PHẨM
8
PHẬT
ÐẠO
I.
LƯỢC VĂN KINH
Lúc
ấy Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật Bồ tát làm sao thông đạt
Phật đạo. Duy Ma trả lời nếu Bồ tát hành phi đạo tức
là thông đạt Phật đạo : Bồ tát tạo ngũ nghịch thập
ác đọa vào địa ngục và địa ngục là con đường tiến
đến quả vị Phật, kiếp sống ngạ quỷ là con đường dẫn
đến Phật đạo, kiếp sống súc sanh cũng là con đường dẫn
đến Phật đạo, tham dục, giận dữ, ngu si, tham lam bỏn sẻn,
phá giới cấm, loạn ý, dua dối kiêu mạn, có đủ tất cả
phiền não v.v... Nói một cách đơn giản là làm những việc
xấu ác trên cuộc đời thì thành Phật.
Duy
Ma Cật hỏi Văn Thù Sư Lợi “Những gì là hột giống của
Như Lai”.
Văn
Thù trả lời : “Có thân là hột giống, vô minh là hột giống,
tham sân si, bốn điên đảo, mười điều bất thiện đều
là hột giống v.v... Nói tóm lại, 62 tà kiến và tất cả
phiền não đều là hột giống Phật cả”.
Duy
Ma hỏi tại sao vậy? Văn Thù đáp rằng nếu người thấy
vô vi mà vào Niết bàn thì không thể phát tâm Vô thượng
chánh đẳng giác. Ví như gò cao không thể sanh ra hoa sen, nơi
bùn lầy mới có hoa sen. Như thế người thấy vô vi vào Niết
bàn không còn sanh trong Phật pháp được, mà ở trong bùn lầy
phiền não mới có chúng sanh nghĩ đến Phật pháp.
Lại
như gieo hột giống trên hư không thì không thể sanh trưởng
được, ở đất phân bùn mới tốt tươi v.v... Cho nên tất
cả phiền não là hột giống Như Lai, ví như không xuống biển
không thể nào có bảo châu vô giá, cũng như không vào biển
phiền não làm sao có ngọc báu “Nhất Thiết Trí”.
Ðại
Ca Diếp khen rằng “Hay thay, đúng như lời Ngài nói, những
bọn trần lao là hột giống Như Lai. Nay chúng tôi không còn
đủ sức phát tâm Vô thượng chánh đẳng giác. Kẻ phạm
năm tội đọa vào địa ngục vô gián còn có thể phát ý
sanh nơi Phật pháp, cầu thành Phật quả; mà chúng tôi lại
chẳng thể phát tâm vô thượng. Ví như người căn cơ bại
hoại thì người ấy ở trong ngũ dục cũng không làm được
việc lợi nào. Cũng vậy, vị Thanh văn La hán đã dứt phiền
não thì vị ấy ở trong Phật pháp không làm được lợi ích
gì, cũng không còn chí nguyện cầu gì nữa v.v...
Lúc
ấy, trong pháp hội có Bồ tát Phổ Hiện Sắc Thân hỏi Duy
Ma Cật rằng : “Cha mẹ, vợ con, thân thích quyến thuộc,
những người tri thức là ai ? Tôi tớ, voi ngựa, xe cộ của
ông ở đâu ?”.
Duy
Ma Cật đáp rằng Bồ tát thông đạt Phật đạo ở thế gian
lấy trí tuệ làm mẹ, phương tiện làm cha, lòng ngay thật
diệu hòa làm con trai, tâm từ làm con gái, 37 trợ đạo phẩm
làm thầy v.v...
II.
GIẢI THÍCH
Từ
đầu kinh đến phẩm 7 diễn tả Bồ tát dấn thân vào đời
thành tựu lợi ích chúng sanh, ở khía cạnh nào việc làm
của Bồ tát cũng đẹp. Như vậy, chỉ thấy các Ngài tương
ưng đối với chúng sanh. Ðối với Phật, thì Bồ tát
làm gì cho Phật ? Các Ngài có đến với Phật được không
và tu bằng cách nào để thành Phật ? Ðây là vấn đề Phật
đạo hay con đường dẫn đến quả vị Phật của Bồ tát
được Văn Thù nêu lên.
Duy
Ma trả lời hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo, nghĩa
là làm những việc sai quấy trên cuộc đời thì thành Phật.
Ðiều này làm chúng ta hoài nghi vì trước chúng ta thường
nghĩ rằng những việc trái đạo lý không bao giờ đưa ta
đến quả vị Chánh đẳng giác. Chỉ có đường lành dẫn
chúng ta đến Phật đạo và các đệ tử Phật cũng đã trải
qua hai phần ba con đường lành này. Họ đã được Niết bàn,
xa rời chúng sanh và thế giới phiền não thâm nhập chốn
không tịch.
Ðối
thoại giữa Văn Thù và Duy Ma gợi cho chúng ta suy nghĩ để
tu hành, tìm một lối đi đích thực cho mình. Vì chúng ta chấp
Niết bàn, nên Ngài nói sanh tử. Ðối với chúng sanh tội
lỗi, Duy Ma sẽ nói con đường duy nhất dẫn đến quả vị
Phật là con đường thánh thiện, làm lành lánh dữ. Dạy như
vậy, để điều trị tâm người ác gồm bảy hạng người
phiền não trong tam giới.
Riêng
pháp Duy Ma dạy hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo nhằm
mục tiêu phá chấp của người đã ra khỏi tam giới. Vì vậy
ta đừng lầm vị trí phàm phu của chúng ta với vị trí của
nhị thừa.
Phàm
phu không còn cách nào trong sạch hóa thân tâm ngoài con đường
làm lành lánh dữ. Nhưng hàng nhị thừa sau khi theo con đường
thuần thiện, đã đoạn sạch phiền não thế gian, lại kẹt
vào Niết bàn. Nghĩa là kẹt quả vị đã tu chứng, đóng khung
trong thế giới đang sống, trụ vào hư vô, không thành Phật.
Chúng
ta còn là phàm phu chính hiệu, chưa phá được phiền não thế
gian, tự cân nhắc thấy mình chưa thể hành Phật đạo bằng
con đường phi đạo được. Hàng nhị thừa A la hán đã ra
khỏi tam giới, bước vào chặng đường tu thứ hai của Bồ
tát để tiến lên Phật đạo. Chỉ có các Ngài mới dám nói
rằng làm những điều sai quấy là con đường đưa tới Phật
đạo.
