Ma bảo thực tế cuộc đời có khổ
đâu, nhưng ông tự khởi niệm đời là bể khổ và mang ý
niệm khổ này vào thân. Từ nghĩ khổ, nên tìm nguyên nhân
khổ và nghĩ ra Niết bàn để trú ẩn. Niết bàn này Duy Ma
chỉ thẳng là Niết bàn giả.
Ðối
tượng ở đây thuộc Bồ tát Pháp thân ở dạng bất tư nghì,
thì làm gì có khổ. Không khổ mà nghĩ tưởng khổ, Thanh văn
đã rớt vào vọng tưởng điên đảo.
Ðối
với Bồ tát giải thoát, hiện thực không sanh, vì Ngài không
khởi niệm. Nhờ đó, đạt đến bất tư nghì giải thoát.
Từ
chấp sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đến chấp Khổ, Tập,
Diệt, Ðạo, Duy Ma dạy hai chấp này không thực tế. Ngài
nhắc Thanh văn rằng Như Lai vì lòng đại bi vận dụng bất
tư nghì bằng cách tạo dựng hai Niết bàn cho Thanh văn
tạm nương tựa.
Nhờ
sống trong hai Niết bàn, Thanh văn không có ý nghĩ xấu về
người và người cũng không sanh ác tâm đối với họ. Từ
đó, Thanh văn tạm có đời sống an lành, nên nghĩ rằng Phật
có toàn năng, đủ sức che chở cho họ mãi mãi an lành.
Thực
sự Phật không che chở được. Ngài luôn phủ nhận điều
này mà mọi người vẫn thấy nhờ ơn mưa móc của Phật.
Ðây là tâm niệm của Tiểu thừa.
Hàng
Thanh văn theo Phật nghe pháp đã lâu, Phật chuyển hướng cho
họ có tầm nhìn khác. 12 năm trước, Ngài nói đời là bể
khổ. Nay Phật mượn Duy Ma để nói đời không phải là bể
khổ. Vì con người mê lầm nghĩ khổ, mới có khổ.
Ngoài
ra, theo Duy Ma chẳng những chấp năm trần mà cầu Tam Bảo
cũng sai, chấp Tam Bảo cũng sai. Chúng ta bỏ Phật Pháp Tăng
để cầu pháp, không được. Nhưng vướng mắc nó để mất
bản tâm cũng sai.
Phật
Pháp Tăng phải là đối tượng cho hành giả quán sát chứng
ngộ. Trên bước đường tu, tôi thường lấy Phật Pháp Tăng
để so sánh cân nhắc. Nhờ nương Tam Bảo, chúng ta xóa lòng
trần. Trần tâm lắng yên hay pháp đã tác động rửa sạch
nhiễm ô trần cấu.
Tuy
nhiên, không nên lệ thuộc pháp. Vì chúng ta đã tẩy sạch
bụi trần, lại đem pháp vào xâm chiếm, làm mất bản tâm,
thì có lợi ích gì.
Chúng
ta tu thường rơi vô sai lầm này. Ở thế gian bao nhiêu phiền
muộn, thấy người tu giải thoát, liền nghĩ đi tu được
giải thoát. Ðến khi xuất gia, càng gặp khó khăn nhiều hơn.
Ở thế gian, chúng ta chỉ lo cho bản thân mình. Vô chùa, chúng
ta phải giải quyết việc của cả thiên hạ, phải điều
phục toàn bộ những người không lệ thuộc chúng ta một
chút xíu gì.
Sự
thật những bậc chân tu hành đạo giải thoát ngay trên những
khó khăn này, điều phục được cả đại chúng một cách
tự nhiên dễ dàng. Khi tu hành thấy như vậy là thấy đạo
không bằng mắt. Vì vậy, sống kẹt trong Tam Bảo, không nên.
Nhưng nương Tam Bảo đạt giải thoát, rất cần.
Trong
bài sám Quy Mạng của Duy Nhiên Thiền sư có dạy : Tam thừa,
tứ quả giải thoát Tăng, nguyện tứ từ bi ai nhiếp thọ.
Thực dạ tu, cầu nguyện tam thừa tứ quả giải thoát Tăng
chấp nhận chúng ta làm quyến thuộc của các Ngài, để chúng
ta được vào thế giới giải thoát, trở thành Tăng giải
thoát, mới vững tâm hành đạo thẳng đến Niết bàn.
Trái
lại, mang tâm niệm vọng thức tới chùa cầu an lành, chẳng
bao giờ có an lành đâu. Tam Bảo gia hộ cho hành giả với
điều kiện phải biết cầu. Nương giải thoát Tăng tu thì
khác. Còn lệ thuộc Tam Bảo, giống như giao chúng ta giữ chùa,
chúng ta lại gặp toàn người phá chùa. Chắc chắn phiền
não sanh ra không ít, đến độ sợ Tam Bảo, chán Tam Bảo,
tất nhiên phải đọa.
Riêng
tôi, lúc còn trẻ mang tâm niệm lo cho đạo nhiều lắm. Nhưng
càng lo cảm thấy càng phiền muộn. Sau tôi tự nghĩ lại không
ai thương tưởng đời hơn Phật, giúp đời không ai hơn Bồ
tát, bảo vệ chùa không ai hơn Hộ Pháp già lam. Ðem so sánh
với các vị này, thân phận chúng ta hoàn toàn bất lực. Chúng
ta muốn giữ chùa nhưng không là vị Thần Hộ Pháp làm sao
giữ nổi. Cứu đời không ai hơn Bồ tát Quan AÂm, sao Ngài
không làm; hãy liệu xem mình có vượt hơn Ngài không.
Chúng
ta chẳng có điểm nào bằng các Ngài, phải khởi đầu tu
ở thân phận mình, tôi thấy lòng mình nhẹ đi. Trước xót
xa vì Phật pháp bị đủ thứ nạn, sắp bị tiêu diệt, ý
thức bảo vệ của chúng ta sanh ra. Tuy nhiên, bảo vệ tầm
thường nhất chẳng những không được, đôi khi lại phản
tác dụng trở thành hành động phá hoại.
Từ
đó về sau, tôi không quan tâm bên ngoài, chỉ lo an trú pháp
để thanh tịnh hóa chính mình. Ðến khi sực tỉnh, nhìn lại
thấy chùa vẫn còn nguyên, Phật tử vẫn đầy đủ ! Quả
thật lo chẳng được gì, nhưng bỏ có mất đâu, mà trước
cứ ngỡ bỏ là tiêu tan.
Trở
lại thân phận từng người, vị trí riêng của mỗi người
mà tu hành. Như Lai làm việc của Như Lai, Bồ tát làm việc
của Bồ tát. Chúng ta lo dọn con đường trước mắt để
được Niết bàn.
