PHẨM
12
KIẾN
PHẬT A SÚC
I.
LƯỢC VĂN KINH
Ðức
Thế Tôn hỏi Duy Ma Cật : “Ông lấy cái gì quán sát để
thấy Như Lai ?”.
Duy
Ma Cật thưa : “Như con quán thật tướng của thân, quán Phật
cũng thế. Con quán Như Lai đời trước không đến, đời sau
không đi, hiện tại không ở, không quán sắc, không quán sắc
như, không quán sắc tánh, không phải tứ đại sanh cũng như
hư không, thuận ba môn giải thoát, đầy đủ ba minh, ba minh
ấy đồng đẳng với vô minh, không một tướng, không khác
tướng, không có tự tướng, không có tha tướng, không phải
không tướng, không phải chấp tướng, không thể dùng trí
mà hiểu được, không thể dùng Thức mà biết được,
không phải hữu vi không phải vô vi, dứt tướng nói năng
v.v...
“Bạch
Thế Tôn, thân Như Lai như thế, con quán cũng thế. Nếu người
nào quán theo đây gọi là chánh quán, quán khác gọi là tà
quán.
Lúc
ấy Xá Lợi Phất hỏi Duy Ma Cật : “Ông ở đâu chết rồi
sanh nơi đây ?”.
Duy
Ma Cật đáp : “Pháp của Ngài chứng được có chết rồi
sanh không ?”.
- Không
chết không sanh.
- Nếu
các pháp không có tướng chết rồi sanh, tại sao Ngài lại
hỏi ông ở đâu chết rồi sanh nơi đây? Ý Ngài nghĩ sao ?
Ví như hình nam nữ do nhà huyễn thuật hóa ra có chết rồi
sanh không ?
- Không
có chết rồi sanh.
- Ngài
không nghe Phật nói các pháp tướng như huyễn đó sao ?
- Có
nghe như thế.
- Nếu
các pháp tướng như huyễn thì tại sao Ngài nói rằng ông
ở đâu chết rồi sanh nơi đây? Xá Lợi Phất, chết là cái
tướng bại hoại của pháp hư dối, sanh là tướng tương
tục của pháp hư dối. Bồ tát dù chết không dứt mất gốc
lành, dù sống không thêm các điều ác.
Bấy
giờ, Phật bảo Xá Lợi Phất : “Có cõi nước tên là Diệu
Hỷ, Phật hiệu là Vô Ðộng, ông Duy Ma Cật này ở nước
đó chết rồi sanh nơi đây.
Xá
Lợi Phất thưa : “Chưa từng có vậy. Bạch Thế Tôn, người
này chịu bỏ cõi thanh tịnh mà thích đến chỗ nhiều oán
hại”.
Duy
Ma Cật nói với Xá Lợi Phất rằng : “Ý Ngài nghĩ sao ? Lúc
ánh sáng mặt trời chiếu lên có hiệp với tối không ?”
Xá
Lợi Phất trả lời : “Không, ánh sáng mặt trời khi mọc
lên thì không còn tối nữa”.
Duy
Ma Cật hỏi : “ Mặt trời tại sao lại đi qua cõi Diêm Phù
Ðề?”
- Muốn
đem ánh sáng soi chiếu sự tối tăm cho cõi Diêm Phù Ðề.
Duy
Ma Cật nói : “Bồ tát cũng thế, dù sanh cõi bất tịnh để
hóa độ chúng sanh, chớ không chung hiệp với kẻ ngu tối;
cốt dứt trừ phiền não đen tối của chúng sanh mà thôi”.
Lúc
ấy, cả đại chúng khao khát thấy cõi nước Diệu Hỷ, Ðức
Vô Ðộng Như Lai và các hàng Bồ tát, Thanh văn.
Phật
biết tâm niệm của chúng hội, liền bảo Duy Ma Cật : “Xin
hiện cõi nước Diệu Hỷ, Ðức Vô Ðộng Như Lai và các hàng
Bồ tát, Thanh văn cho chúng hội xem. Ðại chúng ai cũng đang
ngưỡng mộ”.
Duy
Ma Cật nghĩ rằng : “Ta sẽ không rời chỗ ngồi mà tiếp
lấy cõi nước Diệu Hỷ và các thế giới từ Diêm Phù Ðề
cho đến cõi Trời Ðao Lợi. Ta đưa thế giới kia vào thế
giới này, cũng như người ta mang một vòng hoa cho tất cả
đại chúng thấy”.
Nghĩ
như vậy rồi, Duy Ma Cật liền nhập định, hiện sức thần
thông, đưa tay mặt bứt lấy thế giới Diệu Hỷ đặt vào
cõi Ta bà này. Các Bồ tát và chúng Thanh văn cùng Thiên nhân
có thần thông đều cất tiếng thưa rằng : “Bạch Thế Tôn,
ai đem chúng con đi, xin Thế Tôn cứu hộ ”.
Ðức
Phật Vô Ðộng nói : “Không phải ta làm, đó lần thần lực
của Duy Ma làm như thế”.
Ngoài
ra, những người không có thần thông không hay không biết
mình đi đâu. Cõi nước Diệu Hỷ dù nhập vào cõi Ta bà,
mà không thêm không bớt. Còn cõi Ta bà này cũng không chật
hẹp, vẫn nguyên như trước.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni bảo đại chúng : “Các ông hãy xem cõi
nước Diệu Hỷ, Phật Vô Ðộng Như Lai, nước đó trang nghiêm
tốt đẹp, chúng Bồ tát và Thanh văn thanh tịnh”. Ðại chúng
thưa rằng : “Dạ, đã thấy”.
