PHẨM
11
BỒ
TÁT ÐẠO
I.
LƯỢC VĂN KINH
Khi
Ðức Phật đang nói pháp ở vườn Yêm La, vườn bỗng nhiên
trở nên rộng rãi xinh đẹp vô cùng, thoảng mùi hương lạ.
Ðức Phật bảo A Nan rằng Duy Ma Cật và Văn Thù Sư Lợi cùng
đại chúng sắp đến ra mắt Phật, nên hiện điềm lành này.
Bấy
giờ Duy Ma Cật dùng sức thần thông, đem đại chúng và các
tòa sư tử để trên tay phải đi đến chỗ Phật, đặt các
Bồ tát xuống. Duy Ma và các Bồ tát này đều cúi đầu lễ
dưới chân Phật, đi quanh bên phải bảy vòng rồi ngồi một
phía.
Lúc
đó, A Nan hỏi Phật mùi hương thoảng ra là mùi hương gì.
Xá Lợi Phất trả lời : “Ðó là trưởng giả Duy Ma Cật
xin cơm thừa của Phật ở nước Chúng Hương đem về ăn nơi
nhà ông, nên tất cả lỗ chân lông đều bay mùi hương như
thế”.
Tiếp
theo, Duy Ma giảng cho A Nan rằng người muốn tu giải thoát
sanh tử ăn cơm này, chứng được sơ quả thì mùi hương mới
hết. Tuần tự như vậy cho đến Bồ tát ở hàng bất thoái
chuyển đạt đến quả vị Phật, thì mùi hương mới hết.
Ví như uống vị thuốc hay, khi nào vi trùng bị tiêu diệt,
thuốc mới tan. Pháp này cũng có công dụng như vậy.
Sau
khi A Nan tán thán pháp của Duy Ma vừa giảng nói, Phật dạy
A Nan rằng Ðức Phật mười phương thuyết pháp giáo hóa chúng
sanh, làm những việc khác nhau. Tùy theo mỗi thế giới, các
Ngài nói pháp khác nhau. Có thế giới dùng hương giáo
hóa, có cõi lấy cơm ăn giáo hóa hay có thế giới dùng ngôn
ngữ giáo hóa v.v... Chư Phật làm được như vậy không có
hạn lượng. Trí tuệ biện tài của các Ngài không thể nghĩ
bàn. Thiền định của Bồ tát cũng vậy, không thể đo lường
được, không thể nói hết được.
Bấy
giờ, Bồ tát ở nước Chúng Hương đến bạch Phật ở cõi
Ta bà tu hành như thế nào. Ðức Phật Thích Ca dạy cho Bồ
tát ở nước Chúng Hương pháp môn Tận và Vô tận giải thoát
hay thế nào là Bồ tát bất tận hữu vi và bất trụ vô vi.
Nghe
xong, Bồ tát của nước Chúng Hương vui mừng, rải hoa thơm
khắp tam thiên đại thiên cúng dường Phật và kinh này, rồi
lễ Phật trở về nước Chúng Hương.
II.
GIẢI THÍCH
Phẩm
Hương Tích nói về thế giới Niết bàn giải thoát của Phật
và phẩm Bồ tát đạo nói về việc làm của Bồ tát trên
cuộc đời, phải sinh hoạt như thế nào để tương thông
với Ðức Phật ở thế giới Phật.
Sự
liên hệ mật thiết giữa thế giới Niết bàn và thế giới
Ta bà, hay nói khác, hóa độ của Ðức Phật trên nhân gian
và việc làm của Ngài ở thế giới giải thoát Niết bàn,
được thể hiện trọn vẹn trong cuộc đời hành đạo của
Ðức Phật Thích Ca.
Nhìn
lại khi Ðức Phật tại thế, chúng ta thấy Ngài đã giáo
hóa ở hai mặt. Một mặt giáo hóa với tư cách sanh thân và
một mặt giáo hóa dưới dạng Pháp thân.
Sanh
thân Phật có chúng Thanh văn tùy tùng, mang thân tứ đại ngũ
ấm. Dưới dạng này, Ngài sử dụng sanh thân để giáo hóa
sanh thân. Từ Bồ đề đạo tràng đến Lộc Uyển thuyết
pháp, Ðức Phật được xem như một La hán và năm anh em Kiều
Trần Như cũng là La hán. Ðến khi giáo đoàn phát triển, trong
các vị La hán, có những vị vượt trội lên như Xá Lợi
Phất, Mục Kiền Liên v.v... Nói chung, những đại đệ tử
của Phật được gọi là đại La hán. Nhưng so với La hán
Thích Ca, các Ngài không sánh kịp.
Ngoài
phần thuyết pháp giáo hóa bằng sanh thân, chúng ta có thể
thấy nghe cảm nhận được, Phật còn mặt thứ hai không thấy
nghe, không dùng tâm lượng biết được. Chẳng những không
giải thích được, mà còn không hiểu được, gọi là bất
tư nghì. Phần bất tư nghì là pháp học của Bồ tát.
Bồ
tát khao khát suy tư, phát huy mặt không giải thích được.
Tại sao Ðức Phật là người, ta cũng là người mà tác dụng
của Ngài lại vô cùng tận vậy. Cảm nhận lực chi phối
vô song từ nơi Phật toát ra, dù Ngài thuyết pháp hay yên lặng,
ta cũng không thể nào hiểu được Phật. Kinh Pháp Hoa nói
rõ hàng Bồ tát trở xuống không thể thấu tột việc làm
của Như Lai, vì Như Lai thấy đúng như thật. Còn chúng sanh
dán chặt đôi mắt bằng cặp kính nghiệp.
Tác
dụng giữa Phật với Thanh văn là tác dụng qua hiện thực
cuộc sống. Và tác dụng giữa Phật và Bồ tát thuộc siêu
thực hay giữa thế giới hiểu được và thế giới chưa hiểu
được.
Bồ
tát phát tâm tu Bồ tát đạo mang khát vọng tìm chân lý, bắt
đầu đi vào thế giới chưa hiểu tìm điều kiện tăng trưởng
trí tuệ, để rồi cuối cùng cũng đạt hiểu biết chính
xác.
Bồ
tát là người mang chí lớn. Tuy nhiên, chí lớn của Bồ tát
không giống mẫu người mang chí lớn của thế gian. Quán sát
thấy rõ những gì trên cuộc đời đều trôi theo dòng sanh
diệt, nên chí Bồ tát không đặt vào đây. Các Ngài đaàu7841?t
mục tiêu nằm ngoài sanh diệt, cầu thành Phật đạt nhất
thiết trí.
Phẩm
này nói về tư cách Bồ tát. Bồ tát lấy Phật làm đối
tượng kiểu mẫu, làm hướng đi lập chí tiến thủ để
đạt thế gian giải, hiểu tất cả cuộc đời và hiểu
cả thiên nhiên, điều động nó một cách tự tại.
Muốn
thành Phật là muốn giải quyết được những việc mà người
bình thường không giải quyết được, khác với Thanh văn
an phận ở Niết bàn. Còn tục chúng tham lam ghét ganh đầy
đủ, đương nhiên bỏ ra ngoài.
Trước
khi chỉ dạy tư cách, việc làm của Bồ tát, Ðức Phật giới
thiệu Phật Hương Tích và thế giới Chúng Hương. Ðó là
mẫu lý tưởng của người mang chí lớn và cũng là ước
mơ của chúng ta hướng tâm về Ngài để lập chí đi lên.
Muốn
đạt đến quả vị của Phật Hương Tích, chúng ta phải tích
lũy học vấn và phước đức. Kinh Bát Ðại Nhân Giác nói
rõ điều chúng ta cần giác ngộ rằng ngu si là nguồn gốc
của sanh tử. Chúng ta không biết lối thoát để đi ra, sanh
và chết lang thang vô định, chui đủ vào các loài trong tứ
sanh lục đạo.
Vì
vậy, Bồ tát thường niệm học rộng nghe nhiều, học với
các đấng giác ngộ giải thoát. Kinh Pháp Hoa dạy rõ tất
cả Bồ tát nổi tiếng đều thân cận các Ðức Phật học
rộng nghe nhiều để tăng trường trí tuệ. Mức độ thấy
gần đúng sự thật chừng nào, gần đến giải thoát chừng
nấy.
Thấy
rõ sự việc, nhưng trình bày cho người khác hiểu được,
là vấn đề khó hơn. Chúng ta tu hành phần nhiều vấp phải
lỗi lớn rất nguy hiểm, thường hiểu khác ý Phật dạy.
Hiểu và làm đúng lời Phật dạy, thì trở thành Bồ tát
hay Phật. Hiểu khác mà tiến tu, hành giả sẽ bước vào con
đường sống khổ chết đọa. Dù tu suốt đời, vẫn không
hưởng chút hương vị giải thoát, vì cố chấp trong vỏ cứng,
tự làm những việc mình cho là pháp, nhưng kỳ thực phi pháp.
Thí
dụ như Duy Ma chỉnh Ưu Ba Ly hiểu sai ý nghĩa giới luật của
Phật. Phật chế giới nhằm ngăn chặn tội lỗi, làm cho người
giải thoát. Ngài tùy người, tùy chỗ mà chế giới, không
phải chế giới tràn lan.