Phật
không hề muốn chúng ta khổ vì Ngài. Chúng ta thường rơi
vào sai lầm cho rằng chúng ta phải bảo vệ, che chở Phật.
Không! Phật che chở chúng ta thì đúng hơn. Trước kia, tâm
thương đạo làm chúng ta khổ, mà không lợi ích gì.
Nay tâm nhẹ nhàng thanh thản, buông bỏ tất cả mà tốt lành
đến với chúng ta vô số, đạo vẫn sống còn. Theo tôi, đó
là cách thấy, cách sống rất quan trọng, cần lưu tâm.
Xá
Lợi Phất đang hoang mang pháp tu Khổ, Tập, Diệt, Ðạo của
Ngài đã dẫn đến quả vị Niết bàn. Nay Duy Ma lại chỉ
trích không có Khổ, Tập, Diệt, Ðạo, không có cứu cánh
Niết bàn. Như vậy, Niết bàn giải thoát của Xá Lợi Phất
tu chứng là gì, có thể có một cái gì khác cao hơn hay không
?
Xá
Lợi Phất khởi niệm như vậy, Duy Ma liền hiển thị bất
tư nghì, bằng cách hỏi Văn Thù đã từng dạo chơi mười
phương thế giới, có thấy tòa sư tử nào cao đẹp nhất
không ?
Văn
Thù trả lời Ngài đi khắp mười phương tới nước Tu Di
Tướng, có Phật tên Tu Di Ðăng Vương Như Lai, thấy có tòa
sư tử đẹp nhất. Ngày nay có thể diễn tả theo thời đại
là đi tham quan một vòng thế giới xem nước nào văn minh nhất.
Tòa
sư tử là chỗ ngồi, là vị trí. Tòa này cao tám muôn bốn
nghìn do tuần tương đương với 600 ngàn cây số ngày nay.
Ðức Phật cũng có chiều cao tương xứng như vậy. Duy Ma thấy
Ðức Phật ngồi trên đó đẹp nhất.
Lúc
đó, trong pháp hội có bao nhiêu người nghe pháp, Duy Ma mượn
đủ tòa cao như vậy cho họ ngồi và thỉnh Văn Thù cùng các
Bồ tát an tọa. Các Bồ tát nhất sanh bổ xứ đi với Văn
Thù cũng biến thành thân cao lớn cân xứng để ngồi. Các
Bồ tát mới phát tâm và chúng Thanh văn chỉ ngước mắt nhìn,
không lên được vì còn vướng mắc căn trần thức.
Hiện
tượng bất tư nghì này mở hướng nhìn mới cho Thanh văn
chuyển sang Bồ tát pháp. Tòa sư tử của Phật mang đặt vào
thế giới phàm phu, hay trong thế giới phàm phu có Phật.
Kiến giải này khác với kinh Tiểu thừa.
Duy
Ma bảo Xá Lợi Phất cùng đại chúng chắp tay lại đảnh
lễ Tu Di Ðăng Vương Như Lai, liền ngồi lên tòa sư tử được.
Ðến đây, chúng ta thấy Duy Ma muốn phá bỏ cố chấp lâu
đời của Thanh văn, Ngài phải đưa ra cái mới cao đẹp hơn.
Thật
vậy, trong thời Phật tại thế, văn minh của loài người
bấy giờ nằm gọn trong những lời dạy của Phật hay
lời dạy của Ngài là chân lý. Nhưng sau Phật Niết bàn, văn
minh nhân loại vẫn tiếp tục phát triển. Trong khi đó, những
người bảo thủ theo chủ nghĩa giáo điều đến độ sự
vật bên ngoài đổi mới khá nhiều mà họ vẫn không hay biết.
Duy
Ma chỉ trích Thanh văn tu Khổ, Tập, Diệt, Ðạo để chứng
Niết bàn xem đó là cứu cánh, không dám bỏ. Ðiều này nhằm
ám chỉ các tu sĩ Thượng tọa bộ sống đóng khuôn trong chùa
với những quy tắc cứng nhắc. Còn thực tế bên ngoài biến
đổi quá nhanh, những văn minh tiến bộ của loài người,
những khám phá mới mẻ trên mọi lãnh vực, hàng tu sĩ hoàn
toàn không biết. Tầm tri thức của họ quá cạn cợt, không
thể nào tiến lên theo kịp đà phát triển của xã hội.
Duy
Ma phê phán Thanh văn mất 12 năm tu hành không được gì, hay
đó là sinh hoạt cục bộ cố chấp của Thượng tọa bộ
chẳng lợi lạc gì cho đạo, giúp ích gì cho đời.
Việc
làm của Xá Lợi Phất và của Duy Ma cách nhau một trời một
vực. Ðức Phật là người vận dụng được quy luật, điều
động mọi vật tự tại. Bồ tát đang bước theo lộ trình
này. Tùy theo sự phát triển của từng nơi, từng thời kỳ,
Bồ tát ứng dụng Phật pháp một cách linh động nhịp nhàng
với sự phát triển văn minh của con người.
Trái
lại, Thanh văn hay những người bảo thủ theo chủ nghĩa giới
điều, không chịu thoát ra ngoài khuôn cố định. Họ không
dám nghĩ khác, không dám làm khác, chỉ giữ y nếp sống tu
hành cục bộ, không biết gì đến phát triển bên ngoài. Giữa
Thanh văn và Bồ tát ví như một nước văn minh và một nước
lạc hậu.
Vì
vậy, khi Thanh văn đi theo Văn Thù đến thăm bệnh Duy Ma hay
nói khác khi tiếp xúc cuộc đời, họ thấy khiếp sợ Bồ
tát. Với hiểu biết thấp kém quan sát việc làm của Bồ
tát, thì mọi việc đều trở thành ngoài sức tưởng tượng
hay bất khả tư nghì đối với Thanh văn. Sự thật Ðức Phật
chủ trương không có gì mà chúng ta không thể biết, không
thể hiểu. Không biết, không hiểu chỉ vì chúng ta không chịu
học, không chịu phát triển.
Dưới
nhãn quan của Bồ tát, không có gì là bất khả tư nghì. Các
Ngài bước theo dấu chân Phật, nỗ lực phát triển việc
tu học, trau giồi trí tuệ siêu xuất thế gian. Tầm nhìn của
Bồ tát mở rộng, thấy vượt hơn người đời. Càng tiếp
xúc với đời, giáo hóa chúng sanh, Bồ tát càng phát huy trí
tuệ và đạo đức, là biểu tượng chỉ đạo cho mọi người
kính ngưỡng.
Kinh
diễn tả Phật ngồi trong vườn Yêm La tượng trưng cho Phật
ở trong tháp không còn thuyết pháp. Lúc ấy, văn minh của
cuộc đời thể hiện qua hình ảnh cư sĩ Duy Ma thuyết pháp.