Phật
bảo các Bồ tát nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh như
thế, cần phải học hạnh của Ðức Vô Ðộng Như Lai.
Khi
hiện ra cõi nước Diệu Hỷ, cõi Ta bà có 14 na do tha người
phát tâm Vô thượng chánh đẳng giác, đều nguyện sanh ở
nước Diệu Hỷ. Phật Thích Ca liền thọ ký cho họ sẽ sanh
ở nước đó.
Sau
khi làm Phật sự xong, Duy Ma mang thế giới Diệu Hỷ trở về
bổn độ như cũ.
Phật
hỏi Xá Lợi Phất : “Ông thấy nước Diệu Hỷ và Ðức
Phật Vô Ðộng chăng ?”.
- Dạ,
bạch Thế Tôn, con đã thấy. Nguyện tất cả chúng sanh được
cõi nước thanh tịnh như Ðức Phật Vô Ðộng và thần thông
như Duy Ma Cật. Bạch Thế Tôn, chúng con được nhiều lợi
lành, được thấy Duy Ma gần gũi cúng dường. Còn những chúng
sanh hoặc hiện tại hoặc sau khi Phật diệt độ mà nghe kinh
này cũng được lợi lành. Huống chi nghe rồi tin hiểu, thọ
trì, đọc tụng giải nói, đúng như pháp tu hành. Nếu có
người cầm được kinh điển này, thì đã được kho tạng
pháp bảo. Nếu có người đọc tụng, giải thích nghĩa lý
kinh này, đúng như lời Phật dạy tu hành, thì được chư
Phật hộ niệm. Nếu có ai cúng dường người như thế tức
là cúng dường chư Phật. Nếu có người biên chép thọ trì
kinh này, chính là trong nhà người đó có Như Lai. Nếu người
nghe kinh này mà tùy hỷ người đó sẽ đạt “Nhất Thiết
Trí”. Nếu người tin hiểu kinh này, cho đến một bài kệ
bốn câu, rồi giải nói cho người khác nghe, phải biết người
đó được thọ ký quả Vô thượng chánh đẳng giác.
II.
GIẢI THÍCH
Mở
đầu phẩm, Phật Thích Ca hỏi Duy Ma làm sao thấy được Như
Lai. Câu hỏi này cũng được Phật hỏi Tu Bồ Ðề trong kinh
Kim Cang.
Theo
kiến giải của kinh Kim Cang “Nhược kiến chư tướng phi
tướng tức kiến Như Lai”, nghĩa là nhìn các tướng của
sự vật không phải sự vật, thì đó là Như Lai.
Tuy
nhiên, từ định nghĩa Như Lai là phi tướng dưới dạng chơn
không của Bát Nhã, dễ bị hiểu lầm với NGOAN KHÔNG, nên
chuyển sang thuyết kinh Duy Ma để chỉ bày diệu hữu. Kinh
mượn nhân vật Duy Ma để định nghĩa Như Lai, mới đúng.
Thật
vậy, Duy Ma hiện hữu trên cuộc đời, nhưng hoàn toàn sống
với bản tâm thanh tịnh. Vì cốt lõi của Ngài là Tịnh Danh
sống ở thế giới của Phật Vô Ðộng, nên Ngài thấy Như
Lai với tư cách con người ở dạng vô động, không còn bị
trần duyên chi phối. Trong khi Tu Bồ Ðề ở dạng ly thế gian,
trụ trong tam giải thoát môn : Không, vô tác, vô nguyện, nên
thế giới của Ngài là phi tướng.
Phải
hỏi Duy Ma là người thật, nhưng sống vô động, mới hiển
bày ý nghĩa đích thực về Như Lai được.
Câu
hỏi làm thế nào thấy Như Lai, đối với chúng Thanh văn,
thật lạ lùng. Ðứng trước Phật, thấy Phật là việc bình
thường; còn hỏi làm sao thấy Phật.
Duy
Ma trả lời cũng thật lạ và thật đơn giản rằng từ khi
sanh đến khi chết, tất cả những gì Ngài hiểu biết, nghe
thấy đều là Như Lai. Ngài thấy Như Lai qua hành động của
Ngài.
Câu
Duy Ma trả lời hoàn toàn khác với điều chúng ta thường
nghĩ Phật là đối tượng ở ngoài. Ðiểm này muốn nâng
nhận thức của chúng ta.
Kinh
Kim Cang không cho phép chúng ta dùng mắt thấy Như Lai, dùng
âm thanh cầu Như Lai; vì như vậy là người hành tà đạo
không bao giờ thấy Như Lai.
Hàng
Thanh văn, nhân, thiên thấy Như Lai là thầy dạy. Và Như Lai
diệt độ, họ đúc tượng thờ Ngài để tỏ lòng tôn kính.
Ðó là thấy Phật qua con người và hình tượng.
Tuy
nhiên, Phật phủ nhận ông Phật ở dạng này vì không giúp
ích gì cho chúng ta. Phải nhìn vào chiều sâu của vật chất
để thấy Phật bên trong, nhận được cái cao quý hàm chứa
trong sanh thân Sĩ Ðạt Ta là Báo thân viên mãn. Ðánh mất
Báo thân không còn là Phật.
