PHẨM
7
QUÁN
CHÚNG SANH
I.
LƯỢC VĂN KINH
Ngài
Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật rằng : “Bồ tát quán sát
chúng sanh như thế nào ?”.
Duy
Ma Cật đáp : “Ví như nhà huyễn thuật thấy người huyễn
của mình hóa ra, Bồ tát quán chúng sanh cũng như thế. Như
người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong gương,
như ánh nắng dợn, như mây giữa hư không, như bọt nước,
như cây chuối bền chắc, như đại thứ năm, như ấm thứ
sáu, như căn thứ bảy, như tam độc của A la hán, như tham
giận phá giới của Bồ tát chứng vô sanh nhẫn, như tập
khí phiền não của Phật, như người mù thấy sắc tướng
v.v... Bồ tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó”.
Ngài
Văn Thù hỏi : “Nếu Bồ tát quán sát như thế phải thực
hành lòng từ thế nào ?”.
Duy
Ma Cật đáp : “Bồ tát quán sát như thế rồi tự nghĩ
rằng ta phải vì chúng sanh nói pháp như trên. Ðó là lòng
từ chân thật. Thật hành lòng từ tịch diệt bởi vì không
sanh. Thật hành lòng từ không nóng bức, bởi không có phiền
não. Thật hành lòng từ bình đẳng, bởi ba đời như nhau.
Thật hành lòng từ A la hán vì phá các giặc kiết sử. Thật
hành lòng từ Bồ tát vì an vui chúng sanh. Thật hành lòng từ
Như Lai vì được tướng như như. Thật hành lòng từ của
Phật vì giác ngộ chúng sanh. Thật hành lòng từ không có
chi sánh bằng vì đoạn các ái kiến. Thật hành lòng từ không
nhàm mỏi, quán KHÔNG, vô ngã. Thật hành lòng từ pháp thí,
lòng từ trì giới, lòng từ nhẫn nhục, lòng từ tinh tấn,
lòng từ Thiền định, lòng từ trí tuệ v.v... Lòng từ của
Bồ tát là như thế đó”.
Ngài
Văn Thù Sư Lợi hỏi sao gọi là lòng bi ?
Duy
Ma đáp : Bồ tát làm công đức gì cốt để cho chúng sanh.
- Sao
gọi là lòng hỷ ?
- Có
lợi ích đều hoan hỷ, không hối hận.
- Sao
gọi là lòng xả ?
- Những
phước báo đã làm không có hy vọng quả báo cho riêng mình.
Ngài
Văn Thù Sư Lợi hỏi : “Sự sanh tử đáng sợ, Bồ tát nên
nương vào đâu ?”.
Duy
Ma đáp : “Bồ tát nên nương vào công đức lực của Như
Lai”.
- Bồ
tát muốn nương vào công đức lực của Như Lai, nên trụ
vào đâu ?
- Nên
trụ ở việc độ thoát tất cả chúng sanh.
- Muốn
độ chúng sanh, nên trừ bỏ những gì ?
- Nên
trừ bỏ những phiền não của mình v.v...
- Pháp
thiện và pháp bất thiện lấy gì làm gốc ?
- Cái
thân là gốc.
- Thân
lấy gì làm gốc ?
- Tham
dục là gốc.
- Tham
dục lấy gì làm gốc ?
- Phân
biệt quấy bậy là gốc, tư tưởng điên đảo là gốc, không
có chỗ trụ là gốc. Văn Thù Sư Lợi, do nơi gốc không có
chỗ trụ, người ta tạo ra tất cả pháp !”
Lúc
ấy, trong nhà Duy Ma có một Thiên nữ thấy các vị Trời,
người đến nghe pháp, liền hiện thân ra tung rải hoa trời
trên mình các vị Bồ tát và Thanh văn. Khi hoa đến mình các
vị Bồ tát đều rơi hết, đến các vị Thanh văn đều dính
lại. Các Ngài dùng thần lực phủi hoa, mà hoa cũng không rớt.
Lúc
ấy Thiên nữ hỏi Xá Lợi Phất tại sao phải phủi hoa. Xá
Lợi Phất đáp vì hoa này không như pháp, nên Ngài phủi.
Thiên
nữ nói : Chớ bảo hoa này không như pháp, vì hoa này không
có phân biệt. Tự Ngài phân biệt mà thôi. Nếu người xuất
gia ở trong Phật pháp có phân biệt là không như pháp. Nếu
không phân biệt là như pháp. Hãy xem các vị Bồ tát có dính
hoa đâu ? Vì đã đoạn hết tưởng phân biệt v.v... Do tập
khí kiết sử chưa dứt nên hoa mới dính nơi thân. Còn người
kiết tập hết rồi, hoa không dính được.
Xá
Lợi Phất hỏi : Thiên nữ ở nhà này đã được bao lâu ?
- Tôi
ở nhà này cũng như Ngài được giải thoát.
- Ở
đây đã lâu vậy sao ?
- Ngài
giải thoát cũng lâu lắm sao ?
Xá
Lợi Phất lặng thinh không đáp.
Thiên
nữ nói : Tại sao vị trí tuệ bậc nhất lại im lặng ?
- Giải
thoát không có ngôn thuyết, nên ta không biết nói làm sao.
Thiên
nữ nói : “Ngôn thuyết, văn tự đều là tướng giải thoát.
Vì giải thoát không có ở trong, không ở ngoài, không ở hai
bên. Văn tự cũng vậy. Thế nên, Ngài Xá Lợi Phất chớ nên
rời văn tự mà nói giải thoát, vì tất cả pháp là tướng
giải thoát”.
Xá
Lợi Phất hỏi : Không cần ly dâm, nộ, si được giải thoát
sao ?
Thiên
nữ đáp : Phật vì kẻ tăng thượng mạn nói ly dâm, nộ,
si là giải thoát. Nếu với kẻ không tăng thượng mạn thì
Phật nói tánh của dâm, nộ, si là giải thoát.
Xá
Lợi Phất nói : “Hay thay Thiên nữ, nàng chứng cái gì mà
biện tài như thế ?”
Thiên
nữ đáp : “Tôi không được, không chứng mới được biện
tài như thế. Nếu có được, có chứng thì ở trong Phật
pháp là kẻ tăng thượng mạn”.
Xá
Lợi Phất hỏi : “Ở trong ba thừa, nàng cầu thừa nào ?”
Thiên
nữ nói : “Cần pháp Thanh văn để hóa độ chúng sanh, tôi
làm Thanh văn. Cần pháp nhân duyên để hóa độ, tôi làm Bích
Chi Phật. Cần pháp đại bi để hóa độ chúng sanh, tôi làm
Ðại thừa. Thưa Xá Lợi Phất, như người vào rừng chiêm
bặc chỉ ngửi thấy mùi chiêm bặc, không có mùi hương nào
khác v.v... Thưa Ngài Xá Lợi Phất, tôi ở nhà này đã 12 năm
chưa từng nghe nói pháp Thanh văn, Bích Chi Phật. Chỉ nghe đại
từ đại bi của Bồ tát và những pháp bất khả tư nghì
của chư Phật”.
“Xá
Lợi Phất, trong nhà này thường hiện ra tám pháp chưa từng
có, khó được :
1.-
Nhà này thường dùng hào quang màu vàng ròng mà soi sáng. Chẳng
dùng ánh sáng mặt trời mặt trăng.
2.-
Khi người ta vào nhà này, chẳng bị các thứ cấu nhơ làm
rối loạn.
3.-
Nhà này thường có Ðế Thích, Phạm vương, Tứ Thiên vương,
chư Bồ tát các phương khác nhóm họp không dứt.
4.-
Nhà này là nơi thường thuyết giảng sáu pháp ba la mật.
5.-
Nhà này là nơi thường trổi nhạc bậc nhất của trời người,
vang ra vô lượng pháp âm.
6.-
Nhà này có bốn kho tàng lớn chứa đầy món báu giúp cho kẻ
nghèo. Hễ cầu liền được, không bao giờ hết.
7.
Nhà này Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Ðà, Phật A Súc v.v...
vô lượng chư Phật mười phương đều hiện đến. Khi vị
Thượng nhơn đây tưởng niệm các Ngài, các Ngài thuyết tạng
pháp bí yếu của chư Phật. Thuyết xong, các Ngài trở về.
8.-
Nhà này tất cả cung điện của chư Thiên và các Tịnh độ
của chư Phật đều hiện ở trong đây.
Thưa
Xá Lợi Phất, nhà này thường hiện ra tám pháp chưa từng
có, khó được như thế. Ai thấy được việc không thể nghĩ
bàn đó, mà lại còn ham ưa pháp Thanh văn sao ?”.
Xá
Lợi Phất nói : “Vì sao cô không chuyển thân nữ thành thân
nam ?”
Thiên
nữ đáp : “12 năm nay tôi kiếm mãi cái tướng nữ nhân không
được. Tại sao phải chuyển ?” Ví như nhà huyễn thuật
hóa ra một người nữ huyễn. Nếu có người hỏi rằng :
Sao không chuyển thân nữ đó đi. Vậy người đó hỏi có
đúng chăng ?”.
Xá
Lợi Phất đáp : “Không đúng, huyễn hóa không có tướng
nhất định. Còn phải chuyển đổi gì nữa”.