Pháp này là nhân sinh, là cuộc sống của con người luôn luôn
thay đổi, mà đối với trí tuệ của Văn Thù không có gì
lạ lùng hay bất khả tư nghì. Cũng như sự kiện Duy Ma thông
suốt các pháp, đầy đủ thần lực giáo hóa mọi tầng lớp
xã hội dưới mắt Văn Thù cũng không có gì bất khả tư
nghì. Chỉ riêng mười đại đệ tử kinh sợ sự hiểu biết
và
việc làm của Duy Ma. Hay nói cách khác, Phật giáo phát triển
muốn diễn tả tình trạng bi đát tệ hại của chư Tăng sau
Phật Niết bàn 100 năm. Tu sĩ Thượng tọa bộ cách ly thế
gian, sống đóng khuôn, chấp chặt hình thức, không chịu phát
triển nội dung. Họ đi ngược trào lưu tiến hóa của xã
hội, trở thành thiển cận, bị đẩy lùi vào bóng tối. Làm
thế nào đủ khả năng, đủ tư cách chỉ đạo thế gian,
làm Thầy mọi người.
Duy
Ma dạy đại chúng đảnh lễ Tu Di Ðăng Vương Như Lai thì
lên tòa được, chưa đảnh lễ không lên được. Lên tòa
được hay không lên được nhằm chỉ cho tâm chúng sanh.
Tâm
chúng sanh có lớn nhỏ khác nhau. Hàng Bồ tát Ðẳng giác thuộc
thượng căn thượng trí đồng đẳng với Như Lai, hiểu biết
ngang tầm Như Lai. Tâm các Ngài trực tiếp với giáo pháp vô
thượng, dễ dàng bước lên tòa sư tử.
Riêng
hàng nhị thừa và Bồ tát mới phát tâm chỉ ngước mắt
nhìn, không lên được nhằm chỉ khả năng nhỏ bé của họ
đối trước thần thông diệu dụng bất tư nghì của đại
Bồ tát.
Trên
bước đường tu, thông thường ai cũng có cảm nghĩ này. Tôi
cũng vậy, chẳng bao giờ làm được gì theo ý muốn, nên tôi
chẳng muốn nữa. Thân phận bất lực của chúng ta, đem so
với Phật, được xếp vô hàng trung hạ, chỉ nhìn thôi.
Thật
vậy, chúng ta đứng trên mảnh đất thực tế làm việc thực
tế, chuyện này không quan trọng bằng chuyện sau lưng chúng
ta. Chúng ta làm chuyện trước mắt, nhưng không thấy sau lưng,
không kiểm soát được nó. Chỉ tin vô cái thấy bằng mắt,
dễ thất bại.
Bồ
tát mới phát tâm vướng mắc vào đây là khổ. Họ muốn
cứu độ chúng sanh, thì bao nhiêu vấn đề đặt ra, liệu
có làm được không ? Theo tôi, chúng ta chỉ làm được phần
nào tượng trưng thôi, làm thật không nổi. Vì thế, Bồ tát
mới phát tâm bị đụng tứ phía.
Hàng
Thanh văn trụ định thấy việc làm vướng mắc này sợ lắm.
Riêng tôi, có bao nhiêu dự kiến, nhưng chẳng làm được,
vì hở đâu đụng đó, sao làm được. Thiên hạ làm thấy
đơn giản, còn mình làm thì gặp vô số vấn đề.
Hàng
trung hạ ngước nhìn lên tòa sư tử. Ðức Phật có hai tòa,
tòa thứ nhất là tòa sen chúng ta phải lên trước. Ðức Phật
thường được ví như hoa sen tỏa hương thơm ngát giữa chốn
bùn nhơ. Tòa sen của Phật tượng trưng cho sự trong sạch,
cao quý của Ngài.
Người
tu hành uớc mơ ngồi tòa sen như Phật cần thanh lọc tâm phiền
não nhiễm ô, trút bỏ gánh nặng tội lỗi, để trở thành
trong sạch, mới về với Phật được. Không đoạn phiền
não, mang thân nghiệp chướng tội lỗi, cầu tòa sen không
bao giờ có.
Hành
giả theo Phật, lòng lắng yên dần. Ngày nào lòng trần hoàn
toàn dứt sạch, tâm hồn thanh thoát như hoa sen. Hành giả về
với Phật hay gần Phật hoặc bằng Phật là ba nghĩa của
tam thừa giáo, chúng ta có ba tòa sen. Bằng với Phật là Bồ
tát Ðẳng giác, gần Phật là Bích Chi Phật, về với Phật
là La hán.
La
hán không mong thần thông, chỉ xin được tâm hồn thanh tịnh
là ý nghĩa tòa sen của La hán. Từ tòa sen trong sạch này,
hành giả bước sang tòa sư tử. Mới đắc đạo, ngồi tòa
sen, nhưng giáo hóa chúng sanh ngồi tòa sư tử.
Tòa
sư tử có tính cách tiêu biểu, không phải tòa thật, chỉ
cho trí vô úy của Phật mang tính chất vạn năng; Phật ngồi
trên cỏ vẫn gọi là sư tử tòa. Pháp âm Phật thường được
ví như tiếng rống sư tử làm muôn thú khiếp sợ. Thành Phật,
với trí tuệ tuyệt luân, tư cách trong sạch thánh thiện hoàn
toàn, lời nói mới có giá trị tuyệt đối, không ai chống
phá được.
Hàng
Bồ tát ngồi tòa sư tử nghĩa là các Ngài tuyên dương được
chánh pháp Như Lai. Vì liễu ngộ chơn thừa, tác động chúng
sanh lợi lạc bằng với Như Lai.
Riêng
hàng trung hạ chưa lên tòa sư tử được, nghĩa là nói
pháp không ai nghe hoặc người nghe không giải thoát. Ðồng
đẳng với Như Lai, thì nói pháp giải thoát. Không bằng Như
Lai, trở thành ăn cắp pháp Như Lai, đem dùng tất phải thọ
quả báo, nên hàng trung hạ chỉ đứng dưới mà nhìn lên.
Duy
Ma nhắc nhở hàng đệ tử trung hạ muốn lên tòa, phải đảnh
lễ Tu Di Ðăng Vương Như Lai. Nghĩa là chúng ta quy y Tam Bảo,
một dạ tu hành, cũng sẽ thành Phật. Kinh Ðại thừa thường
khẳng định chúng ta có Phật tánh, có khả năng thành Phật.
Duy
Ma nhắc khéo chúng ta đừng nghĩ mình giỏi, phải làm điều
gì cao xa mà đánh mất phần Tam Bảo căn bản. Trở lại an
trú ba pháp quy y để phát triển bản thân.