Ðối
với đệ tử có trình độ đạo đức tri thức, Ngài
không cần dạy bảo lặt vặt. Nghĩa là đối với thanh tịnh
Tăng, không có giới. Giới được đặt ra vì có đối tượng
chúng sanh ở trình độ hạ đẳng. Nếu không ngăn cấm, họ
sẽ làm bậy và đọa.
Ðiều
chính yếu trên bước đường hành đạo Bồ tát, chúng ta
phải phát triển trí tuệ để có một cái nhìn xác thực
giống Phật. Từ đó, ta dùng trí tuệ rọi vào lòng cuộc
đời, nhắm đúng đối tượng để khai tri kiến. Họ phát
tâm bồ đề, sống an lành giải thoát. Và an lành giải thoát
của họ chính là an lành giải thoát của chúng ta.
Trong
phẩm này, Duy Ma rủ Văn Thù Sư Lợi đến ra mắt đức Thích
Ca. Duy Ma tiêu biểu cho bản tâm thanh tịnh được trí tuệ
Văn Thù rọi sáng, mới diện kiến được Thích Ca Như Lai.
Ta chưa thanh tịnh, trí không sanh, giữa Phật và ta cách nhau
muôn trùng vạn dậm.
Khi
Duy Ma và Văn Thù cùng đại chúng khởi niệm tới thăm Ðức
Thích Ca ở vườn Yêm La, cảnh vườn bỗng đổi khác, trở
nên rộng lớn và xinh đẹp lạ thường, thoảng mùi hương
lạ.
Hiện
tượng này có thật hay, không tùy ở độ cảm của từng
người tự chứng biết. Riêng tôi, trên bước đường tu hành,
cũng có những cảm nhận tương tự. Có lúc lên chánh điện
nhìn tượng Phật thấy ảm đạm làm sao. Có lúc lại thấy
lâng lâng nhẹ nhàng thanh thoát, dường như chùa trải rộng
thêm ra, sáng lên thêm. Tôi tụng kinh say mê không biết mệt,
muờng tượng như cảnh giới hôm nay có chư Phật phóng quang
và Hộ Pháp đến nghe pháp.
Theo
tôi, cảnh có một, nhưng tình có hai. Từ tâm niệm ta trải
ra bên ngoài và cảnh giới bên ngoài ảnh hưởng tác động
ngược lại ta. Vì vậy, dù chỗ có hẩm hiu đến đâu mà
hành giả mang tâm niệm giải thoát, chỗ đó là Niết bàn.
Dù nơi cao sang nhưng đầy rẫy tranh chấp, thù hận, giết
người, nơi đó biến thành địa ngục. Ðịa ngục hay Niết
bàn tùy tâm hiện thành.
Kết
hợp giữa Văn Thù và Duy Ma thể hiện sự thành tựu hài hòa
tâm thanh tịnh và trí sáng suốt, được cụ thể hóa bằng
hình ảnh vườn Yêm La sáng rộng thêm. Ðối với tôi, những
ai đã thâm nhập vào thế giới tu hành, với niềm tin tôn
giáo, thường bắt gặp những cảm giác man mác nằm ngoài
phần tri kiến của chúng ta. Chỉ có đức Như Lai hoàn toàn
giải thoát, không còn chướng ngại về hữu hình và vô hình,
mới thấy được sự thật, giải đáp được lý bất tư
nghì này.
Mùi
hương từ nơi Duy Ma tỏa rộng trong vườn Yêm La và cảnh
giới sáng đẹp thêm tiêu biểu cho sự hiện hữu của cao
Tăng ở nơi nào, nơi đó hạnh phúc an vui.
Trong
quá trình hành đạo, chúng ta dễ kiểm nhận điều này. Tôi
tham quan nhiều chùa thấy âm u lạnh lẽo, Phật ngồi yên đầy
bụi bám, pháp bảo rêu phong chất đầy tủ, không ai đọc.
Nhưng nếu có Bồ tát Duy Ma hay danh Tăng đến đó tu, cảnh
chùa tự sáng đẹp ra. Ðó là ý nghĩa Phật dạy các Bồ tát
đến đâu, chỗ đó phải an lành. Nếu đến làm cho ảm đạm
thê lương, đừng đến còn hơn. Chúng ta nhìn kỹ cuộc sống
thấy rõ kinh và Phật muôn đời không đổi, nhưng trụ trì
có đức hạnh tài năng thì chùa tự sáng.
Duy
Ma và Văn Thù tiêu biểu cho Bồ tát đạo hay trí tuệ sáng
suốt và tình thương kết hợp trong một vị trụ trì. Ðược
như vậy, sinh hoạt đạo pháp ở chùa đó tất nhiên phải
phát triển; khác với nếp sống của người bảo thủ cố
chấp.
Ðạo
không thể sinh tồn nếu giáo pháp nằm yên trong tam tạng kinh
điển. “Ðạo yếu Tăng hoằng”, hay nói đúng hơn khi trí
Văn Thù và tình thương Duy Ma kết hợp trọn vẹn trong bậc
chân tu mới làm sáng đẹp cuộc đời, làm cho đạo pháp tỏa
hương thơm ngát.
Phật
vừa trả lời cho A Nan biết hôm nay có Duy Ma và Văn Thù cùng
Bồ tát mười phương muốn đến ra mắt Như Lai, nên phong
cảnh đổi khác. Duy Ma liền dùng sức thần thông đem đại
chúng và tòa sư tử để trên tay phải. Ngài đi thẳng tới
vườn Yêm La nơi Ðức Phật đang thuyết pháp, đi quanh Phật
bảy vòng.
Thiết
nghĩ câu chuyện siêu tự nhiên này ngầm bao hàm một ý nghĩa
gì, là điều chúng ta cần tìm hiểu. Nếu hiểu theo giáo nghĩa
Ðại thừa lấy tâm làm chính : “Chế tâm nhất xứ vô sự
bất biện”, thì hành giả trụ tâm sẽ trở thành vạn năng,
làm được tất cả.
Duy
Ma nghĩa là tịnh tâm. Ý nghĩa tịnh tâm này trùng hợp với
ý nghĩa “chế tâm nhất xứ”. Nhờ tập trung tâm, mới tạo
được sự linh hoạt. Tuy tâm vô hình, nhưng có khả năng bao
trùm cả muôn loài.
Khéo
vận dụng được tâm, hành giả chi phối cả hữu tình
và vô tình thế giới. Chi phối hữu tình nghĩa là dùng tâm
ảnh hưởng đến người liên hệ, tác động cho họ chấp
nhận được ta. Và muốn hiểu được sự chi phối vô tình
khí thế giới như thế nào, ta quan sát ở lãnh vực khoa học
và quan sát dưới dạng Chánh Biến Tri. Chúng ta thấy rõ sự
tập trung tư duy của các nhà bác học để khám phá ra nguyên
lý, chẳng qua chỉ là sử dụng tâm con người. Và tập trung
tâm đến mức cao độ như Ðức Phật, khám phá được quy
luật tự nhiên. Nắm quy luật này, tất yếu chuyển đổi
được muôn sự muôn vật theo ý muốn.
Hiện
tượng Bồ tát Duy Ma đặt toàn bộ Bồ tát lên cánh tay phải
của Ngài đem về ra mắt Thích Ca mang ý nghĩa gì ?
Bồ
tát đi theo Duy Ma không phải mang xác thân người. Phải hiểu
đó là Bồ tát hạnh, tức là tất cả việc làm tốt của
Bồ tát trên cuộc đời gắn liền với cuộc sống của các
Ngài tạo thành quyến thuộc bất khả phân.
Việc
làm thánh thiện của Duy Ma từ vô lượng kiếp tiêu biểu
bằng cánh tay phải. Cánh tay phải của Duy Ma mang Bồ tát đến
vườn Yêm La, theo tôi hiểu, Duy Ma đã giáo dưỡng tế độ
cho họ vô số kiếp, là bàn tay nhắc chúng nhân lên quả vị
Bồ tát. Vì vậy, Duy Ma đến với Phật, thì chắc chắn quyến
thuộc của Ngài cũng đến theo.
Bồ
tát này là Bồ tát hạnh phát xuất từ tình thương cộng
với khả năng hiểu biết, đưa đến việc làm lợi lạc cho
người. Chúng ta thường thấy người giàu lòng thương có
khả năng kết hợp nhiều người qua chất keo tình thương.
Hoặc những nhà cách mạng thường tụ họp được quần chúng.
Phải chăng lòng yêu nước thương dân chính là chất xúc tác
gắn liền họ với nhau.
Hành
giả tu Bồ tát đạo phát triển tình thương đến độ không
còn biên giới, bao hàm cả muôn loài và có tác dụng bất
khả tư nghì, nằm ngoài hiểu biết của con người còn kẹt
ngũ ấm. Tuy nhiên, tình thương đó được kết hợp với trí
tuệ, nghĩa là ngũ trí của Văn Thù, hay đó là quá trình phát
triển tri thức con người qua năm chặng đường.
Trí
thứ nhất là hiểu biết thông thường của con người. Bỏ
trí này, tìm trí khác, thì Phật ví như tìm lông rùa sừng
thỏ, không bao giờ có. Ta chưa biết việc thông thường mà
đòi biết chuyện cao siêu, thật quá vô lý. Hiểu lầm điều
này, chúng ta tu suốt đời cũng không đắc đạo.
