CHƯƠNG
THỨ NHẤT. THỜI ĐẠI ĐỨC THÍCH TÔN
I.
Tư tưởng tôn giáo đã có trước thời đại Đức Thích Tôn
xuất thế.
II.
Tư tưởng triết học ở thời kỳ Đức Thích Tôn xuất thế.
III.
Trạng thái chính trị và xã hội trong thời đạiĐức Thích
Tôn.
CHƯƠNG
THỨ HAI. LƯỢC SỬ ĐỨC THÍCH TÔN
I.
Đức Thích Tôn trước khi thành đạo.
II.
Đức Thích Tôn sau khi thành đạo.
III.
Đức Thích Tôn nhập Niết bàn.
CHƯƠNG
THỨ BA. GIÁO ĐOÀN TỔ CHỨC VÀ KINH ĐIỂN KHỞI NGUYÊN
I.
Giáo đoàn tổ chức.
II.
Kinh điển khởi nguyên.
CHƯƠNG
THỨ TƯ. GIÁO LÝ NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO
I.
Giáo lý căn bản của Phật giáo.
II.
Tứ đế.
III.
Mười hai nhân duyên
IV.
Thế giới quan.
V.
Phân loại thế giới.
VI.
Phiền não và giải thoát.
VII.
Ý nghĩa Niết bàn.
VIII.
Giáo lý thực tiễn tu hành.
IX.
Tam học.
1.
THIÊN THỨ NHẤT. THỜI ĐẠI NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO
(624
- 270 trước Tây lịch)
CHƯƠNG
THỨ NHẤT. THỜI ĐẠI ĐỨC THÍCH TÔN
I.
TƯ TƯỞNG TÔN GIÁO ĐÃ CÓ TRƯỚC THỜI ĐỨC THÍCH TÔN XUẤT
THẾ
Trước
thời kỳ Đức Thích Tôn xuất thế, văn hóa Ấn Độ cũng
đã phát triển tới một trình độ khá cao, do tư tưởng sáng
tạo của giống người Aryan. Nguyên thủy, giống người Aryan
cư trú tại miền Trung ương Á Tế Á, lấy nghề du mục để
sinh sống. Vào khoảng 3000 năm trước kỷ nguyên, giống người
này vượt qua dãy núi Hindukush di cư xuống vùng Đông nam Á
Tế Á; một phần của giống người này di chuyển về phía
Tây nam thuộc Ba Tư (Iran), một phần thì tiếp tục di chuyển
về phía Đông nam, xâm nhập vào phía Tây bắc nước Ấn Độ,
đánh đuổi người bản xứ, chiếm lĩnh vùng Panjab (Ngũ hà
địa phương), thuộc thượng lưu sông Indus, và giống người
này được gọi là dân tộc Aryan Ấn Độ.
Dân
tộc Aryan Ấn Độ cư trú ở vùng Panjab, ngày một phồn thịnh,
nhất là về mặt tư tưởng thì rất phát đạt, vì thế,
dân tộc này đã chế tác được bộ kinh điển đầu tiên,
tức là kinh điển Rg Veda (Lê Câu Phệ Đà) 40 quyển, là nguồn
tư tưởng văn hóa ở thời kỳ thứ nhất của Bà La Môn giáo,
trong khoảng 1500 -1000 năm trước kỷ nguyên.
Nội
dung của kinh điển Rg Veda chỉ là những bài ca tán có tính
cách thần thoại, nhưng bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ
và nhân sinh quan, tư tưởng Rg Veda là tư tưởng mở đầu
cho nền văn minh và triết học Ấn Độ, và cũng là cơ sở
để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lai.
Nguồn
tư tưởng ở thời kỳ thứ hai của Bà La Môn giáo là thời
đại Bràhmana (Phạm thư), trong khoảng 1000 - 800 năm trước
kỷ nguyên. Trong thời kỳ này, dân tộc Aryan Ấn Độ lần
lượt tiến về phía Đông, chiếm cứ khu đất đồng bằng
phì nhiêu trên bờ sông Hằng Hà (Gange), lấy nghề canh nông
làm mục tiêu, đặt ra chức tước vua quan, bắt những người
khác giống làm nô lệ, chia xã hội thành bốn giai cấp khác
nhau: Giai cấp Bà-la-môn (Bràhmana), chủ trương việc nghi lễ
tôn giáo; giai cấp Sát-đế-lợi (Ksatriya) là giai cấp vua quan,
nắm quyền thống trị; giai cấp Tỳ-xá (Vaisya) là giai cấp
bình dân, nông, công, thương; giai cấp Thủ-đà-la (Sùdra) là
giai cấp tiện dân, đời đời làm nô lệ. Vì giai cấp Bà-la-môn
chủ trương công việc lễ nghi, tôn giáo, nên đã chế tác
ra bộ kinh điển Bràhmana, để chú thích và thuyết minh kinh
điển Veda.
Nội
dung của sách Bràhamana thì hoàn toàn là một pho sách có tính
cách thần học. Tư tưởng triết học của Bràhmana thì khai
triển theo thứ tự trong ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất
lấy Prajapati (Sinh sản) làm trung tâm. Tư cách của Prajapati
là thần tối cao, tạo ra vũ trụ, trời đất và hư không,
rồi lần lượt tạo ra Thái Dương thần, Phong thần, Hỏa
thần, con người và vạn hữu, nên giai đoạn này thuộc về
quan niệm sáng tạo. Giai đoạn thứ hai, lấy Bràhaman (Đại
ngã) làm trung tâm. Bràhman thay thế Prajapati để nắm quyền
chi phối các vị thần. Giá trị của Bràhman đứng trên hai
phương diện, một phương diện thì duy trì cái bản chất
bất biến bất động của nó, mặt khác thì hoạt động theo
hai yếu tố là Nàma (Danh) và Rùpa (Sắc) để khai triển vạn
hữu. Giai đoạn thứ ba, lấy Àtman (Tự ngã) làm trung tâm.
Bràhaman và Àtman tên tuy khác nhau nhưng cùng một thể. Bràhman
thuộc về phương diện vũ trụ; Àtman thuộc về phương diện
tâm lý. Căn cứ vào phương diện tâm lý thì linh hồn bất
diệt, nghĩa là Àtman khi lìa thể xác thì linh hồn được
quy thuộc về Bràhman.
Nguồn
tư tưởng ở thời kỳ thứ ba của Bà La Môn giáo là triết
học Upanishad (Áo nghĩa thư). Tiếp sau tư tưởng Bràhman là
triết học Upanishad được thành hình trong khoảng 800 - 600
năm trước kỷ nguyên. Nội dung tư tưởng triết học này
chủ trương thuyết PHẠM NGÃ ĐỒNG NHẤT (Bràhman, Àtman ailkyam),
và lý tưởng giải thoát. Lý tưởng giải thoát chia làm ba
giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là việc đi tìm giải thoát,
nhưng giải thoát phải tìm ở tự nơi mình, không phải là
tìm ở bên ngoài, cho nên nhân của giải thoát là tự giác,
nhân của luân hồi là bất giác. Giai đoạn thứ hai, muốn
thoát luân hồi cần phải an trụ cái bản tính, và bồi dưỡng
phần trí tuệ. Giai đoạn thứ ba, phải noi theo phương pháp
tu trì để mong phát minh trực quán trí, tức là phép tu Du-già
(Yoga). Theo thứ tự như thế mà tu, dần dần chân ngã sẽ
toàn hiện, tới lúc chân ngã toàn hiện, thì Àøtman trở thành
Bràhman, tức là giải thoát, chấm dứt luân hồi.
II.
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC Ở THỜI KỲ ĐỨC THẾ TÔN XUẤT THẾ
Tư
tưởng trong ba thời kỳ: Rg Veda, Bràhmana và Upanishad như trên
đã kể đều là tư tưởng căn bản của Bà La Môn giáo. Nhưng
từ khoảng 600 năm trước kỷ nguyên trở về sau, tư tưởng
Ấn Độ được tự do phát triển, thế lực chính thống của
Bà La Môn giáo ngày một sút kém, vì thế nên đã phát sinh
ra nhiều tư tưởng, tôn giáo và triết học mới như Phật
giáo, Kỳ Na giáo, Lục Sư ngoại đạo phái và sáu phái triết
học.
KỲ
NA GIÁO (Jaina).
- Giáo
Tổ tên là Vardhamana (Đại Hùng). Giáo này chủ trương về
Vật hoạt luận. Tư tưởng triết học căn bản của giáo
này là thực thể (dravaya). Thực thể chia ra hai trạng thái
là Sinh mệnh yếu tố và Phi sinh mệnh yếu tố (Java, Ajava).
Sinh mệnh yếu tố thì gồm đủ hai phần lý trí và tình cảm;
phi sinh mệnh yếu tố được chia làm năm thứ: Không (Akasa),
Pháp (Dharma), Phi pháp (Adharma), Vật chất (Pudgala) và Thời
gian (Kala). Không là nguyên lý bao gồm mọi nơi mọi chốn;
vật chất là nguyên lý tạo thành nhục thể; pháp là nguyên
lý vận động; phi pháp là nguyên lý đình chỉ; thời gian
là nguyên lý biến hóa. Sinh mệnh yếu tố và Phi sinh mệnh
yếu tố vì liên kết với nhau nên sinh ra các phiền não, bị
luẩn quẩn trong vòng luân hồi. Vì mong giải thoát luân hồi
nên giáo này chủ trương phương pháp tu hành khổ hạnh làm
mục đích tối cao.
LỤC
SƯ NGOẠI ĐẠO PHÁI (Sat-Tirthakarah).
- Căn
cứ vào kinh điển và sử liệu của Phật giáo, đương thời
Đức Thích Tôn, có sáu nhà ngoại đạo chủ trương mỗi phần
lý thuyết khác nhau, nên Phật giáo thường gọi là “Lục
Sư ngoại đạo”. Nhưng, những lý thuyết của sáu phái này
chỉ bột phát nhất thời rồi bị tiêu diệt. Đại cương
về lý thuyết của Lục Sư ngoại đạo phái như sau:
1.
Phái Pùrana Kàssápa (Phú Nan Đà Ca Diếp). - Phái này chủ trương
thuyết ngẫu nhiên, không tin luật nhân quả, cho hết thảy
sự khổ vui, họa phúc của con người chỉ là ngẫu nhiên.
Phật giáo gọi phái này là phái ngoại đạo “Vát vô nhân
quả”.
2.
Phái Makkhali Gosàla (Mạt Già Lê Câu Xá Lợi). - Phái này chủ
trương thuyết tự nhiên, cho hết thảy sự vui khổ, họa phúc
của con người đều là tự nhiên, không ảnh hưởng của
bất cứ một nguyên nhân nào. Nên Phật giáo gọi phái này
là “Tà mệnh ngoại đạo”.
3.
Phái Ajitakesa Kambali (A Di Đa Thúy Xá Khâm Bà La). - Phái này
chủ trương thuyết Duy vật luận, cho thân thể con người
chỉ là do bốn yếu tố: Địa, Thủy, Hỏa, Phong kết hợp
lại mà thành, khi chết thì tứ đại lại hoàn tứ đại,
không trọng dụng về phương diện tinh thần, đạo đức,
lấy chủ nghĩa khoái lạc cho nhục thể làm mục đích.
4.
Phái Pakudha Katyàyana (Bà Phù Đà Ca Chiên Diên). - Phái này
chủ trương sinh mệnh và vật chất đều thường trụ, cho
tất cả các vật được tạo thành là nương vào sự hòa
hợp của bảy yếu tố: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Khổ, Lạc,
Sinh mệnh. Vậy nên sự sinh tử chỉ là một công việc tụ
hay tán của bảy yếu tố đó, mà những yếu tố đó thì
thường trụ bất diệt.
5.
Phái Aønjaya Belatthiputta (Tán Nhạ Gia Tỳ La Lê Tử). - Phái
này chủ trương thuyết tu định, thuộc phái ngụy biện. Họ
cho chân lý không phải là không biến đổi, nên việc tu đạo
là vô ích, mà chỉ chuyên tu thiền định.
6.
Phái Nigantha Nàtaputta (Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử). - Phái này
chủ trương tu khổ hạnh, cho sự khổ, vui, họa, phúc của
con người đều do tiền nghiệp đã định, muốn thoát khỏi
tiền nghiệp đó, cần phải luyện thân khắc khổ để mong
cầu giải thoát.
SÁU
PHÁI TRIẾT HỌC.
- Kỳ
Na giáo và Lục Sư ngoại đạo phái như trên đã lược thuật,
không thuộc về tư tưởng của Bà La Môn giáo, nhưng sáu phái
triết học mới phát sinh thì đều chịu ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp của ba thời kỳ Rg Veda, Bràhmana và
Upanishad. Tư tưởng đại cương của sáu phái triết học như
sau:
1.