Quy
y Phật nhằm giúp trí giác phát sanh, quy y Pháp để chân lý
hiển bày và quy y Tăng để quy thuận đại chúng. Cứ như
vậy, Tam Bảo trong ta lớn lần, đến khi bằng với Phật Tu
Di Ðăng Vương, chúng ta mới ngồi trên tòa sư tử.
Tòa
sư tử cao 84 ngàn do tuần ngầm chỉ Phật chuyển 84 ngàn phiền
não trần lao thành 84 ngàn pháp môn tu. Ngài liễu ngộ toàn
bộ chúng sanh, chúng sanh nghiệp, đưa ra được 84 ngàn phương
tiện diệt nghiệp.
Các
Thanh văn nhờ Duy Ma dùng thần lực ngồi được tòa sư tử,
nhằm nhắc nhở Thanh văn đừng tự ti mặc cảm. Chớ an phận
với chiếc ghế nhỏ của mình hay đừng hài lòng với quả
vị tu chứng. Phải tiến lên đỉnh cao vô thượng để cầu
tòa sư tử cao nhất.
Ðến
đây vẽ ra hướng mở cho Thanh văn phát tâm tu Bồ tát đạo.
Bồ tát đủ tư cách ngồi tòa cao 84 ngàn do tuần, vì các
Ngài đã vượt 84 ngàn phiền não trần lao của phàm phu.
Khi
ngồi tòa sư tử hay thông được 84 ngàn pháp môn tu, cổ nhân
thường dạy : “Ðại dụng tại tiền, quyền tại thủ”.
Nghĩa là quán sát cuộc đời tùy nơi, tùy lúc, tùy người
mà ứng dụng pháp tu khác nhau, đưa chúng sanh đến bờ giải
thoát.
Xá
Lợi Phất không hiểu tại sao Duy Ma đem đủ tòa sư tử cho
chúng ngồi vào phòng mà phòng không lớn thêm và tòa cũng
không nhỏ đi.
Ðiểm
này gợi chúng ta suy nghĩ phải chăng tâm thức nhỏ bé hẹp
hòi của Xá Lợi Phất và tâm bao la của Duy Ma hoàn toàn khác
nhau, kết thành cái thấy khác nhau và thế giới khác nhau.
Ðó là thế giới tâm linh, một thế giới rộng hẹp, tốt
xấu, khổ vui tùy độ cảm tâm biến hiện tạo thành sai khác.
Hiện
tượng một vật quá nhiều và quá lớn đem đặt vào một
vật quá nhỏ, quá ít được Thiền sư cảm nhận qua hai câu
:
Càn
khôn tận thị mao đầu thượng,
Nhật
nguyệt bao hàm giới tử trung.
Ðối
với nhãn quan hữu hạn, tất cả tòa sư tử cao như vậy đưa
vào phòng Duy Ma không được. Tuy nhiên, thực tế vật lý này
Văn Thù nói với Duy Ma rằng không thể dùng mắt thấy tai
nghe, phải quan sát dưới dạng khác mới thấy.
Nhà
Duy Ma hiểu dưới dạng nhà ngũ uẩn. Trong ngũ uẩn, chúng
ta chỉ sử dụng Thức uẩn đã tạo được những linh hoạt.
Thật vậy, phần nhỏ vật chất đầu tiên thuộc sắc uẩn
qua bốn chặng đường sắc, thọ, tưởng, hành để trở thành
phần siêu hình là Thức.
Thức
là hiểu biết của con người. Nó là một đơn vị không ai
thấy mà phải chấp nhận nó có thật. Những gì chúng ta học
hiểu đều nằm gọn trong Thức. Thí dụ tôi ngồi yên một
chỗ vẫn có thể hình dung được tất cả đạo tràng ở
nhiều nước xa xôi mà tôi đã tham dự.
Chúng
ta muốn đi phải nhờ xe chở thân xác này. Nhưng nhận thức
của ta muốn đến đâu cũng được, chẳng cần phương tiện
chuyên chở nào cả. Chẳng hạn khi ý thức của tôi vụt nhớ
chùa Ðông Ðại ở Nhật Bản, tôi đến đó được ngay. Như
vậy cả trái đất này mà tôi có học và suy tư, thì toàn
thể vũ trụ có trong đầu tôi. Ðây mới là phần Thức uẩn
làm việc, so với siêu Thức của La hán, Bồ tát còn
cách xa.
Siêu
Thức hay trực giác mà Bồ tát sử dụng, chắc chắn phải
đạt kết quả diệu dụng, dung nhiếp pháp giới. Kinh diễn
tả bằng hình ảnh Duy Ma phát huy thần lực mang 32 ngàn tòa
sư tử của thế giới Tu Di Tướng đặt vào phòng Ngài.
Kinh
Duy Ma sau thời Bát Nhã là sau giai đoạn Bồ tát đã thấy
được tướng KHÔNG. Núi Tu Di là KHÔNG và tướng hạt cải
cũng KHÔNG. Dưới dạng Bát Nhã hay dưới tuệ nhãn của người
đắc đạo, thật tướng các pháp đều KHÔNG. Vì thế, cái
KHÔNG lớn bao nhiêu, cũng bỏ vào cái KHÔNG nhỏ được. Các
tòa sư tử KHÔNG và phòng Duy Ma cũng KHÔNG, thì KHÔNG này đem
đặt vào cái KHÔNG kia, làm gì có chướng ngại.
Có
lúc chúng ta cảm thấy con người mình thật to lớn, nhưng
cũng có lúc cảm thấy mình thật nhỏ bé như khi ta sống
gần người học rộng tài cao. Cũng vậy, đối trước trí
tuệ của Duy Ma và Văn Thù, Xá Lợi Phất cảm thấy nhỏ bé
là điều tất yếu. Nhỏ hay lớn này là Pháp thân Bồ tát
thuộc thế giới tâm thức, phát xuất từ phản ứng con người
thật của mình.
Từ
trạng thái tinh thần này mở rộng đến thế giới vật chất,
kinh Hoa Nghiêm giải “sự sự vô ngại pháp giới”, giữa
vật và vật cũng vô ngại. Không phải chỉ thuần tương thông
trong pháp KHÔNG, nhưng trở về pháp hữu cũng dung thông.
Trước
phải dùng pháp KHÔNG để không trở ngại. Nhưng nay lấy vật
để vào vật, tức lấy vật nhỏ dung vật lớn. Thí dụ một
quốc gia dù lớn tới đâu cũng có một lãnh tụ điều khiển.
Chỉ có một thân con người nhỏ mà lực chi phối của họ
bao la, một người chi phối được vô số người. Sự chi
phối này vô hình, nhưng có thật. Họ điều động mọi người
được, vì họ nắm quy luật. Nếu không còn nắm quy luật,
thì thế mạnh và thế dung nhiếp của họ mất.
