PHẨM
13
PHÁP
CÚNG DƯỜNG
I
– LƯỢC VĂN KINH
Thiên
Ðế Thích nhận được pháp bất tư nghì giải thoát của
Bồ tát quá hay, nên phát nguyện xin hộ trì pháp này lưu lại
cho đời sau.
Phật
liền dạy Ðế Thích rằng công đức của người bảo vệ
kinh này lớn gấp bội lần hơn người lo tứ sự cúng dường
chư Phật mười phương ba đời.
Phật
kể cho vua Ðế Thích nghe câu chuyện xưa có vua Bảo Cái Chuyển
luân Thánh vương dùng chánh pháp cai trị, nước của ông rất
thanh bình, nhân dân được sung sướng.
Vua
Bảo Cái chuyên cúng dường Ðức Dược Vương Như Lai và 1.000
người con cũng nghe theo lời vua cha, thường đến cúng
dường Phật. Người con út tên Nguyệt Cái nghe trong hư không
tiếng nói của chư Thiên nhắc rằng nên đến hỏi Dược
Vương Như Lai cách cúng dường tối thượng là pháp cúng dường.
Vương
tử Nguyệt Cái theo Phật Dược Vương, nghe được pháp cúng
dường, ông liền được pháp nhu thuận nhẫn. Ông cởi y báu
cúng Phật và phát nguyện sẽ thực hành pháp cúng dường
sau khi Phật diệt độ để giữ gìn chánh pháp.
Vương
tử Nguyệt Cái được Phật thọ ký. Sau đó, ông xuất gia,
tu tập mãn 10 tiểu kiếp, đầy đủ đạo hạnh Bồ tát, thành
Phật hiệu là Bảo Diệm Như Lai. 1.000 người con của vua là
1.000 vị Phật trong đời hiền kiếp, mà Ðức Ca La Cưu Tôn
Ðà thành Phật trước hết. Vị thành Phật sau cùng hiệu
là Lầu Chí. Nguyệt Cái, nay chính là Ðức Phật Thích Ca.
II
– GIẢI THÍCH
Thiên
Ðế Thích cảm nhận được pháp bất tư nghì giải thoát
của Bồ tát quá tuyệt diệu, Ngài phát nguyện với Ðức
Phật, xin hộ trì pháp này lưu lại cho đời sau được lợi
lạc. Nếu không, pháp sẽ bị mai một, uổng phí.
Tôi
suy nghĩ, vẫn chưa nhận được cái hay của Ðế Thích khen
ngợi. Vì người bình thường muốn hiểu việc của người
trí, còn khó bắt kịp; huống gì phàm phu chúng ta so với chư
Thiên và Bồ tát, còn cách xa vạn dặm.
Câu
hỏi của Ðế Thích làm thế nào hộ trì pháp bất tư nghì
giải thoát, gợi cho chúng ta suy nghĩ pháp Phật có hai loại
: Pháp giải thoát hiểu được và pháp giải thoát không hiểu
được.
Pháp
giải thoát hiểu được thì cô đọng trong kinh và chúng ta
thể nghiệm được. Ðế Thích chỉ quý trọng pháp giải thoát
không hiểu được, gợi cho chúng ta cảm nhận rằng giải
thoát của Bồ tát vô hạn, đáng quý và cần bảo trì.
Ðế
Thích là danh xưng của Ấn Ðộ, hiểu theo ta là Ngọc Hoàng
thượng đế. Ngọc Hoàng thượng đế theo kinh Hoa Nghiêm tương
ưng với Bồ tát đệ tam địa. Ðế Thích đã vượt qua hai
pháp bố thí và trì giới ba la mật, đã thành tựu pháp nhẫn
nhục ba la mật. Trong tứ nhiếp pháp, ông đã hoàn thành bố
thí, ái ngữ, lợi hành. Ðứng ở vị trí của Bồ tát đệ
tam địa, Ðế Thích mới thấy Bồ tát bất tư nghì giải
thoát. Tuy nhiên, cũng chỉ mới là cái thấy chập chờn.