Bồ
tát nhìn Như Lai qua Báo thân cao quý, hay quan sát tư tưởng,
việc làm trong quá trình tu đạo Bồ tát của Như Lai, để
tập thể nghiệm trong cuộc sống. Tùy theo mức độ trắc
nghiệm mà Bồ tát nhận được pháp phần. Ðó là ý nghĩa
Bồ tát thấy Như Lai trong hành động, trong cuộc sống của
mình. Nói cách khác, giải thoát của hành giả chính là giải
thoát của Như Lai; còn Như Lai ở ngoài đâu có tác dụng gì.
Duy
Ma thấy Như Lai qua hành động của Ngài. Mọi việc làm trên
cuộc đời đối với Duy Ma, dù thuận hay nghịch đều là
vấn đề tu dưỡng, đưa Ngài đến cứu cánh giải thoát.
Duy
Ma đứng ở lập trường giải thoát thực sự, mới được
quyền phát biểu như vậy. Riêng chúng ta còn ở vị trí nghiệp
báo đầy ngập mà nói thế, sẽ phạm tội nặng, trở thành
phá giới.
Hành
động của Duy Ma mới là hành động Phật. Suốt cuộc đời,
Ngài làm lợi ích chúng sanh, không lỗi lầm, được người
trong thành Tỳ Da Ly kính trọng. Hành động tội lỗi của
chúng ta không thể ghép là hành động Phật. Chỉ có hoa sen
mới không dính nước, chúng ta lường gạt thì không thể
là con Phật.
Duy
Ma nói “Hành động của ta là Như Lai”, “Ta” này là Duy
Ma, không phải là chúng ta phàm phu. Duy Ma dạy “Suy nghĩ của
ta là Như Lai”. Tư duy của hành giả là Như Lai với điều
kiện hành giả đã từng tu Thanh văn, Duyên Giác, tức từng
sống trong pháp Phật, lâu ngày suy nghĩ của hành giả cộng
với pháp Phật biến thành tâm pháp. Bấy giờ, mọi suy tư
đều từ bản tâm bộc phát và thể hiện trong cuộc sống.
Ðến ngày nào hành giả đạt quả vị Phật, hành giả và
Phật trở thành một.
Duy
Ma nói sự thật, Ngài thấy Như Lai qua hành động của Ngài,
một hành động tu chứng.
Ðến
đây, Xá Lợi Phất khởi ý niệm Duy Ma quá siêu tuyệt. Quả
thật việc làm lợi ích cho đời của Như Lai đều thể hiện
trọn vẹn trong cuộc sống của Duy Ma. Hành động Duy Ma là
hành động Như Lai, chỉ khác là Duy Ma đóng vai cư sĩ, Phật
Thích Ca đóng vai xuất gia.
Xá
Lợi Phất thấy thật mới tán thán Duy Ma, nghĩ rằng Duy Ma
không phải là người ở thế giới này, liền hỏi “Ngài
từ thế giới nào sanh lại ?”.
Xá
Lợi Phất thắc mắc vì đứng ở lập trường Thanh văn tu
lấy cuộc đời hiện tại làm chính. Trong khi Bồ tát lấy
vô tận thời gian làm chính. Khi thọ giới Thanh văn, phát nguyện
giữ giới từ đây đến suốt đời, đời sau không giữ
cũng được. Bồ tát thì khác, khi phát tâm bồ đề nguyện
giữ giới từ đây cho đến ngày thành Phật, trăm kiếp ngàn
đời đều giữ.
Từ
ý này, chúng ta thấy rõ thọ mạng của Bồ tát không gián
đoạn, còn thọ mạng Thanh văn chỉ giới hạn một kiếp.
Bồ tát lấy kết quả tu hành đời này làm nhân cho đời
sau;
cứ như vậy nối tiếp nhau thành một đường thẳng cho đến
Vô thượng chánh đẳng giác, không thay đổi.
Thanh
văn nghĩ chết thân này, sanh thân khác là nói về sanh thân.
Ðứng ở lập trường sanh thân, Xá Lợi Phất khởi ý niệm
Duy Ma ở thế giới khác chết sanh lại thế giới này.
Duy
Ma không trả lời Ngài ở thế giới Diệu Hỷ trở lại đây,
nhưng hỏi ngược lại Xá Lợi Phất rằng hiểu biết của
ông hay quả vị La hán của ông tu chứng có chết chỗ này
sanh chỗ khác không ?
Câu
hỏi của Duy Ma gợi cho chúng ta thấy đời sống tâm linh trước
khi đắc La hán và sau khi đắc La hán, hai vấn đề này là
một hay hai ?
Ðối
với Thanh văn bỏ thân này có thân khác; xuất gia riêng, cư
sĩ riêng. Nhưng dưới kiến giải của Bồ tát, thấy con người
bằng sinh mệnh tương tục, thấy anh linh bên trong đi từ kiếp
này sang kiếp khác. Cốt lõi đó không thay đổi, nhưng chiếc
áo bên ngoài là hình thức xuất gia hay cư sĩ có đổi. Con
người thật bên trong là một, tùy theo nghiệp mà thọ sanh,
mang đủ loại hình khác biệt.
Con
người tâm linh trước là “Thức” nhiều ham muốn. Nhưng
con người sau thì giải thoát. Hai con người đam mê và giải
thoát là một.