Thật
vậy, nhìn vào tấm gương của Ðức Phật, khi Ngài chưa xuất
gia, không một triết thuyết nào trên thế gian mà Ngài không
để tâm tìm hiểu và không thấu đáo. Ngài hiểu vượt hơn
thế gian mới bắt đầu phát triển hiểu biết thứ hai. Nói
một cách đơn giản, không học tiểu học không thể vào trung
học.
Học
để tu khác với học của thế gian. Học của người tu là
trải qua quá trình cải tạo cấu trúc của nhận thức, sửa
đổi bộ óc thành linh hoạt hơn, hiểu biết tinh vi hơn. Không
phải học bằng cách nhồi vào một số vấn đề để rồi
không dùng được. Vì vậy, người tu học khác với người
học thức thế gian. Họ cải tạo bộ óc thành nhận thức
cao hơn, học tất cả. Nhưng thải ra những cặn bã thế gian,
loại bỏ tồn tại trong đầu. Vấn đề bớt lần, nên không
nhức đầu. Càng học nhiều, cuộc sống và tâm tư của họ
càng thanh thản. Ðó là tiến trình tu của Văn Thù hay Thích
Ca.
Ngày
nay, chúng ta cũng bước trên lộ trình tu học này, học hiểu
tất cả thế gian nhưng không còn vấn đề tồn đọng trong
trí, mới nhìn được sự vật đúng như thật. Không phán
đoán theo kinh nghiệm, thấy vỏ dưa sợ vỏ dừa hay thấy
cây trong bóng tối tưởng có người núp hoặc thấy cành cong
sợ người bắn lén.
Tu
học để sanh tuệ, không phải để sanh kinh nghiệm. Những
người có kinh nghiệm, chúng ta thường khó gần gũi họ hay
khó hướng dẫn. Họ luôn mang cả một khối nghi trong đầu.
Người
tu lắng lòng cho gương tâm trong sạch. Nhờ vậy, sự vật
bên ngoài ảnh hiện vào, thấy sự vật và người đúng như
thật. Nhìn đối tượng, biết rõ yêu cầu, tâm trạng, khả
năng của họ, nên không bao giờ phạm lỗi lầm trên thế
gian và khi giao việc cho người, nhất định thành công. Ðạt
được tư cách này là Chuyển luân Thánh vương, một nhà lãnh
đạo đức độ đại tài.
Trang
bị được cái nhìn như vậy, mới chỉ ở tầm mức thế
gian. Tuy nhiên, muốn vượt cao hơn, cũng không thể bỏ trình
độ hiểu biết này. Khởi điểm từ hiểu biết con người,
cải tạo nó lần vượt trên hiểu biết bình thường, đạt
đến cái thấy siêu tự nhiên nảy sanh ra trí thứ hai là tự
nhiên trí của Thanh văn, ngày nay là hiểu biết khoa học.
Mới
nâng trình độ hiểu biết đến nấc thứ hai, sự vật đã
biến đổi khác hẳn. Chẳng hạn như trí thông minh của nhà
khoa học chế ra tàu thủy hay phi cơ chở được biết bao nhiêu
người và vượt được khoảng cách không gian thật xa trong
một thời gian ngắn.
Xa
hơn, nâng hiểu biết lên đạo chủng trí của Bồ tát và
Như Lai huệ, Phật huệ thì sự việc đổi khác thật sâu
xa rộng lớn. Bên ngoài thấy một con người bình thường,
nhưng bên trong hàm chứa hiểu biết và tình cảm tác động
không thể nghĩ bàn, không đo lường được. Ðức Phật dạy
A Nan lượng nước trong bốn biển đo được, hư không vô
tận đo được. Nhưng sức Thiền định, trí tuệ và vô ngại
biện tài của Bồ tát không thể nào đo lường biết được.
Thiền
định lực, trí tuệ lực và phương tiện thuyết pháp lực
của Bồ tát, trí Thanh văn không thể nào bắt kịp. Ngay đức
Như Lai nói cho Thanh văn hiểu biết, khả năng, tình thương
của Bồ tát, hay nói chung là hạnh Bồ tát, trong cùng kiếp
cũng không hết được. Vì việc làm của Bồ tát có sức
sinh động vô cùng tận.
Ðiều
Phật dạy gợi cho chúng ta suy nghĩ Bồ tát là người thế
nào. Ở đây Bồ tát chỉ là ông Duy Ma già bệnh, một trưởng
giả cư sĩ, không xuất gia.
Ðiểm
này Ðức Phật muốn nhắc đệ tử của Ngài nên nhìn sự
thật ngay trước mắt. Có nhiều việc thấy rất tầm thường
theo hiểu biết của phàm phu hay Thanh văn, nhưng bên trong hàm
chứa một cái gì phi thường. Thật vậy, người tu Bồ tát
hạnh thường thực hiện pháp nội bí ngoại hiện. Nghĩa là
làm những việc thật tốt đẹp mà người thường không biết
được. Còn phần hình thức bên ngoài, thì họ tùy người,
tùy chỗ, tùy thời làm những việc khác nhau. Vì vậy, các
Bồ tát hiện trên nhân gian, phần nhiều bỏ xác thân rồi,
chúng ta mới nghĩ các Ngài là Bồ tát.
Ở
đây, Bồ tát Duy Ma là ông già bệnh sắp chết mà Ðức Phật
giới thiệu là trí tuệ tuyệt vời, Thiền định sâu vô hạn.
Hình ông bên ngoài tuy trông rất đơn sơ, nhưng lực của ông
không thể nghĩ bàn. Chúng ta dùng mắt không thấy được,
vì sự thật bên trong Duy Ma đã hình thành tư cách của
Bồ tát lớn ở nước Diệu Hỷ của Ðức Phật Vô Ðộng.
Ðức
Phật dạy như vậy nhằm chỉ A Nan đừng nghĩ mình học rộng
nghe nhiều là hơn mọi người. Vì sự thật các Bồ tát hiện
thân ở thế gian dùng đủ cách giáo hóa, chúng ta không thể
dùng tâm lượng phàm phu biết được. Chúng ta đừng tìm kiếm
thế giới xa xăm nào khác, phải nhìn ngay vào cuộc sống đời
thường mà phát hiện ra những con người cao quý tỏa hương
thơm ngát cho đời qua hình dáng bên ngoài giản dị bình thường.
Ngoài
Duy Ma là Bồ tát hiện thân một cư sĩ già bệnh, chúng ta
còn thấy Ca Nặc Ca độ Ngài Ngộ Ðạt bằng hiện thân người
bệnh hủi, ai thấy cũng xem thường. Ngộ Ðạt đang được
triều đình kính trọng nên cứ mãi nhìn lên để kiếm Bồ
tát, không ngờ Bồ tát Ca Nặc Ca đang đứng trước mặt ông.
Phật
dạy rằng dùng mắt phàm không thấy biết được Bồ tát.
Chỉ có niềm tin, chân tình và tâm của chúng ta trực nhận
được Bồ tát mà thôi. Nhìn kỹ vào tâm sẽ thấy Bồ tát
hiện hữu dưới mọi dạng ngay trên cuộc đời bên cạnh
chúng ta.
Bồ
tát phương trên ở cõi Hương Tích xuống hỏi Phật Thích
Ca ở Ta bà ô uế có Bồ tát hay không và ở đây Bồ tát
tu hành thế nào.
Qua
câu hỏi của Bồ tát Hương Tích, phải ngầm hiểu rằng thông
thường sống trên cuộc đời, chúng ta hay hướng tâm về
các thế giới trên để tìm Bồ tát. Tuy nhiên, lên đến tận
thế giới Hương Tích cũng không tìm ra Bồ tát và phải quay
ngược xuống Ta bà hỏi Phật Thích Ca về Bồ tát.
Ðiều
này cho chúng ta suy nghĩ ở ngay trên cuộc đời mới có Bồ
tát. Bồ tát ở thế giới khác không còn là Bồ tát, vì Bồ
tát nghĩa là giác hữu tình, sống làm lợi ích cuộc đời,
làm cho người giác ngộ giải thoát. Bồ tát phương trên không
thể hiện hạnh này, không được xem như Bồ tát.
Phật
giới thiệu Duy Ma Cật là Bồ tát ở thế giới của Ðức
Phật Vô Ðộng hiện thân vào Ta bà làm Phật sự, nhờ đó
Ngài mang danh là Bồ tát. Ðức Phật Thích Ca cũng vậy, Ngài
sanh trên thế giới Ta bà này nên Ngài mới là Bồ tát Hộ
Minh, nghĩa là người giữ được ánh sáng chân lý trên cuộc
đời. Nếu Ngài không hiện hữu trên thế gian, cũng không
được gọi là Bồ tát.