Phái Nyàya (Chính lý phái). - Thủy tổ tên là Aksapàda (Túc
Mục). Tư tưởng của phái triết học này thuộc Đa nguyên
luận, lấy kinh điển Nyàya Sùtra làm căn cứ. Kinh này gồm
có 538 câu. Về quan niệm nhân sinh lấy phương châm lìa khổ
tới chỗ giải thoát làm mục đích. Phái này cho rằng con
người được sinh ra nơi trần thế là có đầy dẫy sự khổ,
mà nguyên nhân được sinh ra (janma) là do tác nghiệp (pravrtti),
tác nghiệp làm cơ sở cho phiền não (dosa), phiền não là căn
bản của vô tri (mithyajnàna). Vậy nên muốn lìa khổ phải
tiêu diệt vô tri, tiêu diệt được vô tri tức là tới cảnh
giới an vui giải thoát (nihsreyasa). Lý thuyết này tương tự
với thuyết mười hai nhân duyên trong Phật giáo. Về phương
thức nghị luận, phái này chia làm năm giai đoạn: Tôn (Pratijanà),
Nhân (Hetu), Dụ (Udàhadana), Hợp (Upanaya), Kết (Nigamana). Phương
thức lý luận này nếu đem so sánh với luận lý Tây phương,
thì “Tôn” tương đương với bộ phận “Đoán án”, “Nhân”
là “Môi giới từ”, “Dụ” tương đương với bộ phận
“Đại tiền đề”. Nhưng phương thức luận lý của phái
này còn thêm hai chi là “Hợp”, “Kết”, tỏ ra lập trường
luận lý rất vững vàng. Về sau, phương thức luận lý này
được phủ chính những chỗ chưa hoàn bị qua tay hai bậc
thạc học trong Phật giáo là Thế Thân và Trần Na, và được
chuyển làm môn luận lý học trong Phật giáo.
2.
Phái Vaisésika (Thắng luận phái). - Phái này chủ trương thuyết
“Thanh thường trụ” (Âm thanh thường còn), đứng trên lập
trường tự nhiên triết học để giải thích vũ trụ vạn
hữu. Khai tổ là Kanada (Ca Na Đà), kinh điển căn cứ là Vaisesika
Sùtra, gồm có 370 câu. Trong đó có nêu ra sáu phạm trù: Thực
cú nghĩa, Đức cú nghĩa, Nghiệp cú nghĩa, Đồng cú nghĩa,
Dị cú nghĩa và Hòa hợp cú nghĩa, làm nguyên lý để thành
lập vạn hữu. Trước hết chỉ quan sát vạn hữu ở phần
cụ thể, gạt bỏ phần tính chất, vận động và trạng thái,
mục đích để đạt tới khái niệm thực thể của vạn hữu.
Để thích ứng với nguyên lý đó, nên trước hết thành lập
“Thực cú nghĩa” (Dravya Padàrtha); gác bỏ khái niệm của
thực thể và vận động, chỉ quan sát về khái niệm tính
chất hay thuộc tính của vạn hữu, để thích ứng với nguyên
lý này nên thành lập ra “Đức cú nghĩa” (Guna Padàrtha);
chỉ thích ứng với nguyên lý thực tại để hợp với khái
niệm vận động nên thành lập ra “Nghiệp cú nghĩa” (Karma
Padàrtha). Tóm lại, vạn hữu đều do ba nguyên lý “Thực,
Đức, Nghiệp” (Thể, Tướng, Dụng) kết hợp lại mà thành
lập. Căn cứ vào ba nguyên lý ấy mà quan sát sự quan hệ
trong nơi vạn hữu, nếu trường hợp ba nguyên lý ấy cùng
quan hệ với nhau, nên lại thành lập ra “Đồng cú nghĩa”
(Sàmànya Padàrtha); nếu ba nguyên lý ấy ở trong trường hợp
phản đối nhau, nên thành lập ra “Dị cú nghĩa” (Visésa
Padàrtha); năm nguyên lý kể trên nếu ở trong trường hợp
liên kết với nhau, nên lại thành lập ra “Hòa hợp cú nghĩa”
Samavàya Padàrtha). Sáu nguyên lý kể trên tức là sáu phạm
trù căn bản để thuyết minh và lý giải vạn hữu.
Về
phương diện nhân sinh quan, phái này cho con người được thành
lập bởi tám yếu tố. Trước hết là yếu tố “Àtman”,
thực thể của nó thì bất sinh bất diệt; thứ hai là “Ý”
(Manas), ý là cơ quan liên lạc giữa Àtman và ngũ căn, ngũ
căn thì hoàn toàn do vật chất tạo thành: “Nhãn căn” do
hỏa đại, “Nhĩ căn” do không đại, “Tỷ căn” do địa
đại, “Thiệt căn” do thủy đại, “Thân căn” do phong
đại tạo thành. Đối tượng của ngũ căn là ngũ trần: Sắc,
thanh, hương, vị, xúc. Àtman là trung tâm, còn các cơ quan khác
chỉ là phụ thuộc để nhận thức và hành động. Yếu tố
sau hết là “Nghiệp lực” (Adrsta), bởi nghiệp lực huân
tập nên bị luân hồi, muốn thoát luân hồi cần phải diệt
nghiệp lực, muốn diệt nghiệp lực cần phải tu trì khổ
hạnh để mong đạt tới cảnh giới thuần túy của Àtman,
đó là lý tưởng của giải thoát.
3.
Phái Sàmkhya (Số luận phái). - Khai tổ là Kapia (Ca Tỳ La).
Phái này chủ trương Nhị nguyên luận là tinh thần và vật
chất. Vật chất là yếu tố để thành lập vạn vật, đối
lập với vật chất là vô số linh hồn (tinh thần). Linh hồn
thì hoạt động, tự do kết hợp với vật chất để tạo
thành sinh vật. Bản chất của linh hồn thì thuần túy chủ
quan, không biến động; vật chất là khách quan luôn luôn biến
hóa dao động, nương theo ba nguyên chất là “Sattva” (hỷ),
“Rajas” (ưu), và “Tamas” (ám). Ba nguyên chất này còn gọi
là ba đức (guna). Căn cứ vào sự phối hợp của ba đức
này để thuyết minh hiện tượng vạn hữu. Thí dụ: Ba đức
ấy nếu cứ hai đức một chi phối lẫn nhau là động lực
tạo thành ba đức ấy đứng ở trạng thái bình hành là nguyên
nhân tiêu diệt.
4.
Phái Yoga (Du già phái). - Khai tổ là Patanjali (Bát Tử Xà Lê),
lấy kinh điển Yoga Sùtra làm căn cứ. Phái này chú trọng
ở pháp môn tu thiền định để mong cầu giải thoát, theo
phương pháp thực tu chia làm tám giai đoạn: Cấm chế (Yama),
Khuyến chế (Niyama), Tọa pháp (Àsana), Điều tức (Prànàyàma),
Chế cảm (Pratyàkàra), Chấp trì (Dhàranà), Tĩnh lự (Dhyàna),
Đẳng trì (Samàdhi). Cấm chế cần phải giữ năm giới điều:
Không sát sinh, không trộm cắp, không gian dâm, không nói dối,
không tham lam, thuộc đức độ tiêu cực. Khuyến chế cần
phải làm năm việc: Thanh tịnh, mãn định, khổ hạnh, học
tập kinh điển, định thần, thuộc đức độ tích cực. Tọa
pháp là để điều hòa thân thể. Điều tức, để chỉnh
đốn hô hấp. Chế cảm, để thống trị ngũ căn. Chấp trì,
để tập trung tư tưởng. Tĩnh lự, để thống nhất cái tâm.
Đẳng trì, để tâm trở thành vắng lặng như hư không, chỉ
còn là cảnh giới xán lạn, tức là chứng được tam muội
(sammadhi), chỉ còn là một “thần ngã” giải thoát tự tại.
5.
Phái Mimàmsà (Nhĩ Man Tát phái). - Khai Tổ là Jaimini (Sà Y Nhĩ
Ni), lấy kinh điển Mimàmsà Sùtra làm căn cứ. Phái này chú
trọng về phương diện luân lý triết học, phục tùng mệnh
lệnh và cấm chế của kinh điển Veda, chủ trương thuyết
“Âm thanh thường trụ”. Về lý tưởng giải thoát, phái
này cho rằng hiện thế và lai thế, muốn được sung sướng,
cần phải có nhiều hình thức hy sinh. Kết quả của sự hy
sinh được báo đền trong đời tương lai hay hiện tại.
6.
Phái Vedànta (Phệ Đàn Đa phái). - Khai tổ là Bàdarayana (Bà
Đạt La Gia Na), lấy kinh điển Vedànta do Bàdarayana trước
tác làm căn cứ. Tư tưởng triết học của phái này chủ
trương rằng, Bràhman là tổng nguyên lý của vũ trụ, vạn
hữu, là duy nhất, là siêu việt. Thế gian vạn hữu đều
bao hàm trong Bràhman, tự ý chí của Bràhman khai triển ra hiện
tượng giới. Bràhman, trước hết khai triển ra “Hư không”,
từ hư không phát sinh ra “Gió”, từ gió phát sinh ra “Lửa”,
từ lửa phát sinh ra “Nước”, từ nước phát sinh ra “Đất”.
Năm nguyên tố này một mặt được tổ chức thành vật khí
thế gian, một mặt được tổ chức thành hữu tình thế gian.
Căn cứ ở kinh Vedànta Sùtra thì Bràhman và Àtman là một thể.
Khi ở giai đoạn chưa khai triển thì Àtman là bào thai của
Bràhman, nhưng khi ở giai đoạn đã khai triển thì Àtman của
con người ở địa vị độc lập, chịu phần chi phối của
Bràhman. Đặc chất của Àtman là trí tuệ, hành vi, nương
theo vào tự do ý chí phán đoán, tạo thành nhiều loại tác
nghiệp, do tác nghiệp huân tập nên quên mất cố hương,
chỉ theo huân tập chịu sinh tử luân hồi trong hiện tượng
giới, chịu khổ não trong loài hữu tình. Hữu tình là một
bộ phận của Bràhman, đầy đủ thể tính thanh tịnh như
Bràhman, muốn trở lại với Bràhman thì cần phải noi theo
môn tu hành giải thoát. Do công phu tu hành giải thoát, Àtman
lại được dung hợp với cảnh giới Bràhman, tới giai đoạn
này thì hoàn toàn giải thoát vĩnh viễn.
III.
TRẠNG THÁI CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI TRONGTHỜI ĐỨC THÍCH TÔN
Về
thời cổ đại, dân tộc Ấn Độ tổ chức guồng máy chính
trị theo chính thể Cộng hòa. Nhưng tới thời kỳ Đức Thích
Tôn xuất thế, thì chế độ đó đã bị suy tàn, và được
thay thế bằng chính thể Quân chủ chuyên chế. Duy có hai nước
là Magadha (Ma Kiệt Đà) và Kosala (Kiều Tát La) là chế độ
Cộng hòa vẫn còn tồn tại. Nước Magadha ở phía Nam sông
Hằng Hà, đô thị của nước này là Rajagrha (Vương Xá thành).
Nước Kosala ở phía Bắc Ấn Độ, đô thị của nước này
là Sravasti (Xá Vệ thành). Hai nước này là trung điểm cho
nền văn minh Ấn Độ lúc đương thời và rất có quan hệ
mật thiết với Phật giáo. Phía Đông bắc nước Ma Kiệt
Đà có giòng họ Anga (Ương Già tộc) đóng đô ở thành Campà
(Chiêm Ba); đối diện với nước này có giòng họ Licchavi
(Ly Xa Tỳ tộc) đóng đô ở thành Vesalì (Phệ Xá Ly). Ngoài
ra còn có các giòng họ Kàsi (Ka Thi), Vacchà (Bà Ta), Mallà (Mạt
La) cư trụ ở gần nước Kosala v.v..., gây thành trạng thái
quần hùng cát cứ lúc đương thời. Và giòng họ của Đức
Phật là Sàkyà (Thích Ca tộc) đóng đô ở thành Ca Tỳ La
(Kapilavastu), phương Bắc nước Kosalà thuộc Trung Ấn Độ.
Thời
cổ đại, dân tộc Ấn Độ rất tôn trọng nghi thức tế
tự, kính thần. Lúc đầu họ đặt ra người gia trưởng,
hoặc tộc trưởng để giữ việc tế lễ, gọi là chức Ty
tế. Dần dần chức Ty tế này trở thành việc chuyên môn
nên được thay thế bằng các Tăng lữ. Mặc khác, vì theo
đà tiến triển của xã hội, liền phát sinh ra bốn chức
nghiệp: Sĩ, nông, công, thương. Dần dần, nghề nghiệp này
trở thành giai cấp hóa. Giai cấp Tăng lữ coi việc tế tự
chiếm địa vị tối cao; thứ đến giai cấp vua chúa, nắm
quyền thống trị; thứ dân thuộc hạng nông, công, thương
ở địa vị thứ ba; sau cùng là tiện dân ở địa vị thấp
nhất. Lối phân chia giai cấp đó mỗi ngày thêm chặt chẽ.
Các Tăng lữ nắm được thực quyền của xã hội, liền đem
tổ chức thành bốn giai cấp rõ rệt: Tăng lữ thuộc giai
cấp Bà-la-môn (Bràhman), vua chúa thuộc giai cấp Sát-đế-lợi
(Ksatriya), bình dân thuộc giai cấp Tỳ-xá (Vaisya), tiện dân
thuộc giai cấp Thủ-đà-la (Sùdra). Hai giai cấp Bà-la-môn và
vua chúa là giai cấp thống trị, hai giai cấp bình dân và tiện
dân là hai giai cấp bị trị. Bốn giai cấp này theo chế độ
thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ cứ phải
đời đời làm nô lệ tạo thành một tổ chức xã hội bất
công.
Giai
cấp Bà-la-môn lại nương vào chế độ của xã hội mà quy
định thành bốn thời kỳ tu hành của giai cấp mình. Bốn
thời kỳ đó như sau:
1.
Phạm trí kỳ (Brahmacàrin). - Thời kỳ sinh hoạt học sinh của
thời đại thiếu niên, từ 7 tới 11 tuổi. Ở tuổi này, phải
xuất gia theo thầy học tập kinh điển Veda, tới khi học nghiệp
thành tựu lại được trở về nhà.
2.
Gia cư kỳ (Grhastha). - Thời kỳ sinh hoạt gia đình của thời
đại tráng niên. Thời kỳ này là thời kỳ lập gia đình,
trông nom con cháu, làm trọn nhiệm vụ tế tự của người
gia trưởng.