Giai
đoạn một, Bồ tát sơ địa thành tựu pháp bố thí, trở
thành Hộ Quốc nhân vương. Vua thể hiện tài thí, pháp thí
và vô úy thí qua ba việc căn bản : giải quyết được cơm
ăn, áo mặc, nhà ở, việc làm cho người và giữ gìn bờ
cõi, đất nước thanh bình. Mỗi khi niệm Nam mô Hộ Quốc
nhân vương Bồ tát, nghĩa là dưới mắt của người tu Hoa
Nghiêm, ông vua giữ gìn đất nước là Bồ tát Hộ Quốc nhân
vương, tiêu biểu như vua Trần Nhân Tôn của chúng ta.
Giai
đoạn hai, tiến lên Bồ tát đệ nhị địa, tu pháp trì giới.
Giới của Bồ tát khác với chủ nghĩa giới điều. Trì giới
thanh tịnh theo Bồ tát là điều chỉnh ba nghiệp thân, khẩu,
ý thanh tịnh. Thân thanh tịnh là làm những việc đạo đức,
kiểu mẫu được người quý mến. Khẩu nghiệp thanh tịnh,
có lời nói nhu hòa, giọng nói êm tai mát lòng người. Ý nghiệp
thanh tịnh, trang nghiêm bằng tứ vô lượng tâm : từ bi hỷ
xả.
Ðạt
được giới đức thuần tịnh, giống Phật, không còn tỳ
vết, hiện thân trên cuộc đời làm Chuyển luân Thánh vương,
chỉ dùng chánh pháp để điều phục người.
Chuyển
luân Thánh vương nhờ tu trì giới, có thất bảo là bảy việc
mà người thường không có. Trước tiên, Chuyển luân Thánh
vương phải có kim ấn hay thiên ấn là ấn tượng hay dấu
hiệu mà người thế gian không có; như Phật Thích Ca có thiên
luân bức là một đường chỉ ở dưới bàn chân giống
hình bánh xe chuyển pháp luân. Thứ hai là ông có tượng binh
mạnh nhất, tức voi trắng sáu ngà. Và cũng có đoàn kỵ binh
vô địch. Kế đến, ông được nhiều người hiền đức
giúp việc. Và điều kiện sau cùng là Chuyển luân Thánh vương
ra đời phải có Ðức Phật, phải được Phật hộ niệm,
tức phải có trí tuệ sáng suốt chỉ đạo.
Hiểu
theo tinh thần Hoa Nghiêm, Phật này là Phật tâm. Bên ngoài
đầy đủ, nhưng thiếu ông Phật bên trong cũng không thành.
Bồ tát nương với Phật làm việc, đó là Phật thực hay
tâm sáng suốt hướng dẫn cũng được.
Qua
giai đoạn làm Chuyển luân Thánh vương, đến Trời Ðế Thích
tu nhẫn nhục và lợi hành là chính, làm bất cứ việc gì
cũng vì người, không vì mình. Theo kinh Hoa Nghiêm, muốn làm
Trời Ðế Thích phải mang hết tâm lực, nguyện lực phục
vụ chúng sanh, không phải làm để được cung kính.
Ðạt
pháp nhẫn ba la mật của Bồ tát khác với nhẫn nhục của
người thường ở điểm Ðế Thích có hạt châu. Hiểu theo
Ðại thừa, tâm sáng suốt ví như hạt châu. Muốn nhẫn theo
Bồ tát phải thấy tất cả diễn biến trên thế gian; thấy
đúng mới nhẫn được.
Nhờ
tâm sáng suốt, Ðế Thích thấy rõ, cai quản 33 tầng trời
mà vẫn ngồi yên ở Diệu pháp đường giảng kinh. Ngày xưa
khó hiểu việc ngồi một chỗ, kiểm soát được mọi nơi.
Ngày nay, với khoa học hiện đại, điều này không còn khó
hiểu. Chúng ta có thể ngồi yên vẫn kiểm soát khắp nơi
qua radar.
Muốn
nhẫn phải biết rõ người, mới điều động được họ.
Bồ tát đệ tam địa biết được tất cả căn tánh hành
nghiệp của chúng sanh, nhưng họ không biết Bồ tát. Nhẫn
ba la mật nghĩa là không còn gì trên cuộc đời mà Bồ tát
phải nhịn, vì mọi sinh hoạt đổi thay thế nào cũng nằm
trong quỹ đạo của Ngài.
Ðạt
được tâm sáng suốt, thấy 33 tầng trời, Ðế Thích mới
gần Duy Ma, khả dĩ hiểu Duy Ma, hiểu việc làm của Bồ tát.