Bồ
tát nhằm chỉ cho những người thành xong Vô thượng đẳng
giác, vì thương nhân gian sanh lại cuộc đời, làm lợi ích
chúng hữu tình. Thí dụ Bồ tát Văn Thù là thầy của ba đời
các Ðức Phật. Hoặc Ðại thừa xem Ngài Long Thọ, Huệ Tư
đại Thiền sư hay Thánh Ðức thái tử đều là Bồ tát Văn
Thù tái sanh trên đất Ấn Ðộ, Trung Hoa và Nhật Bản. Các
vị này thành xong Vô thượng đẳng giác sanh lại nhân gian,
sống rất bình dị như mọi người, nhưng cuộc sống rất
có ý nghĩa. Ảnh hưởng của các Ngài đối với xã hội đương
thời và sau khi vắng bóng trên cuộc đời thật mãnh liệt.
Muốn xác định vị trí Bồ tát, chúng ta cần xem xét lực
chi phối tác động của các Ngài.
Phật
dạy các Bồ tát phương trên phải có đối tượng mới hành
Bồ tát đạo được. Bồ tát là người giác hữu tình, mà
không có hữu tình để giác, giống như thầy dạy học
nhưng không có học trò để dạy, thì chỉ là thầy trên danh
nghĩa mà thôi.
Từ
ý này, Phật dạy Bồ tát triển khai sáu pháp ba la mật tất
yếu phải có chúng sanh, chúng sanh nghiệp và chúng sanh phiền
não làm môi trường cho Bồ tát tu. Bồ tát khác biệt với
phàm phu ở điểm đó. Vì vậy, tìm Bồ tát là tìm trong hạnh
của họ. Căn cứ vào hạnh phát hiện ra Bồ tát, còn thân
vật chất ai cũng như nhau.
Trong
sáu pháp tu của Bồ tát, trước nhất Bồ tát tu pháp bố
thí trên căn bản tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tuy nhiên,
muốn hành bố thí, phải có đối tượng. Nếu chúng sanh không
có yêu cầu, ai cũng hiểu biết và đầy đủ cơm ăn áo mặc
nhà ở, ta bố thí cũng chẳng ai nhận.
Ngoài
ra, có đối tượng cần được giúp đỡ và lòng thương người
của ta cũng thật rộng, nhưng phước ta quá ít, cũng không
hành bố thí được. Ta thường ước mơ có công đức lực
như Duy Ma để thành tựu được nhiều việc.
Tôi
nghĩ mặc dù mình nghèo, nhưng ở đây vẫn làm được
việc công đức. Vì có nhiều người nghèo hơn, tôi còn bố
thí, nói pháp được, làm lợi ích cho người. Lên nước Hương
Tích, tôi không làm được gì. Vì các Ngài ở đó quá giàu,
một hột cơm của các Ngài đem về Ta bà, thì cả thành Tỳ
Da Ly ăn không hết. Và trình độ tri thức của ta tiếp nhận
bằng lục căn, so với hiểu biết của Bồ tát cách nhau quá
xa.
Ðối
với người hành Bồ tát đạo, xã hội nghèo cùng khó khăn
là môi trường hấp dẫn Bồ tát đến. Bồ tát Duy Ma thể
hiện mẫu người này. Ngài từ thế giới Vô Ðộng sanh lại
cõi Ta bà trong pháp hội Ðức Phật Thích Ca.
Ngoài
pháp bố thí, Bồ tát chỉ luyện được tâm tánh và thành
tựu pháp nhẫn nhục trong thế giới Ta bà với chúng sanh cang
cường hung bạo, chuyên nói ngược xuôi đủ kiểu. Ở thế
giới Hương Tích, toàn những thượng thiện nhân trí thức.
Mỗi lời nói của các Ngài đều cân nhắc đúng đắn, làm
gì có mất lòng mình mà nhẫn với ai. Duy Ma thành tựu sáu
pháp ba la mật thể hiện mẫu Bồ tát lý tưởng mà Ðức
Phật muốn giới thiệu.
Trí
tuệ, sự hoạt dụng kết hợp với tình thương của Bồ tát
không đo lường được, đó là triết lý chứa đựng trong
câu chuyện Duy Ma đem các Bồ tát khác đến đảnh lễ
đức Thích Ca. Các Bồ tát đến với Duy Ma chắc chắn không
đến bằng con người xương thịt. Chúng ta có thể hiểu đó
là năng động tánh của một con người.
Duy
Ma sai hóa Bồ tát lên nước Chúng Hương và dẫn các Bồ tát
về, phòng của Ngài không chật không rộng thêm. Ý này mở
ra cho chúng ta tầm nhìn đổi mới, thấy được năng lực
toát ra từ con người có sức tác động, quy tụ được nhiều
người về với họ dưới dạng hoàn toàn vô hình.
Theo
kinh Pháp Hoa, khi đức Thích Ca tập trung phân thân và Ta bà
biến thành Tịnh độ, mười phương Phật được huy động
tới; nhưng tới mà không tới, đi mà không đi, các đức Như
Lai không tập trung nhưng thiệt là tập trung.
Cũng
vậy, từ tâm đại bi của Duy Ma phóng lên nước Chúng Hương
và tác động vào Chúng Hương khiến các Bồ tát cùng theo
hóa Bồ tát trở về tư thất của Duy Ma. Ðến với tư cách
này mới hiện hữu được, mới thông lại một cõi được.
Cái gì phát xuất từ bên trong con người, phát xuất bằng
tình thương, bằng trí tuệ tạo được sức chi phối người
một cách kỳ diệu. Ở đây, Duy Ma tiêu biểu bản tâm thanh
tịnh kết hợp với trí tuệ tuyệt vời, thể hiện những
việc mà người bình thường không làm được.
Tới
vườn Yêm La, A Nan bắt gặp mùi hương lạ từ trước chưa
nghe. Hương này người tu cảm được. Có lúc ta ngồi yên,
không đốt hương, vẫn cảm thấy có mùi hương. Nhưng khi
ta bắt đầu kiểm chứng, trạng thái này liền biến mất.
Ở đây diễn tả tâm hồn yên tĩnh đến mức độ nào đó,
sẽ bắt gặp tương ưng với tâm hồn đồng một trạng thái.
Thấy Phật, nghe pháp dưới dạng này mới bước vào thế
giới tôn giáo. Còn mang đầy đủ hiểu biết thực tế của
phàm phu, hành giả vẫn đứng ngoài ngưỡng cửa, khó thâm
nhập thế giới quan bất tư nghì.
Ðức
Phật giải thích cho A Nan mùi hương lạ chỉ có trên nước
Chúng Hương của Phật Hương Tích. Hương này là ngũ phần
tâm hương. Hành giả có độ tâm thành sử dụng được ngũ
phần tâm hương ngang bằng với ngũ phần Pháp thân mới tương
giao với Ðức Phật và mùi hương mới hiện ra. Vì vậy trước
khi tụng kinh, chúng ta tụng :
Giới
hương định hương dữ huệ hương,
Giải
thoát, giải thoát tri kiến hương,
Quang
minh vân đài biến pháp giới,
Cúng
dường thập phương Tam Bảo tiền.
Nghĩa
là lòng thành của chúng ta phải chở được năm phần công
đức mà bài cầu nguyện nói lên. Muốn tiếp cận Ðức Phật,
hành giả tự kiểm lại thân tâm có trong sạch không, giới
đức đầy đủ không, tâm hồn yên tĩnh chưa, còn gì vướng
bận ràng buộc cuộc sống và tri thức hay không.
Kiểm
được đầy đủ ngũ phần tâm hương, hành giả và Phật
có năm tính chất ngang nhau, mới đồng thanh tương ứng, mới
thể hiện đúng ý nghĩa của cầu nguyện. Ngược lại, mang
tâm niệm tràn đầy tệ ác xấu xa cầu nguyện, Phật của
họ biến thành ma nghiệp.
Xá
Lợi Phất nói với A Nan rằng nhờ Duy Ma cho ăn cơm dư của
Phật Hương Tích, trong thân Ngài cũng có mùi hương này. Nghĩa
là ngũ phần Pháp thân Phật tác động Tăng đoàn, nên Tăng
đoàn cũng biến thành Pháp thân.
Ngày
nay, hương này còn lưu lại trong những người chân tu. Ðệ
tử Phật sống đúng lời Phật dạy, được xem là di sản
của Phật Thích Ca, là dư hương. “Ðàm hoa tận lạc hữu
dư hương”, bên trong tâm hành giả hoàn toàn thanh tịnh nên
tương giao với Phật đến mức giới thể tự thanh tịnh.
Lúc ấy, Phật lực gia bị, tác động thẳng vào tâm hành
giả, thực hiện được vài việc làm giống Phật. Thí dụ
Phật có 100 giới đức, ta bắt chước chỉ giữ được năm
giới cấm trong sạch. Ta cũng trở thành mẫu người tốt ở
trần gian, tiêu biểu cho phần hương thừa của Phật trên
cuộc đời.
Duy
Ma giảng cho A Nan rằng nếu là người phát tâm cầu đạo,
muốn tìm đường giải thoát khỏi sanh tử, lần chứng được
sơ quả, thì mùi hương này hết. Người đắc quả Tu đà
hoàn ăn cơm này, đắc A la hán, đạt được hàng bất thoái
chuyển, mùi hương mới hết. Từ hàng bất thoái chuyển đạt
đến quả vị Phật, mùi hương mới hết. Năm chặng đường
tu tiêu biểu tương ưng với năm loại cơm.