Thiên
nữ nói : “Tất cả pháp cũng như thế, không có tướng nhất
định. Tại sao lại hỏi không chuyển thân nữ ?”.
Tức
thì Thiên nữ dùng sức thần thông biến Xá Lợi Phất thành
Thiên nữ. Thiên nữ lại tự hóa mình giống Xá Lợi Phất
mà hỏi rằng : “Tại sao Ngài không chuyển thân nữ đi ?”
Xá
Lợi Phất đáp : “Ta nay không biết tại sao lại biến thành
thân đàn bà này ?”.
Thiên
nữ nói : “Thưa Xá Lợi Phất, nếu Ngài chuyển được thân
đàn bà đó, thì tất cả người nữ cũng sẽ chuyển được.
Như Xá Lợi Phất không phải người nữ mà hiện thân nữ,
thì tất cả người nữ cũng lại như thế, tuy hiện thân
nữ mà không phải người nữ. Vì thế, Phật nói tất cả
các pháp không phải đàn ông, không phải đàn bà”.
Bấy
giờ, Thiên nữ thu nhiếp thần lực, thân Xá Lợi Phất trở
lại như cũ. Thiên nữ hỏi Xá Lợi Phất : “Tướng đàn
bà bây giờ ở đâu ?”
Xá
Lợi Phất đáp : “Tướng đàn bà không ở đâu, mà ở tất
cả”.
Thiên
nữ nói : “Tất cả pháp cũng như thế, không ở đâu mà
ở tất cả”.
Xá
Lợi Phất hỏi Thiên nữ : “Nàng chết rồi sẽ sanh ở đâu
?”.
Thiên
nữ đáp : “Phật hóa sanh thế nào, tôi cũng hóa sanh thế
ấy”.
Xá
Lợi Phất nói : “Phật hóa sanh, không phải chết rồi mới
sanh”.
Thiên
nữ nói : “Chúng sanh cũng thế, không phải chết rồi mới
sanh”.
Xá
Lợi Phất hỏi Thiên nữ : “Bao lâu cô sẽ chứng được
Vô thượng chánh đẳng giác ?”.
Thiên
nữ đáp : “Khi nào Xá Lợi Phất trở lại phàm phu, tôi sẽ
được Vô thượng chánh đẳng giác”.
Xá
Lợi Phất nói : “Có khi nào ta trở lại phàm phu”.
Thiên
nữ nói : “Có khi nào tôi lại được Vô thượng chánh đẳng
giác. Vì sao ? Vì bồ đề không xứ sở, nên không có được”.
Xá
Lợi Phất nói : “Hiện nay các Phật chứng Vô thượng Bồ
đề, các Phật đã chứng, sẽ chứng nhiều như số cát sông
Hằng gọi là gì ?”
Thiên
nữ đáp : “Ðó là theo số mục văn tự ở đời mà nói
có ba đời, chớ không phải nói Bồ đề có quá khứ, vị
lai và hiện tại”.
- Thưa
Xá Lợi Phất, ông có đắc quả A la hán không ?
- Không
được mà được.
Thiên
nữ nói : “Các Phật, Bồ tát cũng như thế, không được
mà được”.
Bấy
giờ, Duy Ma Cật bảo Xá Lợi Phất : “Thiên nữ này đã từng
cúng dường 92 ức đức Phật, đã được thần thông du hý
của Bồ tát, nguyện lực đầy đủ, chứng vô sanh nhẫn,
không thối chuyển. Vì theo bổn nguyện, nên tùy ý hiện ra
để giáo hóa chúng sanh”.
II.
GIẢI THÍCH
Sau
khi Văn Thù và chúng hội xem Duy Ma phô diễn khả năng siêu
việt hay lực bất tư nghì giải thoát của đại Bồ tát,
Văn Thù hỏi Duy Ma đứng lập trường siêu việt nghĩ gì về
chúng sanh. Nghĩa là từ những điều Văn Thù thấy được
trong thế giới Bồ tát gợi cho Ngài nảy sanh nhận thức thế
giới quan Bồ tát bất tư nghì. So với thế giới quan phàm
phu, thế giới này hoàn toàn khác. Ở đây, mở ra hai loại
hình thế giới, thế giới lý tưởng và thế giới thực tế.
Bồ
tát đầy đủ thần thông, nhưng trở về thực tế sống với
chúng sanh phải giải quyết thế nào, thấy chúng sanh ra sao
? Ðó là vấn đề chuyển biến đặt ra mở đầu cho
phẩm này.
Theo
quan niệm từ trước đến nay, trên căn bản ta tu hành, thường
xem chúng sanh chướng ngăn chánh đạo. Chúng sanh thuộc sanh
tử môn và Niết bàn thuộc giải thoát môn, là hai thái cực,
hai thế giới hoàn toàn riêng biệt.
Chúng
sanh là cái gì đáng ghê sợ. Một người, ta còn sợ,
huống chi nhiều người. Hay nhìn thấy loài người còn ngán,
kể gì đến loài khác. Tất cả hàm linh đủ kiểu. Hóa độ
thế nào cho xuể.
Vì
vậy, chúng ta thường nghĩ muốn giải thoát phải từ bỏ
chúng sanh, từ bỏ sanh tử. Thuở mới tu, tôi vẫn mang tâm
niệm này. Phật tại thế, tâm niệm của Thanh văn cũng
giống như vậy, mà Ca Diếp là người tiêu biểu như chúng
ta vừa thấy trong phẩm 6.
Thanh
văn nhìn chúng sanh là đối tượng đáng sợ, thì Duy Ma khai
ngộ khác. Duy Ma trả lời Văn Thù rằng Ngài quán thấy tất
cả chúng sanh như nhà ảo thuật nhìn những vật do mình biến
hóa ra. Nghĩa là chúng sanh được coi như một cái gì lệ thuộc
Bồ tát.
Từ
chúng sanh là một cái đáng sợ, Duy Ma nâng lên một nấc,
coi nó như vật mình tự biến tạo. Vì Ngài đứng trên lập
trường quả môn hay bản thể môn nhìn xuống hiện tượng
giới. Tất cả hiện tượng đều phát xuất từ bản thể
hay nói khác do mình tạo ra. Vì mình là bản thể và chúng
sanh là hiện tượng.
Ở
lập trường tu chứng, Bồ tát thấy chúng sanh do Bồ tát bất
tư nghì giải thoát biến hóa, hay tất cả hiện tượng đều
do bản thể sanh ra. Ví như người làm ảo thuật nhìn vật
do họ biến hóa, chắc chắn họ không ưa thích hay sợ vật
giả đó.
Nói
cách khác, phàm phu ham mê vật thế gian. Thanh văn thì
sợ vật thế gian, trong khi Bồ tát bất tư nghì giải thoát
thấy vật do mình tạo ra, nên không sợ, không mê. Tuy nhiên,
khi ta còn phàm phu mà tự cho rằng chúng sanh do ta biến hóa,
là rớt vào tăng thượng mạn.
Chúng
sanh trên dạng bản thể bất sanh, bất diệt, bất biến. Nếu
đứng ở lập trường này, ta là người bất tử, thì ta thấy
chúng sanh là những hiện tượng xảy ra nhất thời. Quá khứ,
hiện tại, vị lai tiếp nối nhau sanh và chết, không có gì
vĩnh cửu. Tuy nó sanh diệt, nhưng không rời bản thể.
Chúng
sanh từ nghiệp hay vô minh sanh nên cái thấy đổi khác. Hiện
tượng vốn sanh diệt, luôn luôn thay đổi. Ta lại mang thêm
cặp kính nghiệp để thấy khác nữa, là tạo thêm một tầng
sai biệt. Thiền sư diễn tả cái thấy biết lệch lạc
của chúng sanh bằng câu “Ðừng tìm tri thức trong mộng”.
Con
người trong một thời gian nhất định của mạng sống hạn
hẹp nằm trong thời gian vô tận, giống như một giấc mơ
nằm trong khoảng ngắn của cuộc đời. Ta lạc vào một cơn
mộng xa rời bản thể để có hiện tượng giới. Con người
trên hiện tượng so với con người bản thể chẳng khác nào
con người nằm mộng trong giấc mộng của con người. Nếu
so với mạng sống bất tử của Bồ tát, thì mạng của ta
trên sanh diệt, quả là cách nhau quá xa.
Cái
thấy của chúng sanh sai khác, biến đổi liên tục tùy theo
hành nghiệp. Và hành nghiệp phát xuất từ vô minh. Duy Ma ví
cái thấy này như người lữ hành thấy nước trong sa mạc
có thật.
Theo
Phật, nhân duyên hòa hợp tạo thành tất cả. Từ sa
mạc biến thành nước, từ nước biến thành hư không, v.v...
Nếu ta biết phát huy và vận dụng năng lực, sẽ có nước.
Trên mặt bản thể, nước và sa mạc không khác. Còn trên
hiện tượng, tùy theo nghiệp thấy hoàn toàn khác.
Duy
Ma bảo Ngài thấy chúng sanh như cái lõi của cây chuối, nghĩa
là do tu chứng thấy cái thật trên cuộc đời. Bồ tát thấy
chúng sanh khác hơn chúng sanh thấy chúng sanh.