Bồ
tát lấy trí tuệ làm chính, đạt trí Bát Nhã thấy thật
tướng các pháp và tùy theo đó mà điều động. Một Thiền
sư dạy rằng nếu vật biết đem đặt chỗ an, nó thành an.
Nhưng cũng vật đó, nếu không biết, đem đặt vào chỗ nguy
nó trở thành nguy.
Ðức
Phật là người khám phá quy luật chi phối con người, vũ
trụ. Ngài luôn sống đúng với quy luật, không bao giờ Ngài
sai lầm và thất bại.
Duy
Ma nói tiếp với Xá Lợi Phất khi Bồ tát đạt bất tư nghì
giải thoát có thể đem núi Tu Di nhét vào hạt cải. Tất cả
chúng sanh sống trong núi Tu Di cũng không thấy mình nằm trong
hạt cải và Tu Di cũng không lớn ra. Hoặc đem nước bốn
biển đặt vào lỗ chân lông mà tất cả loài sinh hoạt trong
biển không thấy bị chật hẹp trong lỗ chân lông và lỗ
chân lông cũng không lớn thêm. Hoặc hiện tượng phòng Duy
Ma chứa được 32 ngàn tòa sư tử, có Bồ tát cao đến 42
ngàn do tuần lên ngồi trên tòa, mà Duy Ma bệnh nằm đằng
trước các tòa này chẳng khác gì con kiến v.v...
Tất
cả hiện tượng đó gọi là bất tư nghì giải thoát, chúng
ta suy nghĩ chứng được pháp nào, là việc riêng của từng
người. Ðối với tôi, nhìn về bất tư nghì này man mán nhận
ra Phật sanh thân, Báo thân và Pháp thân.
Pháp
thân Phật bao la, chúng ta không thấy nhưng phải công nhận
thân này tồn tại. Vì Phật còn chỉ đạo cho những người
đi theo con đường thánh thiện trên khắp năm châu xuyên suốt
chiều dài lịch sử hơn 25 thế kỷ. Ðó là một loại thân
hình do Phật tu chứng.
Ngoài
ra, Báo thân Phật viên mãn hạnh Bồ tát, chúng ta cũng không
thấy. Nhưng sự thật quả tình đức hạnh và trí tuệ của
Phật vẫn tỏa rộng sức thuyết phục đối với loài người.
Và trở về sanh thân con người, thì ai cũng như nhau.
Có
thể nói Bồ tát hiện hữu như mọi người, nhưng Pháp thân
Bồ tát chứng được lực dụng bất tư nghì. Pháp thân này
sử dụng được như thị lực. Hiểu theo ngày nay, là nắm
được quy luật. Tùy mức độ nắm được quy luật đến
đâu, thì khả năng Bồ tát tiến đến đó. Ví dụ ngày nay,
sức chúng ta hữu hạn, nhưng điều khiển được vật khổng
lồ như máy bay hay phi thuyền chẳng hạn.
Với
sự kiện thực tế này để chúng ta hiểu lực của Bồ tát
nằm ngoài hữu hạn. Và từ hữu hạn đó, phát huy vô cùng,
vận dụng vô cùng. Ðó là ý nghĩa Bồ tát sử dụng sanh thân
như là công cụ để hành đạo Bồ tát.
Duy
Ma dùng lực bất tư nghì để tạo thành tòa ngồi của Phật
Tu Di Ðăng Vương. Phật Tu Di Ðăng Vương hay người nắm giữ
ngọn đèn trí tuệ lớn như núi Tu Di. Ngài dùng tuệ giác
vô thượng này mà điều động công việc. Tất nhiên người
trí óc non kém phải thấy là bất tư nghì, không thể nào
hiểu được, biết được.
Bất
tư nghì nghĩa là ngoài sự tưởng tượng của ta. Việc nghĩ
rằng không có mà có, nên Xá Lợi Phất nói chưa từng nghe,
thưa từng thấy. Dù theo Phật tu hành, Ngài vẫn không hiểu
việc làm của Phật. Vì Xá Lợi Phất quen nghĩ Phật là con
người bình thường. Duy Ma thì biết rõ Phật không tầm
thường, Phật thật phi thường.
Ở
đây, cần nói sơ về bất khả tư nghì của Phật khác với
bất khả tri luận của ngoại đạo. Bất khả tri luận mang
tính chất tuyệt đối của thần học. Theo đó, chúng ta là
con người thì không thể hiểu thần thánh, vĩnh viễn không
thể nào biết được.
Bất
khả tư nghì của đạo Phật cũng có nghĩa là không thể hiểu,
không thể biết. Tuy nhiên, khác ngoại đạo ở điểm chúng
ta chưa biết, nhưng sẽ biết và phải biết. Ðó là quá trình
tu của chúng ta. Ví như đứa trẻ chưa có nhận thức. Khi
lớn lên tiếp xúc cuộc đời, nó sẽ biết một phần và
trưởng thành nó biết hoàn toàn.
Chúng
ta là phàm phu, chuyện của Thánh đương nhiên không biết.
Nhưng phát tâm bồ đề, mang ý hướng thượng tìm học điều
chưa biết. Ngày hôm nay chưa hiểu, ngày mai sẽ hiểu, nếu
chịu học. Vì vậy, đạo Phật dạy chúng ta tiến lên đạt
quả vị Phật sáng suốt giác ngộ, không phải vĩnh viễn
là phàm phu mê muội. Tôn giáo khác thì chủ trương con người
muôn đời làm tôi mọi cho Thánh, không thể nào đạt quả
vị Thánh, chỉ có Thánh mới là Thánh.
Phàm
phu nhìn cuộc sống Thanh văn không thể hiểu được hay bất
tư nghì. Ðối với người thế gian, không biết tại sao người
tu từ bỏ nhà cửa, công danh, sự nghiệp để đổi lấy cuộc
đời Sa môn cực khổ.
Muốn
hiểu điều này, họ cũng phải bỏ nhà cửa, sự nghiệp mà
xuất gia, sống phạm hạnh y như người tu. Vì vậy, không
biết này không hẳn vĩnh viễn không biết. Nhưng theo tu, dần
dần sẽ biết. Nghĩa là phải có quá trình tu để trực nhận.
Ðiểm
này cho thấy cái biết theo đạo Phật không thể chỉ nghe
nói hoặc nhìn suông hoặc hý luận. Nó đòi hỏi sự thể
nghiệm bằng chính cuộc sống của hành giả.
Tiến
hơn một nấc, hàng A la hán như Xá Lợi Phất trí tuệ bậc
nhất. Nay gặp lực Bồ tát, Ngài không hiểu, cũng cho là bất
tư nghì.