3.
Lâm cư kỳ (Vànaprastha). - Kỳ sinh hoạt xuất gia của thời
đại tráng niên. Người đã làm xong nghĩa vụ của gia đình
rồi, liền vào chốn thâm sơn, rừng rậm để tu luyện thiền
định, khổ hạnh.
4.
Du hành kỳ (Parivràjaka). - Thời kỳ sinh hoạt du hành của
thời đại lão niên. Tới thời kỳ tuổi già cần phải mong
cầu cho sự tu hành được thành tựu, thân tâm được thanh
tịnh, giải thoát, nơi ở không nhất định, nay đây mai đó.
Cho nên, người tu ở thời kỳ này có tên là khất sĩ (Bhiksu)
hay hành giả (Yati).
Bốn
thời kỳ sinh hoạt kể trên là sinh hoạt lý tưởng của giai
cấp Bà-la-môn. Nếu người nào trong đó tu hành đạt tới
chỗ cứu cánh thì được mọi người trong xã hội cung kính
tột bậc.
Giòng
họ Bà-la-môn đã chế định ra bốn giai cấp, tự cho mình
ở địa vị tối cao, và chia sự tu hành làm bốn thời kỳ,
sinh hoạt theo lý tưởng. Nhưng trái lại còn ba giai cấp khác,
nhất là giai cấp tiện dân lại bị xã hội khinh miệt, không
được pháp luật bảo hộ, cấm chế không cho dự phần tín
ngưỡng tôn giáo, và tán tụng kinh điển Veda. Do đó mà gây
thành sự tổ chức xã hội bất công, dân chúng họ hằng
khát vọng có bậc thánh nhân xuất hiện cứu đời.
Để
đáp lại lòng mong mỏi đó, nên đã phát sinh một tôn giáo
tha thiết với mục đích nhất vị bình đẳng cứu đời,
chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập. Đức Phật,
Ngài không nương vào giòng họ cao thấp để định giá con
người, mà chỉ nương vào phần phẩm hạnh đạo đức. Đặc
biệt, Ngài phủ nhận giai cấp bất công, đem chế độ bình
đẳng để đãi ngộ mọi hạng người trong xã hội. Cho nên,
Ngài chỉ căn cứ vào phần trí tuệ có nông sâu, đức hạnh
có hậu bạc để định thứ vị con người. Đến như kẻ
tiện dân là ông Ưu Ba Ly (Upàli), sau khi Đức Phật độ cho
xuất gia, cũng chứng được đạo quả, mà trở thành “Bậc
Trì luật thứ nhất”, là một trong số mười vị đại đệ
tử của Phật. Đức Phật không phân biệt kẻ nghèo, giàu,
sang, hèn nên trong mỗi kỳ thuyết pháp, bá giáo của Ngài,
trên có các bậc quốc vương, các nhà hào phú, dưới đến
các cùng dân nghèo khổ cũng đều được thấm nhuần pháp
vũ. Do đó nên mọi người trong xã hội đương thời, bất
luận thuộc giai cấp nào cũng đều ngưỡng mộ cái đức
độ Từ Bi Hỷ Xả của Ngài tới cực độ.
CHƯƠNG
THỨ HAI. LƯỢC SỬ ĐỨC THÍCH TÔN
I.
ĐỨC THÍCH TÔN TRƯỚC KHI THÀNH ĐẠO
Vị
Giáo chủ sáng lập ra đạo Phật là Phật Thích Ca Mâu Ni (Sàkyàmuni),
Hán dịch là Năng Nhân Tịch Mặc, lấy ý nghĩa Ngài là một
bậc trí tuệ trong giòng họ Thích Ca. Tên chính của Ngài là
Cù Đàm Tất Đạt Đa (Gautama Siddhàtha). Cù Đàm nghĩa là Giác
Giả (Budha), hay là Thế Tôn (Bhagavat). Giác Giả và Thế Tôn
là danh hiệu tôn xưng về đức độ của Ngài.
Giòng
họ Thích Ca cư trú ở nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), thuộc
phía Bắc Trung Ấn. Vua nước này là Tịnh Phạn (Suddhodana),
vương phi là Ma Da (Maya) phu nhân, con gái vua A Nâu (Anu) nước
Câu Ly (Koli), một nước nhỏ đối diện với nước Ca Tỳ
La Vệ. Ma Da phu nhân mãi tới năm 45 tuổi mới thọ thai. Tới
kỳ mãn nguyệt khai hoa, phu nhân trở về cố quốc để sinh
nở (theo phong tục lúc đương thời, khi người đàn bà có
thai, phải trở về quê ngoại để sinh). Ở nơi đây, một
biệt điện đã được thiết lập sẵn sàng trong vườn Lâm
Tỳ Ni (Lumbini) để đón Ma Da phu nhân. Tục truyền, một hôm
Ma Da phu nhân ra dạo chơi vườn thì sinh Thái Tử ở dưới
gốc cây Vô ưu (Asoka), nhằm vào ngày mồng 8 tháng 4 năm 624
trước Tây lịch(1). Vua Tịnh Phạn đặt tên cho Thái Tử là
Tất Đạt Đa (Siddhàtha). Sau khi sinh Thái Tử được bảy ngày
thì Ma Da phu nhân bất hạnh từ trần. Thái Tử được kế
mẫu là Ba Xà Ba Đề (Prajàpati) trông nom nuôi nấng.
Khi
lên 8 tuổi, Thái Tử được theo học về cả hai ngành văn
học và võ đạo. Vì bẩm tính thông minh, nên học không bao
lâu, Thái Tử đều thông thạo cả.
Để
tiếp xúc với cuộc đời, đã ba lần Thái Tử được phép
vua cha cho ra ngoài thành để quan sát về trạng thái dân gian,
xã hội. Thái Tử đã mục kích thấy những cảnh tương tàn
tương sát của các loài sâu bọ chim muông, những cảnh già,
ốm, chết của nhân thế. Vì vậy, nên Thái Tử cảm ngay thấy
cuộc đời không có chi là vui sướng, là bền vững, là giải
thoát, hết thảy đều là vô thường. Sau khi quan sát, Thái
Tử sinh ra buồn rầu, và luôn luôn suy nghĩ để tìm cách cứu
khổ cho chúng sinh. Lại một lần nữa Thái Tử ra chơi ngoài
thành, lần này gặp một vị Sa môn, tướng mạo đoan trang,
đi đứng ung dung, trông có vẻ tiêu dao giải thoát, do đó
Thái Tử liền nảy ra tư tưởng xuất gia cầu đạo.
Thái
Tử đã mấy lần xin phép vua cha đi xuất gia, nhưng vua cha
đều không ưng thuận. Vì sợ Thái Tử đi xuất gia nên vua
bắt tìm đủ mọi sự khoái lạc để cho Thái Tử khuây lòng.
Khi 16 tuổi (hoặc 19, 20 tuổi), Thái Tử đã phải vâng lệnh
vua cha, thành hôn cùng công chúa Da Du Đà La (Yásoddharà), con
gái vua Thiện Giác (Suppabuddha) nước Câu Ly (Koli), sau Thái
Tử đã sinh một con trai tên là La Hầu La (Rùhula). Vua cha thấy
thế lại càng yêu quý, vui mừng, và sai tuyển thêm mỹ nữ
vào cung để hầu hạ Thái Tử. Nhưng vì chí xuất gia đã
quyết, nên dù ở trong hoàn cảnh cao quý, xa hoa, lộng lẫy
mà Thái Tử cũng không say đắm.
Khi
tới 29 tuổi (có thuyết 19 tuổi), là thời kỳ xuất gia đã
đến, Thái Tử không thể chậm trễ được nữa, liền trốn
vua cha, từ giã vợ và con, bỏ nơi hoàng cung, nửa đêm vượt
thành ra đi, nhằm vào ngày mồng 8 tháng Hai.
Sau
khi vượt thành ra đi, Thái Tử một mình dấn thân trước
băng tuyết, tìm vào nơi sơn lâm u tịch để sưu tầm chân
lý. Trước hết, Thái Tử đi vào rừng khổ hạnh, thuộc nước
Ma Kiệt Đà, hỏi đạo ông tiên Bạt Già Bà (Bhagavà), sau
khi nghe giáo lý của ông, vì không mãn nguyện, nên chỉ lưu
lại có một đêm rồi từ giã ra đi nơi khác. Sau Thái Tử
lại hỏi đạo ở nhà đại học giả trứ danh của tôn giáo
Ấn Độ đương thời là A Ra La Ca Lan (Aràlakàlama) và Uất
Đà Ka La Ma Tử (Udraka Ràmaputta), nhưng về tư tưởng triết
lý của hai học giả này, đại khái chỉ là tu thiền định
để mong cầu phúc báo sinh lên cõi trời “Vô Sở Hữu Xứ”
(Akicavyàyatan) và “Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ” (Naivasamjnanàsamjnayatana)
làm cảnh giới giải thoát tối cao. Thái Tử cho rằng pháp
môn tu này cũng chưa phải là cứu cánh, vì sau khi hưởng hết
phúc báo cõi trời, rồi lại bị sinh tử luân hồi, nên Thái
Tử cũng lại từ biệt ra đi.
Thái
Tử, sau khi từ biệt các ông tiên ra đi, liền tự nghĩ: “Phải
chính mình tu thì mới tìm được chính đạo”. Nghĩ thế
rồi, Thái Tử đi sâu vào khu rừng khổ hạnh, thuộc Tây ngạn
sông Ni Liên Thuyền (Nairanjanà), một chi lưu của sông Hằng
Hà, để làm nơi căn cứ tu hành. Ở nơi đây, Thái Tử tu
hành khổ hạnh suốt trong sáu năm trường, mỗi ngày chỉ
ăn cầm hơi một chút gạo, chút vừng, thân thể trở nên
khô héo, gầy còm, chỉ còn da bọc xương mà vẫn chưa chứng
được đạo quả. Thái Tử tự nghĩ: “Ta thường hành hạ
xác thịt, chỉ khổ sở mà không ích gì, chi bằng cứ tự
ăn uống như thường, giữ cho xác thân khỏe mạnh, để làm
cái lợi khí cầu đạo giải thoát”.
Sau
lúc nghĩ đó, bỗng có một thiếu nữ chăn bò tên là Nan Đà
trông thấy Thái Tử, trong lòng vui mừng khôn xiết, nàng liền
chọn hai con bò mập, vắt lấy sữa đem về nhà canh, rồi
đựng vào bát vàng mang ra dâng cúng Thái Tử. Thái Tử hoan
hỷ nạp thọ và cầu nguyện cho nàng, do công đức cúng dường
này, nàng sẽ được sung sướng đời đời.
Sau
khi dùng sữa xong, Thái Tử tự thấy trong mình khoan khoái,
khí lực điều hòa, liền xuống sông Ni Liên Thuyền tắm gội
sạch những cáu ghét mà trong nhiều năm tu hành khổ hạnh
không để ý đến. Tắm xong, Thái Tử đến dưới cây Tất-bà-la
(Pippala, tức là cây Bồ-đề, Bodhydruma) ở Già Da (Yàyà) rải
cỏ cát tường làm tòa, ngồi kiết già, hướng mặt về phía
Đông. Khi bắt đầu ngồi, Thái Tử thề rằng: “Nếu ta ngồi
tòa này mà không chứng được đạo Vô Thượng Bồ Đề,
thì thân này dù nát, ta cũng quyết không chịu đứng dậy”.
Phát nguyện xong, Thái Tử lặng lẽ vào thiền định, suy nghĩ
luôn trong 49 ngày đêm, Ngài suy nghĩ biết được kiếp trước
của mình, của người, của mọi chúng sinh. Đến nửa đêm
thứ 49, nhằm vào ngày mồng 8 tháng 12, giữa lúc sao Mai mọc
thì trong tâm Thái Tử tự nhiên đại ngộ, sạch hết phiền
não, chứng được đạo quả Vô Thượng Đại Bồ Đề, hiệu
là Phật Thích Ca Mâu Ni, vào năm Thái Tử 35 tuổi (có thuyết
30 tuổi).
II.
ĐỨC THÍCH TÔN SAU KHI THÀNH ĐẠO
Sau
khi Thái Tử thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, Ngài liền
đem những giáo pháp đã chứng ngộ được để giảng diễn
hóa độ chúng sinh, cho biết đến cội nguồn sự khổ và
sự vui. Trước hết, Ngài tuyên dương pháp môn Tứ đế ở
vườn Lộc Dã (Mrgadava), thuộc nước Ba La Nại Tư (Vàrànasì)
để độ cho năm người đệ tử đầu tiên tên là A Nhã Kiều
Trần Như (Ajnàta Kaudinya), A Thấp Bà (Ásvjit), Bạt Đề (Bhadrika),
Ma Ha Nam (Màhànàman) và Thập Lực Ca Diếp (Dásbala Kàsypa).
Trong Phật điển gọi lần thuyết pháp này là Sơ chuyển Pháp
luân (Dharma cakrapravatana). Ngôi Tam bảo tức là Phật bảo (Buddha),
Pháp bảo (Dharma), Tăng bảo (Sangha) cũng bắt đầu có từ
đây.
Cũng
ở vườn Lộc Dã, Đức Phật còn độ cho ông trưởng giả
Da Xá (Yassa) và song thân của ông làm tại gia Phật tử. Bên
nam giới gọi là Ưu-bà-tắc (Upàsaka), bên nữ giới gọi là
Ưu-bà-di (Upàsika). Hai chúng tại gia Phật tử cũng bắt đầu
từ đó.