Duy
Ma cụ thể hóa những việc làm phi đạo cho chúng ta thấy.
Khởi đầu chúng ta tu 37 trợ đạo phẩm, sáu pháp ba la mật,
bốn pháp nhiếp v.v... Nói chung, giáo lý tam thừa đều quy
vào đó.
Nhưng
đến giai đoạn này, Duy Ma lại nói với Văn Thù rằng những
việc làm nào ngược với các pháp vừa kể là Phật đạo.
Thí dụ từ trước đến nay kinh điển quy định rằng những
người phạm tội ngũ nghịch giết cha mẹ, A la hán... sẽ
đọa vô gián địa ngục. Nay Duy Ma nói ngược lại rằng những
người này tiến tu quả vị Phật.
Hoặc
chúng ta thường làm mười việc thiện để sanh về thế giới
an lành của chư Thiên. Nay Duy Ma lại dạy tạo ngũ nghịch
thập ác đọa vào địa ngục là con đường tiến đến quả
vị Phật. Vì địa ngục đối với Bồ tát trở nên cần
thiết để đắc đạo, còn đối với chúng sanh, địa ngục
đáng sợ. Ðến đây chúng ta cần suy nghĩ về hai vị trí
khác nhau của người hành đạo.
Chúng
ta ở vị trí nhân môn để tu hành, nương với Phật, học
hạnh Phật. Trái lại, Bồ tát đứng trên quả môn, đã thành
xong Vô thượng đẳng giác và ngược chiều đi đến với
chúng sanh. Vì vậy Bồ tát tạo tội ngũ nghịch thập ác khác
chúng sanh tạo tội đó. Duy Ma khẳng định tuy việc làm
giống y hệt nhau, nhưng dẫn đến kết quả là Bồ tát làm
ác thì thành Phật. Chúng sanh làm ác, thì vĩnh viễn ở địa
ngục. Ðây là Bồ tát đã thông đạt Phật đạo khác với
chúng sanh khởi niệm ác để đọa.
Vào
sống trong địa ngục là sự trắc nghiệm tu hành của Bồ
tát. Ðối với các Ngài, đối tượng và môi trường hành
đạo rất cần thiết cho việc tiến tu quả vị giải thoát.
Nếu không tạo ngũ nghịch thập ác, không sao bước chân vào
địa ngục vô gián được. Vì vậy, các Ngài phạm tội không
phải vì giận tức, buồn phiền, tham lam.
Bồ
tát không có nghiệp mà tự tạo nghiệp nhằm điều phục
nghiệp, khác với chúng sanh vì tham sân si tạo nghiệp. Sự
thật các Ngài đã an trú quả vị Niết bàn, nhưng tạo tội
để có cơ hội vào sống trong địa ngục, nghiên cứu cảnh
giới địa ngục.
Duy
Ma nói thêm rằng tuy thân ở địa ngục mà tâm hồn các Ngài
an lạc giải thoát như người sống ở cõi trời Sắc Cứu
Cánh tiêu biểu cho sự an lành cùng tột. Bồ tát không rời
bỏ quả vị tu chứng, nhưng hiện hữu vào địa ngục. Vị
trí của Ngài thật ở trên Ngũ Tịnh Cư Thiên và hiện thân
vào địa ngục vô gián là do Bồ tát tự tạo nên. Trong khi
chúng sanh thân ở thiên đường mà tâm ở địa ngục.
Hiện
vào địa ngục, tâm Bồ tát hoàn toàn an lành, tạo nên cuộc
sống an lành và ảnh hưởng cho chúng sanh đồng sống trong
địa ngục phát tâm tu. Họ nương theo nếp sống của Bồ
tát để phát triển khả năng và cũng được giải thoát.
Như
vậy, ngũ nghịch thập ác tội làm thắng nhân cho Bồ tát
đi đến Phật đạo giải thoát là điểm khác biệt giữa
chúng sanh ở địa ngục và Bồ tát ở địa ngục.
Khi
lạy Phật, chúng ta đọc “Chí tâm đảnh lễ A Tỳ sơ phát
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” nói lên quá trình hành đạo
của Phật khởi đầu cũng phát xuất từ địa ngục A Tỳ.
Ngài đã trải qua sự trắc nghiệm cuộc sống ở trạng thái
đau khổ cùng tột mới có kinh nghiệm dạy chúng ta. Ngài không
dạy bằng lý thuyết suông.
Kế
tiếp, Duy Ma nói kiếp sống ngạ quỷ là con đường dẫn đến
Phật đạo. Ngạ quỷ là quỷ đói do lòng tham quá lớn. Với
tâm niệm phàm phu, chúng sanh nghĩ tham lam, dối trá sẽ làm
giàu. Nhưng Phật dạy tất cả những sai lầm này đều đưa
đến phá sản, nghèo khổ và cuối cùng thành ngạ quỷ, tức
lòng tham tràn đầy nhưng chẳng được gì.
Theo
Phật, chỉ có lòng thành thật của ta mới đem đến niềm
tin cho người. Họ sẽ quý trọng, tin tưởng, hợp tác với
ta. Cuộc sống sung túc hạnh phúc của chúng ta sẽ phát xuất
từ đây.
Bồ
tát nhìn thấy chúng sanh hung dữ, gian tham, trộm cắp nhiều
nhưng cuộc sống càng nghèo thêm. Ngài mới khởi tâm đại
bi tạo nên nhân ngạ quỷ để sanh vào thế giới ngạ quỷ.
Nghĩa là Bồ tát nhập cuộc trong xã hội tối tăm, nơi đó
chúng sanh tranh đấu sống bằng cách giết người khác. Thân
ngạ quỷ nhưng tâm Bồ tát thánh thiện mới là Bồ tát thông
đạt Phật đạo. Bồ tát làm tất cả việc đúng đắn để
thành người gương mẫu, theo Duy Ma, chưa phải là Bồ tát
thông đạt Phật đạo.
Bồ
tát ngạ quỷ cũng như Bồ tát địa ngục, vì đã tu
vô lượng phước đức trên quả môn, nên hiện thân ngạ
quỷ nhưng tâm đầy đủ phước đức trí tuệ. Các Ngài ảnh
hưởng các ngạ quỷ khác, biến chúng thành ngạ quỷ có tri
thức, có đạo đức.
Giáo
sư Nomura giải thích hiện hữu của Bồ tát ngạ quỷ theo
nhãn quan của chúng ta ngày nay ví như người thánh thiện
minh triết vào sống ở xứ lạc hậu là Bồ tát thông đạt
Phật đạo. Họ vào đó để khai hóa, sử dụng khoa học kỹ
thuật cải tiến đời sống người dân phát đạt, văn minh
lên.