Một
chúng sanh nhìn chúng sanh dưới mọi dạng thức khác nhau, rồi
khởi niệm vui buồn giận khổ. Cuối cùng các pháp tương
đối này ràng buộc họ, không còn lối thoát, rơi vào cùng
tột khổ đau.
Rõ
ràng đối với chúng sanh, thương hay ghét đều làm họ khổ.
Nói chung, mọi suy nghĩ dẫn đến quả khổ là phương cách
chúng sanh quán sát chúng sanh qua lăng kính thiện nghiệp và
ác nghiệp, thấy có người dễ thương và không dễ thương.
Hàng
nhị thừa trụ pháp KHÔNG, không thương không ghét, tâm dửng
dưng trước sự vật, chỉ lo tu, nên thấy chúng sanh không
có. Hai cái thấy của phàm phu và Thanh văn là hai thái
cực Chân đế và Tục đế.
Thanh
văn đứng ở lập trường Chân đế, ly trần nên trần ai
không dính vô. Chúng sanh ở Tục đế hiệp trần, bị trần
làm ô nhiễm.
Bồ
tát tu hành phát xuất từ Tục đế, tiến đến Chân đế
và từ Chân đế trở về Trung đế của Bồ tát, đạt được
đệ nhất nghĩa đế.
Bồ
tát khởi đầu tu, thấy chúng sanh y như chúng sanh thấy. Giai
đoạn hai, Bồ tát thấy chúng sanh như Thanh văn thấy không
có gì. Sau đó, nảy sanh cái thấy thứ ba, thấy chúng sanh
theo Bồ tát. Bỏ hai cái thấy trước cũng không có Trung đế.
Bồ tát thấy chúng sanh như không có, vì an trụ pháp KHÔNG.
Tại
sao chúng sanh không thật có ? Dưới kiến giải của Bồ tát,
trước khi sanh, chúng ta không có, gọi là KHÔNG. Nhưng hiện
hữu ở cuộc đời, chúng ta cũng không tồn tại vĩnh viễn
mà thay đổi từng giờ từng phút. Cuối cùng trả hơi thở
cho gió, ta không còn gì. Trước KHÔNG, sau KHÔNG, niệm giữa
không dừng, nên toàn bộ đều KHÔNG.
Trước
mắt Bồ tát, tuy vô số chúng sanh, nhưng không có. Vì các
chúng sanh này đều nằm dưới dạng sanh diệt, có mà không
có, hay giả có. Nói cách khác, Bồ tát thấy sự vật theo
nhân duyên, thấy tướng chân thật từ KHÔNG hiện có, từ
có trả lại KHÔNG.
Chúng
sanh không có tánh hằng hữu, nên không thể nói một người
tốt hay xấu. Họ có thể vừa tốt vừa xấu, xấu với người
này nhưng tốt với người khác.
Vì
tánh không hằng hữu nên tùy người, tùy nghiệp, nghĩa là
tùy đối tượng mà tướng chúng sanh sanh diệt, hiện ra sai
khác.
Ý
thức được điều này, khi ta bị người đối xử tệ, nếu
biết đổi tánh xấu, người sẽ tốt với ta. Ðức Phật
dạy chúng sanh không có tánh cố định, nếu cố định không
thể tu thành Phật.
Bồ
tát quán sát như vậy, không sanh tâm tham đắm. Chúng sanh hiện
hữu từ đâu và mất về đâu là cách nhìn của Bồ tát.
Bồ
tát nhìn chúng sanh trên hiện tượng hoàn toàn giả, do mình
biến hóa, tức từ bản thể khởi hiện tượng. Bồ tát truy
nguyên chỗ phát xuất và chỗ trở về, nghĩa là giải quyết
tận gốc. Vì thế, việc giáo hóa chúng sanh của Duy Ma không
giống Bồ tát sơ phát tâm.
Chúng
ta thấy người khổ, phát tâm giúp. Ngày mai lại thấy nó
khổ, giúp nữa. Giúp hoài vẫn thấy chúng sanh khổ y nguyên.
Giáo hóa chúng sanh như vậy, chẳng mấy chốc Bồ tát sẽ
thoái chuyển. Ðó là Bồ tát đứng trên hiện tượng giáo
hóa chúng sanh ở hiện tượng. Ðối với Duy Ma, làm vậy
không ích lợi gì.
Chúng
ta mới phát tâm nhiệt tình lắm. Nhưng trải qua một thời
gian hành đạo, cảm thấy ngán, không muốn làm gì. Chúng ta
ngồi yên suy tư lời Phật dạy, bỗng giáo lý bừng sáng trong
tâm. Theo cái thấy mới phát hiện từ bản tâm thanh tịnh
này mà tu hành, chúng ta nhận được những kết quả ngoài
suy luận bình thường. Nhận ra những việc làm tính toán trước
kia của chúng ta hoàn toàn vô ích, khổ công nhiều nhưng chẳng
được bao nhiêu. Thiết nghĩ chúng ta học nhiều, tu đủ thứ,
nhưng dùng được pháp nào là việc quan trọng. Và nhất là
phải quán sát thấy được chỗ khởi tu của mình, mới đi
lần vào thế giới Phật được.
Từ
giả có của hiện tượng, Bồ tát thấy chúng sanh bên ngoài
là KHÔNG. Tiến lên một nấc, Bồ tát quán sát bên trong thấy
tồn tại của con người mang tính di truyền tiếp nối từ
đời này sang đời khác, gọi là sinh mệnh tương tục. Thân
con người chết xác này sanh thân khác, nhưng vẫn tồn tại
cái hằng hữu bên trong. Tồn tại của hằng hữu này ở đâu
? Chỉ có mắt huệ nhìn thấy được, như Thiền sư Nhật
Bản diễn tả :
Bốn mùa hoa đều nở
Chẻ cây hoa ở đâu
Bồ
tát chứng được cái hằng hữu là chơn tánh nằm ngoài khả
năng vói tới của ngoại đạo, Thiên ma. Phật dạy chơn tánh
này khi chúng ta còn là phàm phu, nó không nhỏ và lúc chúng
ta thành Phật nó cũng không lớn. Bồ tát thấy được chơn
tánh bất sanh bất diệt và sống với chơn tánh hình thành
thế giới Cực Lạc.
Dưới
dạng thật tánh, Bồ tát thấy Phật, chúng sanh và Ngài, cả
ba không hề khác nhau, Ngài không giáo hóa mà thật giáo hóa.
Trên
dòng sanh diệt từ quá khứ dẫn đến hiện tại và lũy kiếp
trong tương lai, tâm chúng sanh và Bồ tát luôn tương ưng để
tồn tại dưới dạng quyến thuộc. Ở lập trường tứ đại
ngũ uẩn, thì có muôn ngàn sai khác, chúng muốn làm gì cũng
được. Ngược lại, ở lập trường thật tánh thì Phật,
chúng sanh và Bồ tát không có một niệm xa rời. Chính vì
vậy, Bồ tát thấy chúng sanh không có, nhưng vẫn không từ
bỏ tâm đại bi.
Theo
Duy Ma, chúng ta không nắm bắt được chân lý, mà cứ phân
biệt trên sanh diệt là cái không có, chẳng ích lợi gì. Vì
vậy, Duy Ma nói với Văn Thù rằng Bồ tát quán chúng sanh như
lõi cây chuối. Cây chuối làm
gì có lõi. Lột hết bẹ là hết. Chúng sanh sanh diệt nằm
trong ngũ uẩn thân cũng vậy, mất thân ngũ uẩn là hết.
Từ
lập trường Bồ tát của Duy Ma nhìn về chúng sanh, hay cao
hơn từ lập trường Phật của Thiên nữ nhìn về chúng sanh,
thì xuất gia hay tại gia đều là chúng sanh sanh diệt, không
có gì đáng quan tâm.
Ðiều
đáng quan tâm là người tạo ra hình chúng sanh, tức là nghiệp.
Biết được nghiệp tạo hình, chúng ta chuyển từ gốc nghiệp
này. Không nặn hình chúng sanh, thì làm gì có chúng sanh.
Chúng
ta thường rớt vào sai lầm, tu thật cực khổ, nhưng không
diệt nghiệp, cũng kể như vô ích. Bồ tát quán chúng sanh
như cây chuối lột hết bẹ không còn, nghĩa là không thật
hữu.
Bồ
tát cũng quán chúng sanh như giấc mơ, tức thay đổi,
không có thật. Thân này có được do ý thức sanh ra, do phân
biệt hiểu biết con người tạo ra ngũ ấm. Ý thức có, thì
vật hiện hữu. Ý thức không, thì vật cũng không.
Bồ
tát quán chúng sanh như nước trong sa mạc không thật, chúng
sanh do khát ái và vô minh sanh ra. Tuy quan sát chúng sanh không
thật có, do nghiệp mà thành, Bồ tát vẫn giáo hóa chúng sanh
bằng cách tự hóa giải nghiệp của mình cho sạch. Khi nào
nghiệp của Bồ tát hoàn toàn tiêu, thì chúng sanh trong sa mạc
sanh tử cũng không còn.
Ngoài
ra, Duy Ma xác định Ngài thấy chúng sanh như Ðại thứ năm,
như Thức thứ bảy, như Nhập thứ 13, như Giới thứ 19, v.v...