Dưới
mắt La hán, muốn giải thoát, phải bỏ nhà xuất gia, không
dính líu cuộc đời, mới không bị nhiễm ô. Các Ngài hiểu
thiện ác phân minh, Thánh phàm khác nhau, sống trong Niết bàn
giải thoát, bỏ Niết bàn không giải thoát. Vì thế, các Ngài
không hiểu được giải thoát của Bồ tát.
Theo
Bồ tát đạo, giải thoát không phải chỉ giới hạn cho người
xuất gia. Bất cứ người nào không bị cuộc đời ràng buộc,
đều được giải thoát.
Không
bị ràng buộc có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là thoát ly, trốn
nó. Nghĩa thứ hai cao hơn, sống với nó, nhưng nó không có
khả năng chi phối, làm phiền hành giả.
Giải
thoát một của Thanh văn ở Niết bàn và giải thoát hai của
Bồ tát ở trong sanh tử. Khi còn yếu kém, chúng ta tránh giặc
là giải thoát của Thanh văn. Hành giả tránh đau khổ, tìm
an lành. Ðây là tương đối pháp phân ra hai : thế giới giải
thoát đối lại thế giới sanh tử.
Thực
tế chúng ta thấy người không giải thoát nhiều, thế lực
xấu luôn luôn nhiều hơn tốt. Ðức Phật cấm người tu hành
khi bị nói xấu, đánh chửi, bôi nhọ..., không được
trả đũa. Nghĩa là quyền áp đảo của chúng sanh nhiều hơn
quyền đề kháng của chúng ta. Trong 60 triệu người dân, người
xuất gia chưa đến một vạn. Như vậy, người xuất gia so
với tại tục rất ít. Tồn tại khó khăn đối với chúng
ta luôn luôn lớn hơn thế tục. Từ đó, Thanh văn thú tịch
muốn sống bình ổn tất yếu phải trốn đời, trốn đến
mức nào có thể trốn.
Nói
đến Thanh Văn, chúng ta thấy có bốn loại Thanh văn : 1/ Thị
hiện Thanh văn không phải là Thanh văn thật. Thí dụ như Phú
Lâu Na là đại pháp sư từ thời Phật quá khứ hay A Nan phát
tâm bồ đề cùng một lượt với Phật Thích Ca từ thời
Phật Không Vương v.v.... Các Ngài là Bồ tát lớn thị hiện
vào tu chung với hàng Thanh văn để giáo hóa họ. 2/ Thoái chuyển
Thanh văn là Bồ tát thoái chuyển xuống Thanh văn. Trường
hợp Xá Lợi Phất đã tu hạnh Bồ tát gặp Bà La Môn đến
xin con mắt. Ngài bố thí xong, họ liền vứt bỏ cặp mắt.
Gặp một thử thách bức ngặt như vậy, Ngài bực dọc, không
tu Bồ tát đạo nữa. 3/ Thú tịch Thanh văn càng tu, càng thánh
thiện, thì thấy thế lực xấu càng nhiều. Họ tu cao, thì
thu hẹp thế giới sống của họ lại. 4/ Tăng thượng mạn
Thanh văn tu học, nhưng cuộc sống của họ và pháp Phật
hoàn toàn không chút tương ưng.
Kinh
giới thiệu Bồ tát thi thố một loạt các thần lực, Thanh
văn không hề biết, nhằm gợi ý cho Thanh văn hướng tâm tu
Bồ tát hạnh, chuyển từ trụ định La hán sang phát tâm bồ
đề.
Ðức
Phật dạy nếu là La hán thật, phải tin pháp Ðại thừa.
Ðến vị trí này, mà còn thấy bất tư nghì, thì không phải
La hán.
Riêng
đối với tôi, học kinh, suy tư về những việc bất tư nghì
của Phật. Tôi đã trải qua bốn giai đoạn thể nghiệm, hiểu
khác nhau về vấn đề này. Bước đầu tôi tin tuyệt đối,
nghĩ đơn giản như trẻ con xem đó là chuyện có thật.
Lớn
lên, có chút tinh thần khoa học, tôi lại cho đó là chuyện
hoang đường, không thể có, vì thực tế không đúng như ta
nghĩ.
Ðến
giai đoạn ba, vận dụng trí năng để hiểu Phật, không còn
tin tuyệt đối, nhưng cũng không phải không tin hoàn toàn.
Tôi chuyển sang nhận thức triết học, nghiên cứu thấy câu
chuyện hàm chứa ý triết lý sâu xa.
Ðối
với cái bất tư nghì của Phật, ta tự đặt câu hỏi và
đưa tới hiểu biết mới. Giống như các học giả thường
đặt vấn đề để suy nghĩ. Vấn đề này không có trong thực
tế, nhưng có trong suy tư, trong tưởng tượng. Tuy nhiên, những
thực tế có được ngày nay ở trong mọi lãnh vực, há chẳng
phải bắt nguồn từ suy tư giả thuyết tưởng tượng hình
thành trong trí của các nhà nghiên cứu hay sao.
Duy
Thức gọi đó là dĩ tâm duyên tâm. Thực tế không có, nhưng
nhà triết học tự nghĩ ra để phân tích hoàn thành trong trí.
Ðó là sinh hoạt của thế giới triết học, tự hình dung
ra vật để làm đối tượng quan sát theo trí năng.
Cũng
vậy, từ suy lý mà người tu hành chứng nghiệm được, Phật
giáo đã tiến vào lãnh vực triết học. Ở giai đoạn này
hoàn toàn thuần lý, họ dùng trí quan sát Ðế lý. Vì vậy,
việc tu học, cuộc sống của người đắc đạo hoàn toàn
khác. Vì khi tu, trí tuệ phát sanh, thấy vật không phải như
hiện tượng thật ở thế gian. Giống như nhà khoa học nhìn
vật qua quang tuyến thấy khác hẳn.
Bồ
tát tu giới định phát huệ, thấy sự vật không giống người
thường thấy. Giai đoạn đầu, các Ngài cũng như mọi người.
Nhưng trải qua quá trình tu, Bồ tát nâng trình độ thấy lên
cao, thấy vật không phải là vật. Từ đó, Bồ tát sống
trên cuộc đời như ta, nhưng không giống ta. Các Ngài không
khởi lòng tham, chấp trước điên đảo, đạt được Niết
bàn.
Vật
chỉ đổi khác đối với người thấy khác. Còn hiện thực,
vật vẫn là vật, không thay đổi. Phật cho biết chúng sanh
nhìn vật theo nghiệp của họ, trong khi thật tướng không
đổi. Ví như cùng một dòng sông Hằng, nhưng ngạ quỷ thấy
đó là lửa. Chư Thiên thấy đó là dãy lưu ly, loài người
thấy là nước.
Bồ
tát lấy trí tuệ làm thân, dùng trí thân này quan sát pháp
giới, thấy được dạng chơn cảnh của nó.