Thuở
nhỏ, đọc thấy điều này tôi thích quá, cứ muốn tìm cơm
Hương Tích ăn, nhưng chẳng thấy đâu. Tôi thường uớc ao
phải chi được gặp Duy Ma chỉ dùm sướng biết bao. Ðến
khi lớn khôn, tôi bắt đầu phát tâm, suy nghĩ nhớ lại mình
đã ăn cơm Hương Tích mà không biết.
Lúc
trước chưa tin Phật, chưa phát tâm, tôi cảm thấy nỗi khổ
luôn đè nặng thân tâm. Cuộc đời mình như thuyền không
lái giữa bão tố sanh tử, không biết trôi dạt về đâu.
Bất chợt, bắt gặp giáo lý Phật như chiếc phao cứu mạng,
niềm tin hướng mạnh về Tam Bảo. Tôi đã phát tâm hay tôi
đã ăn cơm Hương Tích.
Mọi
người trong chúng ta hồi tưởng lại quá khứ, lúc chưa phát
tâm đều thấy rõ nghĩa này. Bình thường chưa phát tâm, chúng
ta không có cảm tình với Phật giáo, đi ngang chùa không muốn
nhìn. Bỗng dưng cuộc đời rơi vào cảnh ngộ bế tắc cùng
cực, mọi việc thế gian trở thành vô nghĩa đối với chúng
ta. Lúc ấy, nhờ may mắn gặp được vị chân tu hay tình cờ
đọc sách Phật, tự nhiên trong khoảnh khắc đó, chúng ta
phát tâm. Ðó là ý nghĩa thứ nhất nhận được cơm Hương
Tích.
Khi
đã phát tâm, tiến sang giai đoạn hai, đối với hành giả,
mọi việc trên cuộc đời không còn hấp dẫn. Hành giả đem
hết sinh mạng đến với Phật, sống với pháp. Pháp mới
có công năng tác động tâm hành giả.
Cơm
Hương Tích hay Phật pháp được Duy Ma ví như thuốc dùng chữa
bệnh. Vi trùng phiền não nổi dậy liền bị pháp thủ tiêu.
Hành giả không quan tâm đến phiền não, chỉ lo nghe pháp,
học pháp, tụng kinh, phiền não tự tiêu. Trước khi phát tâm
bồ đề, chúng ta cũng đủ tham sân phiền não không thua ai.
Phát tâm rồi, giáo lý đem vào lòng, cuộc sống chúng ta tự
đổi khác.
Trong
cuộc đời tu hành, tôi nuốt từng trang giáo lý vào người,
thấy 84.000 phiền não từ từ xuất hiện. Tánh xấu nào xuất
hiện, tôi mang pháp Phật tiêu diệt tánh đó. Chẳng hạn như
tôi đang giận, vụt nhớ Phật Thích Ca, Văn Thù, Duy Ma v.v...,
liền chợt tỉnh. Nhớ lại mình muốn cầu Vô thượng đạo,
mà không vượt nổi những điều tầm thường, thật vô lý.
Nhờ
pháp Như Lai tác động, qua sự thanh lọc đào thải, đưa hành
giả đến quả Tu đà hoàn, tuy vẫn sống ở trần gian mà
không hề khổ lụy. Hành giả tiếp thu pháp, nhận được
niềm vui man mác, không cần người khác mang tới cái vui cho
mình nữa. Kinh Bát Ðại Nhân Giác điều bảy có nói tuy ở
thế tục, lòng của hành giả không còn ham ưa năm món dục
thế gian. Cơm Hương Tích đã biến hành giả trở thành một
con người khác. Nghĩa là hành giả thay đổi thành con người
khác trong biến dịch sanh tử của sát na tâm. Không phải đợi
chết thân này mới đổi.
Khởi
từ Tu đà hoàn, pháp Phật tác động, hành giả tự điều
chỉnh bên trong trở thành A la hán, cho đến quả vị Phật.
Tiến bước theo mô hình tu này, hành giả không cần nỗ lực
gia công dẹp phiền não, mà phiền não tự tiêu.
Khi
phiền não hết, pháp trở thành tịch diệt tướng, cũng như
vi trùng bị tiêu diệt thì thuốc tan. Có chúng sanh gây phiền
não làm tôi nhớ đến Phật. Nhưng không có chúng sanh phiền
hà, tôi cũng quên ngay Phật. Hay nói cách khác, Phật và chúng
sanh tánh thường rỗng lặng. Phật đẩy chúng sanh ở trong
tôi bay ra ngoài rồi thì ông Phật cũng không còn.
Từng
bước tu hành, từ khởi đầu phát tâm học kinh điển của
Phật, nghe pháp, phiền não xóa dần. Ðây là giai đoạn tu
văn huệ của Thanh văn thừa. Hành giả nào cũng phải trải
qua giai đoạn tu pháp Thanh văn này.
Duy
Ma nhắc hành giả chứng A la hán xong, phiền não tiêu sạch,
pháp cũng theo đó biến mất. Nếu còn giữ lại là còn chấp
pháp, không giải thoát. Người học pháp Phật, mà không hết
phiền não, càng học càng kiêu ngạo, được xếp vào hạng
tu sai pháp.
Giai
đoạn một, ăn cơm Hương Tích, pháp Thanh văn tiêu, chuyển
qua Duyên giác thừa. Ðem giáo lý đã học đối chiếu với
cuộc đời để tìm chân lý. Chứng được quả vị Bích Chi
Phật, hiểu chân lý, biết quan hệ giữa người với người,
người với thiên nhiên. Ðây là giai đoạn tu “tư huệ”
của Duyên giác thừa, tạo thành sự chứng biết của Bích
Chi Phật.
Hiểu
biết của Thanh văn là nhờ Thầy, nhờ Phật chỉ dạy, khác
với chứng biết của Duyên giác. Duyên giác hiểu biết do
đối cảnh hay tự suy nghĩ.
Nhờ
nghe người khác mới biết, là cái biết y khuôn. Nhiều khi
lập lại điều đã nghe, lại thành phản tác dụng, có hại.
Chúng ta cần suy nghĩ có nên lập lại cái đã nghe hay không.
Nếu lập lại để giáo hóa chúng sanh, mang lợi ích cho người,
thì nên lập lại. Nhưng lợi dụng lời Phật dạy nhằm thỏa
mãn lợi ích cá nhân hay đưa người đến tội lỗi, là ma.
Khi
hành giả suy nghĩ chín chắn, hiểu rõ, tìm đối tượng để
giáo hóa xong, bước qua Bồ tát đạo tu huệ, ứng dụng giáo
lý vào đời.
Trải
qua quá trình tam thừa giáo Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, hành
giả học, suy nghĩ và ứng dụng pháp Phật trong cuộc sống
(văn, tư, tu). Tam thừa giáo là quá trình tu, không phải ba
pháp riêng rẽ. Kinh Pháp Hoa xác định tam thừa đồng quy nhất
Phật thừa.
Trở
lại cuộc đời Ðức Phật, chúng ta thấy rõ Ngài cũng đi
theo lộ trình này. Khi còn là thái tử Sĩ Ðạt Ta, Ngài luôn
khao khát mở rộng tri thức, tìm học khắp nơi không biết
mệt mỏi. 5 năm tìm đạo, Ngài trải qua đoạn đường tu
“văn huệ” của Thanh văn thừa. Sau đó, Ngài tiếp tục
6 năm khổ hạnh, tu Thiền định và 49 ngày tư duy dưới cội
bồ đề, thực hiện giai đoạn “tư huệ” của Duyên giác
thừa. Ngài suy nghĩ những gì liên hệ đến nhân sanh, đạt
đến quả vị Bích Chi Phật hay Ðộc Giác. Nghĩa là thấy
rõ tương quan tương duyên của con người và muôn sự, muôn
vật trên cuộc đời.
Nếu
đến đây Ngài nhập diệt, thì không ai biết Phật là gì.
Cuối cùng suốt 49 năm Ðức Phật hành Bồ tát đạo, lặn
lội dọc triền sông Hằng thuyết pháp giáo hóa chúng sanh
hay “tu huệ”.
Mãn
49 năm kết thành tam thừa quả mãn. Bấy giờ, Phật Niết
bàn trở về bản vị Như Lai của Ngài ở Thường Tịch Quang
chơn cảnh. Ngài không còn giáo hóa chúng sanh, nhưng tác động
của Như Lai đối với chúng ta thật mãnh liệt rộng lớn
không cùng. Kinh diễn tả đó là pháp Tận và Vô tận giải
thoát hay Bồ tát bất tận hữu vi, bất trụ vô vi sẽ được
giải thích chi tiết hơn ở đoạn sau.
Phật
nhắc thêm A Nan rằng chư Phật mười phương thuyết pháp giáo
hóa chúng sanh, mỗi vị làm một việc khác nhau. Từ trước,
mọi người chỉ nghĩ có một Ðức Phật Thích Ca duy nhất.
Ðến kinh Duy Ma giới thiệu Ðức Phật đầu tiên là Hương
Tích, nhằm mở ra cho thấy nhiều Phật hiện tại. Các Ngài
tùy trình độ, nghiệp lực, cơ cảm của chúng sanh mà thuyết
pháp giáo hóa không đồng.