Vốn
liếng tri thức của Bồ tát vận dụng vào cuộc sống làm
lợi ích cho người, biến ngạ quỷ ăn hại thành người hữu
ích, đạo đức. Trí khôn của Bồ tát kết hợp với sức
lao động tay chân của ngạ quỷ, tạo thành sản phẩm. Vì
vậy, từ chối chỗ nghèo đói, tìm an lạc riêng cho cá nhân,
Duy Ma gọi là Bồ tát chưa thông đạt Phật đạo.
Ngoài
Bồ tát địa ngục và Bồ tát ngạ quỷ, Duy Ma còn chỉ cho
chúng ta thấy cách hành đạo của Bồ tát súc sanh. Súc sanh
là loài có tính ngang ngược. Bồ tát tạo nghiệp ác để
vào thế giới ngang bướng của chúng sanh. Bấy giờ, Bồ tát
cũng ngang tàng như họ và mạnh hơn, dữ hơn, mới hàng phục
được. Bồ tát hiện vào thế giới ngang bướng nhằm đối
trị, dìu dắt họ về Phật đạo.
Tóm
lại, Duy Ma muốn nhấn mạnh rằng đối với Bồ tát nhập
minh hành phi đạo thông đạt Phật đạo, không có pháp cố
định dẫn đến Vô thượng đẳng giác. Tất cả pháp tùy
duyên, tùy chỗ ứng dụng khác nhau. Bồ tát nhập ám không
thông Phật đạo, cố chấp, làm theo công thức nên thường
thất bại.
Như
vậy, việc làm giống, nhưng kết quả khác. Một bên tu thành
Phật, một bên tu thành quỷ vì đứng lập trường tham sân
phiền não trồng căn lành.
Bồ
tát vô sở đắc chỉ làm việc đáng làm, làm xong không để
tâm. Phàm phu thì việc qua rồi, vẫn cứ vương vấn, nên phiền
não. Việc chưa đến thì lo toan tính, việc trước mắt đáng
ngàn vàng lại bỏ qua. Theo tôi, phi đạo của Bồ tát là không
có con đường sẵn. Ðạo là con đường có sẵn. Bồ tát
thông đạt Phật đạo vận dụng trí tuệ, thấy việc cần
phải làm. Ví dụ như Phật giáo Ấn Ðộ mặc y vấn, đi chân
đất, ngủ gốc cây, ăn một bữa. Theo lý giải Ðại thừa,
đạo Phật sinh hoạt ở thời kỳ du mục cách đây hơn 2500
năm, thì người tu ngủ hang đá, đi chân đất, nói chung, sống
theo tập tục bấy giờ của xứ Ấn Ðộ, là việc bình thường.
Nhưng
đến thời đại đô thị hóa, định canh định cư, đường
sá đàng hoàng, hình thức Phật giáo Ấn đầu trần, chân
đất, khất thực được truyền sang Trung Quốc. Hình thức
ấy không được giữ y như vậy, mà trở thành chùa cao, Phật
lớn, người tu có áo rộng, mão cao, đi hia. Các nhà truyền
giáo đã khéo kết hợp sinh hoạt của Phật giáo với văn
hóa bản xứ, tạo thành sức sống mãnh liệt cho Phật giáo
Trung Quốc.
Khi
Phật giáo truyền đến nước ta, Thiền sư Việt Nam mở đôi
mắt trí tuệ kết hợp Phật giáo Ấn Ðộ và Phật giáo Trung
Quốc với tình cảm, sinh hoạt của người Việt Nam. Từ đó,
tạo thành Phật giáo Việt Nam dựng nước giữ nước, luôn
luôn sống còn với dân tộc.
Phật
giáo Nhật Bản thì lại khác hẳn. Sư không mặc y, trông bề
ngoài họ giống người thường. Tuy nhiên, khác ở điểm các
nhà sư là thành phần ưu tú của xã hội, thông minh, đức
hạnh. Phật giáo quản trị 120 trường Ðại học, cung cấp
cho xã hội giai tầng trí thức. Vì thế, tu sĩ Phật giáo khác
người thường ở việc làm. Người đời vì lợi ích cá
nhân, người tu vì lợi ích cho tất cả.
Có
thể hiểu thông đạt Phật đạo là không theo lối mòn cũ.
Phải vận dụng trí tuệ trong cuộc sống tu hành, giúp người
an vui hạnh phúc, làm sáng danh Phật pháp.
Không
thông đạt Phật đạo, phạm sai lầm, tức cứ làm y hệt,
giữ đúng khuôn mẫu, dù không còn thích hợp. Ý này được
kinh Bảo Tích dạy rằng Phật không lập lại những gì Phật
trước nói. Phật Thích Ca thuyết pháp hoàn toàn khác các Phật
trước.
Khác
biệt là khác cách diễn tả hay phương tiện khác, nhưng chân
lý đồng nhau, chỉ có một. Ba đời chư Phật không giống
nhau, nhưng đồng là Phật sáng suốt giác ngộ, tùy hoàn cảnh
mà có cách giáo hóa khác. Ðức Phật A Di Ðà ở phương Tây,
tạo thành Cực Lạc, Ðức Phật Dược Sư ở phương Ðông
lập thế giới Tịnh Lưu Ly và Phật Thích Ca ở Ta bà có thế
giới hầm hố gai chông.
Chúng
ta quan sát như vậy để thấy phi đạo hay cái khác nhau. Ở
Tây Phương có việc làm của Tây Phương, Ta bà có việc của
Ta bà. Ðem uế độ Ta bà về Tây Phương, chắc chắn không
được.
Ðạo
Phật là đạo trí tuệ. Hành giả phải rọi tuệ giác vào
cuộc sống để hành đạo, khác với chúng sanh nhìn chúng
sanh bằng nghiệp. Nhị thừa thì nhìn thấy chúng sanh không
có.
Nhìn
qua nghiệp là cái nhìn phát xuất từ ham muốn. Nhưng cuộc
đời chẳng bao giờ chiều ý mình. Thuở nhỏ, tôi nhiều tham
vọng lắm, muốn đủ thứ. Muốn tu kiểu này, nhưng người
không cho và tôi phải làm những việc mà tôi không muốn.
Những ý muốn tôi cho là đúng tốt, thì không bao giờ đến.