Sống
với nội tâm, chúng ta sẽ thấy diễn biến trong cơ thể rất
kỳ diệu. Tôi quan sát cuộc đời tu của mình hơn 40 năm,
thấy bên trong diễn biến, thay đổi từ từ. Lúc còn bé,
tâm thức tôi là Sa di, mang hình hài Sa di. Lớn lên, tôi thọ
giới Tỳ kheo thì thân tâm trở thành Tỳ kheo. Có hai hình
Sa di và Tỳ kheo, nhưng thật vẫn là tôi, không phải hai người
khác.
Con
người bất tử mới quan trọng. Ðừng nhận lầm con
người sanh diệt và sống với người sanh diệt, thì đời
đời ở trong sanh tử. Chứng vô sanh mà sống với sanh diệt
là nhận lầm vô sanh.
Trong
con người chúng ta có dạng sanh diệt do tứ đại ngũ uẩn
sanh diệt. Nó sanh diệt từng niệm tâm, về vật chất và
tinh thần đều biến đổi. Tuy nhiên, trong dạng biến đổi
của sanh diệt, chúng ta nhận chân được cốt lõi hằng hữu
không thay đổi, không sanh diệt gọi là vô sanh, dù cho chúng
ta có thay hình đổi dạng trong kiếp luân hồi.
Bao
giờ phiền não nhiễm ô rơi rụng hoàn toàn, con người thật
là chơn tánh tự hiện ra. Hành giả cảm thấy nhẹ nhàng,
không dính líu gì đến cuộc đời phiền hà, chứng được
Hư không thân. Nhưng từ Hư không thân tác dụng vào cuộc
đời một cách kỳ diệu. Tuy không còn ham muốn gì, mọi việc
đều xảy ra đúng pháp gọi là Diệu hữu. Lúc ấy, không
cần việc tốt, việc tốt tự đến, không sợ tệ ác mà
nó tự tránh. Ðó là thành quả của người chứng vô sanh.
Riêng
chúng ta chưa đắc đạo, còn chết ở thế giới này và sanh
vào thế giới khác, gọi là phần đoạn sanh tử. Chúng ta
không chủ động được việc sống chết, muốn không sanh
tử nhưng phải sống trong sanh tử theo định luật của sanh
tử. Chúng ta phải sanh phải chết; muốn khác cũng không được,
mãi mãi ở trong vòng luẩn quẩn, bỏ xác này thọ xác khác.
Bồ
tát thông đạt Phật đạo đã vượt ra ngoài sống chết của
sắc thân. Trí giác của Bồ tát hoàn toàn tự tại. Thân này
đối với Bồ tát giống như chiếc áo thay đổi tùy
theo mùa cho thích hợp.
Tất
cả Bồ tát hiện hữu khắp nơi không vì tham dục thế gian
mà sanh lại như chúng ta. Các Ngài trụ ngoài sống chết, nhưng
vẫn sống với sống chết.
Không
phải một Bồ tát chết và sanh ra Bồ tát khác. Các Ngài tùy
hạnh nguyện hiện thân đó đây, để thể hiện Bồ tát hạnh,
làm thềm thang cho các Ngài thăng tiến đến quả vị Toàn
Giác.
Trên
bước đường hành Bồ tát đạo, cũng từ một con người
này, không phải người khác, Bồ tát trưởng thành dần theo
từng bước tu chứng. Vẫn là một con người từ sơ phát
tâm đến thành quả Vô thượng, Bồ tát đạt pháp nhãn, do
tâm cọ sát với thực tế cuộc sống, tác động cho phiền
não rơi rụng và trí giác sanh ra. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả rằng
sơ phát tâm thủy thành chánh giác. Khi phát tâm bồ đề rồi,
ta là Phật; ông Phật này ở dạng chuyển biến dần, tri thức
mỗi ngày phát triển và nhìn đời chính xác hơn, cuối cùng
thấy Như Lai là thấy sự vật đúng như thật.
Lý
vô sanh theo Duy Ma, không từ đâu đến và không về đâu; nó
có khắp tất cả là thật chứng của người đắc đạo.
Tuy nhiên, hàng nhị thừa khó hiểu, khó chấp nhận.
Phật
Thích Ca đỡ lời cho Duy Ma bằng cách chỉ đại chúng biết
Duy Ma là người ở nước Diệu Hỷ, một đệ tử lớn của
Phật Vô Ðộng sanh lại Ta bà. Ðiều này cho thấy Duy Ma thân
ở Ta bà nhưng tâm ở thế giới Diệu Hỷ hay đó là pháp
của hành giả tu Thiền.
Thân
ở Ta bà, nghĩa là mang ngũ uẩn thân sống trên cuộc đời
thì mọi người có khổ cực nào, hành giả cũng có đủ cái
khổ đó. Tuy nhiên, hành giả khác người ở điểm lòng hành
giả luôn sống với nguồn vui vô tận không diễn tả được
gọi là Diệu.
Nhờ
tâm Duy Ma an trụ trong thế giới an vui, Ngài mới chịu nổi
cuộc đời này. Từ thế giới Diệu Hỷ, Duy Ma hiện hữu
ở Ta bà làm lợi lạc chúng sanh, thân bên trong vẫn hoàn toàn
vô động.