Sự
giới thiệu này cũng để dẫn chúng ta trở lại với lời
dạy của Phật Thích Ca : “Phật thuyết nhất âm chúng sanh
tùy loại giải”. Riêng trong loài người, tùy thân phận từng
người nghe tiếp thu pháp và vận dụng pháp Phật vào cuộc
sống mang lại kết quả thiên hình vạn trạng, không ai giống
ai.
Ðứng
ở góc độ này quan sát, chúng ta thấy Bồ tát có tâm hồn
cởi mở hơn Thanh văn. Thanh văn muốn mọi người thuần nhất
giống hệt nhau, nếu khác không chấp nhận; trái lại Bồ
tát đa dạng.
Ở
trên hiện tượng sanh diệt mà bảo đồng nhất, chỉ là ảo
giác. Vì vậy, kinh này chỉ cho Thanh văn thay đổi cách nhìn
theo Bồ tát. Ở đây diễn tả bằng sự kiện tất cả Bồ
tát phương trên hỏi Phật Thích Ca rằng khi các Ngài chưa
tới cõi Ta bà thường nghĩ thế giới hạ phương tầm thường.
Nhưng đến rồi mới thấy những điều kỳ lạ, xin Ðức
Phật dạy cho.
Theo
tôi, Bồ tát nước Chúng Hương nhằm chỉ cho hàng thú tịch
Thanh văn ưa trụ Niết bàn. Họ khép mình trong thế giới riêng
biệt. Tuy mang danh Bồ tát, cứ tưởng mình làm thầy là nhất;
nhưng lại không biết xã hội bên ngoài tiến bộ thế nào.
Khi bước vào đời, họ thấy việc làm của Bồ tát thật
lạ lùng, có ảnh hưởng vô hạn.
Phật
dạy A Nan rằng chư Phật dùng trí tuệ quán sát, nói pháp
thích hợp cho từng thế giới khác nhau. Có thế giới
dùng hương giáo hóa như nước của Phật Hương Tích. Thế
giới của Phật Vô Ðộng lại giáo hóa trong sự im lặng.
Cũng có thế giới dùng ngôn ngữ như : mộng huyễn, bóng vang,
tượng trong gương, trăng dưới nước để giáo hóa. Ðó là
pháp vô thường, khổ, không, vô ngã mà Ðức Phật Thích Ca
dùng giáo hóa chúng sanh ở Ta bà v.v...
Phật
dạy vô thường, khổ, không, vô ngã, chỉ cho thế giới của
chúng ta đang sống. Thanh văn tu theo pháp này, nhìn Ta bà dưới
dạng sanh diệt. Mọi việc cuối cùng đều hoàn KHÔNG, không
gì tồn tại trên thế gian. Họ quyết tâm bỏ thế giới sanh
diệt, tìm thế giới không sanh diệt, tiêu biểu như thế giới
Chúng Hương.
Ðây
là điều nhận lầm của người ở Ta bà đối với giáo lý
của Phật Thích Ca, là chấp trước của hàng Thanh văn đi
tìm thế giới khác với thế giới đang sống.
Thuyết
pháp đầu tiên của Phật về tứ thánh đế phân định rõ
ràng thế giới sanh tử và thế giới Niết bàn, một bên khổ
và nguyên nhân của khổ, một bên Niết bàn và con đường
đến Niết bàn.
Trên
bước đường tu, hành giả đi sâu vào thế giới KHÔNG, chợt
phản tỉnh rằng trong Ta bà này có gì khác nữa hay không.
Bồ tát Chúng Hương xin Phật dạy điều nghi ngờ ấy. Trước
kia, các Ngài lầm Ta bà xấu; nhưng nay thấy khác, thấy trong
xấu có tốt. Các Ngài muốn phát hiện cái tốt này, là muốn
tìm hiểu Bồ tát ở thế giới Ta bà sống và hành đạo như
thế nào.
Phật
dạy Bồ tát ở Ta bà tu hành, chắc chắn khác Bồ tát của
nước Chúng Hương, ở đó, họ không có việc làm; trong khi
Bồ tát của Ta bà có nhiều việc làm. Nhiều việc làm kết
thành pháp môn tu của Bồ tát và lấy giải thoát làm chính.
Thanh văn tu cũng lấy giải thoát làm chính. Phật thường nói
nước bốn biển chỉ có một vị mặn, 84.000 pháp Phật cũng
chỉ có một vị giải thoát. Tu hành không giải thoát, chỉ
luống công vô ích.
Pháp
tu giải thoát của Thanh văn là phải bỏ tục xuất gia. Việc
đầu tiên, phải từ bỏ sinh hoạt thế gian, không làm ruộng,
không làm quan, không buôn bán. Và từ bỏ gia đình, sự nghiệp,
chỉ đi khất thực.
Từ
bỏ tất cả, sống một cuộc đời không dính líu trần thế
để tiến đến việc dứt khoát thứ hai là bỏ phiền não.
Tu thì không được tham lam, giận hờn, si mê, ngã mạn ...
Còn người thế gian có đầy đủ tham giận lỗi lầm, thì
không ai chấp. Ra khỏi phiền não, vượt lên ra khỏi sanh tử,
chứng Niết bàn, đắc quả A la hán.
Từ
trước, Phật dạy muốn an trụ giải thoát trong thế giới
người tu phải vượt qua ba chặng đường : xuất thế tục
gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Cứ theo quá
trình này tu, bỏ thế tục, hết phiền não, chứng bồ đề.
Mọi người chấp nhận ý này của Phật một cách dễ dàng
Nhưng
đến đây, Phật lại dạy khác. Ngài không đặt giải thoát
một chiều như cách vừa nói. Ngài dạy “Tận và Vô tận
giải thoát là pháp tu giải thoát của Bồ tát nằm trong Trung
đạo đệ nhất nghĩa, mới thật sự giải thoát hoàn toàn.
Ðức
Phật dạy Bồ tát phương trên biết được giải thoát của
Bồ tát ở Ta bà, nghĩa là muốn dạy người xuất gia cần
phải biết sự giải thoát của người không xuất gia.
An
trụ thế giới giải thoát, thì được giải thoát; đó là
chuyện thường. Nhưng sống trong thế gian không giải thoát,
cũng được giải thoát; đó mới là giải thoát chân chính.
Người được mệnh danh xuất thế gian thường rơi vào tâm
chấp trước, tưởng rằng mình giải thoát. Nghĩ mình là thầy,
nhưng khi không được coi là thầy, thì việc khác rồi; tâm
hết giải thoát liền.
Thậm
chí có người quan niệm đơn giản rằng ta có cơm ăn,
chỗ ngủ; không quan tâm cơm này từ đâu đến, nhà ở từ
đâu có. Nếu nghĩ thêm, sẽ không giải thoát. Vì thấy người
nông dân dầm mưa dãi nắng cực khổ cho ta có miếng ăn, thấy
vật bị giết cho ta hưởng; người có chút lương tâm phải
cảm thấy xót xa.
Ta
nghĩ tại nghiệp của họ như vậy. Còn ta giải thoát thì
cứ ăn, vật cứ chết. Chuyện ai nấy làm, không dính líu
với nhau. Giải thoát này chỉ giới hạn. Thực tế liên hệ
giữa ta với vật bị chết, với người nông dân, là nhân
duyên phải còn.
Thanh
văn tu giải thoát chỉ tạm thời, chưa giải quyết dứt khoát
chuyện sanh tử. Thực tế không phải vậy, nhưng ta gán ép
cho nó để được giải thoát. Khi nhu cầu hàng ngày còn ràng
buộc chặt chẽ thân tứ đại, ta còn liên hệ với mọi người,
phủ nhận liên hệ này, ta đã rớt qua ngụy biện.
Phật
dạy trong kinh Pháp Hoa rằng khi hành giả đắc La hán phải
thấy liên hệ của ba tụ này, phải nghĩ vì tôi ăn mà vật
chết, vì tôi ăn mà người nông dân phải cực nhọc. Tâm
từ bi phát xuất từ đó, nên đắc La hán phải phát tâm bồ
đề. Không phát được tâm bồ đề, thuộc về hàng tăng
thượng mạn.
Bích
Chi Phật tu pháp quán nhân duyên, thấy rõ chỉ khi nào không
còn ăn mặc ở, nghĩa là chứng được chơn như thật tướng,
mới đạt giải thoát hoàn toàn.
Vì
vậy, cái nhìn của Bồ tát Hương Tích phiếm diện và thực
tế Phật dạy trong kinh Duy Ma có tính cách toàn diện, Ðại
thừa. Quyền Ðại thừa thấy có hai thế giới riêng biệt
và có sự phân công rõ rệt. Thật Ðại thừa chỉ có một,
không có hai, tùy từng chặng đường ta tiến tu trên bước
đường giải thoát mà thôi.
Ngay
trong thế giới Ta bà mới thật có Bồ tát. Ở thế giới
khác, chỉ có Thanh văn thừa hay người được mệnh danh là
Bồ tát, chỉ là Bồ tát quyền thừa, thuộc về Bồ tát tâm.
Họ cũng nghĩ thương vật bị giết, thương người nông dân
cực nhọc; nhưng vẫn thích ăn. Họ cho rằng chuyện ai nấy
làm. Nói cách khác, họ biết việc cần làm, nhưng không chịu
dấn thân.