Vì
muốn không được, tôi bỏ ngay cái muốn mà bắt gặp ý nghĩa
của hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo. Tôi theo lời
Duy Ma dạy để thử xem cuộc đời mình rớt vô chỗ nào,
tu chỗ đó. Ở trong hoàn cảnh nào đó, mới phát hiện được
nghiệp của mình. Và từ phát hiện này tu, chuyển đổi được
nghiệp.
Ngoài
ra, tôi rất tâm đắc điều Duy Ma dạy Bồ tát thông đạt
Phật đạo là Bồ tát thường dạo chơi địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh. Chúng ta sợ nhất ba đường ác này. Nhưng tôi
thấy rõ nhờ dạo chơi ba đường ác, trí khôn chúng ta mới
lớn lên. Nghĩa là có giáp mặt với cuộc đời đầy tệ
ác, mà không bị nó tác hại, chúng ta mới biết khôn.
Hành
giả không sợ khó, tìm cái khó để làm. Trong môi trường
khó giúp chúng ta phát sanh nhận thức đúng nhất, nhận thức
có được từ việc tiếp xúc với hiện thực cuộc sống
.
Tôi
được tiếp xúc nhiều tầng lớp người xấu. Nhờ vậy có
cơ hội quan sát chúng sanh bên ngoài và chúng sanh bên trong
tâm mình nói chuyện với nhau và chúng ta làm trọng tài nói
chuyện với cả hai.
Người
đến với tôi, tôi không bỏ ai. Nhìn người tâm tánh xấu
nhất, tôi phát hiện cái gì là chúng sanh dẫn đến quả khổ.
Trực diện với chúng sanh để hiểu chúng sanh và hiểu thêm
được chư pháp thường không tánh hay tánh không cố định.
Chúng ta có thể uốn nắn thay đổi được, dạy dỗ chúng
sanh bên ngoài cho đến thay đổi diễn biến trong tâm chúng
ta. Ðiều hòa pháp này, tôi gặp được người hộ đạo phát
tâm mạnh nhất lại là người xấu ác nhất.
Tinh
thần hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo cũng được
diễn tả trong kinh Hoa Nghiêm dưới hình thức chịu khổ thế
chúng sanh để cúng dường Phật.
Trong
lịch sử Phật giáo Việt Nam, Thiền sư Vạn Hạnh tiêu biểu
cho Bồ tát hành phi đạo để chịu khổ thế cho chúng sanh.
Thật vậy, với huệ nhãn của Bồ tát, Vạn Hạnh thấy được
nguyên nhân và kết quả của việc sẽ xảy đến. Chẳng hạn
như thấy Lê Long Ðĩnh làm việc tội lỗi, Ngài khởi lòng
thương, không nỡ để ông tiếp tục việc ác. Ngài cũng lấy
làm bực khi Lý Công Uẩn không chịu ngăn chặn việc chém
giết.
Tuy
nhiên, lòng bực tức này phát xuất từ tâm đại bi, nên tức
giận của Bồ tát khác tức giận của phàm phu. Bồ tát chịu
khổ thế chúng sanh, tự lãnh tội soán nghịch. Sư Vạn Hạnh,
Ðào Cam Mộc triệt hạ Lê Long Ðĩnh để xây dựng một triều
đại thuần từ mới. Nếu hai vị này không làm như vậy,
những người tham vọng sẽ ra tay và tất nhiên gây loạn lạc
chết chóc. Trong khi các Ngài thực sự không có quyền lợi
gì, vì không khởi tâm ham muốn, nhưng phải làm thay người
khác, tạo việc ác và chấp nhận quả báo sẽ xảy ra.
Duy
Ma nói với Văn Thù rằng hành phi đạo của Bồ tát phải
phát xuất từ tâm đại bi, không phải từ tham vọng cá nhân.
Các Ngài không an trú Niết bàn và thực sự cũng không dính
líu gì đến thế gian. Tuy nhiên, Bồ tát nhìn thấy chúng sanh
đau khổ khởi lòng đại bi và đến với chúng sanh theo tinh
thần bất vụ lợi. Ðiểm này chúng ta cần lưu tâm trên bước
đường tu.
Riêng
kinh nghiệm bản thân tôi, khi gặp hoàn cảnh khổ, tôi khởi
ý niệm nhờ bạn giúp, mua quà biếu họ để mong nhờ vả.
Kết quả tiền mất, tật mang.
Phật
dạy Bồ tát không phải như vậy. Nếu nghĩ thương người
và kèm theo ý muốn nhờ họ, thì nên cắt bỏ ngay ý xấu
này. Chúng ta phát tâm bồ đề, đối tượng hành Bồ tát
đạo là chúng sanh, giải quyết việc khó cho họ. Còn việc
riêng, ta phải tự giải quyết, không nhờ vả ai. Giải quyết
được cho mình rồi, sẽ độ người : “Chúng sanh khổ nguyền
xin cứu khổ, chúng con khổ nguyền xin tự độ”.
Ý
thức sâu sắc như vậy, dù tôi nghèo khổ, cũng thu xếp để
sống được, không nhận giúp đỡ. Nhờ họ nuôi, mình không
giải thoát đâu. Ngày nay, tôi phát triển thành công được,
vì không vướng bận, tự làm cho mình, nên không sợ ai bắt
chẹt.
Bồ
tát đến với chúng sanh vì lòng thương tưởng cho đời, khác
với chúng sanh đến chúng sanh bằng sự đổi chác. Bồ tát
cho, không cần bồi hoàn, giúp người xong để vô quá khứ,
tiếp tục làm lợi ích khác.
Bồ
tát không nhờ vả chúng sanh, không kêu gọi chúng sanh. Nhưng
chúng sanh đến với Bồ tát để được sống an lành, tiếp
nhận được trí tuệ tuyệt vời của Bồ tát, tiếp nhận
tình thương bất vụ lợi của Bồ tát. Chẳng khác gì Phật
ngồi yên trên chùa nở nụ cười nhẹ mà chúng sanh cứ tự
động kéo đến quỳ lạy, tâm sự với Ngài.
Trên
bước đường tu học, tôi cảm nhận ý này một cách sâu
sắc. Khi còn là Tăng sinh nghèo ở ngoại quốc, tôi gặp những
người bị xã hội xếp vào thành phần xấu, xem thường.
Người đồng tu với tôi thấy họ thì sợ. Tuy nhiên, đối
với tôi, họ thật tốt.