Ý
này nhắc chúng ta nếu hành Bồ tát đạo tâm còn loạn động,
chưa thật vui, chắc chắn sẽ đọa. Vì vậy, khi tôi làm điều
gì cảm thấy không vui, tôi bỏ ngay, dù việc quan trọng đến
đâu. Cần lưu ý rằng tất cả gì của trần gian chỉ làm
hư tâm chúng ta mà thôi.
Muốn
hành Bồ tát đạo, tâm phải hoan hỷ. Chúng ta làm việc với
tất cả niềm vui sướng, việc dù khó mấy cũng làm được;
không vui việc nhỏ làm cũng không nổi. Trên bước đường
hành đạo, có những việc tôi đề xuất rồi lại bỏ, vì
muốn giữ nguồn sống bên trong.
Nguồn
vui trong lòng mất là mất tất cả. Cái vốn quý giá của
thế giới Diệu Hỷ xin đừng rời bỏ. Lúc nào cũng nhớ
mang tâm đặt vô thế giới Diệu Hỷ, luôn sống bên cạnh
Phật Vô Ðộng.
Duy
Ma sống với Phật Vô Ðộng, thấy Phật Vô Ðộng. Tại sao
đại chúng không thấy ? Chúng ta tu suốt đời không thấy
Phật, thật tủi hổ.
Ðức
Phật xác định rằng chưa thấy Phật Vô Ðộng, nghĩa là
chưa thấy Phật Thích Ca. Lắng lòng thanh tịnh như Duy Ma, mới
thấy Phật thật. Như phần đầu đã nói, Duy Ma tiêu biểu
bản tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, Phật mới hiện, là điều
Phật Thích Ca muốn dạy. Thấy Phật bằng tâm động loạn
là Phật của “căn trần thức”, không phải Phật thiệt.
Từ
Ðức Phật Vô Ðộng (hay còn có tên là Ðức Phật A Súc)
mà Duy Ma an trụ, quán sát thấy Như Lai, chúng ta trở qua kinh
Bảo
Tích tìm hiểu về Ðức Phật Vô Ðộng. Nhờ đó, hiểu rõ
ý nghĩa thấy Như Lai của Duy Ma hay ý nghĩa Như Lai mà Phật
muốn chỉ chúng ta. Ðó là sự hội tụ trong con người của
chính đức Thích Ca hai phần vô động và sanh diệt.
Trong
kinh Bảo Tích, Phật Thích Ca dạy rằng Phật A Di Ðà và Phật
Vô Ðộng đều có nhân duyên với người ở Ta bà và đồng
thời trong Ta bà cũng có nhiều Bồ tát từ hai thế giới kia
sanh lại.
Thế
giới của Ðức Phật A Di Ðà ở phương Tây gọi là Cực
Lạc, tức cùng tột của sự vui thích. Thế giới của Ðức
Phật Vô Ðộng ở phương Ðông mang tên Diệu Hỷ, là nỗi
vui mừng không diễn tả được.
Các
Bồ tát phương Tây đến Ta bà rất nhiều. Nhưng có một Bồ
tát được nhiều người nhớ tưởng, tôn thờ kính ngưỡng
là Bồ tát Quan AÂm. Bồ tát Quan AÂm nghe tiếng kêu đau khổ
của chúng sanh ở Ta bà, Ngài xuất hiện dưới 33 dạng thân
khác nhau.
Bồ
tát ở phương Ðông đến Ta bà cũng nhiều. Trong kinh Duy Ma,
Ðức Phật giới thiệu Bồ tát Duy Ma Cật từ thế giới Diệu
Hỷ hiện thân lại Ta bà. Ngài chỉ xuất hiện dưới hình
thức cư sĩ, mà tác động của Ngài ảnh hưởng mọi người.
Tuy
cùng là Bồ tát đồng một hạnh làm lợi ích chúng sanh, việc
làm của hai Bồ tát Quan AÂm và Duy Ma khác nhau. Từ khác biệt
này chúng ta theo dấu chân Quan AÂm về thế giới phương Tây
nhận thấy muôn màu muôn vẻ. Vì thế, đức Quan AÂm hiện
lên nhân gian cũng chi phối xã hội dưới muôn hình dạng khác
nhau.
Trái
lại, thế giới Diệu Hỷ ở phương Ðông thuần tịnh;
nên Duy Ma đến Ta bà với tư cách thuần một, không tạp.
Ngài không cần hiện đủ tất cả thân hình, nhưng chi phối
được tâm tưởng của mọi người dưới dạng tịnh tâm.
Vì
thế giới Ta bà là thế giới tương đối, Phật phải nói
hai pháp tương đối : động và tịnh. Từ đó phát sinh ra
hai pháp môn tu : pháp môn Tịnh độ đưa hành giả về thế
giới phương Tây của Phật A Di Ðà và pháp môn Thiền để
hành giả trở về bản tâm thanh tịnh của chính mình. Và
từ thanh tịnh này vẫn tạo được thế vạn năng không kém.
Thế
giới phương Ðông và phương Tây gợi cho chúng ta có thêm
suy nghĩ về hiện tượng giới và bản thể giới. Thế giới
Diệu Hỷ của Ðức Phật Vô Ðộng phải chăng diễn tả một
dạng khác của bản thể giới. Và thế giới Cực Lạc phải
chăng là một dạng khác của hiện tượng giới. Tất cả
những gì Phật A Di Ðà xây dựng thành Cực Lạc, là quá trình
bắt nguồn từ hiện tượng để phát triển hiện tượng.