Bồ
tát thật Ðại thừa phát tâm bồ đề, thấy được hiện
tượng xấu. Họ nghĩ ra cách xóa hiện tượng này và đi vào
cuộc đời để làm công việc xóa bỏ tệ xấu.
Bồ
tát của kinh Duy Ma đạt đến Tận và Vô tận giải thoát.
Trong khi giải thoát của Thanh văn một chiều, tức là có hai
thế giới : tận là thế giới sanh diệt, vô tận là thế
giới không sanh diệt. Thanh văn tu, diệt tận thế giới sanh
diệt, để thế giới không sanh diệt hay Niết bàn hiện ra
gọi là “Sanh diệt diệt, thời tịch diệt vi lạc”.
Từ
trước đến kinh Duy Ma, chỉ có giải thoát một chiều, bằng
cách tận thế giới hữu vi và sống trong vô tận của thế
giới vô vi. Vì chúng ta thường quan niệm kẹt hữu vi làm
sao giải thoát và bỏ vô vi cũng không giải thoát. Muốn giải
thoát phải bỏ hữu vi, trụ vô vi.
Ðến
kinh Duy Ma, chuyển sang giai đoạn Bồ tát “Bất tận hữu
vi, bất trụ vô vi”. Tại sao không trụ vô vi, không tận
hữu vi ?
Hữu
vi là pháp sanh diệt liên tục, cái này chết cái kia sanh, làm
sao tận được. Từng con người sanh ra và từng con người
lần lượt rời bỏ cuộc đời; nhưng thế giới này không
mất chúng sanh, thế giới này không tận diệt.
Bồ
tát nhìn thấy chân lý “Hữu vi bất tận”. Trong khi Thanh
văn thấy “Hữu vi tận”, nên vào Niết bàn. Thanh văn thấy
hữu vi là tận vì họ đeo kính cố chấp của nhị thừa,
ăn cơm Hương Tích nhưng không tiêu hóa được giống như bệnh
lờn thuốc, vi trùng không còn sợ thuốc nữa. Thuốc không
còn hiệu lực hay Phật pháp không tác động cho họ, đến
độ tu lâu trở thành tăng thượng mạn, nhất xiển đề.
Người chưa phát tâm, gặp Phật pháp, thì phát tâm. Nhưng
tu hư rồi, gặp Phật pháp chẳng thích thú gì, là lờn thuốc.
Hạng
nhất xiển đề tận hữu vi mà thực tế hữu vi không tận.
Họ phán rằng chánh pháp trụ thế 500 năm, tượng pháp 500
năm, mạt pháp 1000 năm; như vậy 2000 năm tận thế. Kinh Pháp
Hoa gọi họ là người uống lầm thuốc độc. Chúng ta sống
cách Phật hơn 2500 năm, mà “chưa tận” và tin tưởng con
cháu chúng ta còn nương theo sự nghiệp này phát triển hơn
nữa.
Duy
Ma khuyên Xá Lợi Phất hay Thanh văn đừng trụ vô vi. Vì hữu
vi không tận, trụ vô vi chúng ta sẽ thành lạc hậu, tự chết
và con em chúng ta sẽ thua cuộc đời.
Bồ
tát bất trụ vô vi nhìn thẳng cuộc đời, phát triển khả
năng, tri thức và hành động thích nghi. Trụ hữu vi là bỏ
mặc cuộc đời, đóng cửa phòng lại ngồi yên chờ tận
thế. Nhưng không tận thế, chúng ta sẽ khổ, con cháu sẽ
chết khô; không chết khô cũng thành ăn mày, vì đã bị cuộc
đời đào thải.
Duy
Ma bằng bản tâm thanh tịnh thấy rõ thế giới không tận.
Ngài mới khuyên đừng trụ vô vi. Tuy nhiên, đại chúng khó
chấp nhận, nên Duy Ma rủ Văn Thù dẫn đại chúng đến vườn
Yêm La thỉnh ý Phật phán quyết xem pháp nào đúng. Sự kiện
này nhằm nói lên ý gì ?
Theo
tôi, sau Phật Niết bàn, giáo lý được lưu truyền đời sau
mang hai khuynh hướng Ðại thừa và Tiểu thừa. Khuynh hướng
Tiểu thừa chấp nặng hình thức, coi đó là truyền thống
quý báu của đạo Phật không thể sửa đổi. Phật giáo Ðại
thừa không rập khuôn, chủ trương sinh hoạt gắn liền với
cuộc đời, làm lợi ích cho người.
Hai
khuynh hướng này dẫn đến kết quả người tu sống thoát
ly, không phù hợp với xã hội, trở thành lạc hậu. Họ không
phát triển đạo pháp được và chính bản thân cũng không
giải thoát. Người tu thuận theo thế gian để phát triển
đạo, nhưng càng phát triển càng thấy cách xa truyền thống
nguyên thủy.
Hai
quan điểm lý giải giáo lý Phật khác nhau, đưa đến mối
hoài nghi cho mọi người. Và Duy Ma làm nhiệm vụ trình Phật
xét xem mô hình nào đúng. Phật xác định Xá Lợi Phất
đại diện lập trường Tiểu thừa hay Thanh văn thừa và Duy
Ma tiêu biểu cho Ðại thừa hay Bồ tát đạo, cả hai đều
đúng.
Ngài
giải thích bằng cách đưa ra pháp môn “Tận và Vô tận giải
thoát”. Phật cho biết từ trước Ngài dạy Thanh văn “Tận
giải thoát”, không dạy “Vô tận giải thoát”. Ở thời
kỳ nào áp dụng “Tận giải thoát” và giai đoạn nào cần
tu “Vô tận giải thoát”? Cả hai đều là pháp Phật. Tuy
nhiên pháp Tận giải thoát dễ hiểu, dễ chấp nhận hơn.
Nghĩa là muốn giải thoát, đương nhiên phải cắt đứt ràng
buộc thế gian, sợ luân hồi phải chấm dứt điều kiện
tái sanh hay tránh cuộc đời. Pháp này dễ nghe, dễ chấp nhận,
dễ làm và bước thứ nhất này ai cũng làm được.
Thành
tựu đoạn đường đầu, Phật dạy thêm rằng giải thoát
nói trên chỉ có tính cách tạm thời, không vĩnh viễn. Ðó
là Niết bàn phương tiện mà Phật tạo ra cho Thanh văn.
Vì
vậy, đạt được pháp Tận giải thoát xong, Phật dạy Thanh
văn phải tiếp tục hành Bồ tát đạo để chứng Vô tận
giải thoát của Bồ tát.
Thế
giới Vô tận giải thoát thuộc thế giới vô vi, bất tư nghì,
không nói được. Kinh Pháp Hoa diễn tả các pháp tướng thường
tự vắng lặng là pháp Phật dạy Bồ tát, mà Thanh văn không
thể biết. Vì pháp ấy nằm ngoài ngôn ngữ, ngoài suy nghĩ,
thuộc bí mật tạng. Bồ tát đồng cảm, đồng hạnh với
Phật, mặc nhiên tự biết, ngang qua bản tâm thanh tịnh đạt
được Vô tận giải thoát mới trực nhận pháp âm Phật.
Phật
khẳng định quá trình tu hành của Ngài đi từ Tận giải
thoát đến Vô tận giải thoát. Ngài cho biết khi thành đạo,
tìm được người thợ xây ngôi nhà ngũ ấm nghĩa là chứng
được Tận hữu vi hay Tận giải thoát, cuộc đời không còn
ràng buộc Ngài. Mọi liên hệ với cuộc đời không còn, Ngài
không tái sanh hay chứng vô sanh.
Sau
khi thành đạo, Ngài quán nhân duyên, thấy liên hệ chằng
chịt giữa mọi người, họ tự làm khổ nhau. Muốn hết khổ,
có Niết bàn, theo Phật, chúng ta phải biết chuyển đổi mối
liên hệ xấu thành tốt. Làm thế nào để mọi người cùng
hợp tác xây dựng với chúng ta; vì chúng ta biết rõ một
cá nhân đơn lẻ làm việc không thể thành công.
Con
đường chuyển hướng xây dựng, bước ra cuộc đời, tất
yếu phải qua cửa Bồ tát đạo, phải ăn cơm Hương Tích,
phải có sức chịu đựng và đủ trí khôn mới dấn thân
vào đời. Cơm Hương Tích rất cần hay pháp Phật tác động
cho nghiệp và phiền não tiêu sạch. Ðạt đến Tận giải
thoát xong thì bước vào lộ trình Bồ tát đạo để cứu
nhân độ thế, không khó.
Phật
xác định Ngài giáo hóa chúng sanh thành tựu công đức dễ
dàng. Vì Ngài đã trải qua vô số kiếp ra vào sanh tử, kiên
nhẫn tu Bồ tát hạnh, tạo thành Báo thân Phật. Ðến khi
mọi việc không tồn tại, tất cả đều diễn biến tùy ý
Như Lai điều động, mới lên Niết bàn thật.
Niết
bàn này là giải thoát vô tận. Phật không cần làm, mọi
người tự làm, Phật sự tự thành. Thật vậy, Phật Thích
Ca Niết bàn hơn 2000 năm. Từ đó đến nay, từng thời kỳ,
các vị danh Tăng nối tiếp ra đời ở khắp mọi nơi. Các
Ngài diễn dịch giáo lý thích hợp với thời đó, làm sáng
tỏ pháp Phật, nên đạo Phật không bao giờ lỗi thời.