Trong khi Phật dạy chúng ta tu chỉ có 4 đại, 6 thức, 12 nhập,
18 giới. Chỗ này không khéo, ta dễ hiểu lầm là không có.
Ðại
thứ năm, Thức thứ bảy, Nhập thứ 13, Giới thứ 19, ý muốn
chỉ những cái nằm ngoài phương tiện của chúng ta, nằm
ngoài sự nhận thức của con người nên gọi là bất tư nghì.
Sự
thực của nó chúng ta không thấy hay không diễn tả được
mà kinh Pháp Hoa nói tất cả pháp tướng thường tự vắng
lặng. Cái vắng lặng này được Duy Ma diễn tả bằng những
gì nằm ngoài pháp Phật đã dạy là Ðại thứ năm, Thức
thứ bảy v.v... Những cái không có trên cuộc đời, nhưng
là sự thật.
Những
pháp vắng lặng này được Duy Ma gợi lên, để chúng ta có
khái niệm về sự tu hành của Bồ tát. Cái chúng ta thấy
không có là cái thấy có của Bồ tát, một việc làm vượt
hiểu biết phàm phu. Vì vậy, Bồ tát hành đạo không giống
chúng sanh hành đạo. Kinh Pháp Hoa diễn tả sự sai biệt này
bằng câu “Bất như tam giới kiến ư tam giới”.
Thanh
văn an trú pháp KHÔNG nghe pháp bất tư nghì giải thoát
của Bồ tát là KHÔNG, dễ hiểu lầm giống pháp KHÔNG của
họ. Văn Thù hỏi Duy Ma về pháp KHÔNG của Bồ tát. Hai thượng
thủ này vấn đáp với nhau nhằm mục tiêu khai ngộ cho mọi
người tu hành.
Pháp
KHÔNG của Thanh văn tu, không làm và không để tâm việc làm
của thế gian, không dính líu cuộc đời, xem cuộc đời là
không có. Duy Ma nâng pháp KHÔNG của Thanh văn lên một nấc,
KHÔNG nằm ngoài CÓ, không phải CÓ và KHÔNG đối lập nhau.
Tuy nằm ngoài mà bao bọc vạn vật nên vận dụng được vạn
vật theo ý của Bồ tát.
Văn
Thù đọc được tâm niệm của Thanh văn liền hỏi Duy Ma thêm
: Nếu thấy tất cả vật trên cuộc đời hoàn KHÔNG
thì các Ngài hành Bồ tát đạo làm gì ? Tu rồi cũng chết,
sao lại tu ? Và việc làm của Bồ tát có giống công tác của
dã tràng xe cát cho sóng lên cuốn trôi hết hay không ?
Thanh
văn nhìn việc hành đạo của Bồ tát là công dã tràng, là
người trong sanh tử độ người sanh tử. Trên bước đường
tu, ta không hiểu lý này dễ rớt thành công dã tràng, tu nhiều
không có công đức sanh ra chán nản.
Bồ
tát ở lập trường bất tư nghì hành đạo, nhìn chúng sanh
khác, nên việc làm cũng khác. Vấn đề có lợi ích và không
lợi ích được đặt ra. Nếu thấy cứu chúng sanh rồi chúng
sanh cũng chết, thì đừng cứu.
Từ
gợi ý này, Duy Ma giảng dạy cho chúng ta thấy vấn đề cứu
vớt chúng sanh của Bồ tát, của Phật, để chúng ta tùy hỷ
việc làm của các Ngài.
Cùng
một việc giúp đỡ, nhưng người được trả ơn, còn ta bị
trả oán. Theo Duy Ma muốn thấy vấn đề, phải đứng ở lập
trường giải thoát hay quả môn mới thấy. Còn ở lập trường
chúng sanh mà tu pháp Bồ tát, chỉ là nhà từ thiện xã hội,
không phải Bồ tát thật.
Bồ
tát đứng trên lập trường KHÔNG mà giáo hóa, không phải
ở lập trường HỮU giáo hóa. Vì ở lập trường hữu, chúng
sanh giáo hóa chúng sanh, không thể giải thoát. Ta là người,
họ cũng là người. Ta giúp họ, cuối cùng họ chết và ta
cũng chết. Nghĩa là tu hành giáo hóa trong sanh tử, không khác
gì tu trong mộng, chẳng đắc đạo bao giờ.
Trên
cuộc đời, chúng ta làm gì cũng rớt qua chỗ mộng. Vì chúng
ta không nằm trong quỹ đạo của Bồ tát, nên việc làm của
chúng ta hoàn toàn khác.
Chúng
sanh ở dạng không sanh diệt mới thật là đối tượng của
Bồ tát giáo hóa. Duy Ma gợi ý này cho Thanh văn phát tâm.
Thông
thường, phải có vật ta mới điều chỉnh vật theo ý muốn.
Hay phải có đối tượng mới vận dụng đối tượng này
để giáo hóa.
Ta
nhìn thấy chúng sanh là thật, ta mới giáo hóa được. Nhưng
Phật lại dạy mọi vật trên thế gian đều KHÔNG. Nếu chúng
sanh không thật, mà ta phải giáo hóa, thì việc làm này đi
về đâu ? Ðó là vấn đề Thanh văn không giải quyết được.
Giáo
hóa thì phải thấy thật và nếu thấy thật lại rớt qua
thật hữu của chúng sanh phàm phu. Và lâu ngày bị tham sân
phiền não chi phối, chắc chắn lọt vào trần ai. Ðó là điều
mà Thanh văn ghê sợ.
Còn
nói KHÔNG thì cần gì làm. Ở điểm này, Duy Ma dạy đạt
đến quả vị A la hán phát tâm bồ đề, mới thấy được
thật hữu. Kinh Pháp Hoa gọi là ra khỏi nhà lửa, đến khoảng
đất trống, tức chơn không, KHÔNG này là thực tướng các
pháp. Nếu KHÔNG suông, không có gì là NGOAN KHÔNG hay giả danh
A la hán. Ðạt đến chơn không, chúng sanh sẽ hiện ra khác
với chúng sanh lúc ta mới tu.
Cái
thấy của người đắc đạo được diễn tả bằng hình ảnh
trước khi tu thấy núi là núi, sông là sông. Ðắc đạo rồi,
thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông. Cái thấy sau cùng
núi vẫn là núi, sông vẫn là sông nằm bên kia tri thức phàm
phu.
Vì
vậy, đắc A la hán nhìn thấy chúng sanh ở dạng khác, không
thể thấy theo mắt thường. Lúc ấy, chúng sanh không
có cảm giác bị giáo hóa hay bị chi phối, mới thật là giáo
hóa.
Như
khi còn là thái tử Sĩ Ðạt Ta, chưa thành đạo, Phật sống
chung với năm anh em Kiều Trần Như cũng không hòa được với
họ. Nhưng khi thành đạo nghĩa là đứng trên lập trường
bất tư nghì giải thoát, Ngài đến với họ. Tự nhiên họ
kính phục, đảnh lễ Phật dù Ngài chưa nói một lời nào
và thỉnh Phật thuyết pháp. Sau đó, Ngài độ Xá Lợi
Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp v.v... Và sự giáo hóa của
Phật lan rộng nhẹ nhàng cả xứ Ấn Ðộ.
Qua
hiện tượng lịch sử này, tu sĩ Phật giáo phát triển nhận
chân được lực giáo hóa của Phật ở dạng bản thể. Họ
đã vận dụng ý này để phê phán sự tranh chấp hơn thua
giữa Thượng tọa bộ và Ðại chúng bộ là sai lầm.
Ðắc
đạo và chưa đắc đạo cũng là một con người, không phải
người khác. Nhưng Thanh văn nghĩ rằng Phật đắc đạo thành
con người khác là sai. Chúng ta ở trong sanh tử nghĩ Phật
là con người, cũng sai.
Ở
đây muốn diễn tả người sanh tử không giáo hóa được
người sanh tử. Hay nói khác, muốn giáo hóa chúng sanh sanh
tử phải đứng trên bản thể, nhìn sự vật đúng hoàn toàn.
Từ đó trở lại thực tế mượn nhân vật Duy Ma là người
sống đã đạt đến trạng thái giải thoát của người không
sanh tử giáo hóa được mọi người ở thành Tỳ Da Ly, để
diễn tả ý này.
Và
xa hơn nữa, Duy Ma không cần mặc áo Sa môn cho người theo.
Vì khoác chiếc áo tu để người nghe theo, chẳng khác gì lừa
dối người và tự lừa dối mình.
Duy
Ma dưới lớp áo cư sĩ, nhưng chứng ngộ giải thoát, được
mọi người quy phục kính ngưỡng. Ngài là nhân vật mà Phật
giáo phát triển đưa ra nhằm phá bỏ ý tưởng chấp chặt
hình thức.
Tư
tưởng mới đưa ra hình ảnh cư sĩ nói pháp giáo hóa hơn
chư Tăng, còn được đẩy mạnh xa hơn nữa bằng cách mượn
hình ảnh Thiên nữ hiện thân trong nhà Duy Ma rải hoa trời
trên mình các vị Bồ tát và Thanh văn.
Theo
quan niệm của Ấn Ðộ thời bấy giờ, người nữ không làm
được gì. Trong kinh Pháp Hoa, Xá Lợi Phất nói rõ người
nữ có năm điều chướng không thể thành Phật.