Theo
tôi, người xấu nhất cũng có thể trở thành người tốt
nhất ở một giây phút nào đó. Họ là chúng sanh lạc vào
đường ác khổ gặp nhà tu hành, khiến họ nghĩ đến Phật
mà phát tâm. Họ đối xử với tôi bằng chân tình. Trong khi
những người giàu có đi hành hương nhìn anh học trò nghèo
như tôi bằng nửa con mắt.
Tôi
thấy rõ như Duy Ma nói với Văn Thù về Bồ tát thông đạt
Phật đạo là Bồ tát ở trong ba đường ác có điều kiện
thuyết pháp giáo hóa. Tôi nói đạo, họ nghe thâm nhập, phát
khóc. Còn người giàu đi hành hương thì không bao giờ muốn
nghe pháp, chỉ muốn tôi dẫn đi siêu thị mua sắm.
Tiếp
xúc với người cùng khổ trên cuộc đời, tôi phát hiện
những điều bình thường không có. Vào hang cùng ngõ hẻm
của cuộc đời mới thấy những gì cao cả là sen trong bùn.
Chính người xấu ác dạy tôi thấu hiểu kinh Duy Ma, hiểu
những điều mà thầy giáo ở trường dạy không được.
Về
Việt Nam, tôi chứng nghiệm thêm một lần nữa, thấy những
người sa cơ thất thế mới thật tu. Họ chết đến nơi hay
sắp bị tù tội mới chịu tụng kinh. Rõ ràng ở ba đường
ác mới có đạo, trên thiên thượng quá sung sướng không
có đạo.
Từ
trong ba đường ác hay hoàn cảnh khác thường, hành giả dễ
bắt gặp trí tuyệt vời của Ðức Phật. Tôi không tiếp
xúc với thành phần xấu trong xã hội, thì không hiểu gì
về xã hội, làm sao làm Phật được. Phật thì hiểu
rõ mọi việc của cuộc đời.
Phật
và Bồ tát đầy đủ phước đức, thông đạt Phật đạo.
Giáo hóa của các Ngài so với việc làm của chúng ta trên
nhân gian hoàn toàn cách xa.
Ví
dụ như tiền thân của Phật Thích Ca có một lần cùng đi
trên thương thuyền gặp tên cướp muốn giết các thương
buôn để cướp của. Lúc ấy, Ngài hành Bồ tát đạo, có
khả năng trừng trị tên cướp.
Vì
lòng đại bi, Ngài giết tên cướp để cứu đoàn thương
thuyền. Ngài đã tình nguyện làm đối tượng cho mũi nhọn
căm thù của tên cướp luôn hướng về Ngài, đeo đuổi từ
kiếp này sang kiếp khác, để làm nhân giáo hóa anh ta.
Ðến
khi Ngài thành Phật Thích Ca, 500 thương buôn được Ngài cứu
vẫn làm nghề buôn đứng đầu là Bạt Ðà Ba La Bồ tát.
Họ hướng dẫn thương thuyền từ Hy Lạp sang Ấn Ðộ, gặp
Phật liền có thiện cảm. Vì vô lượng kiếp trước đã
thọ ơn cứu độ của Ngài, nên nay hiện thân thương buôn
mà thật là Bồ tát hết lòng với Phật sự.
Riêng
tên cướp nhờ đeo đuổi oán thù với Phật, một người
hoàn toàn thánh thiện, nên không có cơ hội trả thù. Do tâm
luôn dán sát với Phật để trả thù, cố gắng tìm mà
không thấy kẽ hở tội lỗi nào của Phật, sau cùng anh ta
nhập được bất nhị pháp môn và được sanh lên Thiên cung.
Việc
làm ác của Bồ tát phát xuất từ gốc thiện, mới dẫn đến
kết quả thiện. Ðó là mô hình Bồ tát chịu khổ thế cho
chúng sanh. Nếu Bồ tát không làm việc ác ấy, các người
bị giết và tên cướp sẽ căm thù nhau từ đời này sang
đời khác.
Bồ
tát làm ác để giúp cho người thành Phật. Chúng ta chưa thuần
thiện mà làm ác, bảo đảm ta và người cùng nắm tay nhau
vào địa ngục.
Hoặc
một ví dụ khác tiêu biểu cho ý nghĩa hành phi đạo tức
thông đạt Phật đạo. Một hôm Ðức Phật rượt đánh con
nai. A Nan thắc mắc tại sao Ngài lại làm vậy. Ðức Phật
cho biết Ngài vì thương nai mới đánh nai, không phải vì thù
nghịch nó, đánh để dọa nó.
Sự
thật với tâm lượng đại bi tròn đầy bao phủ muôn loài
có tác dụng thu hút muôn thú đến gần thân thiện. Mai kia,
Phật ra đi và người ác tới, nai cũng quen tìm đến gần
kiếm ăn, sẽ bị giết.
Trên
cương vị Bồ tát, các Ngài sẵn sàng làm bất cứ việc gì,
dù bị thiệt thòi, nhưng lợi ích cho người.
Bồ
tát mà không dám làm, vì còn sợ quả báo là Bồ tát cách
Phật đạo xa. Ví như ta phải cân nhắc việc làm được,
mới làm. Việc không làm được, ta phải hẹn lại kiếp khác,
ta chỉ là Bồ tát sơ phát tâm.
Hành
phi đạo tức thông đạt Phật đạo, theo giáo sư Nomura, còn
có nghĩa là trong ác có hạt nhân thiện và ngược lại trong
thiện có nhân ác. Ông chứng minh rằng những người cực
ác như vua A Xà Thế hay A Dục khi hối hận, phát tâm trở
thành cực thiện. Và từ đó, họ thể hiện được thật
nhiều việc làm tốt đẹp, lợi ích cho mọi người.
Có
thể nói trong việc làm ác, đã có mầm thiện sanh ra. Nếu
không làm ác, họ không có điều kiện phát tâm bồ đề.
Trên con đường phẳng phiu, ta ít thấy được chân lý. Trên
đường gồ ghề đẩy ta vào tuyệt thể tuyệt mạng, khiến
ta dễ phát tâm. Ðức Phật xác định Ngài cũng phát tâm từ
vị trí A Tỳ địa ngục.
Người
làm thiện không mất lòng ai. Nhưng lỡ có người nào xúc
phạm, thì họ nổi sân si thành cực giận, bỏ luôn việc
thiện. Nghĩa là từ thiện biến thành ác. Do đó theo ông,
không thể đặt vấn đề thiện ác phân minh. Trong ác có thiện
và trong thiện có ác.