Phật
không dụng công làm việc này, nhưng đệ tử của Ngài hay
nói đúng hơn là công đức của Ngài đã làm. Tôi thường
nghĩ những điều gì hay, tốt đẹp của đời mình đem cúng
dường Phật. Tác phẩm lý giải kinh điển của Phật ở khắp
nơi trên thế giới, nhiều vô số, nhưng đều nói là của
Phật. Và đặc biệt hơn nữa, những gì lý giải đúng, hay
mới là của Phật; những sai lầm, dở, bị coi như ngụy tạo.
Theo
Phật bằng tâm niệm Ðại thừa, nếu thật đắc đạo, hành
giả phải hoàn toàn tốt. Ðiều sai xấu không thể đem gắn
cho hành giả. Phật dạy hoa sen không dính nước, Bồ tát không
nhiễm trần. Hành giả xóa sạch một phần phiền não trong
tâm, sẽ thấy một người xấu xa lánh chúng ta. Một phần
xấu của chúng ta còn, một người xấu tự đến với chúng
ta.
Tâm
hành giả thanh tịnh, thế giới thanh tịnh; đạo tràng vô
tướng là như thế. Trên bước đường tu, tất cả xấu ác
từ từ tan biến, những gì tốt đẹp dần dần quy tụ, hành
giả đã tu đúng Bồ tát pháp.
Phật
Thích Ca sau khi hoàn tất quá trình Bồ tát đạo, cảm thành
thọ mạng vĩnh hằng của Như Lai. Ngài không làm nữa, nhưng
giáo pháp vẫn bất tận mấy ngàn năm và chúng ta tin chắc
rằng mãi về sau cũng còn giá trị.
Phật
hành Bồ tát đạo kết thành Báo thân. Từ Báo thân hội nhập
lại cuộc đời, đưa vào các pháp, biến thành Pháp thân Phật.
Nghĩa là giáo pháp trong sáng toàn bích của Phật, mẫu mực
đạo đức thánh thiện của Ngài tác động lợi lạc, chỉ
đạo cuộc đời. Ðến đây mở ra cánh cửa cho hành giả
nào muốn xây dựng Vô tận giải thoát tất yếu phải đi
theo lộ trình Bồ tát đạo của Phật vạch ra.
Bồ
tát Duy Ma tiêu biểu cho Bồ tát đạt được Vô tận giải
thoát hay thành tựu pháp “Bất tận hữu vi, bất trụ vô
vi”. Giải thoát của Bồ tát Duy Ma là giải thoát không bỏ
hữu vi, không trụ vô vi. Ngài vẫn sống ở thế giới hiện
tượng sanh diệt, không bỏ nó. Ðó là điểm quan trọng mà
Bồ tát Hương Tích thán phục và kính nể Ðức Phật Thích
Ca cùng các Bồ tát ở Ta bà. Nếu cũng trụ vô vi, thì có
khác gì Bồ tát Hương Tích.
Không
trụ vô vi, không chấm dứt sinh hoạt ở thế gian, ngầm chỉ
cho Ðức Phật Thích Ca giải thoát ngay trên cuộc đời, không
tìm giải thoát ở thế giới xa xăm nào. Sau khi thành đạo,
trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, Ðức Phật đến với mọi
người thuộc mọi tầng lớp xã hội. Trong những hoàn cảnh
khác nhau, Ngài đều mang lợi lạc cho tất cả, nhưng ai cũng
phải nhìn nhận là Ngài giải thoát.
Phật
giới thiệu cho Bồ tát Hương Tích giải thoát thực sự của
Bồ tát Duy Ma, cũng nhằm chỉ sự hành đạo một cách tự
tại của Phật Thích Ca trên cuộc đời này.
Bồ
tát Bất tận hữu vi sống với thế giới sanh diệt, thấy
đúng thực tế và chấp nhận như vậy. Thực tế có người
làm ruộng, có vật bị chết và có người ăn. Nếu không
chấp nhận thực tế này, là rơi vào ảo giác, giống như
Bồ tát Chúng Hương ở thế giới khác bước vào Ta bà, không
biết gì về Ta bà.
Bồ
tát ở Ta bà phải biết việc thực tế Ta bà. Nhìn thực tế
này, Bồ tát nghĩ rằng từ khi mới phát tâm tu hành đạo
giải thoát cho đến thành La hán, chúng ta ăn biết bao nhiêu
cơm rau, không phải của một người, một nhà. Ăn cơm do đàn
việt mang đến, nay nghe họ gặp khó khăn khổ sở, mà ta dửng
dưng Niết bàn, thì quả thực vô lương tâm.
Vì
vậy, khi đắc La hán phải phát tâm bồ đề. Nhìn lại từng
kiếp, thấy liên hệ giữa ta và các loài chúng sanh quá mật
thiết. Ơn ta đã thọ của chúng sanh không thể nào kể xiết.
Người tu phải thấy ơn chúng sanh; dửng dưng với người
ta mang ơn, chắc chắn không phải La hán.
Trước
kia, vì lo tu, không thấy điều ấy; nhưng đắc đạo rồi,
phải thấy. Mục Kiền Liên thành La hán, thấy mẹ đọa địa
ngục. Ngài nhớ rõ vì mình, mà mẹ Ngài làm những việc ác.
Việc làm ác của Thanh Ðề có liên hệ với sinh mệnh của
Mục Kiền Liên, không thể lập luận bà tự ý làm, Ngài không
bảo; vì dù thuận hay nghịch đều là duyên có dính líu đến
mình.
Ðắc
đạo nhìn thấy người thân của ta nhiều đời đang sanh tử
khổ đau từng phần dưới đủ dạng khác nhau, thấy trong
tứ sanh lục đạo, tất cả các loài đều có liên hệ cha
me,ï anh em, bạn thù nhiều đời nhiều kiếp. Vì thế, thành
đạt rồi, có khả năng, hành giả nghĩ đến cách cứu vớt
họ để trả ơn tri ngộ trong hiện kiếp hay nhiều kiếp về
trước. Như vậy gọi là phát tâm bồ đề hành Bồ tát đạo.
Bồ
tát phát tâm nhìn vào thực trạng xã hội có tâm trạng giống
như Bồ tát Hương Tích nghe Phật nói liên hệ của ta với
tứ sanh lục đạo trong nhiều đời. Các Ngài thấy Phật nói
có lý, nhưng nhập cuộc hay không để các Ngài về ra mắt
Phật Hương Tích và nghĩ lại đã.
Thành
đạt quả vị La hán, tâm bừng sáng, thế giới quan hiện
ra, thấy thế giới sanh diệt, các loài trôi lăn trong sanh tử.
Từ đó, Bồ tát khởi ý niệm vào sanh tử, coi chốn sanh tử
như là vườn tiêu dao của mình, là thế giới Niết bàn. Vào
trần lao sanh tử mà kẹt sanh tử, không phải là Bồ tát.
Vì
vậy Bồ tát “Bất tận hữu vi”, điều kiện tiên quyết
phải đạt được A la hán vị, hết phiền não, vào đời
mới không bị đời làm ô nhiễm. Phật tử chúng ta tự xác
định lại xem đoạn sạch phiền não chưa. Nếu nhập cuộc
với tư cách con người đầy đủ tham sân phiền não, chắc
chắn sẽ chồng chất thêm phiền não nhiễm ô. Ðối với
hạng người này, xin cứ hướng Niết bàn đi thẳng.
Tuy
nhiên, dù chưa là La hán, Bồ tát Duy Ma đã nhắc nhở chúng
ta ở phần trước rằng những người ăn cơm Hương Tích chưa
được quả Dự lưu, đến khi được quả vị này, cơm mới
tiêu.
Ðiều
này nhằm nói lên rằng người chưa đắc đạo vẫn giáo hóa
chúng sanh được, với điều kiện cơm Hương Tích chưa tiêu.
Nghĩa là ta sống trên cuộc đời gặp không biết bao nhiêu
khó khăn buồn phiền, nhưng nhờ pháp Phật hằng hữu
trong lòng, hóa giải tất cả buồn phiền, giúp ta trụ giải
thoát.
Phiền
não bao vây Bồ tát bao nhiêu, Ngài vẫn bước tới. Bồ tát
lớn vững tiến dễ dàng và Bồ tát nhỏ vẫn có Phật pháp
che tâm. Khi bị người tác hại, ta liền tự nhớ hình bóng
từ bi giải thoát của Phật, nhớ lời dạy cao quý của
Ngài, mọi việc phiền muộn thế gian tự tiêu. Kinh ví pháp
Phật như thuốc uống vào, bao giờ vi trùng chết, thuốc tan.
Chúng
ta tu học, trầm mình trong giáo lý, mang pháp Phật vào lòng,
đi vào trần thế. Giáp mặt với đời, chấp nhận phiền
não, để cho thuốc Phật hóa giải, đưa ta đến bờ giải
thoát.
Vấn
đề quan trọng là cần kiếm cơm Hương Tích nuôi dưỡng thân
tâm. Thiếu cơm Hương Tích, chúng ta cũng chỉ là kẻ ăn xin,
đời đời lang thang trong sanh tử .