Ngài mới phát nguyện bất cứ nơi nào có kinh Bất tư nghì
giải thoát, sẽ dùng hết khả năng bảo vệ. Ðế Thích không
bảo vệ bộ kinh bằng giấy. Ngài bảo vệ Bất tư nghì giải
thoát kinh là bảo vệ cái gì làm cho người đạt đến giải
thoát, một sự giải thoát nằm ngoài suy nghĩ biết được.
Ðây là điểm khác biệt giữa tư tưởng Tiểu thừa và Ðại
thừa.
Tiểu
thừa dạy chúng ta chỉ nên tin và làm theo những gì hiểu
được. Nhưng đến pháp bất tư nghì giải thoát, chúng ta
thấy rõ sự kiện mà Xá Lợi Phất không hiểu được vẫn
là sự thật, là chân lý. Thật vậy, thử nghĩ xem những phát
minh ngày nay của chúng ta, làm thế nào 2.000 năm trước hiểu
được, dù đó là sự thật.
Vì
vậy, kinh Ðại thừa thường phủ nhận hiểu biết có giới
hạn của con người. Thiên thượng có Ðế Thích thấy rõ
pháp của Bồ tát, mới phát nguyện hết lòng giữ gìn kinh
Bất tư nghì giải thoát. Trí hiểu biết của con người trên
nhân gian không hiểu được, nên họ không phát nguyện giữ
kinh này.
Bất
tư nghì giải thoát kinh là cái không hiểu, được thể hiện
trọn vẹn trong cuộc sống của Duy Ma. Thanh văn không thể
hiểu những diễn biến từ phẩm 1 đến 12. Việc làm của
Duy Ma khởi đầu xây dựng nhân gian Tịnh độ, cuối cùng
quay về tự tánh thanh tịnh của tâm, cũng có nghĩa là trở
về với Ðức Phật Vô Ðộng ở nước Diệu Hỷ.
Phật
dạy làm cách nào bảo vệ toàn bộ pháp bất tư nghì giải
thoát mới là điều quý nhất trên cuộc đời. Ngài giả sử
có người rất thương kính Phật, lo đầy đủ tứ sự cúng
dường chư Phật mười phương hiện tại, quá khứ, vị lai.
Phước của người này cũng không bằng công đức của người
giữ gìn Bất tư nghì giải thoát kinh.
Kinh
Ðại thừa thường đặt căn bản trên giáo, lý, hạnh, quả.
Người tu phải biết nghĩa lý sâu xa bên trong để giữ. Giữ
nó trong hành động sinh hoạt hàng ngày của chúng ta, gọi
là hạnh. Và hạnh này phải dẫn đến kết quả tốt là quả
bất tư nghì giải thoát.
Trong
cuộc sống, chúng ta thể hiện cách sống thế nào cho người
thấy được bất tư nghì. Nói cách khác, làm được như Duy
Ma mới là giữ kinh. Giữ giáo lý sống của Ðức Phật trên
thế gian quý trọng hơn là giữ giáo lý chết. Ðại thừa
chủ trương đạo yếu Tăng hoằng là vậy. Ðạo pháp chỉ
tồn tại và phát triển mạnh khi hiện hữu ông Tăng đắc
đạo. Và đạo pháp lu mờ theo sự bất tài kém đức của
ông Tăng. Thực tế lịch sử đã chứng minh ý này. Hình ảnh
Hòa thượng Quảng Ðức an nhiên ngồi trong ngọn lửa, tiêu
biểu cho hiện tượng bất tư nghì giải thoát, khiến mọi
người phải thán phục, quy ngưỡng đạo Phật. Ngài đã thể
hiện trọn vẹn sự tối thượng cúng dường, đó là hạnh
cúng dường.
Hành
giả cúng dường pháp, thành tựu được việc mà người thường
không làm được, ảnh hưởng cho người phát tâm bồ đề
và đắc đạo trong tương lai. Vì thế, pháp cúng dường quan
trọng hơn hình thức cúng dường phẩm vật. Ðức Phật có
tự thọ dụng thân, việc ăn không còn cần thiết đối với
Ngài. Và Phật nhập diệt, chúng ta xây tháp thờ, tỏ lòng
cung kính Ngài. Ðôi khi, chúng ta thấy nhiều ngôi tháp rêu
phong, chẳng ích lợi gì, còn ngôi tháp sống trên cuộc đời
đáng quý biết bao.