Phát
xuất từ tình thương có trí tuệ chỉ đạo, Ðức Phật giết
chết tên cướp biển để đưa hắn lên Thiên cung, không phải
giết để Ngài và hắn cùng kẹt trong nhân quả ở địa ngục.
Thiết
nghĩ việc làm cần xét trên tâm lượng và kết quả để
quy định thông đạt hay không thông đạt Phật đạo. Kinh
Pháp Hoa dạy rằng nuôi người tới 80 tuổi rồi họ cũng
chết, thật là phí. Trong khi giáo dưỡng mọi người từ phát
triển vật chất và thăng hoa tinh thần trong hiện tại dẫn
đến vị lai thành Phật, mới thực sự thông đạt Phật đạo.
Theo
Duy Ma, lăn xả vào đời tiếp xúc tất cả thành phần, ta
nảy sanh được nhận thức, hiểu tất cả, làm được tất
cả, mới được giải thoát.
Duy
Ma hỏi Văn Thù muốn giải thoát phải thế nào? Văn Thù cho
biết thân tứ đại ngũ uẩn là nhân tố giải thoát. Câu
trả lời của Văn Thù cũng tương ưng với ý Duy Ma rằng ở
trong ba đường ác mau thành Phật.
Ngũ
uẩn là nhân tố bồ đề hay ngũ uẩn là quả khổ thế gian?
Chúng ta dễ nhận lầm hai việc này. Thông thường, người
tu đều có quan niệm như Xá Lợi Phất cho ngũ uẩn là thân
và thân này làm cho chúng ta khổ. Vì thế, người tu thường
có ý thoát ly, vất bỏ thân, để cảm thấy nhẹ trên bước
đường tu.
Trong
một khoảng thời gian, tôi cũng có tâm niệm bỏ cuộc đời,
bỏ luôn thân con người để được giải thoát. Còn sống
phải chịu bốn tướng vô thường, sanh lão bệnh tử bao vây,
tác hại cho ta đau khổ.
Tuy
nhiên, chúng ta theo gót chân Văn Thù đến gặp Duy Ma sẽ thấy
khác, thấy tứ đại ngũ uẩn là hạt giống bồ đề. Bỏ
nó, không có bồ đề, ví như hạt giống gieo trong hư không.
Hạt
giống bồ đề nằm trong tứ đại ngũ uẩn, kinh Pháp Hoa gọi
là hạt châu trong chéo áo. Có giáp mặt cuộc đời mới hiểu
cuộc đời, có thân người mới biết khổ của thân.
Ðối
với Bồ tát, thân tứ đại của mọi người bên ngoài giống
nhau. Nhưng xoáy sâu vào ngũ uẩn thân để biết được cái
bên trong là tri thức hay trực giác do tỉnh giác. Trực giác
của người tu biết được sự vật khác với nhận thức
của chúng sanh bằng phân biệt, suy nghĩ. Chúng sanh nhiều đời
ở trong sanh tử, bị xã hội nhồi nhét, tạo thành cái bên
trong là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v... Nói chung, một
số cố chấp của ta trên cuộc đời in sâu trong tim óc làm
chúng ta khổ.
Nhiều
người tu có ý niệm tu phải như vầy, dù có khổ gì cũng
đeo theo. Họ đã bị ác kiến cố chấp ràng buộc. Trên bước
đường tu, tôi muốn làm nhưng không được làm nên bực bội
khổ sở. Tôi nhận ra mình đã phạm sai lầm, vội bỏ ngay
“cái muốn”, tức xả được tánh tham. Chỉ làm theo yêu
cầu của người thì hết khổ. Làm với lòng tốt, bằng tình
thương chúng sanh thì tốt tự đến. Làm theo yêu cầu của
mình, chỉ chuốc lấy quả xấu. Ngày nay, tôi tạo được
đạo nghiệp cũng nhờ thân ngũ uẩn, nhờ biết chuyển nghiệp
bên trong của thân.
Thay
đổi từ trong tâm, hoàn cảnh tự đổi theo, là cách tu của
Văn Thù trả lời Duy Ma rằng ngũ uẩn là hạt giống bồ đề,
hạt giống giải thoát.
Hội
nhập cuộc sống, biết tất cả, thì không việc gì có khả
năng làm khổ chúng ta. Tu theo Thanh văn ngồi hốc đá không
biết gì. Ðến lúc cuộc đời đem xe ủi tróc đá cũng khổ.
Tinh
thần Duy Ma muốn dạy rằng hội nhập sanh tử là Niết bàn,
tìm giải thoát ngay trong sanh tử. Hay đó cũng chính là hình
ảnh Phật Thích Ca thành đạo ở Ta bà, giáo hóa lợi lạc
chúng hữu tình ở ngay Ta bà.
Thật
vậy, trước khi thành Phật, Ngài cũng như chúng ta. Lớn
lên với thân tứ đại của một con người, Ngài cũng bắt
đầu tiếp xúc với sáu trần bên ngoài bằng sáu căn, cũng
sanh ra sáu thức, tạo thành thập bát giới là thế giới quan
của Ðức Phật hiện ra.
Như
vậy, thế giới quan của Phật và của ta bắt đầu đồng
nhau. Tuy nhiên, khác nhau ở điểm tu dưỡng. Thật vậy, Ngài
xuất thân từ dòng họ Thích là dòng họ ham học, liên tục
bảy đời vua nổi tiếng thông minh hiền đức. Xuất thân
trong gia đình như vậy, chắc chắn Ngài được sự uốn nắn
và suy nghĩ trong điều hay lẽ phải.
Ngài
thông suốt các ngôn ngữ, hiểu được tất cả học thuyết
có trước và đương thời. Ðiều này cho thấy hiểu
biết của Ðức Phật không đơn giản.
Khi
xuất gia, Ngài trải qua 5 năm cầu đạo, tìm học với tất
cả đạo sư nổi tiếng. Chỗ nào có bậc chân tu hiền đức,
Ngài liền tìm đến. Thú vui thông thường của mọi người,
thì Ngài không quan tâm.
Như
vậy, rõ ràng Ðức Phật đã đi theo chiều hướng khác với
chúng ta về tư duy. Tuy phát xuất từ con người, nhưng lần
hồi Ngài mở rộng kiến thức để đạt đến đỉnh cao gọi
là thành đạo.