Sau
khi độ năm vị Tỷ-khưu, Đức Phật và các đệ tử đi các
nơi giáo hóa. Trước hết, Ngài đi về nước Ma Kiệt Đà,
thủ phủ là Vương Xá thành. Ở giữa đường, Ngài đã độ
cho ba anh em ông Ca Diếp, tức là Tam Ca Diếp. Trưởng huynh
tên là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvà Kàsýapa), thứ huynh
là Na Đề Ca Diếp (Nani Kàsýapa), người em út là Già Da Ca
Diếp (Giyà Kàsýapa). Ba ông này thuộc Bà La Môn giáo, thờ
thần Lửa, nghe Phật giáo hóa, ai nấy đều vui mừng, làm
lễ cải giáo, xin theo Phật làm đệ tử. Các ông này còn
có một ngàn người đồ đệ cùng được đắc độ. Vì vậy
giáo đoàn của Đức Phật ngày một bành trướng, vua Tần
Bà Sa La (Bimbisàra) nước Ma Kiệt Đà, sai trưởng giả Ca Lan
Đà (Karanda) xây dựng Trúc Lâm tinh xá (Venuvana Vihàra) phía
ngoài thành Vương Xá, và tinh xá Linh Thứu ở núi Kỳ Xà Quật
(Gghridharkùta), để cúng dường Phật làm nơi thuyết pháp
an cư. Ở nơi này, Đức Phật đã độ cho ba ông thuộc Bà
La Môn giáo: Xá Lợi Phất (Sàriputra), Mục Kiền Liên (Maudgalyàyana)
và Đại Ca Diếp (Mahà Kàsýapa). Xá Lợi Phất và Mục Kiền
Liên có hai trăm năm mươi người, thường thường đi theo
Phật giáo hóa.
Khi
trở về thăm bệnh Phụ vương, Đức Phật còn giáo hóa cho
cả vua Tịnh Phạn cùng các hàng vương tử. Trong các hàng
vương tử, có chính con của Ngài là La Hầu La, người em khác
mẹ là Nan Đà (Nanda), em họ là A Nan Đà (Ànanda), Đề Bà
Đạt Đa (Devadatta), A Nâu Lâu Đà (Anurudha), cũng đều xin theo
Phật làm đệ tử.
Sau
Đức Phật đi hóa đạo tới thành Vương Xá, thủ phủ nước
Kiều Tất La, vua nước này là Ba Tư Nặc (Prasenajit), con vua
Ba Tư Nặc là thái tử Kỳ Đà (Jeta). Thái tử Kỳ Đà và
một bậc phú hào trong nước là trưởng giả Tu Đạt Đa (Sudatta)
được nghe Phật thuyết pháp, rất hâm mộ và kính phục,
hai ông đều phát nguyện làm Kỳ Viên tinh xá (Jetavana Vihàra)
để cúng dường Phật. Ngoài ra, như vua nước Tỳ Xá Ly (Vaisàli)
thì làm Đại Lâm tinh xá (Mahàvana Vihàra) và giảng đường
Lộc Tử Mẫu (Mrgàramàtuh Pràsàda); đối ngạn với thành
Vương Xá là nước Phệ Xá Ly thì thiết lập Trùng Các giảng
đường (Kùtàgàra Sàla); phía Tây thành Vương Xá là nước
Kiều Thưởng Di (Kosambi) thì dựng tinh xá Cù Sử La Viên (Ghosilàràma)
để cúng dường Phật làm nơi thuyết pháp. Các tinh xá
tuy có rất nhiều, nhưng chỉ có Trúc Lâm tinh xá và Kỳ Viên
tinh xá là Đức Phật hay lui tới giảng đạo nhiều hơn cả.
Phật
thành đạo được năm năm thì Phụ vương mất, kế mẫu của
Đức Phật là Ba Xà Ba Đề và công chúa Da Du Đà La cũng được
Phật độ cho xuất gia làm Tỷ-khưu-ni. Đó là lần đầu tiên
mà bên nữ giới được Phật độ vào hàng đệ tử xuất
gia. Đến đây thì Giáo đoàn của Phật gồm đủ tứ chúng,
là hai chúng xuất gia: Tỷ-khưu (Bhiksu, Tăng đoàn) và Tỷ-khưu-ni
(Bhiksuni, Ni đoàn); hai chúng tại gia là Ưu-bà-tắc (nam giới)
và Ưu-bà-di (nữ giới).
Trong
hàng đệ tử của Phật thì rất đông, nhưng có mười vị
đệ tử trứ danh, trong kinh gọi là Thập đại đệ tử. Đó
là Tôn giả Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ đệ nhất; Mục
Kiền Liên, thần thông đệ nhất; Đại Ca Diếp, tu định
đệ nhất; Ca Chiên Diên, nghị luận đệ nhất (các vị đệ
tử kể trên xuất thân từ giai cấp Bà-la-môn); A Nan Đà,
đa văn đệ nhất; A Nâu Lâu Đà, thiên nhãn đệ nhất; La
Hầu La, mật hạnh đệ nhất (các vị đệ tử này xuất thân
từ giai cấp Sát-đế-lợi); Tu Bồ Đề, giải không đệ nhất;
Phú Lâu Nan (Purna), biện tài đệ nhất (các vị này xuất
thân từ giai cấp Tỳ-xá); Ưu Ba Ly, trì luật đệ nhất (xuất
thân từ giai cấp Thủ-đà-la).
Các
đệ tử ngoại hộ Phật pháp trứ danh trong chúng Ưu-bà-tắc
như vua Tần Tỳ Xa La và vua A Xà Thế (Ajàtasatru) nước Ma
Kiệt Đà; vua Ba Tư Nặc nước Kiều Tất La; trưởng giả
Tu Đạt thành Xá Vệ... Các hàng đệ tử trong giới Ưu-bà-di
như: Vi Đề Hy (Vìdehì) phu nhân, Mạt Lợi và Thắng Man (Srimàlà)
phu nhân, và vợ của ông Tu Đạt là Thiện Sinh (Sujàtà) v.v...
III.
ĐỨC THÍCH TÔN NHẬP NIẾT BÀN
Từ
lúc Đức Phật thành đạo tới lúc nhập Niết-bàn, trong khoảng
45 năm trời (có thuyết 49 năm), Ngài đi khắp nơi tuyên dương
chánh pháp, hóa độ chúng sinh, không mấy lúc là gián đoạn.
Nơi trung tâm điểm mà Đức Phật thường hay lui tới giáo
hóa nhiều nhất là hai nước Ma Kiệt Đà và Kiều Tất La,
rồi đến các nước thuộc Trung Ấn Độ, theo duyên ngạn
sông Hằng Hà như: nước Thiểm Ba (Campà) ở phía Đông, nước
Kiều Thưởng Di và nước Ma Thâu La (Mathùrà) ở phía Tây,
nước Ba La Nại Tư (Barànaisi) thuộc phía Nam, thành Ca Tỳ
La thuộc phía Bắc. Ngoài ra còn nhiều nước nhỏ khác cũng
đều có vết chân của Phật tới thuyết pháp.
Về
cách thức thuyết pháp mà Đức Phật hay dùng nhiều nhất
là phương pháp đối thoại và thí dụ, cốt để người nghe
pháp dễ hiểu và mau lĩnh ngộ. Về nội dung của sự thuyết
pháp thì Đức Phật tùy theo căn cơ mà nói, nghĩa là tùy cơ
thuyết pháp, tùy bệnh cho thuốc, như đối với các hàng vua
chúa, Đức Phật nói phương pháp trị nước, an dân, lợi
ích hộ trì Phật pháp; đối với thường dân, Phật giảng
dạy cách làm phúc bố thí, cách cư xử trong gia đình, ngoài
xã hội. Đối với phía tại gia Phật tử, Phật giảng giải
những pháp Tam quy, Ngũ giới, Thập thiện và Bát chánh đạo.
Đối với phía xuất gia, Phật giảng giải về pháp môn Tứ
đế, Mười hai nhân duyên, Ngũ uẩn v.v... Tóm lại, lối thuyết
pháp của Phật là phương pháp dụ dẫn từ thấp tới cao,
từ nông tới sâu, từ phàm phu trở thành Phật quả.
Đức
Phật, tới khi 80 tuổi, Ngài nhận thấy cơ duyên giáo hóa
chúng sinh đã viên mãn, và đã tới lúc vào Niết-bàn, Ngài
liền thống lĩnh các hàng đệ tử, du hành tới rừng Sa la
(Sala), trên bờ sông Ni Liên Nhã Bạt Đề (Hiranyavati) thuộc
thành Câu Thi Na Yết La (Kusínagara), để giảng giải cho các
đệ tử nghe những chỗ nào còn hồ nghi. Trong khi đó, có
ông Tu Bạt Đà La (Subbadra) đã 120 tuổi, thuộc Bà La Môn giáo,
tu ở gần đó, nghe tin Phật sắp vào Niết-bàn, vội đến
hỏi đạo, và xin theo làm đệ tử, Phật liền nói pháp cho
nghe và thu nạp làm đệ tử, đó là người đệ tử cuối
cùng được Phật độ.
Để
ban lời giáo huấn cuối cùng, chỉ có trong một ngày đêm
mà Ngài đã nói xong bộ kinh Đại Bát Niết Bàn. Nói kinh xong,
Ngài lên tòa thất bảo, nằm nghiêng sườn bên phải, đầu
gối về phía Bắc, chân duỗi về phương Nam, mặt ngoảnh
về phía Tây, rồi vào Đại diệt độ (Mahàvirvàna), nhằm
vào ngày 15 tháng 2. Trước khi nhập Niết-bàn, Ngài đã giao
phó y bát cho Tôn giả Ma Ha Ca Diếp, vị đệ tử tối cao của
Ngài.
Phật
nhập Niết-bàn rồi, ngài Ma Ha Ca Diếp và đại chúng rước
kim quan của Ngài tới giàn thiêu để làm lễ Trà-tỳ (jhàpeta,
hỏa táng), làm lễ xong thì Xá lợi (Sarira) được chia làm
nhiều phần cho các nước để xây tháp cúng dường. Tập
tục tín ngưỡng Xá lợi cũng được bắt nguồn từ đây.
Còn các di tích của Phật thì trở thành nơi chiêm bái tín
ngưỡng của toàn thể Phật giáo đồ. Vườn Lâm Tỳ Ni nơi
Phật giáng sinh, Bồ-đề Đạo Tràng nơi Phật thành đạo,
vườn Lộc Dã nơi Phật “Sơ chuyển Pháp luân”, Sa la Song
thọ nơi Phật nhập diệt, là bốn thắng cảnh được nhiều
người chiêm bái nhất.
CHƯƠNG
THỨ BA. GIÁO ĐOÀN TỔ CHỨC VÀ KINH, LUẬT KHỞI NGUYÊN
I.
GIÁO ĐOÀN TỔ CHỨC
SỰ
TỔ CHỨC CỦA GIÁO ĐOÀN.
- Giáo
đoàn của Phật giáo gọi là Tăng già (Sangha), nghĩa của Tăng
già là đại chúng hay hòa hợp. Thành phần tổ chức của
Tăng già là đoàn thể tôn giáo. Đức Thích Tôn khi còn tại
thế, phương thức đoàn thể tôn giáo cũng đã được chế
định. Những pháp quy của đoàn thể Tăng già gọi là Luật
tạng để quy định về cách tổ chức và sinh hoạt. Thành
phần của đoàn thể Tăng già gồm có bảy chúng xuất gia
và tại gia:
1.
Tỷ-khưu (Bhiksu). - Phái nam xuất gia từ 20 tuổi trở lên,
đã thọ giới Cụ túc.
2.
Tỷ-khưu-ni (Bhiksuni). - Phái nữ xuất gia từ 20 tuổi trở
lên, đã thọ giới Cụ túc.
3.
Sa-di (Sràmanera). - Phái nam xuất gia, đã thọ 10 giới.
4.
Sa-di-ni (Sràmaneri). - Phái nữ xuất gia, đã thọ 10 giới.
5.
Thức-xoa-ma-na (Sikhaimànà). - Phái nữ đi xuất gia, phải hai
năm chuẩn bị học giới để thọ giới Tỳ khưu ni.
6.
Ưu-bà-tắc (Upàsakak). - Phật giáo đồ phái nam.
7.
Ưu-bà-di (Upàsika). - Phật giáo đồ phái nữ.
Trong
bảy chúng, năm chúng trên thuộc chúng xuất gia, hai chúng sau
thuộc chúng tại gia.
Về
đoàn thể Tăng già có nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nên Tăng
già được khu phân thành ba loại:
Loại
thứ nhất là Lý tưởng Tăng già. Lý tưởng Tăng già thì
không phân biệt tại gia hay xuất gia, vì ai nấy đều là Phật
tử, đều là Phật giáo đồ, nếu quyết tâm tu hành cũng
đều có thể chứng ngộ, giải thoát. Về Lý tưởng Tăng
già, có thể khảo sát theo hai phương diện: khảo sát theo
phần lượng, về nghĩa rộng của Tăng già, thì hết thảy
chúng sinh đều bao hàm ở trong Tăng già; nếu khảo sát về
phần chất thì hết thảy chúng sinh đều có thể chứng ngộ.
Loại
thứ hai chỉ dành riêng cho năm chúng xuất gia mới gọi là
Tăng già, tức Tỷ-khưu Tăng già và Tỷ-khưu-ni Tăng già. Sa-di
thuộc Tỷ-khưu Tăng già, Sa-di-ni và Thức-xoa-ma-na thuộc Tỷ-khưu-ni
Tăng già.