Dưới
kiến giải của Phật giáo phát triển, chẳng những cư sĩ
mà cả người nữ đều có những cái phi thường, nếu họ
chứng được bản thể, nắm được quy luật, điều động
được sự vật. Trên hiện tượng sanh diệt, thì thân tướng
có muôn ngàn sai khác; nhưng ở dạng bản thể, tất cả các
pháp đồng nhau không khác. Ai nắm được quy luật, người
đó thành chủ tể.
Ý
niệm Thiên nữ có thần thông biến hóa không lường, bằng
với Phật, qua câu nói của Thiên nữ “Phật sanh sao, tôi
sanh vậy”, nhằm phá hủy tâm phân biệt giữa xuất gia và
tại gia, Chơn đế và Tục đế, tướng nam và tướng nữ.
Ý
niệm Thiên nữ bằng với Phật trong kinh Duy Ma, được triển
khai thành Long nữ trong kinh Pháp Hoa. Long nữ thành Phật trong
chớp mắt hay hình ảnh Ðức Quan AÂm thể hiện lòng từ bi
đối với chúng sanh dưới 33 thị hiện thân, trong đó có
thị hiện thân người nữ.
Văn
Thù hỏi Duy Ma sanh tử đáng sợ, Bồ tát nương vào đâu để
hành Bồ tát đạo, nương gì để tu hành ? Ðó chính
là vấn đề quan trọng đối với chúng ta.
Trên
bước đường tu, có những lúc tôi cảm thấy chới với,
rơi vào hố thẳm của nhận thức, cố tìm Phật nhưng không
thấy Phật ở đâu. Thiệt là khổ !
Người
thực tu thường gặp tâm trạng này. Tu bằng tất cả tâm
huyết, nhưng khó thấy đạo. Ðến đâu cũng thấy toàn sanh
tử, không thấy Phật. Phật Thích Ca cũng sanh tử. Các vị
danh Tăng tiền bối hiện diện rồi cũng tịch. Và chính bản
thân ta cũng đang đi lần đến cái chết. Không biết tìm cái
bất tử ở đâu. Tuổi đời càng lớn, chúng ta càng bước
gần đến nấm mồ, mà vẫn chưa tìm thấy được chỗ nương
bền chắc. Ðó là nỗi khổ tâm lớn, là niềm lo sợ kinh
khủng của người tu. Người không tu mặc cho dòng đời trôi,
có gì để nói.
Riêng
tôi, có lúc muốn tìm hóc đá nào tu để ra khỏi sanh tử.
Vì Phật cứ chập chờn trước mắt, khi hiện có, khi biến
mất, như ảo giác.
Tâm
trạng này của chúng ta được Duy Ma giải tỏa bằng câu nương
công đức lực Như Lai thì thoát ly sanh tử. Tuy nhiên, nó lại
đưa ra cho chúng ta thêm một vấn đề khó : Như Lai lực là
gì, tìm Như Lai lực ở đâu để nương ?
Duy
Ma cho biết tìm Như Lai lực trong chúng sanh hay lấy độ thoát
chúng sanh làm chỗ nương. Nương Như Lai lực là trở về hiện
hữu của TA và của tất cả mọi người trên cuộc đời.
Hiện hữu của TA trên cuộc đời là Như Lai, bỏ cái này
tìm cái khác không có.
Câu
trả lời của Duy Ma “Hiện hữu của TA trên cuộc đời là
Như Lai” là câu nói của tư cách Bồ tát đã thành Vô thượng
đẳng giác thương nhân gian sanh lại, nói chuyện với người
trí tuệ tuyệt luân.
Riêng
chúng ta chưa vượt khỏi Nhà lửa tam giới, thì hiện hữu
này vẫn là sanh tử đáng sợ !
Duy
Ma cho biết có độ thoát chúng sanh mới thấy được Như Lai
lực, vì Như Lai là độ thoát chúng sanh. Tuy nhiên, thực tế
vào đời độ chúng sanh không đơn giản. Làm sao độ được
chúng sanh để thấy Như Lai lực ?
Kinh
Kim Cang dạy người thấy Như Lai qua 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp
là người tà đạo, không bao giờ thấy Như Lai. Cái khó ở
chỗ Như Lai không nằm trong 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp, nhưng
lìa tướng tốt này cũng không có Như Lai. Bỏ một để tìm
một, không được. Con người đầy đủ phước đức trí
tuệ bên trong mới hiện thân tướng giải thoát trang nghiêm
bên ngoài. Nhưng chấp bên ngoài là thật thì Phật không cho.
Vì bên ngoài Chuyển luân Thánh vương cũng có 32 tướng tốt
80 vẻ đẹp.
Như
vậy bên ngoài đồng nhau, nhưng bên trong còn hàm chứa khác
biệt. Thân và tâm chúng ta không phải là một, nhưng cũng
không phải là hai cái khác nhau. Thân tâm kết hợp với nhau
để thành một hữu tình.
Thanh
văn nghĩ làm sao để độ thoát chúng sanh. Duy Ma trả lời
muốn độ thoát chúng sanh, phải độ mình. Nghĩa là phải
trở lại pháp tu ban đầu của Tiểu thừa. Chưa độ mình,
nghĩ độ người, là hư vọng. Pháp căn bản chưa xong, mà
đòi pháp vô thượng, làm sao có.
Duy
Ma dạy hành giả không có cách nào khác hơn là phải trở
lại khởi đầu, diệt tận gốc tham sân phiền não. Nhờ đoạn
sạch tham sân phiền não, hành giả hiện tướng giải thoát
hay tướng tịch diệt. Tướng tịch diệt này vô hình trung
đã giáo hóa chúng sanh.
Tinh
thần kinh Duy Ma nêu lên quá trình tu hành tất yếu phải như
vậy. Duy Ma tiêu biểu cho tịch diệt tướng. Khi hành giả
muốn độ chúng sanh, tức khởi niệm tham, nên không độ được.
Dẹp tận gốc tâm tham, cho đến ý thức độ chúng sanh cũng
không có. Ðạt được tâm chứng này, ý thức sai lầm không
còn khả năng làm phiền hành giả. Hành giả trở về bản
tâm thanh tịnh, bình ổn thực sự.
Bản
tâm thanh tịnh là Như Lai, khởi tâm sanh diệt là chúng sanh.
Trở về bản tâm thanh tịnh mới tiếp nhận được lực Như
Lai và giáo hóa chúng sanh dưới dạng Như Lai giáo hóa.
Những
người sắp giải thoát, nghe được ý này, liền giải thoát.
Còn vướng mắc ngữ ngôn văn tự, cứ tiếp tục sống trong
sanh diệt. Từ ý này cổ nhân có nói : “Chúng ta sanh diệt
trong pháp Như Lai và Như Lai xuất hiện trong sanh diệt của
chúng ta”.
Như
Lai xuất hiện trong thân chúng sanh dưới dạng sanh diệt. Nếu
quan sát bằng lăng kính Như Lai tạng tâm hay bản thể sự
vật thấy chúng ta đang sanh sanh hóa hóa gọi là sanh diệt
trong pháp Như Lai. Cảm nhận được ý này, nương được Như
Lai lực, tôi hết sợ.
Tuy
chúng sanh ở trong sanh tử, Bồ tát phải đứng lên lập trường
không sanh tử, tức bản thể của sự vật, để giáo hóa
họ. Vì vậy, ta thấy Bồ tát không làm gì, nhưng thật vẫn
hành động trên bản thể. Nếu đạt đến pháp KHÔNG, vô
tác, vô nguyện và từ bản thể phát tâm bồ đề, thấy chúng
sanh dưới dạng bản thể, không phải thấy trên dạng hiện
tượng. Ðó là giáo hóa dưới dạng bản thể.
Chúng
sanh nhờ có bản thể hay Phật tánh, thấy Bồ tát trụ ở
bản thể, thì Phật tánh họ bừng lên được, phá phiền
não nhiễm ô bên trong, tự giải thoát. Ví như ánh sáng bừng
lên, bóng tối tự mất. Hoặc Ngài Nhật Liên ví dụ ý này
rằng con chim trong lồng, nghe chim ngoài trời kêu, nó phá lồng
bay ra. Vì vậy, giáo hóa của Bồ tát hay Phật dưới dạng
bất tư nghì giải thoát, không giáo hóa mà giáo hóa.
Hai
vị Bồ tát thượng thủ luận bàn rốt ráo các pháp, tác
động cho chúng hội xa rời trần cấu, chứng vô sanh nhẫn.
Nghĩa là từ thế giới sanh diệt trở về thể tánh bất sanh,
thuộc bất nhị môn, vượt ngoài hiểu biết của con người.
Ở đây, tạo ra hiện tượng kỳ diệu là nhà Duy Ma nhỏ mà
chứa được vô số Thanh văn và Bồ tát. Phần này nói về
thuyết bất nhị pháp môn.
Chuyển
tiếp phần hai, đột nhiên xuất hiện một Thiên nữ thể
nghiệm thuyết bất nhị. Bấy giờ, Thiên nữ xuất hiện rải
hoa cúng dường Phật và Thánh chúng.