Với
hiểu biết vượt thế gian và cuộc đời thánh thiện không
ai sánh bằng, là giai đoạn đầu của Ðức Phật. Tất cả
La hán nghe vậy hình dung lại, nhận thấy các Ngài mới ở
chặng đường đầu thoát ly sanh tử, không nhiễm thế gian.
Trong khi Phật là La hán thành đạo rồi, nếu cũng ngồi cội
bồ đề đến chết, chắc chắn không ai tôn xưng Ngài là
Phật.
Ðiểm
quan trọng đáng kể trải qua 12 năm từ khi thành đạo đến
lúc nói kinh Duy Ma, mới có năm anh em Kiều Trần Như, Xá Lợi
Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp... và thành tựu sự nghiệp
giáo hóa của Phật trên cuộc đời này. Ðó là phần giải
thích của Văn Thù trả lời Duy Ma về quá trình tu hành của
Ðức Phật cho mọi người nhận biết.
Trên
lộ trình tu dưỡng, giai đoạn đầu phát triển trí tuệ đạo
đức và cuối cùng dùng tri thức đạo đức ảnh hưởng lại
xã hội mà Phật đang sống. Bước đi du hóa của Ngài không
từ chối một việc làm nào, dù là việc nhỏ nhặt như xỏ
kim cho một bà già bên vệ đường hay bế con nai què cho theo
kịp nai mẹ. Phật luôn đến với bất cứ thành phần nào
trong xã hội bằng tình thương yêu, kính trọng.
Duy
Ma tóm ý này dạy rằng Bồ tát hành đạo phải vào chốn
bùn nhơ tội lỗi. Ðối tượng không trong sạch mới là đối
tượng giáo hóa của Bồ tát. Theo Duy Ma, chỗ sang giàu không
phải là chỗ làm đạo tốt của Bồ tát.
Phát
tâm bồ đề phải tìm đối tượng khổ, nghiệp, phiền não,
mới tiếp nhận được chân tình thực sự; Duy Ma ví
như hạt giống bồ đề không thể đem gieo trong hư không.
Bồ tát có trí tuệ đem hạt giống gieo vào đất phì nhiêu
là nơi dơ bẩn có phân nước, ví cho nghiệp và phiền não.
Từ đó hạt giống dễ nảy mầm, cây sẽ sum sê, đơm bông
kết trái. Giáo hóa ở nơi nhiều nghiệp và phiền não, ta
đã làm đúng con đường của Phật Thích Ca đã trải qua và
chỉ có con đường này mới đưa ta đến Phật đạo nghĩa
là thành Phật.
Văn
Thù vừa luận pháp này xong, Ca Diếp liền tán thán pháp Văn
Thù nghe hay quá, nhưng Ngài không ứng dụng được, ví như
người tàn tật không làm được gì. Trong khi chúng sanh ở
ba đường ác còn phát tâm bồ đề được, mà các Ngài không
phát nổi. Ca Diếp đại diện cho hàng Thanh văn thú tịch hướng
giải thoát, từ bỏ trần thế để không bị đời làm đau
khổ. Nhưng khi xe đời ủi đến thì không ngồi yên được
nữa.
Câu
chuyện giữa Văn Thù và Duy Ma nhằm thúc bách người tu hành
tiêu cực. Khi chỗ ẩn náu cuối cùng bị cuộc đời lật
đổ, họ mới thấy được Văn Thù và Duy Ma là hai biểu tượng
sống, vượt hơn nhân gian. Các Ngài mới thực sự là người
giải thoát trong danh dự. Ðó là giải thoát theo Ðại thừa
không phải trốn đời.
Giải
thoát theo tinh thần Phật giáo Nhật Bản nghĩa là hàng năm
Phật giáo phải đào tạo cho xã hội bao nhiêu người trí
thức. Nói cách khác, phải tạo vị trí nhất định của Phật
giáo trên cuộc đời. Hành đạo không lợi ích gì cho
đời hay căn tánh bại hoại rất nguy hiểm.
Ca
Diếp lãnh đạo Tăng đoàn nói lên chân tình, hay đúng hơn
là tiếng nói của người có tâm huyết lo âu trước thực
tế người tu chán đời, trốn đời, không làm được gì
trên cuộc đời, mới đi tu.
Căn
tánh bại hoại mới vô chùa xuất gia chỉ xảy ra ở những
nước lạc hậu, người nào bệnh cho tu, mạnh để ở nhà.
Những gì xã hội vứt bỏ thì đem vô chùa. Tập hợp toàn
những người phế thải này lại cho tu, thì đương nhiên họ
phải tu theo kiểu bại hoại.
Ðành
rằng người khổ đến nương nhờ bóng từ bi của Phật,
chúng ta dang tay an ủi. Nhưng đó không phải là mẫu thầy
tu. Chúng ta phải đào tạo lớp người có khả năng làm tàng
lọng che mát thế gian, không thể chỉ có toàn người núp
bóng.
Riêng
tôi, gặp người thông minh, khỏe, học giỏi, tôi khuyên xuất
gia để làm đẹp cho đạo, lợi cho đời. Nếu những người
có yếu tố tốt như vậy chạy theo ngũ dục thế gian để
thành thân tàn ma dại, thì thật là uổng phí.
Ðến
phần kết, Ngài Phổ Hiện Sắc Thân Bồ tát hỏi Duy Ma cách
sinh hoạt của Bồ tát thông đạt Phật đạo ở thế gian
như thế nào.
Duy
Ma trả lời Bồ tát thông đạt Phật đạo sống y như mọi
người trên cuộc đời. Vì sống khác hơn sẽ bị nhiều buồn
phiền khó khăn trên bước đường tu.
Ðây
là ý niệm hoàn toàn khác pháp tu của Thanh văn. Trước tu
Thanh văn dạy chúng ta phải sống khác mọi người. Nhưng nay
lại bảo chúng ta hoàn toàn giống mới là lẽ sống của Bồ
tát.
Từ
điểm đảo ngược pháp tu này, Phổ Hiện Bồ tát hỏi rằng
sống bình thường là có gia đình, có quyền thế, có sự
nghiệp y như người đời phải không ? Ý này gợi cho tôi
nhiều suy nghĩ khi chính mình mang hình thức xuất gia, như vậy
có thông đạt Phật đạo chăng ?
Theo
Duy Ma, Bồ tát sống y như mọi người, nhưng bên trong hoàn
toàn khác, vì đã dứt sạch tham sân phiền não. Bồ tát
cũng có cha mẹ, nhưng không phải là cha vô minh, mẹ phiền
não.
