PHẨM
14
CHÚC
LỤY
I.
LƯỢC
VĂN KINH
Kết
thúc, Phật phú chúc cho Bồ tát Di Lặc sau khi Phật diệt độ,
Ngài phải dùng thần lực lưu bố kinh này trong Diêm Phù Ðề,
đừng cho mất.
Bồ
tát Di Lặc nhận lãnh ý Phật, phát nguyện nếu đời sau có
người thọ trì, đọc tụng, diễn nói kinh này, Ngài sẽ dùng
thần lực ủng hộ. Bấy giờ, các Bồ tát cũng xin truyền
bá và dắt dẫn mọi người tu theo kinh này. Bốn vị Thiên
vương cũng xin ủng hộ người giảng kinh, không để họ bị
hại.
Sau
cùng, Phật dạy A Nan hãy thọ trì kinh này và diễn nói cho
người đời sau. Kinh này tên là Duy Ma Cật Sở Thuyết kinh
cũng gọi là Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát kinh.
Phật
nói xong, Duy Ma Cật, Văn Thù Sư Lợi, Xá Lợi Phất, A Nan v.v...
và hàng Trời, người, A tu la, tất cả đại chúng đều vui
mừng kính vâng làm theo.
II.
GIẢI
THÍCH
Lộ
trình tu tập kinh Duy Ma khởi nguồn từ bản tâm thanh tịnh.
Và từ bản tâm thanh tịnh phát xuất ra đại bi tâm, dẫn
hành giả bước vào đời, thể hiện tình thương dưới muôn
màu sắc khác nhau. Ðến khi tròn đầy hạnh nguyện, lại an
nhiên trở về thế giới Phật Vô Ðộng, không tiếc nuối
gì trần gian.
Kinh
Duy Ma phải được thể hiện bằng mọi việc làm khác nhau
dưới dạng tâm đại bi. Ít người thực hiện được, hiếm
người thấy được. Vì vậy kết thúc bộ kinh, Phật chúc
lụy cho Bồ tát Di Lặc là người kế tiếp sẽ thành Phật.
Di
Lặc đang ở Ðâu Suất nội viện là Bồ tát Nhất Sanh Bổ
Xứ kế nghiệp Phật Thích Ca. Chỉ có Ngài hội đủ tư cách
thực hiện trọn vẹn kinh Duy Ma, mới xứng đáng được phú
chúc.
Ðức
Phật dạy Di Lặc Bồ tát rằng nếu có người phát tâm bồ
đề, thì nên đem pháp bất tư nghì giải thoát dạy cho họ
làm nhân địa tu hành. Khi Di Lặc tái sanh trên đời, thành
Phật, họ sẽ là Bồ tát cùng tái sanh, thể hiện trọn vẹn
tinh thần bất tư nghì giải thoát này. Qua lời Phật dạy
Di Lặc, chúng ta ý thực được rằng phải trải qua quá trình
hành Bồ tát đạo. Nếu không dấn thân, xây dựng cho người,
chắc chắn chúng ta không đạt Phật quả.
Phật
dạy Di Lặc Bồ tát thấy người phát tâm nên biết tại sao
họ phát tâm bồ đề. Quan sát kỹ thấy họ phát tâm thật,
thì nên phân ra hai hạng. Hạng thứ nhất thấy quả nên tu
nhân, thấy Thích Ca thành Phật cũng phát tâm tu để thành
Phật. Ðó là Bồ tát nhỏ sơ phát tâm, chấp chặt vào Ðức
Phật và giáo lý của Ngài. Nhìn thấy Phật có 32 tướng tốt
80 vẻ đẹp, 18 tuổi xuất gia, 30 tuổi thành đạo, 49 năm
thuyết pháp và 80 tuổi vào Niết bàn, nên họ thấy phải
có đủ y hệt như vậy mới xem là Phật, mới theo. Và những
gì ghi chép trong kinh điển được họ chấp nhận tuyệt đối.
Ðối với Bồ tát sơ phát tâm kẹt pháp nặng, việc giáo
hóa họ rất khó khăn.
Với
mẫu người thứ hai là Bồ tát lớn thương nhân gian sanh lại,
Phật khuyên Di Lặc nên giáo hóa và kết thân. Các Ngài là
Bồ tát mười phương sanh
lại,
mang thân người hữu hạn, kẹt tứ đại ngũ uẩn, Bồ tát
tâm không hiện được. Bên ngoài có phiền não nhiễm ô do
lục căn tiếp xúc lục trần giống y người thường; nhưng
bên trong cốt lõi Bồ tát, chơn tâm hoàn toàn sáng suốt.
Bồ
tát thương nhân gian sanh lại, bị cách ấm, tưởng mình là
người như mọi người khác, quên mất tư chất Bồ tát. Di
Lặc nên đánh thức tâm họ, nên nhắm vào tâm Bồ tát này
mà khai thác để dẫn họ đến quả vị Phật. Trong kinh ví
Bồ tát tái sanh giống như sư tử con lạc vào sống chung với
đàn cừu, lầm tưởng mình là cừu thật. Ðến khi sư tử
già dẫn nó đến dòng suối soi bóng, mới biết nó là sư
tử.
Phật
Thích Ca nhắc Di Lặc nên hành đạo dưới dạng này, bằng
cách khơi dậy Bồ tát tâm. Vì Bồ tát lớn có đủ điều
kiện, đủ trình độ tri thức đạt bất tư nghì giải thoát,
nếu được khai thác đúng chỗ.
Di
Lặc lãnh hội ý Phật. Nếu Phật Niết bàn, có chúng sanh
nào bên ngoài giống chúng sanh khác, nhưng bên trong có hạt
nhân Bồ tát, Ngài sẽ dùng thần lực ảnh hưởng cho hạt
nhân Bồ tát phát lên.