Trước
kia Thiên nữ ở đâu ? Chúng ta đã biết kinh Duy Ma là cốt
lõi của Thiền, diễn tả tu chứng hoàn toàn trong nội tâm,
khó thể hiện bằng lời. Kinh mượn hoạt cảnh Thiên nữ
xuất hiện để chỉ tâm Như Lai, nhắc nhở hành giả phải
dùng tâm Như Lai mà tu. Hoạt cảnh Thiên nữ tán hoa tiêu biểu
sự an lành, hồn nhiên, vui tươi của người tu, tất cả sự
vật muôn màu muôn vẻ đẹp tuyệt vời.
Ý
này được Thiền sư Nhật Bản cảm nhận rằng khi tâm yên
tĩnh, thì bầu trời hoàn toàn tươi đẹp, không có gì đẹp
trên thế gian mà hành giả không thấy, thiên đường là đây.
Nói cách khác, từ trạng thái tâm hồn thanh tịnh thực sự,
không còn chút mảy may tham sân phiền não, mới xuất hiện
cái đẹp cùng tột, chân thiện mỹ.
Kế
đến, hoạt cảnh vẽ thêm hoa rải xuống mình các Bồ tát
đều rơi xuống đất. Hoa trúng vào Thanh văn thì dính luôn.
Hoa dính vào Thanh văn vì Thanh văn còn tâm chấp trước.
Tâm
chấp trước hay tâm phân biệt tốt xấu phải trái làm ta
khổ, nó tồn tại trong ta gọi là nhị biên. Người tu Thánh
đạo cầu giải thoát, nhưng tâm còn vướng mắc, không giải
thoát.
Văn
Thù nhắc muốn giải thoát phải độ chúng sanh. Tách rời
chúng sanh, đối lập chúng sanh, vĩnh viễn không giải thoát.
Còn có chúng sanh trước mặt phá hoại, được diễn tả bằng
hình ảnh hoa không rớt. Hoa này là hoa lòng ở trong tâm, tức
những gì còn tồn tại trong lòng chúng ta, không phải hoa bên
ngoài.
Bồ
tát không còn vấn đề tồn tại vì đã giáo hóa chúng sanh
hội nhập cuộc đời, biến chúng sanh thành Bồ tát thật.
Thanh
văn tu hành, từ bỏ cuộc đời, không giận, ai làm gì mặc
ai, họ sống theo họ. Nghĩa là chúng ta còn tồn tại “cái
mặc ai” và tồn tại “cái của ta” hay tồn tại “cái
ta giải thoát” và “chúng sanh đau khổ”. Tuy bỏ hết phiền
não cuộc đời, nhưng còn giữ lại tâm chấp trước là tâm
từ bỏ cuộc đời.
Chấp
trước này vướng mắc dữ dội trong tâm, muốn bỏ thì nó
càng dính chặt hơn nữa. Kinh diễn tả bằng hình ảnh Thanh
văn dùng thần lực phủi hoa cũng không được.
Thiên
nữ hỏi Xá Lợi Phất không lo tu, gỡ hoa làm chi ? Xá Lợi
Phất trả lời “Tôi sợ nó”. Lúc trước nó ở ngoài, nhưng
sợ riết nó dính vô áo, toàn là hoa cuộc đời bám chặt
vào. Sợ đến thâm nhập vào lòng.
Trên
bước đường tu, chúng ta thường vấp phải sai lầm này,
không đắc đạo. Ta tu giải thoát, nhưng không được giải
thoát. Người khác không tu giải thoát sao lại giải thoát
? Ðó là cánh cửa mở ra cho chúng ta thấy hai cách tu của
Bồ tát và nhị thừa khác nhau.
Bồ
tát lo thanh tịnh hóa tâm, hình thức bên ngoài tùy duyên thay
đổi. Thanh văn giữ thân tướng thanh tịnh, nhưng còn nhiều
vấn đề tồn tại trong tâm không giải quyết được. Tùy
duyên hay tùy hoàn cảnh sống, Bồ tát hành đạo đều lợi
lạc giải thoát. Nhưng cố định mô hình nào là cố chấp,
đều không giải thoát tiêu biểu bằng hoa dính. Cố công gỡ,
nó càng dính khắn vào lòng. Chúng ta buông bỏ, nó tự mất.
Quy
Sơn cảnh sách dạy : “Ðản tình bất phụ vật, vật khởi
ngại nhân” nghĩa là khi tâm chúng ta không để ý đến vật,
nó không có tác dụng đối với ta. Ngược lại, chúng ta sống
cách ly, nhưng tâm để vào trần tục, tức thì trần tục
ô nhiễm hóa chúng ta :
Ðức Di Lặc ngồi trơ bụng đá
Thây bụi đời bám đã rồi rơi
Xem trò thế sự đầy vơi
Dửng dưng như một nụ cười vô duyên.
Hoa
dính hay không, không quan trọng, quan trọng là chúng ta có vướng
bận không. Dính bên ngoài chẳng ăn thua gì, sợ nhất dính
trong tâm hồn. Bồ tát tiêu biểu tâm hồn thanh tịnh, Thanh
văn tiêu biểu hình tướng thanh tịnh.
Bồ
tát tùy duyên giáo hóa, giải thoát ngay trong cuộc đời. Bồ
tát không dính hoa, vì các Ngài không hề có quan niệm về
nó. Các Ngài thấy rõ pháp ở hai mặt : sanh diệt và bất
sanh diệt. Ở trong sanh diệt, tất yếu phải theo định luật
sanh diệt. Ở trạng thái Niết bàn phải tịch tĩnh. Ðó là
hai thế giới giữa thể và dụng.
Bồ
tát đạt vô sanh, không để tâm. Ðể tâm sẽ vướng mắc.
Hoa không dính Bồ tát, tiêu biểu cho tâm các Ngài không kẹt
việc tốt xấu trên cuộc đời.
Khởi
đầu tu, ta tránh xấu tìm tốt thì phải kẹt tốt. Hoa tiêu
biểu cho tốt. A la hán bỏ sanh tử về Niết bàn, nên kẹt
Niết bàn. Các Ngài phải gỡ thêm một lần nữa là bỏ Niết
bàn. Tuy nhiên, bỏ Niết bàn lại rớt qua sanh tử.
Ðối
với Bồ tát, Niết bàn và sanh tử là một. Tâm sanh thì sanh
tử, tâm diệt đương nhiên an trú Niết bàn. Vì vậy A la hán
còn trụ sanh diệt không phải là A la hán thật. Kinh Pháp Hoa
cho biết Niết bàn của A la hán là Niết bàn giả. Họ không
tự tạo Niết bàn được. Tuy nhiên, nhờ nương theo thanh tịnh
giải thoát của Phật, họ cũng giải thoát. Rời Phật, họ
sẽ điên đảo vọng tưởng. Ở Kỳ Viên tịnh xá gần Phật
được giải thoát. Ðến nhà Duy Ma chạm trán với mưa gió
của cuộc đời, liền rớt.
Thanh
văn sống trong pháp là Niết bàn giải thoát, nhưng rời pháp
Như Lai trở thành sanh tử liền. Từ ý này, kinh Pháp Hoa nhắc
hành giả an trú pháp Như Lai sẽ được an lành, là Niết bàn
giả, không phải Niết bàn của ta thực chứng.
Ðạt
đến quả vị Thanh văn, Phật nâng lên, tập cho ta sống xa
Phật, xem có thanh tịnh hay không. Sống xa Phật, dùng trí quan
sát các pháp xem các pháp có còn chi phối ta hay không. Ðó
là phương cách tu của Bích Chi Phật.
Khi
Thanh văn sống xa Phật để khám phá thế giới, mới thấy
khác hơn bình thường và quay ngược về giai đoạn ba, bước
theo Bồ tát làm lợi ích chúng sanh. Tuy nhiên, cần lưu ý là
phải làm theo mô hình của Phật, không phải tự làm theo ý
ta. Bồ tát này phát xuất từ Thanh văn, Duyên giác, đến Bồ
tát là Bồ tát của tam thừa.
Thiên
nữ hỏi Xá Lợi Phất tại sao Ngài phủi hoa. Xá Lợi Phất
trả lời rằng gỡ hoa vì nó không hợp pháp. Xá Lợi Phất
đứng ở tâm niệm Thanh văn mà nói hoa không hợp pháp, vì
không thích hợp với tâm niệm tu hành của Thanh văn. Ðối
với hàng Thanh văn, tất cả đồ trang sức đều phải bỏ,
chỉ sống cuộc đời khổ hạnh.
Thiên
nữ trả lời Xá Lợi Phất rằng : “Hoa vô tri, vô giác, hợp
pháp hay không là do con người. Tôi nhớ các Ngài tu hành đã
xa lìa trần cấu, thành A la hán, lìa tham sân si, rời xa thực
tế, thì sao còn thấy thực tế để gỡ bỏ. Tôi nghi ngờ
trạng thái chứng đắc của các Ngài quá !
“
Phật dạy lẽ sống của người tu là xa rời sanh tử để
trở về Niết bàn, hay từ thực tại cuộc sống mà đi sâu
vào nội giới tu chứng. Nếu quả thực các Ngài đã
đạt đến phần tâm chứng giải thoát, thì liên hệ bên ngoài
không còn. Nay tôi thấy liên hệ bên ngoài còn, là các Ngài
chưa thật chứng nội giới”.