Phật
nhắc chuyện quá khứ cho Thiên Ðế Thích nghe. Xưa có vua Bảo
Cái cai trị nước thật bình ổn, không phải sử dụng đến
binh lực. Các vua khác thấy sức mạnh của Bảo Cái quá lớn,
không dám nổi loạn. Ðiều này cho thấy người hành pháp
nhẫn nhục phải có sức mạnh và trí khôn, không phải để
trấn áp người; nhưng hai đặc tánh này khiến người không
dám làm ác. Nếu thế lực từ bi yếu hơn thế lực bạo động,
ta dễ bị đối phương ám hại.
Nước
của vua Bảo Cái thanh bình, ai cũng sống đúng chánh pháp,
không phạm tội lỗi. Mọi việc trong nước đều thanh nhàn,
êm xuôi. Vua Bảo Cái chỉ làm việc duy nhất là đến cúng
dường Ðức Dược Vương Như Lai.
Ði
chùa cúng Phật, có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất
là chùa thật bên ngoài. Nhưng hiểu theo Duy Ma, thờ Ðức Phật
Vô Ðộng là trở về chùa trong tâm, quay về tự tánh thanh
tịnh của ta. Và Phật là trí tuệ, hay ta ngồi tĩnh tâm để
tâm hồn lắng yên, trí tuệ phát sanh, thấy sáng suốt, giúp
ích cho xã hội an lành, phát triển.
Vua
Bảo Cái đi tìm Dược Vương Như Lai, có hai nghĩa : tìm người
toàn trí và tìm khả năng phát triển con người. Vua gặp được
Phật Dược Vương, tìm ra viên thuốc cứu tất cả bệnh.
Hiểu theo ngày nay là tìm được giải pháp giải quyết được
mọi gút mắt trên cuộc đời.
Bảo
Cái Chuyển luân Thánh vương vừa xây dựng đế quốc thanh
bình, vừa cúng dường Phật Dược Vương, nhằm diễn tả
cuộc sống vừa tu hành vừa lo cho đời. Nương pháp giải
thoát, bốn biển thái bình; và ngược lại, nhờ đất nước
thái bình mà phát triển giải thoát. Hai pháp này hỗ tương
phát triển, thăng hoa cuộc sống. Tốt đạo đẹp đời là
quan niệm của Bồ tát, trái với Thanh văn chủ trương dấn
thân vào đời sẽ không giải thoát.
Với
kinh nghiệm tu hành và kinh nghiệm trị nước an dân dài lâu,
Bảo Cái dạy 1.000 người con phải tiếp nối sự nghiệp của
Ngài bằng cách cúng dường chư Phật. Các con đều nghe lời
vua dạy. Người con út là Nguyệt Cái tự nghĩ rằng còn có
pháp nào thù thắng hơn việc cúng dường Phật hay không. Lúc
ấy, ông nghe trên hư không nói rằng : Thiện nam tử, có cách
cúng dường tối thượng là pháp cúng dường, ông nên đến
Phật Dược Vương hỏi về pháp cúng dường.
Theo
tinh thần Ðại thừa, từ thấp lên cao có ba pháp cúng dường
: phẩm vật cúng dường, kính tín cúng dường và hạnh cúng
dường.
Ða
số chúng ta thường dâng cúng phẩm vật. Tuy nhiên, pháp này
ngày nay không còn giá trị giống như khi Phật tại thế. Phật
tại thế, hiện tiền Tam Bảo mang đầy đủ tính chất quý
báu, nên Phật tử cúng dường Tam Bảo là có công đức. Cúng
dường tạo điều kiện cho Tam Bảo tồn tại, thực tế là
mang phẩm vật cúng dường để nuôi sống Phật và Tăng. Các
Ngài là những người thể hiện pháp hay chân lý, làm lợi
ích cho cuộc đời. Chúng ta cúng dường là đã góp phần với
các Ngài để lo cho người khác thăng hoa cuộc sống.
Nhưng
khi Phật nhập diệt, cúng dường Tam Bảo mang ý nghĩa khác.
Cúng dường tượng Phật, tất nhiên tượng không ăn, ta ăn.
Phần cúng dường như vậy coi như mất tác dụng.
Phật
Niết bàn, Bồ tát thường xây tháp cúng dường Phật hoặc
ghi chép lời Phật dạy để cúng dường. Cúng dưới hình
thức này thể hiện tâm thành, nên gọi là kính tín cúng dường.