Loại
thứ ba là Hội nghị Tăng già. Tỷ-khưu Tăng già, hoặc Tỷ-khưu-ni
Tăng già, căn cứ vào nhân số trong các cuộc tập họp mà
thành lập. Nghi thức về hội nghị của Tăng già, cần phải
có từ bốn người trở lên mới được gọi là Tăng già,
từ ba người trở xuống thì không gọi là Tăng già mà gọi
là “Quần” (Gana). Hội nghị của Tăng già chia làm năm thứ:
1.
Hội nghị Tăng già gồm 4 người;
2.
Hội nghị Tăng già gồm 5 người;
3.
Hội nghị Tăng già gồm 10 người;
4.
Hội nghị Tăng già gồm 20 người;
5.
Hội nghị Tăng già từ 20 người trở lên.
Nghi
thức hội nghị chia nhiều thứ như vậy, là vì dựa vào từng
công việc một mà xử sự. Thí dụ việc thọ giới Cụ túc,
nếu là nơi trung tâm trong nước thì hội nghị Tăng già cần
phải có 10 người, nhưng ở nơi biên địa thì thay thế bằng
hội nghị 5 người. Hội nghị Tăng già đã được tổ chức
từ hồi Đức Thích Tôn còn tại thế, trong lúc Ngài sơ chuyển
Pháp luân, độ năm ông Tỷ-khưu làm đệ tử, ở vườn Lộc
Dã.
CÁCH
SINH HOẠT CỦA NGƯỜI XUẤT GIA.
Đức
Thích Tôn khi còn tại thế, Ngài đã chế định ra giới luật,
để làm tiêu chuẩn sự tu hành và sinh hoạt cho các đệ tử.
Sau khi Ngài diệt độ, các bậc Kỳ túc Trưởng lão lại theo
đấy mà giải thích và quy định lại, biên thành Tỷ-khưu
giới bản và Tỷ-khưu-ni giới bản. Y vào luật Tứ Phần
thì kinh Giới bản của Tỷ-khưu có 250 giới, Tỷ-khưu-ni có
348 giới. Theo Nam truyền Luật tạng thì giới bản của Tỷ-khưu
có 277 điều, Tỷ-khưu-ni có 311 điều. Các giới điều tuy
có khác, nhưng chỉ khác phần chi tiết, còn phần đại cương
vẫn giống nhau. Giới bản của Tỷ-khưu có 250 giới, được
chia thành tám loại như sau:
1.
4 giới Ba-la-di (Catru Paràjikà)
2.
13 giới Tăng tàn (Trayodasa Samghàdesena)
3.
2 giới Bất định (Dvy Aniyata)
4.
30 giới Xả đọa (Trimsan naisargita)
5.
90 giới Đan đọa (Navati Pràyascittiya)
6.
4 giới Đề-xá-ni (Catra Pratidèsaniya)
7.
100 giới Chúng học (Sata saiksa)
8.
7 giới Diệt-tránh (Sapta Dhikkàrasamatha)
(Muốn
tường tận xin xem kinh Giới bản của Tỷ-khưu và Tỷ-khưu-ni)
Người
đi xuất gia sau khi đã được thọ giới Cụ túc rồi, cần
phải nương theo vào các điều giới luật như trong giới bản
để làm mực thước sinh hoạt hàng ngày. Về sinh hoạt của
người xuất gia, phải nương vào Tứ y pháp:
1.
Y vào khất thực để sinh sống;
2.
Y vào áo vải thô để che thân;
3.
Y vào dưới gốc cây để ngủ nghỉ;
4.
Y vào thuốc hủ nát để chữa bệnh.
Nghĩa
là sự sinh hoạt hàng ngày của người xuất gia thì không
chú trọng ở các vật xa hoa, các món ăn cao lương mỹ vị,
chỉ lấy sự thanh đạm làm mãn nguyện, đó là tinh thần
của Tứ y pháp. Tuy nương vào Tứ y pháp làm tiêu chuẩn cho
sinh hoạt, nhưng tùy từng địa phương, từng trường hợp
các hàng tại gia Phật tử, đàn việt làm tinh xá, giảng đường,
áo mặc, đồ ăn đem cúng dường bố thí, cũng vẫn được
thọ dụng, mà không trái với Tứ y pháp.
Vật
sở hữu của Tỷ-khưu thì chia ra cá nhân sở hữu và Tăng
già sở hữu. Vật cá nhân sở hữu, nếu y vào chế độ Nam
phương Phật giáo là ba tấm áo cà-sa: An-đà-hội (Antarivàsaka),
Uất-đa-la-tăng (Uttaràsamgha) và Tăng-già-lê (Samhàli), bình
bát, khăn lọc nước, dao thế, kim khâu và túi, gọi là
tám vật. Nếu y vào chế độ Bắc phương Phật giáo là ba
tấm áo cà-sa, bình bát, khăn lọc nước và tọa cụ gọi
là sáu vật. Ngoài ra là những dụng cụ như giày dép, khăn
mặt, khăn tay v.v... Vật sở hữu của Tăng già như: Tự viện,
Già lam, giảng đường, phòng xá, vườn rừng, cây quả, chăn
màn, giường gối v.v... đều là vật công cộng của toàn
thể chư Tăng, ai cũng có quyền tự do sử dụng.
Công
việc hàng ngày của các Tỷ-khưu: buổi sáng sớm thì tụng
kinh, tọa thiền, đàm đạo; trước giờ Ngọ phải đi khất
thực, rồi mang về phòng ăn đúng giờ Ngọ, xong có giờ chỉ
tĩnh, rồi lại chuyên việc tu hành, giảng đạo; buổi tối
tụ tập tại thiền đường công cộng để cùng nhau bàn về
pháp thoại, và có giờ nghiên cứu cộng đồng, mãi tới nửa
đêm mới đi nghỉ. Tóm lại, về sinh hoạt hàng ngày của
Tỷ-khưu lấy sự tu luyện làm cốt yếu.
QUY
ĐỊNH CỦA TĂNG GIÀ.
- Một
bộ phận của Luật tạng là Giới bản như trên đã thuật,
ngoài ra còn một bộ phận gọi là Kiền-độ-phận (Khandhaka),
tức là những quy định về các pháp thọ giới, bố-tát an
cư, tự tứ v.v... của đoàn thể Tăng già. Nội dung của Kiền-độ-phận
thì rất phức tạp, phần phức tạp này là do các bậc Kỳ
túc Trưởng lão của Giáo đoàn chế định thêm, còn y vào
quy định ở thời Đức Thích Tôn còn tại thế thì giản
dị hơn.
Công
việc quan trọng nhất của Giáo đoàn là việc tác pháp tiến
cụ (upasampadà), nghi thức công nhận người gia nhập đoàn
thể. Trước hết, nếu ai tin Phật, được Phật hứa khả,
tức là nghi thức tác pháp công nhận người đó nhập đoàn
thể Phật giáo đồ. Như người được truyền cho giới Tam
quy: Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, tức là nghi thức hứa
khả cho người đó nhập đoàn thể Phật tử. Người được
trao truyền cho mười giới, tức là nghi thức hứa khả cho
nhập đoàn thể Sa-di. Người được sự tác pháp trao truyền
cho giới Cụ túc, tức là nghi thức hứa khả cho nhập đoàn
thể Tỷ-khưu. Người được nhận làm đoàn thể Tỷ-khưu,
phải là người đủ 20 tuổi trở lên và lục căn cụ túc.
Về phía hứa khả cho vào đoàn thể Tỷ-khưu, lúc đầu thì
duy có tự thân Đức Phật, đó là trường hợp đặc biệt,
nhưng về sau thì phải có đủ mười vị Trưởng lão Tỷ-khưu
làm thầy Giới sư để trao truyền giới pháp. Sau khi được
nhận vào đoàn thể Tỷ-khưu, ai nấy đều phải căn cứ vào
giới luật để tu trì, vào kinh điển để học tập.
Quy
định về nghi thức bố-tát (upavasatha) thì mỗi tháng có hai
kỳ, nghĩa là các vị Tỷ-khưu hoặc Tỷ-khưu-ni cùng ở một
Già lam, hay trong một phạm vi kết giới nào, mỗi tháng vào
ngày 15 và 30 đều phải tận tập, bạch Yết-ma làm lễ bố-tát,
cử một vị tụng giới bản, còn đại chúng đều ngồi nghe,
ai nấy đều tự phản tỉnh, và nếu phạm vào điều luật
nào thì phải ra trước đại chúng phát lồ, sám hối.
QUY
ĐỊNH VỀ VIỆC AN CƯ.
- An
cư còn gọi là Vũ kỳ an cư (Varsavasana). Vì mỗi năm cứ vào
mùa mưa, nước lũ dâng lên tràn ngập cả đường lối, sự
đi lại giáo hóa, truyền đạo và khất thực không thuận
tiện, hơn nữa lại là mùa côn trùng sinh nở đầy đường,
đi lại sợ tổn hại đến sinh mệnh các loài côn trùng, nên
Đức Phật cùng các đệ tử phải tụ họp tại một nơi
nào thuận tiện, để chuyên việc tu hành trong ba tháng, kể
từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7, gọi là Vũ kỳ an
cư.
Ngày
15 tháng 7, ngày cuối cùng của khóa An cư, là ngày làm lễ
Tự tứ (pavàranà). Tự tứ nghĩa là trong ba tháng tu trì, nếu
trong đại chúng có ai phạm vào tội lỗi mà đại chúng ngờ
vực thì được tự do cử tội. Pháp an cư này có từ ngày
Đức Thích Tôn còn tại thế. Nghĩa là Đức Thích Tôn, thành
đạo sau một năm, cho tới khi Ngài nhập Niết bàn, Ngài không
thể thiếu một khóa an cư nào.
II.
KINH, LUẬT KHỞI NGUYÊN
KẾT
TẬP KINH ĐIỂN LẦN THỨ NHẤT.
- Sau
khi Đức Thế Tôn nhập diệt, trong hàng đệ tử sinh ra kiến
giải bất đồng về giáo pháp và giới luật của Ngài, vì
là sự nghiệp tối quan trọng của Phật giáo, nên Tôn giả
Ma Ha Ca Diếp, vị đệ tử tối cao của Đức Phật, liền
thống lĩnh 500 vị A-la-hán, họp khoáng đại hội nghị tại
thành Vương Xá để kết tập lại lời giáo huấn của Ngài.
Lần kết tập này không có bút ký mà chỉ là hợp tụng (samgiti).
Lần kết tập này là lần kết tập thứ nhất, hoặc gọi
là “Vương Xá thành kết tập”, hay “Ngũ bách kết tập”.
Nguyên
vì, sau khi Đức Thích Tôn diệt độ, trong hàng Tỷ-khưu, có
ông thốt ra lời nói rằng: “Trong thời Đức Thích Tôn còn
tại thế, mọi hành động đều phải bó buộc trong phạm
vị giới luật, mất quyền tự do, ngày nay Đức Thích Tôn
đã diệt độ, từ đây trở về sau sẽ được tự do hành
động, không bị giới luật ràng buộc”. Tôn giả Ca Diếp
nghe thấy thế, liền nghĩ rằng: Đức Thích Tôn mới diệt
độ được có bảy ngày, mà trong hàng đệ tử đã thốt
ra lời phá hoại chánh pháp như vậy. Ngài sợ giới pháp của
Đức Thích Tôn sẽ bị tà thuyết pha trộn, nên quyết ý đề
xướng ra Đại hội nghị để kết tập lại lời Phật dạy.
Trong kỳ kết tập này, được sự ủng hộ của vua A Xà Thế
(Ajàtasatru) nước Ma Kiệt Đà, vua ra lệnh xây tinh xá mới
ở hang Thất Diệp (Sapta parna gùha) để làm hội tràng kết
tập. Thành phần hội nghị gồm có 500 vị đệ tử Phật
đã chứng quả A-la-hán, do Tôn giả Ma Ha Ca Diếp là Thượng
thủ; ngài Ưu Ba Ly, vị trì luật thứ nhất, được cử tụng
lại các điều giới luật; ngài A Nan, bậc đa văn đệ nhất,
được cử tụng lại pháp của Đức Thích Tôn. Sau khi tụng
xong, được sự thảo luận và thừa nhận của đại chúng
cho là đúng với lời Phật đã nói. Và hai tạng Kinh, Luật
có bắt đầu từ đó. Thời kỳ kết tập này chỉ có trong
thời gian bảy tháng.
KHỞI
NGUYÊN CỦA LUẬT TẠNG.
- Luật
tạng (Virayapjitaka) được khởi nguyên, lẽ dĩ nhiên là có
từ lúc Đức Thích Tôn còn tại thế. Đức Thích Tôn lúc
ban đầu thuyết pháp, Ngài không chia ra Luật và Pháp. Luật
và Pháp được phân chia rõ rệt là bắt đầu từ lần kết
tập thứ nhất.
Thời
kỳ kết tập Luật tạng lần thứ nhất là nguyên hình giới
bản, gồm những điều kiện căn bản về quy định của Tăng
già. Tới sau, các bậc Kỳ túc Trưởng lão trong Giáo đoàn,
lại căn cứ vào nguyên hình giới bản, chú thích và quy định
lại làm cho phức tạp hơn.
KINH
TẠNG KHỞI NGUYÊN.
- Nội
dung về Kinh tạng (Sùtrapitaka) kết tập lần thứ nhất là
kinh điển A Hàm, chỉ là những ký lục về sự thuyết pháp
và sinh hoạt của Đức Thích Tôn khi còn tại thế, và ký
lục sinh hoạt của các đệ tử Ngài.
Kinh
điển A Hàm gồm có bốn bộ:
1.
Kinh Trường A Hàm (Digha àgama)
2.
Kinh Trung A Hàm (Maljhima àgama)
3.