Câu
chuyện xảy ra giữa Xá Lợi Phất và Thiên nữ không có thật.
Vì lúc kiết tập kinh Duy Ma, làm gì có Xá Lợi Phất.
Theo
tôi, việc này để diễn tả sự phát huy trí tuệ, tiêu biểu
bằng hình ảnh Xá Lợi Phất. Trên quá trình tu hành tìm chân
lý, người tu sĩ tiến bộ có những nhận thức, suy tư, hiểu
được hiện tượng thật. Và bằng trí tuệ chứng đắc,
họ lý giải lời Phật dạy, thấy được chân tinh thần bình
đẳng mà Phật đề ra.
Từ
giáo lý căn bản về bình đẳng qua lời Phật dạy “Không
có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn”,
Phật giáo Ðại thừa phân tích, ứng dụng, triển khai thành
tinh thần Tăng tục bình đẳng. Ý này nói lên trí tuệ không
hạn cuộc riêng cho giới xuất gia. Và xa hơn, mạnh hơn nữa
là tinh thần nam nữ bình đẳng, quyền năng không dành riêng
cho đàn ông.
Chúng
ta có thể nhận thấy rõ vào thời kỳ kiết tập kinh Duy Ma,
xã hội đang phát triển mạnh cùng với tân Bà La Môn giáo.
Với bối cảnh như vậy, hàng tu sĩ trí thức muốn bảo vệ
đạo pháp phải phá vỡ lớp cố chấp của tu sĩ bảo thủ
sống đóng khuôn. Họ đưa ra hai nhân vật Duy Ma và Thiên nữ
nằm ngoài Phật pháp. Hai người này lại hiểu và vận dụng
Phật pháp tuyệt luân hơn so với đệ tử Phật. Chính vì
vậy, trong thời kỳ này, Ðại chúng bộ kiết tập kinh điển,
thành lập Tăng đoàn mới gồm có cả cư sĩ cũng được tham
dự việc kiết tập.
Ðệ
tử của Phật có ba hạng : Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát.
Hàng Thanh văn ở vị trí thấp nhất, lo tự sửa mình nhiều
hơn. Chúng sanh thì tội ngập đầu, nhưng lại luôn thấy lỗi
nhỏ của người. Ngài Huệ Năng dạy nếu là bậc chân tu,
thì không thấy lỗi người. Nếu còn thấy lỗi người, biết
mình còn kém dở.
Ðối
với hạng người này, Phật dạy đừng nhìn ra chúng sanh vì
chúng sanh đa dạng có nhiều nghiệp và phiền não. Nếu không
có nghiệp và phiền não, họ đã là Phật, không là chúng
sanh.
Phật
biết những người mới phát tâm nhìn thấy nghiệp và phiền
não, sẽ dễ phiền não theo. Những điều mà người làm, ta
cảm thấy không bằng lòng. Và đem cái không bằng lòng đặt
vào lòng ta lâu ngày, nó biến thành nghiệp của ta.
Ðối
với chúng sanh có chút ít căn lành đời trước, Phật sợ
họ mất căn lành, Ngài mới nói pháp Thanh văn cho họ. Thanh
văn là đệ tử nhỏ trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, suy
nghĩ và áp dụng lời Phật dạy. Sống theo mẫu Phật sống
là sống theo pháp. Nhờ làm theo Phật lâu ngày, tất cả phiền
não trần lao, chúng sanh, chúng sanh nghiệp xa lần. Chuyện thế
gian quên càng nhiều, họ càng tiến gần đến Niết bàn. Gần
không phải là sống kế bên, nhưng sống giống Phật.
Sống
theo bên ngoài, bị phiền não chi phối. Ta còn nhiều nghiệp
mà giáo hóa người, thì chỉ giáo hóa bằng nghiệp mà thôi.
Vì vậy, Phật khuyên ta nên nghe pháp và sống với pháp. Sống
theo Phật nghe pháp, tâm trở nên bình ổn, ta bắt đầu sống
với nội tâm, không còn hướng ra ngoại cảnh gọi là hồi
quang phản chiếu.
Thanh
văn tu trên lộ trình này, đạt đến pháp KHÔNG, việc đời
không còn dính líu đến họ. Sống trong chùa lâu ngày, không
nghe chuyện phiền não thế tục, thoát ly trần cảnh. Ngày
đêm sống với pháp, với nội tâm hay Niết bàn. Niết
Bàn, sanh tử, nội tâm và ngoại cảnh, bốn trạng thái này
là một .
Thiên
nữ nhắc Xá Lợi Phất hay chúng Thanh văn rằng các Ngài ở
Niết bàn, hoa ở thế gian, làm sao gỡ nó ? Còn phải gỡ hoa
chứng
tỏ các Ngài còn ở sanh tử.
Câu
chuyện Thiên nữ có rải hoa và Thanh văn có dính hoa hay không,
chúng ta xem là hiện tượng thật cũng được, hay giả dụ
cũng tốt. Ðiều chính chúng ta cần suy nghĩ đến mục tiêu
câu chuyện ngầm chỉ một pháp gì mà Phật muốn truyền đạt,
không phải nói cho vui.
Khi
tu, Thanh văn và Bồ tát ở hai thái cực khác nhau. Thiên nữ
ngầm nhắc nhiều khi trên bước đường hành đạo, chúng
ta tưởng rằng mình giải thoát. Nhưng lúc va chạm thực tế,
mới thấy rõ tâm ta còn đầy phiền não tội lỗi.
Thanh
văn được Phật ấn chứng là A la hán cứ đinh ninh họ ở
quả vị này. Tu hành chúng ta dễ rớt vào tâm trạng này,
rất nguy hiểm. A la hán nghĩ mình là A la hán, thì không còn
là A la hán nữa, tức khởi niệm thành vọng động, đã rời
vị trí A la hán. A la hán thuộc về vô sanh, nhưng phát khởi
vọng niệm nghĩa là rời vô sanh, rớt qua sanh tử.
Khi
ngồi yên, không nghĩ gì. Trạng thái tâm của chúng ta bất
sanh. Tâm bất sanh, nên vật cũng bất sanh. Ðây là trạng thái
nội giới, một trạng thái nhiếp tâm cao độ mà 500 cỗ xe
chạy ngang cũng không biết. Khi lặn sâu vào Thiền định,
đạt vô sanh thật. Nhưng xả Thiền, không trụ trạng thái
vô sanh được nữa. Sanh này do từ tâm sanh khởi.
Xá
Lợi Phất hỏi Thiên nữ tu hành theo thừa nào ? Thiên nữ
trả lời trong ba thừa của Như Lai, Ngài không tu thừa nào.
Ðiều
này gợi cho chúng ta suy nghĩ Như Lai chỉ có tam thừa giáo,
mà Thiên nữ không tu thừa nào. Vậy Bồ tát có phải đệ
tử của Như Lai không ?
Thiên
nữ trả lời nếu đi vào rừng có gỗ chiên đàn, thì ta chỉ
nghe mùi chiên đàn thôi, không có mùi khác. Ðây là Thiên nữ
tu ở nhất thừa, không tu ở tam thừa.
Tu
ở nhất thừa nghĩa là đã lìa quan niệm của tam thừa trước,
nhưng nó dung hội được cả ba thừa. Nếu cần Thanh văn,
Thiên Nữ là Thanh văn. Cần Bích Chi Phật, Ngài là Bích Chi
Phật. Cần Bồ tát, Ngài là Bồ tát. Không cần gì, Thiên
nữ không là gì. Chính đó là quả vị giải thoát.
Vì
vậy, khi đạt quả vị Như Lai, không còn gì vướng bận Ngài.
Nhưng không có gì chúng sanh cần, mà Như Lai không đáp ứng.
Bồ tát viên thừa an trụ trạng thái chứng đắc này. Tùy
yêu cầu của chúng sanh, các Ngài thành tựu nhiều việc lợi
ích dưới mọi dạng thức, không phải bị kẹt trong mô hình
nào.
Xá
Lợi Phất hỏi Thiên nữ thần lực của Ngài thật bất tư
nghì, sao Ngài không biến thành đàn ông ? Thiên nữ trả lời
ở đây 12 năm, đã cố gắng tìm xem tướng nữ là gì và
tác dụng của nó ra sao, mà vẫn không biết. Xá Lợi Phất
mới đến, sao phân biệt thấy được rõ vậy ?
Xá
Lợi Phất hỏi Thiên nữ tại sao không chuyển thành thân nam
để tu hành cho dễ. Thiên nữ giải thích rằng không kẹt
trong tướng nữ và nam, đạt được Trung đạo đệ nhất
nghĩa, Bồ tát tùy hoàn cảnh mà hiện thân tương ưng để
hành đạo. Ở môi trường này, trong pháp hội này, Thiên nữ
đóng vai nữ để thể hiện bất nhị pháp môn một cách tuyệt
diệu, cần gì phải chuyển thành thân nam.