Từ
suy lý ở giai đoạn ba của trí thân Bát Nhã, bước qua giai
đoạn bốn, đi sâu vào thế giới tâm linh của người tu chứng
đắc đạo. Các Ngài quan sát pháp giới thành tựu và sử
dụng được pháp một cách dễ dàng như sử dụng nhục thân.
Ðó là Pháp thân Bồ tát. Bấy giờ, Bồ tát sống với Phật
giới, không sống với hiện tượng và nhục thân. Vì vậy,
việc làm và sự thành đạt của Bồ tát cũng bất tư nghì.
Tóm
lại, thời đại của Ðức Phật là thời đại thần quyền,
Ngài sử dụng thần biến để thuyết pháp. Qua thời kỳ phát
triển, thần biến trở thành triết lý.
Và
ngày nay triết lý này phải thể nghiệm trên cuộc đời, trở
thành đời sống hiện thực tốt đẹp. Ðó là nhiệm vụ
của chúng ta ở thời đại khoa học.
Ngày
nào sự hiểu biết của chúng ta về khoa học còn mù mờ hay
còn thấp kém hơn kiến thức của xã hội ở mọi lãnh vực,
ngày đó thân phận của chúng ta giống như Xá Lợi Phất không
thể nào hiểu được, bắt kịp được việc làm của Duy
Ma.
Sau
khi nghe xong pháp bất tư nghì giải thoát, Ca Diếp cùng các
Thanh văn bật khóc. Họ tự ví như người mù, dù có đem sự
vật phô bày trước mắt cũng không thấy được.
Ðiều
này không phải diễn tả Ca Diếp và các Thanh văn khóc thật.
Các Ngài có còn đâu mà khóc. Theo tôi, ý này nhằm diễn tả
tâm trạng đau buồn của những người có tâm huyết với
sự sống còn của đạo pháp. Tâm trạng ấy được nhân cách
hóa thành tiếng khóc của Ca Diếp đối trước những người
thừa kế hư hỏng cứ mãi sống đóng khuôn trong tháp ngà,
ràng mình kỹ lưỡng bằng những giới điều không còn thích
hợp với thời đại. Họ cho rằng sống trong vỏ giới điều
và sinh hoạt với khuôn mẫu cố định là đúng và đủ. Xã
hội bên ngoài văn minh và hàng Bà La Môn phát triển thế nào,
họ cũng mặc kệ.
Kinh
ví Ca Diếp hay Thanh văn như người mù, sống bên cạnh Phật
mà không thấy lực chi phối của Ngài. Duy Ma chẳng biết ở
đâu mới xuất hiện đã phô diễn được thần lực.
Nói
cách khác, Phật giáo phát triển chỉ trích thái độ sống
đóng khuôn, ích kỷ, cố chấp của giới bảo thủ. Họ tự
nhận là đệ tử Phật, nhưng có khác gì người mù. Mù vì
không chịu phát huy trí tuệ, vì thua sút thế gian, vì sống
không ích lợi gì cho người. Ngược lại, Duy Ma hay đó là
hình ảnh của những người đã thoát ra ngoài vỏ hình thức
tôn giáo, có óc cầu tiến, hiểu biết sâu rộng, khéo ứng
dụng giáo lý làm lợi lạc cho đời. Mẫu người tiêu biểu
cho trí tuệ và đạo đức như vậy mới thể hiện đúng nghĩa
đệ tử Phật, hiểu Phật, xứng đáng thừa kế sự nghiệp
của Phật.
Ca
Diếp nói tiếp rằng tuy Ngài không biết, nhưng thấy được
bất tư nghì của Phật, Ngài chẳng còn sợ gì ai, kể cả
ma vương.
Duy
Ma khởi tâm thương hại Ca Diếp lúc nào cũng núp bóng theo
Phật mà lại sợ Thiên ma. Duy Ma cho biết sự thật Bồ tát
trụ bất tư nghì giải thoát, mới có khả năng làm Thiên
ma.
Từ
trước, Thanh văn thấy Thiên ma, ngoại đạo làm nhiễu loạn
tâm hồn người tu và bây giờ thấy lực Phật mạnh che chở
được tất cả, nên hết sợ. Riêng Duy Ma lại nói chính ma
vương là Bồ tát.
Ca
Diếp không hiểu tại sao Bồ tát lại có thể là ma. Ma đối
với Thanh văn là cái gì đáng sợ, đáng khinh nhất.
Duy
Ma trả lời rằng người tu hành không đối đầu với chông
gai khó khăn trên cuộc đời, không bao giờ đắc đạo. Chướng
duyên rất cần thiết cho người tu trên bước đường thăng
tiến quả vị giải thoát. Các Bồ tát nguyện làm chướng
ngại, biến thành ma vương phá người tu, để họ lập chí
tu hành.
Tuy
nhiên, chúng ta đừng nghĩ rằng tất cả chướng duyên hay
ma là Bồ tát thật, rất nguy hiểm. Duy Ma mới làm bạn được
với Thiên ma là những Bồ tát bất tư nghì giải thoát.
Chúng
sanh phàm phu chưa vượt khỏi tam giới, với thấy biết hạn
hẹp của “căn trần thức”, không thể phân biệt ai là
ma thật, ai là Bồ tát bất tư nghì giải thoát giả làm ma.
Khi
chưa nhận được pháp lữ hay yêu ma thật, chúng ta nên ngồi
yên trên tòa sen. Nghĩa là không khởi tâm, không tham dự, không
thọ nhận thì tốt hơn. Chúng ta nên nhớ trong thế giới Thiên
ma có Bồ tát bất tư nghì. Nhưng không phải tất cả Thiên
ma là Bồ tát bất tư nghì.
Riêng
tôi, những gì chướng ngại để tôi vượt lên tu hành, tôi
coi đó là Bồ tát bất tư nghì giải thoát tạo điều kiện
khó khăn cho tôi thăng hoa. Trái lại, ai thực sự chống phá
là ma thật, chúng ta không khoan nhượng.
Duy
Ma dạy vào được bất tư nghì giải thoát mới làm ma vương
được, chưa thâm nhập thế giới này chỉ là ma con. Duy Ma
ví sức mạnh của voi và sư tử mới đủ khả năng dày đạp
các thú khác, còn sức lừa chắc chắn không kham. Cũng vậy,
phải trụ bất tư nghì giải thoát mới làm ma vương. Người
tầm thường không đủ sức phá một vị tu hành.
Chính
Phật cho biết Ðề Bà Ðạt Ða là thầy của Ngài. Nhờ thắng
duyên ấy, Ngài mau thành đạt quả Vô thượng đẳng giác.
Mới tu chưa có ma phá. Phật ngồi Bồ đề đạo tràng mãn
49 ngày, ma vương mới xuất hiện đọ sức.
Theo
tinh thần Ðại thừa, đối tượng tu hành trở thành quan trọng.