Kinh Tăng Nhất A Hàm (Ànguttara àgama)
4.
Kinh Tạp A Hàm (Samyutta àgama).
Vậy
Kinh tạng khởi nguyên cũng từ thời kỳ kết tập lần thứ
nhất. Thời kỳ kết tập lần thứ nhất lẽ dĩ nhiên là
chỉ có Luật tạng và Kinh tạng, còn Luận tạng hãy ở thời
kỳ chưa thành lập.
CHƯƠNG
THỨ TƯ. GIÁO LÝ NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO
I.
GIÁO LÝ CĂN BẢN CỦA PHẬT GIÁO
Đức
Thích Tôn, trong khoảng 45 năm, Ngài tuyên dương chánh pháp,
mục đích duy nhất là để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi
bể sinh tử trầm luân, tới chốn Niết-bàn, thường trụ,
an lạc. Nói trái lại, tức là chuyển mê khai ngộ cho chúng
sinh. Vì mục đích chuyển mê khai ngộ, nên giáo lý của Ngài
một mặt chú trọng về phương diện trí tuệ, một mặt chú
trọng pháp thực tiễn tu hành. Pháp thực tiễn tu hành tức
là pháp môn Tứ đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo
đế.
Pháp
Tứ đế là kết quả của sự thực nghiệm tu hành mà Đức
Thích Tôn đã chứng ngộ được ở dưới cây Bồ-đề. Vì
mục đích lợi tha, nên sau khi thành đạo, trước hết Ngài
khai thị pháp Tứ đế ở vườn Lộc Dã để độ năm người
đệ tử đầu tiên. Tiếp sau, đi các nơi thuyết pháp độ
sinh, Ngài nương vào căn cơ của thính chúng nên giáo pháp
của Ngài nói ra hoặc cao hoặc thấp, hoặc nông hay sâu khác
nhau, nhưng tựu trung cũng đều bắt nguồn từ pháp môn Tứ
đế.
II.
TỨ ĐẾ
Tứ
đế còn gọi là Tứ Thánh đế (Catvàri àrya satyàni), hay Tứ
chân đế, gọi tắt là Tứ đế. Đế nghĩa là chân thực
nên Tứ đế được gọi là bốn chân lý như thực.
1.
KHỔ ĐẾ (Duhkka satya). - Trong thế giới hiện thực này, bất
cứ loài hữu tình hay vô tình, đều ở trong chân tướng khổ
não. Căn cứ vào lời Phật dạy thì con người trước hết
có bốn cái khổ lớn, tức là SINH (Jàtit), LÃO (Jarà), BỆNH
(Vyàdhir), TỬ (Marana); tiếp sau, người thân yêu bị xa cách,
gọi là “Ái biệt ly khổ” (Priyasamprayoyra); kẻ oán thù
lại thường hay gặp, gọi là “Oán tắng hội khổ (Apriyasamparayoyga);
điều mong cầu lại không toại nguyện, gọi là “Cầu bất
đắc khổ” (Yadapi tccha paryesamano nalabhatetad); chấp trước
vào năm yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức bị nó nung
nấu khổ sở, gọi là "Ngũ ấm thịnh khổ" (Samksepat qancaugàdàras
kandhà). Vì đầy dẫy sự khổ sở, không có một chút khoái
lạc, xét cho cứu cánh là cái thế giới khổ não. Hết thảy
chúng sinh vì hôn mê không biết, chấp trước ham đắm vào
dục lạc ở thế gian cho là sung sướng, nên cứ chìm đắm
vào bể khổ, bị sinh tử luân hồi mãi không có kỳ hạn
giải thoát. Đức Thích Tôn, Ngài nhận chân thấy cuộc đời
là khổ, thế giới thì sinh, trụ, dị, diệt, vô thường,
nên Ngài đã nói ra Khổ đế.
2.
TẬP ĐẾ (Samudaya satya). - Tập nghĩa là tập hợp, chứa góp
những chân tướng khổ não làm nguyên nhân cho hiện tại và
tương lai. Căn cứ vào lời Đức Thích Tôn giáo huấn, thì
thế giới vạn hữu hết thảy đều y vào sự quan hệ giữa
nguyên nhân và kết quả mà sinh hay diệt, ngay cả đến sự
tượng nhỏ bé li ti chăng nữa cũng không tránh khỏi luật
nhân quả. Con người vì sinh trong thế giới vô thường, nên
tất cả mọi sinh hoạt của con người thường gặp những
điều không như ý, nhiều khổ não. Tất cả mọi hiện tượng
khổ não không phải là ngẫu nhiên, mà đều lệ thuộc vào
Tập nhân rồi theo luật nhân quả chi phối. Tập nhân tức
là “vô minh”, vì y vào vô minh nên sinh ra chấp trước, vì
chấp trước sinh ra dục vọng, tạo thành các nghiệp ác về
Thân, Khẩu, Ý và các nghiệp khác, nên trở thành “nghiệp”.
Nghiệp (Karma) tức là nghiệp lực, nó có cái sức tích tập,
nên trở thành nghiệp nhân, các nghiệp tương ứng với nghiệp
nhân gọi là nghiệp quả, đưa đến khổ báo, gây thành khổ
quả. Tóm lại, cận nhân của quả khổ là nghiệp, và viễn
nhân của quả khổ là vô minh, hay là “hoặc”. Vậy nên
quả khổ của hiện tại là do hoặc và nghiệp ở quá khứ
mà sinh, quả khổ vị lai là do hoặc và nghiệp của hiện
tại mà có. Quả khổ được tồn tại là do hoặc và nghiệp
cứ liên tiếp không ngừng. Vì thế, ba thứ “Hoặc”, “Nghiệp”,
“Khổ” cứ làm nhân lẫn nhau, gây thành quả khổ vô cùng
vô tận, nên gọi là Tập đế.
3.
DIỆT ĐẾ (Nirodha satya). - Diệt đế là Giải thoát luận,
và cũng là Lý tưởng luận của Phật giáo. Khổ đế và Tập
đế là nguyên nhân và kết quả của khổ não. Diệt đế
là phương pháp diệt trừ khổ quả và khổ nhân, đưa chúng
sinh tới chỗ Niết-bàn thường trụ. Căn cứ vào giáo lý
của Đức Phật, thì khổ quả của con người là do nghiệp
làm cận nhân, nghiệp nương vào hoặc mà sinh, hoặc lấy vô
minh làm nguyên nhân căn bản. Từ vô minh sinh ra ngã tưởng,
y vào ngã tưởng sinh ra chấp trước, nhận thế giới vô thường
là thực tại, nên sinh ra vọng tưởng, vọng tưởng là cơ
bản để sinh ra mọi phiền não, gây ra mọi nghiệp nhân, tạo
thành cái quả khổ sinh tử. Vì vậy, nếu muốn diệt khổ
quả, trước hết phải đừng tạo nghiệp nhân, muốn không
tạo nghiệp nhân, trước hết cần phải diệt ngã tưởng.
Ngã tưởng đã đoạn, thì nhận được chân tướng của thế
giới là BẢN LAI VÔ NGÃ. Biết được chân tướng của thế
giới là Bản lai vô ngã, tức là ngã tưởng đoạn diệt,
cắt đứt được xiềng xích luân hồi, thoát mọi khổ não
trong bể sinh tử, không bị luân hồi trong lục thú, tới chốn
giải thoát Niết-bàn, đó là Diệt đế.
4.
ĐẠO ĐẾ (Màrga satya). - Giáo lý dùng làm nguyên nhân để
đạt tới quả Giải thoát Niết-bàn, tức là những pháp môn
thực tiễn tu hành, thuộc Đạo đức luận của Phật giáo.
Căn cứ vào giáo lý của Đức Phật để đạt tới quả Niết-bàn,
thì không giống như Thuận thế ngoại đạo, thiên chấp về
khổ hạnh hay khoái lạc, mà là pháp môn Trung đạo (Madhya
pratipada). Pháp môn Trung đạo này, Đức Phật nương vào thời
cơ mà nói ra, như khi sơ chuyển pháp luân, Ngài nói giáo lý
Bát Chánh Đạo, khi nhập Niết-bàn, Ngài nói “Tam Thập Thất
Phẩm Trợ Đạo”. Để quy định cách thức tu hành và hành
vi hàng ngày cho các đệ tử, nên Ngài lại nói ra Giới luật
hay Thiền định v.v...
Vậy
nên, người tu hành trước hết phải giữ giới để thân
tâm được thống nhất, không bị mọi vọng niệm khuấy động,
do công phu đó mà trí tuệ được phát sinh, thấu suốt được
chân tướng của thế giới, diệt trừ được mọi Hoặc,
Nghiệp, Khổ. Trong pháp môn Tứ đế thì Khổ đế và Tập
đế là nhân quả thế gian; Diệt đế và Đạo đế là nhân
quả xuất thế gian. Biểu đồ tóm tắt như sau:
Khổ
đế (quả) Tập đế (nhân): Nhân quả thế
gian
Diệt
đế (quả) Đạo đế (nhân: Nhân quả xuất
thế gian.
III.
MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN
Mười
hai nhân duyên là giáo lý nội quán của Đức Phật khi thành
đạo. Sau khi thành đạo, Ngài căn cứ vào lẽ sinh khởi của
khổ giới là Khổ đế và Tập đế mà lần lượt nói ra
sự nhân quả quan hệ của nó có mười hai thứ, được gọi
là mười hai duyên khởi, hoặc mười hai chi, hay mười hai
nhân duyên. Đối với giáo lý của Phật giáo, mười hai nhân
duyên chiếm một vị trí rất quan trọng.
Giải
thích về mười hai nhân duyên có nhiều phương pháp khác nhau.
nay căn cứ vào phương pháp Tam Thế Phối Đáng để giải
thích đại khái như sau:
Trước
hết, chi “Lão Tử” (Javà marana) của vị lai phải chịu,
là từ chi “Sinh” (Jàti) ở vị lai mà có; chi “Sinh” ở
vị lai là kết quả về tích tập mọi nghiệp của hiện tại
là “Hữu” mà có; chi “Hữu” (Bhava) thì nương vào sự
chấp trước của “Thủ” mà có; chi “Thủ” (Upàdàna)
nương vào sự tham ái về sự vật của “Ái” mà có; “Ái”
(Trsna) nương vào sự cảm giác khổ vui của “Thọ” mà có;
chi “Thọ” (Vedanà) nương vào sự xúc tiếp với ngoại cảnh
của "Xúc" mà có; chi "Xúc" (Sparsa) nương vào sự xúc tiếp
về sáu cảm quan của “Lục nhập” mà có; “Lục nhập”
(Sad àyatana) nương vào sự kết hợp giữa thân và tâm của
“Danh sắc” mà có; “Danh sắc” (Nàmarũpa) nương vào sự
tác dụng nhận thức phân biệt của “Thức” (Vijnãna) mà
có; nhưng thân thể của hiện tại thì đều do kết quả về
nghiệp ở quá khứ đã tạo là “Hành” (Samskàra); “Hành”
nương vào “Hoặc” tức là “Vô minh” (Avidyà) mà sinh ra.
Như vậy, nguyên nhân căn bản của mọi khổ não tức là “Vô
minh”, gọi là CĂN BẢN VÔ MINH.
Trong
mười hai chi, Sinh và Lão Tử là hai quả vị lai, nguyên nhân
trực tiếp của hai quả này là ba chi Ái, Thủ, Hữu, gọi
là ba nhân của hiện tại. Năm chi Thức, Danh sắc, Lục nhập,
Xúc và Thủ là nguyên nhân gián tiếp cho hai quả vị lai, đồng
thời lại là kết quả về nghiệp của quá khứ, nên còn
gọi là năm quả của hiện tại, sau hết, Vô minh và Hành
là hai nhân ở quá khứ. Như vậy ba đời quá khứ, hiện tại
và vị lai trở thành mối quan hệ nhân quả lẫn cho nhau, gọi
là Tam Thế Lưỡng Trùng Nhân Quả. Nếu phối đáng với ba
thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ thì hai quả của vị lai và năm quả
của hiện tại là “Khổ”; Hữu và Hành là “Nghiệp”
của quá khứ và hiện tại; Thủ, Ái và Vô minh là “Hoặc”
của quá khứ và hiện tại.
Khổ,
Hoặc và Nghiệp cũng quan hệ lẫn nhau, nên tạo thành một
vòng tròn tuần hoàn không ngừng, mười hai nhân duyên cũng
nương vào nhau để tạo nhân kết quả, chắp thành mối dây
liên lạc vô cùng vô tận.
Nay
đem Khổ đế và Tập đế phối đáng với mười hai nhân
duyên theo bản đồ như sau:
Mười
hai nhân duyên như trên đã thuật, là pháp tư duy nội quán
của Đức Phật ở dưới cây Bồ-đề. Ngài đã chứng ngộ,
biết được nguyên nhân căn bản của mọi khổ là do Hoặc
tức là Vô minh, nên Ngài đã đoạn diệt vô minh và chứng
được đạo Giải thoát. Vậy nên, nếu Vô minh diệt tức
Hành diệt, Hành diệt tức Thức diệt, Thức diệt tức Danh
sắc diệt, Danh sắc diệt tức Lục nhập diệt, Lục nhập
diệt tức Xúc diệt, Xúc diệt tức Thọ diệt, Thọ diệt
tức Ái diệt, Ái diệt tức Thủ diệt, Thủ diệt tức Hữu
diệt, Hữu diệt tức Sinh diệt, Sinh diệt tức Lão tử mọi
khổ đều diệt, đạt tới cảnh giới Niết bàn Giải thoát.
IV.