Bồ
tát bất tư nghì giải thoát ở ngay trong nhân gian đóng vai
trò như người thường, làm được tất cả việc mà người
đời làm; nhưng trong tâm liên hệ với Di Lặc Bồ tát ở
cung trời Ðâu Suất. Nói cách khác, lực Bồ tát Di Lặc gia
bị, khiến họ giải thoát, mà bên ngoài họ tùy thân tùy
phận làm việc tương ưng.
Trong
phẩm Bồ tát đạo, Duy Ma giới thiệu tư cách bất tư nghì
giải thoát của Bồ tát. Ngài dạy rằng khi Bồ tát tâm sống
dậy, biết ta là Bồ tát rồi, vẫn đứng yên vị trí cũ
nhưng tâm đổi khác. Tất cả ham muốn vụt tan biến, tâm
tánh hoàn toàn khác trước, không còn buồn bực tham giận
như trước, nên nhìn sự vật tỉnh táo chính xác, ở vị
trí nào cũng thành tựu lợi ích chúng sanh. Nếu là học trò
được Bồ tát lực rọi tới, ta sẽ thông minh hơn học trò
khác; nếu là chính khách nhận được Bồ tát lực sẽ thành
chính khách có nhiều uy tín được kính trọng hơn trước;
nếu là công nhân phải là công nhân có nhiều sáng kiến,
đóng góp nhiều cho sự phát triển đời sống công nhân, mà
không đòi hỏi gì cho bản thân.
Tu
theo tinh thần kinh Duy Ma, người xuất gia hay tại gia phát triển
Bồ tát tâm để nhận thức trở thành sáng suốt. Họ phục
vụ chúng sanh để cúng dường Phật, thực hiện bất
tư nghì giải thoát của Phật Thích Ca trong cuộc sống nhân
sinh, làm cho Phật pháp sống dậy, chân lý được sáng tỏ.
Sau
Phật Niết bàn, ở thời mạt pháp, phần lớn các Bồ tát
thể hiện chân lý trong cuộc sống của các Ngài hơn là ở
hình thức tôn giáo bên ngoài. Phật giáo Việt Nam ảnh hưởng
tinh thần Duy Ma nhiều nhất vào thời đại Lý Trần, tiêu
biểu qua câu nói của Phù Vân Quốc sư : “Trong non không có
Phật, Phật ở trong lòng người. Chỗ nào có người hướng
về Phật, Ðức Phật hiện hữu ngay ở đó”.
Như
vậy Ðại thừa hiểu về Ðức Phật không còn là một con
người, Phật là tuệ giác. Khi ta sáng suốt giác ngộ, ta là
Phật. Do sáng suốt nhìn thấy sự vật đúng như thật là
thấy chân lý. Pháp là chân lý. Sống đúng chân lý hay đúng
quy luật, không có gì bức bách ràng buộc, ta sống trên cuộc
đời dưới bất cứ dạng nào cũng giải thoát. Và người
thể hiện sự thật, thể hiện tinh thần giải thoát trong
cuộc sống gọi là Tăng.
Ở
dạng này, Tam Bảo được kinh Duy Ma quy về tâm giống như
kinh Hoa Nghiêm gọi là tự tánh Tam Bảo.
Tóm
lại, Phật Thích Ca phú chúc kinh Duy Ma và pháp bất khả tư
nghì giải thoát cho Di Lặc Bồ tát. Di Lặc có khả năng làm
cuộc sống nở hoa, giúp cho xã hội phát triển vật chất,
thăng hoa tinh thần. Trong kinh ghi rõ Phật Di Lặc ra đời không
phải lặn lội theo triền sông Hằng thuyết pháp giáo hóa
chúng sanh như Phật Thích Ca. Ngài chỉ ngồi dưới cây nở
đầy hoa, người nhìn thấy, hoa lòng của họ cũng nở theo.
Ngày
nay trên bước đường tu học, muốn tiếp nhận được sự
gia bị của Bồ tát Di Lặc cùng với sự hộ niệm của tứ
Thiên vương theo như bản nguyện của các Ngài, chúng ta phải
chuẩn bị tâm thật thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là môi trường
cần thiết tất yếu giúp chúng ta tương thông, trực nhận
lực của Bồ tát Di Lặc.
Ðối
với Thanh văn, Phật phú chúc cho Ngài A Nan phải ghi lại toàn
bộ kinh Duy Ma để đời sau đọc tụng, tu hành. A Nan là tu
sĩ trẻ, thông minh nhất trong đệ tử Phật.
Như
vậy, chúng ta nhận chân rõ Phật giáo trong tương lai cần
tồn tại dưới dạng giải thoát như Bồ tát Di Lặc tác động
cho cuộc đời luôn thăng hoa an vui hạnh phúc và tồn tại
dưới dạng Thanh văn xuất gia tu hành thông minh, trẻ, khỏe
mạnh, đầy nhiệt tình như A Nan.
Ðó
là hai mẫu người tiêu biểu được Ðức Phật phú chúc.
Chúng ta cần suy nghĩ, rút ra mô hình sinh hoạt phù hợp
với thời đại, thể hiện trí tuệ minh mẫn, tâm hồn tự
tại thanh thản. Từ đó, chúng ta mãi mãi cùng với Di Lặc
Bồ tát và Tôn giả A Nan thắp sáng ngọn đèn bất tư nghì
giải thoát cho mọi người trên thế gian cùng được an lành
giải thoát.
Mùa
An cư kiết hạ PL. 2543 – 1999
Hòa
thượng THÍCH TRÍ QUẢNG