Hành giả không sợ ma chướng. Gặp hoạn nạn ta luôn cảnh
giác, nhờ đó bảo toàn giới thân huệ mạng. Trên bước
đường tu, hành giả không gặp khó khăn, trí năng không có
cơ hội phát triển.
Bồ
tát phát sanh trí tuệ nhờ hội nhập vào đời, quán sát từng
việc một. Chứng nghiệm được hiện thực của cuộc đời,
mới trở thành bậc minh triết. Sợ sệt trốn tránh đời
dễ trở thành ngờ nghệch.
Mục
tiêu của người tu không phải xuất gia sớm để rồi không
biết gì về cuộc đời. Phải hội nhập cuộc đời, phải
nếm chịu tất cả cay đắng, mà vẫn bình ổn, mới chứng
nghiệm thế nào là giải thoát. Vì thế, kinh Pháp Hoa nói rằng
nếu phô bày tất cả việc làm của Bồ tát, thì Thanh văn
không dám theo tu nữa.
Duy
Ma đơn cử khi phát tâm Ðại thừa, đầu tiên hành giả phải
đoạn lòng tham. Lúc ấy, cái gì là đối tượng của lòng
tham đều trở thành cần thiết đối với hành giả. Nếu
cứ mãi ẩn núp dưới bóng Phật, hành giả không biết mình
có tham không. Ðầu óc quen sinh hoạt bình thường đến mức
chai lỳ, không biết gì và thành tầm thường. Ðó là con đường
tu sai pháp của Thanh văn.
Khởi
điểm, Bồ tát đoạn lòng tham, tu pháp bố thí là chính. Khi
chưa bố thí thấy người đến xin, hành giả sợ. Nhưng tiến
đến tinh thần Hoa Nghiêm, phát tâm giúp người, thấy người
đến xin thì mừng. Vì nghĩ rằng Bồ tát bất tư nghì
giải thoát đến tạo điều kiện cho chúng ta tu. Ðiển hình
như trường hợp Ca Nặc Ca là sư bị hủi tới quốc sư Ngộ
Ðạt. Ngộ Ðạt tu chín kiếp, nhưng chưa phát tâm, nên Ca
Nặc Ca phải hẹn bao giờ cần thì tìm đến Ngài. Khi Ngộ
Ðạt thọ quả báo liền nhớ tới Ca Nặc Ca, mới hồi đầu
phản tỉnh tìm đến ông. Nếu đối tượng tu hành không quá
mạnh như Ca Nặc Ca, đừng tới với tư cách nhà sư bị hủi,
chắc chắn sự việc đã diễn ra khác.
Thật
vậy, chính những sự việc hay khó khăn xảy đến bất ngờ
là thước đo tâm hồn chúng ta một cách chính xác nhất. Ca
Nặc Ca bất ngờ đến với tư cách một nhà sư xấu
xí nhất, thấp hèn nhất, mang hình dáng đáng sợ nhất làm
cho Ngộ Ðạt quên hẳn tinh thần bình đẳng của Phật. Duy
Ma đã từng nhắc Ngài xem Ðức Phật Vô Nan Thắng bằng với
người ăn mày ở thành Tỳ Da Ly.
Trên
bước đường tu, khi đối đầu một việc, ta có phản ứng,
liền có ứng thân của Bồ tát bất tư nghì giải thoát xuất
hiện theo đúng nghiệp của ta, để ta có cơ hội phá trừ
nghiệp chướng mà đắc đạo.
Nếu
khởi tâm không thanh tịnh, thì Bồ tát bất tư nghì giải
thoát hiện thân tương xứng, như khi Ngộ Ðạt rời ý niệm
bình đẳng, Ca Nặc Ca hiện thân thấp hèn đến nhắc nhở.
Muốn
là Bồ tát phải có đạo lực vững. Nếu không, hành giả
không tiến tu được khi gặp thử thách. Thí dụ đang làm
vua bị người đến soán ngôi. Cái mình yêu thích nhất bị
người đoạt mất. Lúc ấy, xem lòng mình khởi niệm thế
nào.
Xưa
kia, Phật tu hành đạo Bồ tát, Ngài giải quyết tất cả
khó khăn đúng với Bồ tát pháp, nên Ngài thành Phật. Chúng
ta đời đời ở trong sanh tử vì bị những khó khăn này nhận
chìm, không biết cách đối phó đúng như pháp.
Tiền
thân Phật từng bố thí những gì quý giá nhất của Ngài.
Người ăn mày tầm thường chính hiệu là ăn mày, thì chỉ
xin nổi bát cơm dư là quá rồi. Những người tới xin Phật,
họ làm việc khó làm. Duy Ma bảo đó là Bồ tát bất tư nghì
giải thoát hiện ra trợ duyên cho Phật, giúp Phật thể hiện
tâm thanh tịnh cao độ và làm nổi bật vai trò đạo đức
của Ngài.
Ðức
Phật thành Phật vì thành tựu thân tâm hoàn toàn trong sạch.
Bồ tát tiếp cận chân lý cũng thể hiện được nhiều việc
khó làm, nhưng còn một số việc chưa hoàn tất. Các Ngài
gần Phật ở dạng bất tư nghì giải thoát, hiện làm ma vương
là quả vị cuối cùng để đưa Bồ tát lên quả vị Như
Lai.
Trên
lộ trình tiến tu đạo giải thoát, từ sơ phát tâm cho đến
quả vị Bồ tát bất tư nghì giải thoát, mỗi ngày chúng
ta chạm trán với khó khăn nhiều hơn. Nhưng càng đối
đầu với chông gai hung ác, chúng ta càng tỉnh táo hơn, thấy
rõ đáp số chính xác cho mỗi vấn đề, cũng như thân tâm
càng thăng hoa giải thoát theo Phật sự, thực hiện đúng sáu
pháp ba la mật. Ðiều đó chứng tỏ chúng ta đang bước đúng
trên con đường chánh pháp, công việc sẽ thành dễ dàng.
Chúng
ta cố gắng mở rộng tầm nhìn, phát huy trí tuệ và đạo
đức, sẽ bắt gặp chư Phật, Bồ tát theo từng nấc thang
một trong con người đi lên của chúng ta.
Ðiểm
chính yếu cần ghi nhớ rằng chúng ta chỉ vượt qua mọi chướng
ngại dễ dàng với điều kiện thân tâm phải hoàn toàn thanh
tịnh giải thoát. Ðạt được trạng thái tâm chứng này,
mới dẫn đến tòa sư tử của Bồ tát bất tư nghì giải
thoát.
Ngược
lại, mang chướng ngại vào tâm theo mỗi việc Phật sự là
hành tà đạo và đang đi trên con đường ngắn nhất dẫn
đến địa ngục trần gian.