Chúng ta tin phước đức, trí tuệ của Ðức Phật viên mãn,
không cần thọ lãnh phẩm vật cúng dường. Vì thế, chúng
ta cúng dường vật gì tiêu biểu cho Phật như tháp thờ xá
lợi Phật hoặc tiêu biểu cho lòng kính trọng của ta đối
với Phật, đối với giáo pháp của Ngài ghi lại trong kinh
điển. Ðây là pháp cúng dường, quan trọng hơn là phẩm vật
cúng dường.
Thật
vậy, chúng ta nhận chân rằng Phật xuất hiện trên cuộc
đời không ngoài mục đích mang tri kiến cho ta, giúp ta giải
thoát như Ngài. Chúng ta trân trọng kính tin Phật và tin giáo
pháp của Ngài dạy là chân lý. Pháp Phật còn tồn tại làm
lợi ích cho mọi người cũng giống như Phật còn tại thế.
Tuy
nhiên, kính tin và trân trọng lời Phật dạy vẫn chưa đủ.
Nếu để giáo pháp của Phật sang một bên và tiếp tục công
việc thường nhật của chúng ta, thì giáo pháp cũng trở thành
vô ích.
Sau
khi Phật diệt độ, xây tháp, in kinh nhiều. Nhưng không ai
đọc kinh, hiểu kinh, không ai tu, tháp Phật không được quý
trọng, thì tháp và kinh Phật không có tác dụng, không có
giá trị. Thực tế cho thấy tháp và chùa chỉ còn tác dụng
một thời gian ngắn sau Phật diệt độ, khi lòng người còn
hoài vọng mạnh về Ðức Phật. Tuy nhiên, cách Phật càng
xa, niềm tin đối với Ngài càng giảm theo và lời Phật dạy
trong kinh cũng mất sức sống. Chùa tháp lúc ấy có đồ sộ
nguy nga mấy, cũng rơi vào quên lãng, trở thành điêu tàn và
kinh điển chỉ còn là mớ giáo điều khô chết.
Ðến
thời kỳ mạt pháp, xây dựng chùa thì dễ, nhưng đào tạo
chư Tăng thì rất khó. Nhất là đào tạo Tăng tài có đủ
tư cách duy trì Phật pháp trên thế gian, quả thật là
khó vô cùng. Ðến thời vua A Dục mới nghĩ đến việc đào
tạo Tăng tài. Việc này hoàn toàn vấp phải sai lầm, thất
bại dưới thời vua Lương Võ Ðế, khi ông cho tù nhân làm
thầy tu. Người tu là mẫu người đầy đủ tri thức và đạo
đức mới khả dĩ duy trì được sự thật cao quý trên cuộc
đời.
Ở
thời mạt pháp, Phật khuyên chúng ta tu hạnh cúng dường,
thể hiện việc làm lợi ích cho đời là cách cúng dường
tốt nhất. Chính Phật Thích Ca tiêu biểu mẫu người thực
hiện hạnh cúng dường một cách trọn vẹn.
Ngài
kể lại tiền thân là vương tử Nguyệt Cái thấy Phật Dược
Vương ảnh hưởng an lành cho xã hội. Nguyệt Cái cũng phát
tâm muốn làm an vui lợi lạc cho người, giống như Phật Dược
Vương.
Ðức
Phật Dược Vương thấy Ngài thông minh, đạo đức, mới khuyên
Ngài tu, sẽ đạt được lực bất tư nghì như Phật. Không
tu, không thể có tuệ giác, tức nhận thức vượt ngoài khả
năng của người đời.
Nguyệt
Cái nỗ lực tu hành từ thời Bảo Cái Chuyển luân Thánh vương
cho đến khi Ngài thành Phật Thích Ca. Quả vị mà Ngài thành
tựu chính là pháp cúng dường hay hạnh cúng dường.
Ðến
đây, mở ra cánh cửa nhằm khuyến khích hàng Thanh văn phát
triển Bồ tát hạnh, tiến đến Phật quả, hay đủ tư cách
của vị xuất trần thượng sĩ, làm việc thay Phật, mới
quan trọng.