THẾ GIỚI QUAN
Đức
Thích Tôn, Ngài quan sát thế giới theo hai dạng thức khác
nhau, tức là Hiện thực thế giới quan và Lý tưởng thế
giới quan.
Hiện
thực thế giới quan là thế giới sinh tử, mê vọng, khổ
não; lý tưởng thế giới quan là thế giới Niết-bàn, thường
trụ an lạc. Hai thế giới này được khu phân là căn cứ
vào sự chi phối của nhân duyên có hay không. Về hiện thực
thế giới thì nương vào nhân duyên mà có, nên là thế giới
vô thường (Aniccatà), có sinh diệt biến hóa, thuộc thế giới
hữu vi (Samskrta); lý tưởng thế giới thì không bị nhân duyên
chi phối, nên là thế giới thường trụ, không sinh diệt biến
hóa, thuộc thế giới vô vi (Asamskrta).
Về
thành phần để thành lập thế giới thì có vật và tâm,
và sự quan hệ giữa vật và tâm, hay là không phải vật và
cũng không phải tâm, chia làm năm yếu tố, gọi là Ngũ uẩn
(Pãnca skandàh). Uẩn có nghĩa là tích tụ.
1.
SẮC UẨN (rùpa skadha). - Tổng thể của vật chất, có tính
cách chướng ngại, trước hết là bốn nguyên tố Địa, Thủy,
Hỏa, Phong, sau là do sự kết hợp của bốn nguyên tố thành
ngũ quan là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và đối cảnh của
ngũ quan là ngũ trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc.
2.
THỌ UẨN (Vedanà skadha). - Sự cảm thụ của ngũ căn đối
với ngũ trần sinh ra mọi cảm giác như khổ, sướng, vui,
buồn...
3.
TƯỞNG UẨN (Samjnã skadha). - Sự tưởng tượng và tư duy về
hình dáng của sự vật, sau tác dụng của căn đối với cảnh.
4.
HÀNH UẨN (Samskàra skadha). - Sự quan hệ tác dụng của tâm
và tâm bất tương ứng hành, khởi ra mọi hành động thiện,
ác.
5.
THỨC UẨN (Vijgãna skadha). - Thức uẩn là tác dụng của tinh
thần, để nhận thức và phân biệt mọi trạng thái của
tâm đối với cảnh, tức là ý thức, bản thể của tâm.
Năm
uẩn đều có cái công năng tạo tác và kết hợp để thành
lập thế giới. Vì nương vào sự kết hợp khác nhau, nên
sinh ra thế giới hữu tình và vô tình, thiên hình vạn trạng
sai khác nhau. Sự kết hợp của ngũ uẩn thì không nhất định,
nương vào nhân duyên mà kết hợp, cũng lại nương vào nhân
duyên mà ly tán. Vì lý do kết hợp, ly tán, nên ước vào thời
gian thì không thường trụ, ước vào không gian lại không
cố định. Tóm lại, về hiện tượng của thế giới hữu
vi là biến hóa vô thường, nên gọi là Chư Hành Vô Thường.
Chư
hành vô thường là chân tướng của thế giới hiện thực,
là thế giới của sinh diệt biến hóa, phủ nhận sự tồn
tại của Ngã, là chủ tể duy nhất. Ngã chẳng qua chỉ là
cái quá trình của sinh diệt biến hóa, chỉ tạm thời tồn
tại, ví như nước chảy, bọt nổi đều không có thực thể.
Như vậy, nếu ngã không có thực thể, mà tưởng tượng là
thực thể, thực hữu, thì chỉ là sự mê vọng, cho nên gọi
là Chư Pháp Vô Ngã.
Chúng
sinh không biết, nhận thế giới là thường trụ, tưởng tượng
là có Ngã, chấp trước thành ngã tưởng, sinh ra mọi thứ
Hoặc, tạo ra mọi thứ Nghiệp, gây ra mọi sự Khổ, nên gọi
là Nhất Thiết Giai Khổ. Nếu biết được “chư hành vô
thường”, “chư pháp vô ngã”, “nhất thiết giai khổ”,
tức là đoạn diệt được mọi “Hoặc”, “Nghiệp”, “Khổ”,
tới chốn Niết-bàn tịch tịnh.
Thế
giới tuy chia ra hữu vi và vô vi, khổ và vui, vô thường và
thường trụ, sinh tử và Niết-bàn, nhưng chỉ là nương vào
sự có Ngã tưởng hay không có Ngã tưởng mà thành lập. Nếu
khởi ra tâm có Ngã tưởng, thì đồng thời cũng sinh ra hiện
tượng giới của nhân duyên sinh diệt, gây thành thế giới
hữu vi khổ não. Trái lại, nếu diệt được Ngã tưởng,
thì đồng thời cũng giải thoát được cái quan hệ của nhân
duyên sinh diệt tới cõi vô vi an lạc. Vậy nên pháp Vô Ngã
Quán chiếm một địa vị trọng yếu trong Phật giáo.
V.
PHÂN LOẠI THẾ GIỚI
Yếu
tố để thành lập thế giới là Ngũ uẩn. Vì sự kết hợp
sai khác nên có phần thô và phần tế của sắc, nên chia ra
Sắc giới (Rùpa dhàtu) và Vô sắc giới (Arùpa dh.). Sắc giới
thì nương vào điều kiện dục vọng nhiều hay ít, nên lại
chia ra Sắc giới và Dục giới (Kàma dh.), tức là tam giới.
Vô sắc giới được thành lập từ phần vi tế của Sắc
uẩn và bốn uẩn khác; Sắc giới thì hoàn toàn do Ngũ uẩn
thành lập; Dục giới cũng do Ngũ uẩn thành lập, nhưng
là thế giới rất xí thịnh về ba mặt: ăn uống, sắc dục
và thụy miên.
Y vào
giá
trị đạo đức để phân loại, thì thế giới hữu tình chia
ra Ngũ thú (pànca gatayah), hay là Lục thú (sadgat), nếu lại
tế phân thì có hai mươi lăm cõi Hữu, gọi là Nhị Thập
Ngũ Hữu.
NGŨ
THÚ. - (1) Địa ngục (Naraka), (2) Ngạ quỷ (Preta), (3) Súc sinh
(Tiryagyoni), (4) Nhân gian (Manusya), (5) Thiên giới (Deva), về
thiên giới thêm A-tu-la giới thành Lục thú.
NHỊ
THẬP NGŨ HỮU. - (1) Tứ châu tức là bốn đại châu của
nhân gian ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc núi Tu Di (Semeru
Diệu Cao sơn), châu Nam Diêm Phù Đề (Daksinajambu) ở phương
Nam, châu Phất Bà Đề (Pùrvàvideha) ở phương Đông, châu
Cù Đà Ni (Apara godanya) ở phương Tây, châu Uất Đan Việt
(Uttara kuru) ở phương Bắc. (2). Bốn ác thú tức là Địa
ngục, Ngã quỷ, Súc sinh và A-tu-la. (3) Cõi trời Lục dục,
sáu cõi trời thuộc về Dục giới: Trời Tứ Thiên Vương
(Trì Quốc, Quảng Mục, Đa Văn, Tăng Trưởng), cõi trời Đao
Lợi (Trayastrimsah), cõi trời Dạ Ma (Yama), cõi trời Đâu Suất
(Tusita), cõi trời Hóa Lạc (Nirmanarati), cõi trời Tha Hóa Tự
Tại (Paranirmita). (4) Cõi trời Phạm Thiên. (5) Cõi trời Vô
Tưởng (Asanjnàsattva). (6) Cõi trời Tịnh Cư (Suddhavàsa). (7)
Cõi trời Tứ Thiền tức là Sơ Thiền thiên, Nhị Thiền thiên,
Tam Thiền thiên, Tứ Thiền thiên. (8) Cõi trời Tứ Không Xứ
tức là Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu
Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thiên, gồm tất cả là
25 cõi Hữu.
BỐN
CHÂU. - Bốn ác thú, sáu cõi trời Dục, là mười bốn cõi
Hữu thuộc Dục giới. Từ cõi trời Phạm Thiên đến cõi
trời Tứ Thiền, gồm bảy cõi, thuộc Sắc giới. Cõi trời
Tứ Không Xứ thuộc Vô sắc giới. Bản đồ tóm tắt như
sau:
Vì
hai mươi lăm cõi Hữu là nơi y báo của loài hữu tình, căn
cứ vào nghiệp thiện hay ác mà phải chịu quả báo luân hồi
sinh tử trong hai mươi lăm cõi đó, nên gọi là Hữu, thuộc
thế giới hữu vi. Từ Địa ngục đến A-tu-la là thế giới
đại khổ; nhân gian là thế giới nửa khổ nửa vui, các cõi
trời là thế giới vui, nhưng ở trong vòng tương đối, không
phải là vui cứu cánh, vì chưa thoát khỏi luân hồi. Vậy
nên, Tam giới và Lục thú đều là thế giới khổ não. Muốn
tới chốn tuyệt đối khoái lạc, cứu cánh giải thoát thì
phải siêu việt Tam giới và Lục thú, tiến tới cảnh giới
tịch tĩnh Vô-vi Niết-bàn.
VI.
PHIỀN NÃO VÀ GIẢI THOÁT
Nguyên
nhân sinh khởi của khổ giới và luân hồi trong tam giới là
Nghiệp. Nghiệp nương vào phiền não là Hoặc mà tạo tác.
Muốn đạt tới cảnh giới giải thoát Niết-bàn trước hết
phải đoạn Hoặc nghiệp.
Hoặc
có hai thứ là Trí hoặc và Tĩnh hoặc. Vì mê lý của Tứ
đế nên gọi là trí hoặc, hay là mê lý hoặc; mê về sự
tướng của Tứ đế, gọi là tình hoặc, hay là mê sự hoặc.
Phần mê lý hoặc, vì đoạn diệt được dễ dàng, nên gọi
là kiến hoặc; phần mê sự hoặc, vì đoạn diệt được
phải suy nghĩ rất khó khăn, nên gọi là Tư hoặc, Kiến hoặc
là phần đoạn hoặc của bậc Kiến đạo, Tư hoặc là phần
đoạn hoặc của bậc Tu đạo.
KIẾN
HOẶC. - Kiến hoặc chia ra mười thứ gọi là Thập sử. Sử
nghĩa là phiền não, nó luôn luôn sai khiến cái tâm làm việc
xằng bậy, phá hoại mầm mống thiện căn. Thập sử: (1) Thân
kiến (Satkày drsti). - Chấp trước thân thể cho là thực hữu,
có cái Ta. (2) Biên kiến (Antagnàha drsti). - Chấp vào một bên,
hoặc đoạn diệt hay thường trụ. (3) Tà kiến (Mithyà drsti).
- Không tin nhân quả, tội phúc báo ứng. (4) Kiến thủ (Drsti
paràmarsa dsrti). - Cố chấp vào ngộ kiến của mình cho là
đúng. (5) Giới cấm thủ (Silavrata pràmarsa drsti). - Những giới
cấm không phải là nhân của đạo giải thoát, chấp làm nhân
của đạo giải thoát để tu, như ngoại đạo Bà La Môn. (6)
Tham dục (Ràga), (7) Sân nhuế (Dvesa), (8) Ngu si (Moha), (9) Mạn
(Màna), (10) Nghi (Vicikitsà) nghi ngờ. Trong mười sử, năm sử
đầu đoạn diệt được dễ dàng, nên gọi là Ngũ Lợi Sử
(Anca tiksna dùla); năm sử sau đoạn diệt được phải tốn
nhiều công phu khó khăn, nên có tên là Ngũ Độn Sưû (Pnàca
klesa dùta).
TƯ
HOẶC. - Tư hoặc là bốn hoặc Tham, Sân, Si, Mạn, chia ra làm
chín phẩm cao thấp khác nhau, tức là phẩm thượng, phẩm
trung, phẩm hạ, trong mỗi phẩm Thượng, Trung, Hạ lại chia
thành thượng, trung, hạ. Theo bản đồ như sau:
Kiến
hoặc (Mê lý hoặc). 10 sử (Ngũ lợi sử, Ngũ độn sử)
Tư
hoặc (Mê sự hoặc). 9 phẩm (Thể là Tham, Sân, Si, Mạn)
Nếu
đoạn diệt được mọi hoặc kể trên thì có thể chứng
được giải thoát Niết-bàn, gọi là Đoạn Hoặc Chứng Lý,
nghĩa là đoạn hết hoặc để chứng vào chân lý của Niết-bàn.
Hiện thân này, nếu nhờ vào sự đoạn hoặc mà chứng được
Niết-bàn, xác thân được tự do tự tại, không bị phiền
não quấy nhiễu, gọi là chứng Hữu dư Niết-bàn (Sopadhisesa
Nirvàna). (Dư là Dư y, nghĩa là nhục thể hãy còn rớt lại).
Nếu nhục thể khi đã chết, thì Dư y cũng không còn, tức
là nghiệp nhân và nghiệp quả đều đoạn hết, gọi là chứng
Vô dư Niết-bàn (Nirpadhisesa Nirvàna).
Thí
dụ: Đức Phật, Ngài chứng ngộ ở dưới cây Bồ-đề, tức
là chứng ngộ phần Hữu dư Niết-bàn; khi Đức Phật nhập
Niết-bàn ở rừng Sa la Song thọ, gọi là chứng Vô dư Niết-bàn.
Vậy
ai là người có thể chứng được đạo Niết-bàn, và phải
tu hành như thế nào để chứng ngộ ? Căn cứ vào từng căn
cơ, nương vào trình độ đoạn hoặc, nên sự chứng ngộ
có nhanh và chậm, chia ra từng nhiều giai đoạn tu hành và
chứng quả khác nhau. Người lợi căn thì đốn ngộ, hiện
thân chứng ngay được quả Hữu dư Niết-bàn, người độn
căn phải tu nhiều kiếp rồi mới chứng ngộ.