Bồ
tát được kết tinh bằng hai pháp : trí khôn và phương tiện.
Mẹ của Bồ tát là tri thức và cha là phương tiện. Trí tuệ
là mẹ của Bồ tát vì trí tuệ sinh ra tất cả công đức
lành.
Người
có lòng tốt nhưng thiếu hiểu biết, sẽ hành động theo vô
minh. Họ dễ thành kẻ phá hoại gây phiền hà, tác hại cho
người. Không có trí tuệ không thể hành Bồ tát đạo, không
thể thành Phật. Dù họ tu năm pháp ba la mật, nhưng không
có trí sáng suốt, cũng biến công đức thành tội lỗi.
Phương
tiện là cha của Bồ tát. Phương tiện nghĩa là làm được
tất cả việc trên thế gian theo sự chỉ đạo của trí tuệ.
Trí tuệ và phương tiện đầy đủ, ngôi sao Bồ tát sáng
lên. Chỉ có trí tuệ, thiếu phương tiện, ta chẳng làm được
gì, ví như người vào kho báu không lấy được vì không có
hai tay.
Bồ
tát hình thành phương tiện và trí tuệ, hiểu theo ngày nay
là phải có kiến thức khoa học và sở hữu tài sản mới
tạo nên của cải.
Trên
bước đường tới Bồ đề đạo tràng, chứng đắc Phật
quả tiêu biểu cho sự hiểu biết chính xác toàn vẹn. Và
Ðức Phật xuống Lộc Uyển giáo hóa là khai phương tiện,
Ngài mới có đệ tử.
Kế
tiếp, Bồ tát khác chúng ta ở điểm lấy tâm ngay thật diệu
hòa làm con trai, lấy tình thương làm con gái. Như vậy tri
thức, phương tiện, lòng ngay thật và tâm từ tạo thành gia
đình của Bồ tát, tức phần căn bản tu hành của Bồ tát.
Hình
thành khuôn mẫu gia đình Bồ tát như vậy, phải được hiểu
rằng ta cần ép mình vào khuôn tri thức bằng cách khởi đầu
tu hành giới định tuệ, lấy trí tuệ làm chuẩn. Tu trí tuệ
và phương tiện trước. Hai pháp này hiện hữu trong Bồ tát
và rọi ra ngoài. Bất cứ chúng sanh nào đến với Bồ tát
đều đến trong trí tuệ và vì phương tiện mà đến, không
phải đến trong nghiệp và phiền não.
Lúc
trước cha vô minh, mẹ phiền não là chúng sanh, nên ta ở trong
hoàn cảnh nào cũng không bao giờ thuận theo ý ta.
Nhưng
nay trang nghiêm thân tâm bằng cái nhìn đúng như thật và việc
làm chính xác. Kết quả của hai pháp này tác động vào xã
hội. Lúc đó, người nào đến với Bồ tát qua sự mở rộng
tầm tri thức, được xem là mẹ. Ðến với Bồ tát bằng
phương tiện được xem là cha trong công đức lành.
Riêng
tôi, mỗi khi suy nghĩ và việc làm của tôi hợp với chân
lý, được người tiếp nhận và biểu đồng tình. Tôi cảm
nghĩ rằng những người đó đều là cha mẹ tôi trên con đường
dẫn đến quả vị Phật.
Bồ
tát lấy Pháp thân làm chuẩn, nên cái gì sanh Pháp thân thì
cái đó là cha mẹ của Bồ tát. Bồ tát phát đại bi tâm
rọi tới bất cứ chúng sanh nào, họ nương theo tâm đại
bi này mà đến với Bồ tát. Họ sẽ rất thuận thảo, hiếu
đễ, nên được coi như con gái của Bồ tát, giúp Bồ tát
thành sự nghiệp.
Và
tâm Bồ tát ngay thật diệu hòa được chúng sanh tiếp nhận.
Ðó là con trai của Bồ tát, giúp Bồ tát thành đạo nghiệp.
Một
gia đình kiểu mẫu gồm tri thức, phương tiện, tâm ngay thật
và ý diệu hòa. Bốn pháp này nhân rộng ra xã hội, lấy 37
trợ đạo phẩm làm thầy chỉ dạy.
Trong
37 trợ đạo phẩm, chỉ tu hai pháp sau cùng là thất Bồ đề
phần và bát Chánh đạo. Bạn bè sẽ đến với Bồ tát bằng
tám cửa bát Chánh đạo, Bồ tát sẽ tạo được một xã
hội tốt trên nhân gian. Ðó là điều kiện tất yếu giúp
Bồ tát tiến đến quả vị Chánh đẳng giác.
Bấy
giờ, mới khai lục độ hạnh môn, lấy lục độ làm pháp
lữ, lấy Thiền định làm chỗ dạo chơi, lấy hàng phục
chúng ma làm vui thú.
Hình
dung ra các Bồ tát thông đạt Phật đạo, chúng ta thấy các
Ngài xuất hiện nơi nào, ma oán tự tan. Thực tế như một
người bị ngũ ấm phiền não ma đột nhập, gặp Bồ tát,
họ tự hết buồn.
Bồ
tát diệt trừ ma chướng, giúp cho người tiến tu, không phải
để làm phiền họ thêm. Phiền não tiêu là ma tiêu, không
phải thân tiêu.
Muốn
gỡ ma cho người, điều trước tiên ta phải tự gỡ ma cho
ta trước. Vì vậy bát Chánh đạo hay nói chung 37 trợ đạo
phẩm, hành giả đừng bao giờ xa rời. Tâm hành giả hoàn
toàn bình ổn, gọi là vườn dạo chơi của Bồ tát. Thiền
định là thế giới an trụ của Bồ tát.
Ta
đừng lầm diệt trừ ma bằng cách tiêu trừ chúng sanh. Diệt
trừ nhằm diệt trừ phiền não, nghiệp chướng của họ và
cách diệt trừ cao nhất mà Ðức Phật thể hiện phải là
diệt trừ phiền não trong ta trước. Thân tâm chúng ta giải
thoát, người nhìn thấy phát tâm bồ đề, thăng hoa cuộc
sống. Nói cách khác, chúng ta vẫn sinh hoạt bình thường trên
nhân gian, cùng song hành với chúng sanh, nhưng không tham đắm
nhiễm trước như chúng sanh. Ngược lại, có đầy đủ trọn
vẹn phước đức trí tuệ mới tiêu biểu thật sự cho mô
hình Bồ tát thông đạt Phật đạo.