Nếu
chỉ đúc tượng, xây chùa, đầu tư phát triển vật chất
quá nhiều; trong khi tinh thần bị hao mòn, dốt nát, chùa cũng
sẽ bị tiêu hủy. Thật vậy, kinh nghiệm lịch sử cho thấy
biết bao nhiêu chùa ở Trung Á bị Hồi giáo đốt sạch, giết
sạch tu sĩ Phật giáo. Phật giáo tồn tại, phát triển mạnh
khi đệ tử Phật đầu tư vào tri thức, đạo đức,
vào việc làm lợi ích cho đời; điển hình như Phật giáo
Lý Trần, thử hỏi ai tiêu diệt chúng ta được.
Ý
thức sâu sắc điều này, suốt cuộc đời tôi chỉ lo học,
lo xây chùa trong tâm tôi, cố gắng nâng tri thức của bản
thân và của Tăng Ni Phật tử cho ngang tầm với xã hội. Có
như vậy, xã hội mới chấp nhận chúng ta. Chúng ta không đi
trước, thì cũng bằng thiên hạ, không đứng sau. Ðó là ý
nghĩa hạnh cúng dường trong ba pháp cúng dường.
Có
thể nói thời chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp, đều phải
có pháp tu tương ưng riêng. Tuy nhiên, điểm chung nhất đòi
hỏi phải có Phật hay Bồ tát gần bằng quả vị Phật, mới
có khả năng thay Phật. Nghĩa là muốn duy trì Phật pháp, không
có cách nào khác hơn là chúng ta phải thành tựu tri thức
và đạo đức vượt trội hơn xã hội.
Những
mẫu người tiêu biểu cho hạnh cúng dường, đáng được
nhắc đến như con vua A Dục. Ngài bỏ ngôi đi tu, sang truyền
giáo ở Tích Lan và làm Tổ ở đó, biên soạn tạng kinh Pali.
Khi xuất gia, Ngài phát tâm thọ Bồ tát giới và tu hành là
việc chính, còn xây chùa chỉ là phần phụ. Hạnh của
Ngài nói lên đạo Vô thượng quý hơn tất cả những gì của
thế gian, nên sẵn sàng từ bỏ ham muốn ngũ dục của đời
để đổi lấy giáo pháp cao thượng. Nếu không có những
mẫu người này, không sao nói lên được pháp bất tư nghì
giải thoát của Phật.
Ngoài
ra, Thánh Ðức thái tử cũng thể hiện trọn vẹn tinh thần
hạnh cúng dường theo kinh Duy Ma. Ông là thái tử Nhật Bản,
rất thông minh. Vào thế kỷ thứ 6, ông đã biên soạn Hiến
pháp Nhật và chính ông giảng bộ kinh Duy Ma. Lòng mộ đạo
và cuộc sống đạo đức của ông cũng như tài lãnh đạo
khéo léo, đã thể hiện bài pháp sống động, tác dụng hữu
ích cho người dân Nhật.
Ở
Việt Nam, Tuệ Trung Thượng sĩ giảng bộ kinh Duy Ma, làm Tổ
sư của Thiền phái Trúc Lâm và Ðiều ngự giác hoàng Trần
Nhân Tôn cũng đã thể hiện trọn vẹn tinh thần phục vụ
chúng sanh là cúng dường Phật. Khi thành tựu hạnh nguyện
lợi lạc quần sanh, Ngài xem địa vị danh vọng vô thường,
ảo mộng, sẵn sàng từ bỏ ngai vàng như chiếc giày rách,
lên núi tu hành. Các Ngài không giảng kinh suông trên lý thuyết,
nhưng đã chứng minh sâu sắc giáo lý vô thượng của Phật
bằng cả cuộc đời phục vụ ích nước lợi dân, vẫn không
rời bản vị giải thoát.
Tóm
lại, trong pháp cúng dường, quan trọng nhất là hạnh cúng
dường. Nghĩa là chúng ta nắm bắt được giáo pháp của Phật
truyền trao, ứng dụng vào cuộc sống và nhận được an vui
giải thoát, tri kiến của chúng ta thăng hoa trên đường đạo.
Và cuối cùng, chúng ta thâm nhập thế giới bất tư nghì giải
thoát, thành tựu quả vị Vô thượng bồ đề. Ðạt đến
cứu cánh này, chư Phật mười phương đều hoan hỷ, chúng
ta mới báo đáp phần nào công ơn muôn một của đức Từ
phụ Thích Ca Như Lai.