Tịnh
Phật quốc độ hay xây dựng thế giới hiện tượng tốt
đẹp đến mức nào, tùy theo trí khôn và khả năng của hành
giả. Ðạt đến khả năng cùng tột và trí tuệ siêu tuyệt
như Phật A Di Ðà, sẽ hình thành được thế giới Cực Lạc.
Thật
vậy, đứng về mặt hiện tượng, nếu hành giả có tầm
hiểu biết tuyệt đỉnh chỉ đạo, thì tất cả người và
vật đều theo ý muốn. Ở đó phải là Cực Lạc, không
còn có yêu cầu hay vấn đề đặt ra nữa. Ngược lại, thế
giới Diệu Hỷ ở phương Ðông đi về bản thể của sự
vật, không đi về sự tướng của sự vật. Không phân biệt,
vận dụng, chi phối sự tướng nữa, vì dưới mắt hành giả
tất cả pháp đều như huyễn. Sự vật tồn tại trong trạng
thái sanh diệt, không có pháp nào tồn tại vĩnh viễn. Tất
cả việc trần gian cuối cùng đều quy về Không. Thế giới
Diệu Hỷ của Phật Vô Ðộng là thế giới Không, thế giới
Thiền học, thế giới của tự tánh, của bản tâm.
Tóm
lại, chúng ta tu hành dưới hai dạng. Một dạng hướng ngoại
cho những hành giả có nhân duyên với Phật A Di Ðà. Và một
dạng hướng nội cho hành giả có nhân duyên với Phật
Vô Ðộng.
Trên
bước đường tu, hành giả đừng để tâm giao động. Bằng
mọi cách, phải đạt đến trạng thái tâm hồn yên tĩnh,
là mức khởi đầu để trở về thế giới Vô Ðộng.
Duy
Ma cho biết Ngài thấy Như Lai qua trạng thái diễn biến của
tâm. Tâm Ngài hoàn toàn không giao động trước sự vật. Vấn
đề giữ giới và phá giới, tốt và xấu không còn tồn tại
trong lòng Duy Ma.
Duy
Ma sanh ở thế giới Phật Vô Ðộng, Ngài qua thế giới Ta
bà. Nghĩa là trạng thái sanh diệt của cuộc đời không làm
Ngài giao động. Ngài thanh tịnh hoàn toàn mới mang danh xưng
Tịnh Danh, tức Duy Ma đã tìm thấy Như Lai rồi.
Ngài
Thiên Thai ví tâm chúng ta như mặt nước phẳng để ánh trăng
hiện vào. Ðối với hành giả, vấn đề quan trọng làm sao
có mặt nước để bắt được ánh trăng; làm thế nào tâm
ta hoàn toàn yên lặng để thấy được Như Lai.
Chính
Phật Thích Ca khi tu hành đạo Bồ tát cũng chỉ chuyên trụ
một niệm tâm vô động, dù việc thế gian luôn biến động;
nên Ngài được thọ ký là Vô Ðộng Bồ tát.
Riêng
tôi, nhờ nương theo pháp Duy Ma dạy đối trước mọi sự
kiện xảy đến cho mình thường tự kiểm tra tâm lượng của
tôi xem thử tham sân phiền não còn áp đảo không. Nó vừa
khuấy động, tôi trấn áp ngay. Tôi suy nghĩ và trắc nghiệm
pháp tu này nhiều, nên sống trong môi trường càng động loạn
bao nhiêu tôi càng từ bỏ rời xa nó bấy nhiêu. Nhờ sống
an trụ trong bất động, tôi biết vấn đề chính xác và giải
quyết đúng đắn, trưởng thành trên đường đạo.
Bước
theo dấu chân Duy Ma, trực nhận được sự gia bị của Phật
Vô Ðộng, hành giả và Phật Vô Ðộng thông với nhau, hành
giả mới có tâm hồn bất động trong thế giới động loạn.
Vì
vậy, nếu không có nhân duyên đắc độ với một Ðức Phật
nào đó, chúng ta không tu theo pháp Ngài chỉ dạy được. Nhờ
nhân duyên căn lành tạo thành sức thu hút giữa ta và Phật.
Tuy không gần Phật trên hiện tượng giới, nhưng tâm hồn
ta và Phật thông nhau, mới nhận được sự gia bị, mà người
ngoại cuộc không thể nào cảm được.
Trở
về thế giới phương Ðông của Phật Vô Ðộng, nghĩa là
hành giả đi lần về lý tánh để hiểu sự vật dưới dạng
nguyên thể và tiến lên thực nghiệm trong sinh hoạt tâm linh
để nắm bắt được, vận dụng được lý tánh. Bước vào
con đường lý tánh, hành giả xa rời sự tướng bên ngoài,
tất nhiên thế giới trở thành Không.
Các
La hán đắc đạo cũng an trụ thế giới Không để không thấy
sanh diệt mà đi lần vô lý tánh. Tuy nhiên, thế giới Không
này không thật, vì thế giới hiện tượng vẫn hiện hữu.
Lấy ví dụ dễ hiểu như khi tôi trụ tâm lại, dù trước
mắt tôi có thực đông người, nhưng đối với tôi quý vị
đều biến mất.
Thế
giới KHÔNG này là thế giới KHÔNG của hành giả tu Thiền,
một thế giới quan thuần lý khi hành giả nhiếp tâm hay hồi
quang phản chiếu, đi ngược về lý tánh hay bản thể, xa rời
hiện tượng trần cấu.