Vừa
nói xong, Ngài biến Xá Lợi Phất thành Thiên nữ và Ngài tự
hóa mình thành Xá Lợi Phất mà hỏi rằng : Tại sao Ngài không
chuyển thân nữ ? Xá Lợi Phất trả lời không biết tại
sao ông lại biến thành thân đàn bà. Ðiều này nhắc hành
giả trên bước đường tu thường đứng trên chân như nhìn
về sanh diệt, coi chừng lần rớt về tục đế mà không hay
biết. Ở đây diễn tả bằng hình ảnh Xá Lợi Phất biến
thành Thiên nữ và ngược lại Thiên nữ biến thành Xá Lợi
Phất.
Muốn
đoạn thân tướng trên mặt hiện tượng, hành giả phải
đoạn nghiệp. Xá Lợi Phất thành người nữ là vì Xá Lợi
Phất có nhiều phân biệt. Từ phân biệt tạo thành nhiều
nghiệp, sau cùng nghiệp của mình biến mình thành ra thân xấu
tệ. Không phải một nhân vật nào bên ngoài có khả năng
biến đổi ta.
Qua
câu chuyện của Xá Lợi Phất, chúng ta thấy sanh trên cuộc
đời, mỗi người đã có thân hình cố định. Hiện ra thân
nữ hay thân nam không quan trọng. Vấn đề chính yếu là người
nào tạo nên thân này. Thiên nữ ví dụ như một người thợ
nặn tượng đàn bà. Ta lại bảo họ sao không biến thành
đàn ông; như vậy quả thật ngớ ngẩn.
Thiên
nữ giải thích rằng nếu bây giờ Xá Lợi Phất tự chuyển
thân đàn bà thành đàn ông được, thì các người nữ khác
cũng sẽ chuyển thành đàn ông được. Phải biết khi ta thành
người nào hay loài nào, là do động cơ thúc đẩy mà thành.
Xá
Lợi Phất chưa chủ động tâm, nên còn bị tâm chi phối.
Ðây là khác biệt giữa Thanh văn và Bồ tát. Bồ tát trên
nhân gian đóng vai chủ động, mang đủ các loại hình, tùy
theo bổn nguyện mà hiện thân, hoặc tùy chúng sanh cần tư
cách nào, Ngài mang thân đó.
Chúng
sanh tùy nghiệp hiện thân hình không giống nhau, nên ghét thân
nữ mà không đổi được. Chúng sanh không chủ động được
mà thọ thân tùy theo nghiệp quyết định. Nghiệp đổi thì
thân đổi. Nghiệp của chúng ta thế nào tạo hình chúng ta
tương ưng như vậy. Ðã tạo ra hình rồi, không có cách nào
thay đổi được. Ðổi hay không do ông thợ nắn hình là nghiệp,
hình không tự đổi được.
Trên
bước đường tu hành, lặn sâu vào thế giới tâm thức, vượt
qua bức tường tri thức của con người, sẽ thấy nguyên nhân
tạo hình ở nhân gian. Và bấy giờ đã nắm rõ quy luật,
muốn tạo hình gì tùy ý.
Cuối
cùng Xá Lợi Phất hỏi Thiên nữ rằng Ngài hiểu biết quá
rộng, công đức không thể nghĩ bàn. Dù sao mang thân hữu
hạn trên trần thế tức có sanh diệt, sau khi chết rồi sanh
về đâu, có lên Niết bàn không ? Thiên nữ trả lời chư
Phật sanh thế nào, Ngài cũng sanh vậy.
Thân
người nữ được Thiên nữ so sánh bằng với Phật.
Ðiểm này thể hiện trong kinh Pháp Hoa phẩm 12, Long Nữ thành
Phật, rằng sanh tử và Niết bàn là một. Chúng sanh và Phật
không khác.
Chúng
sanh và Phật cũng đầy đủ ba thân, nhưng sử dụng được
hay không mới quan trọng.
Chết
đây sanh kia là phần đoạn sanh tử chỉ cho chúng sanh. Phật
theo quan niệm cố hữu của mọi người, tiêu biểu là Xá
Lợi Phất, Phật thành Phật rồi vào Niết bàn, không hiện
hữu ở đây nữa.
Hiểu
theo tinh thần Như Lai thọ lượng của kinh Pháp Hoa, Như
Lai ở Niết bàn, thì không phải là Phật nữa. Phật hiện
có diệt hay không diệt là tùy trường hợp giáo hóa. Khi vô
minh, nghiệp chướng, phiền não nổi lên, Phật biến mất.
Chúng ta không thấy mặc dù Ngài vẫn có. Ðến khi tâm hồn
chúng ta hoàn toàn lắng yên, Phật lại hiện hữu êm đềm
bên cạnh chúng ta.
Từ
trạng thái tâm hồn yên tĩnh hay bản tâm thanh tịnh của Duy
Ma, nhìn lại cuộc đời sẽ thấy rõ mọi hiện tượng bày
ra ngoạn mục, trong đó có đầy đủ Thiên nữ và Xá Lợi
Phất. Thật vậy, khi tâm hành giả bao la, tất cả hiện tượng
giới sẽ phơi bày muôn màu muôn vẻ để chúng ta hiểu và
điều động nó. Ðiều động như vậy là điều động từ
gốc, nên không giáo hóa chúng sanh mới thật là giáo hóa.
Thiên
nữ và Xá Lợi Phất ở trong lòng chúng ta. Chúng ta nắm tận
gốc, giải quyết trên căn bản tâm, cùng một ý với phần
đầu đã nói là muốn độ chúng sanh phải độ mình. Bản
tâm hành giả thanh tịnh, mới thấy chúng sanh ở trong tâm
và giáo dưỡng họ ngay trong tâm hành giả. Nhờ vậy, chúng
sanh bên ngoài cũng được giải thoát theo. Ðó là giáo hóa
dưới dạng bản thể. Còn mang ý niệm giáo hóa, hành giả
còn đứng ở lập trường chúng sanh giáo hóa chúng sanh, chắc
chắn thất bại.
Tôi
có kinh nghiệm sâu sắc về vấn đề này. Khi tôi muốn người
nào đến, họ lại đi. Tôi muốn họ đi cho khuất mắt, họ
cứ lù lù hiện đến. Cái muốn này của chúng ta phát xuất
từ ý thức. Nằm trong ý thức giới mà độ chúng sanh, chỉ
toàn bực bội khó chịu.
Phải
trở về bản tâm thanh tịnh, hành giả giáo hóa chúng sanh
ở trong tâm mình thuần thục xong, thì chúng sanh bên ngoài
cũng ngoan ngoãn theo. Nói cách khác, bên trong hành giả hoàn
toàn thuần tịnh, bên ngoài tự tốt theo, hoặc muốn độ
chúng sanh, trước nhất phải độ mình.
Từ
đây phải quay ngược lại tìm hiểu xem mình là gì. Văn Thù
cho biết chúng ta là hiện hữu của thiện ác sanh diệt. Chúng
ta tồn tại ở hai mặt tương đối phải trái, tốt xấu.
Theo
Phật, phân tích con người từng thứ riêng rẽ sẽ thấy cái
ngã không có. Giả ngã này là tổng hợp mà Duy Ma gọi là
tương đối pháp hợp lại thành.
Theo
Ngài Thế Thân phân tích có 100 pháp trong thân. Hành giả điều
chỉnh 100 pháp này bằng cách thủ tiêu lần cái ác, để tâm
thiện sanh ra. Nhưng thiện hay ác đều ở trong sanh diệt, nó
bám víu chúng ta để tồn tại, nó không phải thật của ta.
Duy
Ma cho biết thiện ác tồn tại trên thân sanh diệt là tổ
hợp vật chất. Tổ hợp siêu vật chất là tinh thần. Phần
tinh thần tuy không thấy bằng mắt, nhưng tồn tại thật như
tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, thân kiến... Bình thường
chúng ta không thấy nó, nhưng gặp môi trường tác động,
nó xuất hiện nhanh lắm. Người xưa thường nói mắt sáng
như thấy vàng.
_Phật
cho biết phần độc hại tinh thần này, nếu chúng có hình
tướng, thì không có chỗ chứa cho hết. Quan sát bằng lăng
kính thật tướng các pháp thấy chúng ta tồn tại là tồn
tại trên tâm tham, tâm sân, tâm si... Hành giả tu Thiền phát
hiện những độc tố tinh thần để điều chỉnh. Chỉnh trong
lòng xong, vật bên ngoài đương nhiên thay đổi.
Trên
bước đường tu, chúng ta trắc nghiệm pháp này sẽ thấy
kết quả đúng như Phật dạy. Mọi việc đều do ta tạo tác,
không ai có khả năng làm khổ chúng ta.
Trên
lộ trình bước theo dấu chân Phật, khởi đầu từ phát tâm
tu Bồ tát đạo, hành giả phát triển tri thức và đạo đức.
Tu như vậy liên tục từ đời này sang đời khác, tiến đến
Phật quả. Và từ quả vị viên mãn này, hành giả mang theo
bản nguyện ban đầu là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
Thệ nguyện này dẫn hành giả đi thọ sanh, nhưng không sanh,
ví như anh thợ làm đồ giả. Hay nói cách khác, hành giả
thành Chánh Giác, được Báo thân viên mãn. Nhưng không an trú
Niết bàn, mà theo bản nguyện, hành giả vẫn hằng hữu trong
mười phương giáo hóa chúng sanh. Ðó là đại Niết bàn của
chư Phật, chư đại Bồ tát bất tư nghì giải thoát.