Trên
bước đường trở về thế giới thể tánh của Ðức Phật
Vô Ðộng, hành giả phản văn tự kỷ, đi vào chiều sâu của
tâm hồn để tìm ra thế giới Diệu Hỷ hay tìm nguồn vui
của chính tâm hồn mình, không còn lệ thuộc ngoại cảnh.
An trú trong Diệu Hỷ mới tu được. Còn mượn thú vui của
trần tục để sống, ta không bao giờ thỏa mãn và đời đời
ở trong sanh tử.
Thế
giới bản tâm hay tự tánh của người tu Thiền so với thế
giới hiện tượng của chúng sanh hoàn toàn khác hẳn. Từ
trong thế giới Không này, vật hiện hữu. Nhưng bất giác,
một vọng tâm hiện thì muôn ngàn thế giới trùng trùng duyên
khởi nổi dậy.
Sanh
diệt trong tâm biến hiện nhanh chóng, linh hoạt hơn sanh diệt
của hiện tượng bên ngoài. Chính vì vậy, Ngài Thiên Thai
chứng ngộ thấy được trong một niệm tâm của chúng sanh
có đến 3000 thế giới. Bồ tát đắc đạo có thể thu vô
số kiếp trong vị lai thành một niệm tâm.
Hành
giả khởi tu từ thế giới hiện tượng đi vào thế giới
bản thể rất khó. Vì giữa thế giới lý tánh nội tâm và
thế giới hiện tượng của “Thức” có một sự ngăn cách
rất lớn. Vượt qua bức màn sắt giữa hiện tượng và bản
thể là vấn đề không đơn giản.
Hành
giả tu Thiền có trạng thái tâm yên tĩnh và nếu có nhân
duyên căn lành với Ðức Phật Vô Ðộng, sẽ thâm nhập thế
giới của Ngài. Nếu không, hành giả cũng dễ dàng lọt qua
thế giới ma của ngoại đạo.
Những
người tham dự pháp hội Linh Sơn được Phật Thích Ca
nâng lên thế giới KHÔNG, mới thấy được Phật Vô Ðộng.
Hành giả muốn diện kiến Phật Vô Ðộng, cũng phải đạt
đến trạng thái tâm Không, thế giới hiện tượng hoàn
toàn biến mất.
Từ
thế giới hiện tượng, hành giả từng bước một vượt
qua vô số chướng ngại để đến thế giới lý tánh và từ
thế giới lý tánh đi ngược lại hiện tượng cuộc đời
làm đạo. Như vậy, hành giả bước đúng lộ trình của Duy
Ma đã đi từ thế giới Diệu Hỷ đến Ta bà và từ Ta bà
trở về Diệu Hỷ, thể hiện được lý tánh vô ngại.
Ði
đến cùng tốt của lý tánh sẽ bắt gặp thế giới Diệu
Hỷ, đó là thế giới tâm hoàn toàn thanh tịnh. Từ tâm vô
động, thế giới trở thành vô động, tất cả vật bấy
giờ tùy tâm hiện ra cảnh.
Trong
kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy rằng tâm ta có thể sanh tất cả
pháp, giống như tất cả hoa mầu đều sanh từ đất.
Sanh
từ tâm nên hành giả điều chỉnh tâm hoàn toàn rồi, thì
trên mảnh đất tâm này hành giả trồng pháp nào sẽ có pháp
đó. Ðây là phương cách tu trên bản thể, không tu ở hiện
tượng.
Vì
tu ở dạng bản thể, nên trên mặt hiện tượng không thấy
họ làm gì, không tụng niệm lễ bái, cúng dường nhưng đã
gom được tất cả thiện pháp trong tâm và từ trong tâm lưu
xuất ra tất cả thiện pháp.
Duy
Ma hiện hữu và sinh hoạt trên cuộc đời dưới dạng này,
Ngài giáo hóa thành tựu mọi tầng lớp. Bấy giờ, toàn bộ
ngũ ấm thế gian, quốc độ, chúng sanh đều từ tâm hiện.
Nói chung, Bồ tát tu trên lý tánh, nên hiện thân, hiện cảnh
tùy tâm.
Nắm
được yếu chỉ này, chúng ta biết mọi hiện tượng thế
gian tốt hay xấu đều từ tâm ta sanh ra. Vì vậy, nhìn sự
vật xảy đến mà biết được tâm mình và điều chỉnh tâm
để vật tự tốt theo.
Ðối
với người tu tâm hay tu Thiền, không việc gì trên trần gian
mà không làm. Vì họ điều động vật trên lý tánh, không
điều trên hiện tượng. Ðức Phật Vô Ðộng tiêu biểu cho
người đi về lý tánh, khác với Ðức Phật A Di Ðà đi về
hiện tượng.
Hai
loại thế giới lý tánh và thế giới hiện tượng khác nhau
đều gồm đủ trong một thế giới tương đối của Ta bà,
không phải ở hai thế giới xa xôi riêng rẽ nào khác. Trở
lại tự tâm con người mà sanh ra hai pháp tương đối, hành
giả nương theo một trong hai pháp tương đối này để tu.
Tuy
nhiên, trụ tâm lại thì thế giới Diệu Hỷ và Cực Lạc
đều ở ngay trong tâm của hành giả. Lúc ấy, loại hình thế
giới thứ ba hiện ra cho hành giả, thể hiện sự lý viên
dung vô ngại, giữa hiện tượng và bản thể không cách ly
cũng không mâu thuẫn, mà là một thể thống nhất vậy.
Ðức
Phật giới thiệu thế giới Cực Lạc hay thế giới Diệu
Hỷ nhằm mục tiêu mở ra cho chúng ta thế giới xây dựng
trên
căn bản “Tâm tịnh, thế giới tịnh”. Ngài mang Tịnh độ
đặt vào Ta bà hay triển khai mô hình thế giới lý tưởng
Cực Lạc và Diệu Hỷ cho chúng ta xây dựng; không phải giới
thiệu để đem con người về thế giới Cực Lạc, Diệu Hỷ.
Tóm
lại, theo Duy Ma, muốn hiểu Như Lai, hành giả phải sống ở
thế giới Diệu Hỷ, phải gặp Phật Vô Ðộng và an trụ
trong bản tâm thanh tịnh. Duy Ma hội đủ ba điều kiện này,
Ngài kết luận rằng từ sanh tới chết, bất cứ điều gì
Ngài thấy biết ở Ta bà đều là Như Lai.
Phật
hỏi Duy Ma giải thích về Như Lai nghĩa là gián tiếp giải
thích sinh hoạt của Ðức Thích Ca cho chúng Thanh văn nhận
rõ được Thích Ca chính là Như Lai.
Trên
bước đường lập chí tu hành, hành giả học hạnh vô động,
giải hạnh vô động, sống trên cuộc đời với bản tâm
thanh tịnh, mới thấy Thích Ca Như Lai phi thường, khả
năng vô tận của Như Lai lực tồn tại bất tử qua hơn 25
thế kỷ.
Sau
khi cho đại chúng biết Duy Ma là Bồ tát sống ở thế giới
Diệu Hỷ của Phật Vô Ðộng, Phật bảo Duy Ma hãy giới thiệu
thế giới ấy. Kinh diễn tả rằng Duy Ma hiện thần thông
đưa tay mặt bứt thế giới Diệu Hỷ đặt vào Ta bà.
Theo
tôi, thời xưa có cách diễn tả riêng của họ. Ở thời đại
chúng ta, có thể hiểu vấn đề này theo lãnh vực khoa học
như sau. Thí dụ thế giới khác được mang đặt vào thế
giới này bằng cách qua hệ viễn thông, truyền đến các máy
Tivi, người ta đưa hình ảnh các quốc gia khác nhau trên khắp
năm châu cho chúng ta xem.
Kinh
Duy Ma ở thời triết học, nên chúng ta phải hiểu theo nghĩa
triết học. Phật bảo Duy Ma đưa Diệu Hỷ về cho Ta bà xem
vì Duy Ma đã thể hiện nếp sống Bồ tát tại đây rồi.
Tất cả thành quả đó biểu lộ đầy đủ trong con người
sống thật của Duy Ma. Nghĩa là Duy Ma đã thể hiện Bồ tát
đạo ở thành Tỳ Da Ly, làm cho thành phố trở nên giàu đẹp,
lương thiện, sống trong tình thương của Phật Vô Ðộng.
Và Duy Ma Niết bàn, Ngài cũng mang thế giới Diệu Hỷ theo,
trả thành phố Tỳ Da Ly trở về đời sống hèn mọn như
cũ. Ðó là ý nghĩa triết học của sự kiện đem Diệu Hỷ
về Ta bà.
Xá
Lợi Phất hỏi Duy Ma rằng Ngài ở đây muốn qua thế giới
Phật Vô Ðộng không được. Tại sao Duy Ma ở thế giới Vô
Ðộng mà qua đây mang thân tứ đại ngũ uẩn chi cho khổ.
Duy
Ma trả lời tứ đại ngũ uẩn là tứ đại ngũ uẩn, Bồ
tát là Bồ tát. Nhìn tứ đại ngũ uẩn cho là Bồ tát, không
đúng. Xác thân của Bồ tát, Duy Ma ví như chiếc áo của chúng
ta. Mặc áo rách hay áo tốt cũng người đó, mặc áo Như Lai
cũng vậy và áo ăn mày cũng thế thôi. Tuy áo khác màu, nhưng
người vẫn là một.
Ðể
trả lời tâm niệm của Xá Lợi Phất thương hại cho Bồ
tát vào nhân gian phải thọ khổ, Duy Ma hỏi Xá Lợi Phất
ánh sáng mặt trời chui vào bóng tối, ánh sáng có bị bóng
tối làm khổ không. Ánh sáng đạo lý làm sáng lòng người,
thì có bị lòng người làm khổ nó không ?
Theo
Duy Ma, lòng người có sáng có tối, khi khổ khi vui; nhưng tính
chất của ánh sáng không bao giờ thay đổi, nó đến đâu
chỉ làm sáng tỏ nơi đó. Cũng vậy Bồ tát hiện hữu trên
cuộc đời làm sáng đẹp cuộc đời bao nhiêu, bản chất
giác ngộ của các Ngài cũng không vì đó mà đổi thay.
Bồ
tát tồn tại song hành với chúng sanh trên vạn nẻo đường
đời bằng cách khoác vào người cái thân già, trẻ, giàu,
nghèo, sang, hèn chỉ nhằm thể hiện mục tiêu duy nhất là
mang lợi lạc, an vui, giải thoát cho mọi người.