Về
vị thứ của người tu hành chia làm hai ngôi là Thánh vị
và Phàm vị (Hiền vị). Thánh vị lại chia ra Tứ quả, và
tiền đề của Tứ quả là là Tứ hướng. Phàm vị gồm bảy
vị gọi là Thất hiền vị.
THẤT
HIỀN VỊ:
1.
Ngũ đình tâm. - Pháp tu quán để đình chỉ năm thứ lỗi
của tâm. (1) Quán tưởng thế giới đều là bất tịnh, để
chữa tâm tham dục, gọi là “Bất tịnh quán”. (2) Đem lòng
từ bi đối với hết thảy chúng sinh, để chữa tâm đa sân,
gọi là “Từ bi quán”. (3) Quán mọi pháp đều do nhân duyên
kết hợp mà thành để chữa tâm ngu si, gọi là “Nhân duyên
quán”. (4) Quán năm uẩn, mười tám giới (lục căn, lục
trần, lục thức) đều là giả hợp, để chữa bệnh ngã
chấp, gọi là “Giới sai biệt quán”. (5) Quán đếm hơi
thở để chữa tâm tán loạn, gọi là “Sổ tức quán”.
Năm pháp quán này thuộc Tu vị.
2.
Biệt tướng niệm xứ vị. - Quán riêng biệt từng tướng
riêng của chư pháp: (1) Quán thân thể đều là bất tịnh,
gọi là “Quán thân bất tịnh”; (2) Quán hết thảy mọi
cảm giác đều không như ý, gọi là “Quán thọ thị khổ”;
(3) Quán tâm thay đổi luôn luôn, gọi là “Quán tâm vô thường”;
(4) Quán hết thảy mọi pháp đều không chủ tể, gọi là
“Quán pháp vô ngã”, bốn phép quán này thuộc Quán pháp.
3.
Tổng tướng niệm xứ vị. - Quán gồm mọi tướng của chư
pháp, trái với sai biệt quán, tức là quán bốn pháp: Thân,
Thọ, Tâm, Pháp đều là bất tịnh, đều là khổ, đều là
vô thường, đều là vô ngã. Ba vị thứ như trên đã kể
thuộc “Ngoại phàm vị”, bốn vị thứ dưới đây thuộc
“Nội phàm vị”.
4.
Noãn vị. - Quán về lý của Tứ đế, nhờ đó mà trí tuệ
phát ra, để làm mọi điều thiện, ngăn điều ác.
5.
Đính vị. - Nương vào phép quán, trí tuệ dần dần được
sáng tỏ, nếu cố gắng tinh tấn sẽ bước lên Thánh vị,
nếu lười biếng tu hành sẽ bị thoái xuống ác thú.
6.
Nhẫn vị. - Trí tuệ đã trở nên sáng tỏ, nhận chân được
lý của Tứ đế.
7.
Thế đệ nhất vị. - Đối với vị thứ đoạn hoặc thuộc
hữu lậu thế gian, thì ngôi này ở địa vị tối cao, sửa
soạn bước lên Thánh vị.
THÁNH
VỊ. - Tức là Tứ hướng và Tứ quả:
1.
Dự lưu hướng và Dự lưu quả (Suratapanna phata).- Kiến hoặc
trong ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới đã đoạn
hết, bắt đầu dự vào hàng Thánh, Dự lưu hướng là chỉ
vào trạng thái đang lúc tu hành để mong đạt tới quả vị.
Vị này thuộc quả Tu-đà-hoàn.
2.
Nhất lai hướng và Nhất lai quả (Sarkdàgàmin phata). - Tư hoặc
của Dục giới đã đoạn được một nửa, còn phải chịu
một lần tái sinh ở cõi đó để đoạn nốt. Vị này thuộc
quả Tư-đà-hàm.
3.
Bất lai hướng và Bất lai quả (Aønagàmin phata). - Tư hoặc
của Dục giới đã đoạn diệt hoàn toàn, không còn phải
tái sinh vào Dục giới nữa. Vị này thuộc quả A-na-hàm.
4.
Vô học hướng và Vô học quả (Arhat phata). - Ngôi này đã
hoàn toàn đoạn diệt hết Kiến hoặc và Tư hoặc trong tam
giới, sạch hết mọi phiền não, siêu việt tam giới, không
còn gì phải đoạn nữa. Vị này thuộc quả A-la-hán.
Ngôi
A-la-hán là quả vị tu hành cao nhất của Tiểu thừa. Tới
cảnh giới A-la-hán, thì hiện thân chứng được Niết-bàn,
không còn phải chịu sinh tử trong tam giới, nên có tên là
Bất sinh; giết hết đám nghịch tặc phiền não, nên có tên
là Sát tặc; nhận chịu các thứ cúng dàng của người và
trời, đều khiến cho được phúc báo, nên có tên là Ứng
cúng; xa lìa được mọi ác, nên lại có tên là Ly ác.
Như
trên đã thuật, ngôi Dự lưu đoạn hết được phần Kiến
hoặc, nên gọi là ngôi “Kiến đạo” (Darsana Màrga); ngôi
Nhất lai và Bất lai đoạn được phần Tư hoặc, nên gọi
là ngôi “Tu đạo” (Bhàvanà Màrga).
Ngôi
Vô học tức ngôi “Vô học đạo” (Asaiksa Màrga). Biểu đồ
chỉ dẫn như sau:
Ngoại
phàm... Ngũ đình tâm vị, Biệt tướng niệm
xứ vị, Tổng tướng niệm xứ vị
Nội
phàm... Noãn vị, Đính vị, Nhẫn vị, Thế đệ nhất vị
Sơ
quả... Dự lưu
(Tu
đà hoàn)
Hướng
Kiến đạo
quả
Nhị
quả... Nhất lai
(Tư
đà hàm)
Hướng
quả
Tu đạo
Tam
quả... Bất lai
(A
na hàm)
Hướng
quả
Tứ
quả... Vô học
(A
la hán)
Hướng
Vô học đạo
quả
VII.
Ý NGHĨA NIẾT-BÀN
NIẾT-BÀN
(Nirvàna). - Niết-bàn có nghĩa là diệt độ. Tức là đã đoạn
diệt hết mọi khổ sinh tử tới cõi hoàn toàn yên vui giải
thoát. Nguyên lai ý nghĩa đó có hai phương diện là tiêu cực
và tích cực. Cần phải đoạn hết phiền não là nghĩa tiêu
cực, cần phải đạt tới chỗ an lạc giải thoát là nghĩa
tích cực. Vậy bậc tu hành đã chứng tới Niết-bàn, thời
không còn phải sinh tử, tới chốn đại an lạc. Niết-bàn
còn có nghĩa là hết mọi vọng động tới chỗ tịch tĩnh,
lìa mọi pháp hữu vi tới chỗ vô vi, lìa mọi hư vọng tới
chỗ chân như, lìa mọi giả tướng tới chỗ thực tướng,
siêu việt mọi nghĩa đoạn thường của thế gian tới chỗ
trung đạo, vượt mọi ngã và phi ngã của thế gian thường
kiến tới chỗ chân ngã.
Người
đời thường ngộ nhận về nghĩa Niết-bàn là hư vô, là
tiêu cực. Nhưng thực ra chỉ vì người đời ngộ nhận, chấp
trước vào mọi hiện tượng sinh diệt biến hóa ở thế gian,
nhận là thực hữu, vì mục đích phá ngộ nhận đó, nên
Đức Phật nói có Niết-bàn. Như vậy, Niết-bàn không phải
là nghĩa tiêu cực, hư vô, mà là nghĩa tích cực, chân thật.
Tức là, đối với thường thì thường trụ, đối với Khổ
là Lạc, đối với Ngã là Chân ngã, đối với Bất tịnh
là Thanh tịnh, đối với Hư vọng là Chân thực, đối với
Sai biệt là Bình đẳng, đối với Hiện tượng là Bản thể
thực tại. Tóm lại, Niết-bàn phải là cái đích tối cao,
để con người quy y, là nơi an lạc cho từng cá nhân, nơi
hiệp đồng trụ xứ cho trăm ngàn vạn người, cho toàn thể
chúng sinh.
VIII.
GIÁO LÝ THỰC TIỄN TU HÀNH
Phật
giáo là một tôn giáo, không thiên về triết học, nên không
chú trọng lý luận, mà đặc biệt chú trọng vào thực hành.
Phần lý luận, chẳng qua chỉ là tiền đề cho phần thực
hành. Về giáo lý thực tiễn tu hành, trước hết là pháp
môn Tứ đế. Căn cứ vào mục đích giải thoát Niết-bàn,
nên lấy giáo nghĩa Diệt đế làm trung tâm, căn cứ vào phương
pháp để đạt tới mục đích đó, nên lấy giáo nghĩa Đạo
đế làm trung tâm.
Đức
Phật, lúc Sơ chuyển Pháp luân, Ngài đã nói ra giáo lý để
làm căn bản cho sự tu hành, đó là giáo lý Trung đạo. Trung
đạo tức là Bát chánh đạo (tám con đường chân chánh).
Tới khi nhập Niết bàn, Phật lại nói thêm các pháp: Tứ
niệm xứ (Catvàri Smrtiupasthànàni), Tứ chánh cần (Catvàri
samyakpradhànàni), Tứ như ý túc (Catvàri riddhipàdàh), Ngũ căn
(Pãnca indriyàni), Ngũ lực (Pãnca balàni), Thất giác chi (Sapta
bodhiangàni), gồm bảy khoa, phần trọng yếu nhất là khoa Bát
chánh đạo, còn các khoa khác chỉ là phần phụ thuộc.
1.
BỐN NIỆM XỨ: Thân niệm xứ, Thụ niệm xứ, Tâm niệm xứ,
Pháp niệm xứ. Niệm xứ nghĩa là tâm chuyên chú vào một
chốn, để ký ức các điều thiện. Căn cứ vào bốn cảnh
là Thân (Kàya) của Sắc uẩn, Thụ (Vedanà) của Thụ uẩn,
Tâm (Citta) của Thức uẩn, Pháp (Dharma) của Hành uẩn
và Tưởng uẩn, để phá bốn điên đảo vọng tưởng Thường,
Lạc, Ngã, Tịnh, nên quán niệm về Bất tịnh, Bất lạc,
Vô thường, Vô ngã.
2.
BỐN CHÁNH CẦN: Pháp tu của Noãn vị thuộc Phàm vị. Tứ
niệm xứ là pháp nội quán, trái lại Tứ chánh cần là phương
pháp tu cho cả trong tâm và ngoài hành vi được thanh tịnh.
Nghĩa là, điều ác đã sinh cần phải siêng năng đoạn diệt;
điều ác đã sinh cần phải siêng năng đừng để cho sinh;
điều thiện đã làm phải siêng năng tinh cần làm thêm; điều
thiện chưa sinh cần phải siêng năng làm cho mau sinh.
3.
BỐN NHƯ Ý TÚC: Pháp tu của ngôi Đính vị thuộc Phàm vị,
để mong cầu các điều nguyện được như ý, mãn túc, mau
chóng chứng được Lục thông (Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ
thông, Túc mệnh thông, Tha tâm thông, Thần túc thông và Lậu
tận thông), để thân và tâm được tự tại. Bốn như ý
túc là: Dục như ý túc. - Nương vào thiền định để mong
cầu được như ý muốn; Niệm như ý túc. - Nhớ nghĩ tới
những điều đã nguyện vọng, để nhất tâm tu thiền định;
Tiến như ý túc. - Tinh tiến tu hành để thiền định không
bị gián đoạn; Tuệ như ý túc. - Nương vào trí tuệ để
quán chư pháp.
4.
NĂM CĂN VÀ NĂM LỰC: (1) Tín (Sraddha). - Tin vào Tam bảo, chứng
được quả Dự lưu. (2) Tiến (Viriya). - Tinh tiến tu Tứ chánh
cần để chỉ ác tác thiện. (3) Niệm (Smrti). - Nương vào
chánh niệm để tu Tứ niệm xứ. (4) Định (Samàdhi). - Tu thiền
định để tâm được thống nhất. (5). Tuệ (Prajnà). - Nhờ
trí tuệ chứng được lý Tứ đế. Năm căn và Năm lực, danh
mục cùng giống nhau, vì là nguyên nhân căn bản sinh ra mọi
thiện pháp nên gọi là Căn, nhờ quả đức đó để phá mọi
ác nghiệp nên gọi là Lực.
5.
BẢY GIÁC CHI: (1) Niệm giác chi (Smarti bodhi angah). - Nhớ nghĩ
mọi thiện pháp để tâm được bình tĩnh. (2) Trạch pháp
giác chi (Dharma pravicaya angah). - Tuyển trạch về sự chân và
ngụy của mọi pháp, để lấy chân bỏ ngụy. (3) Tinh tiến
giác chi (Viriya angah). - Tinh tiến tu hành mọi chân pháp. (4)
Hỷ giác chi (Priti angah). - An trụ vào pháp hỷ thiền duyệt
của chân pháp. (5) Khinh an giác chi (Prasrabdhi angah). - Thân tâm
trở nên khinh an. (6) Định giác chi (Samàdhi angah). - Nương
vào thiền định để tu. (7) Xả giác chi (Upeksà angah). - Tâm
được trở nên bình đẳng. Bảy giác chi này có ý nghĩa là
tuyển trạch về thiện ác, chân ngụy của chư pháp, để
giúp cho sự giác ngộ chân lý Tứ đế, nên gọi là Giác chi.
6.
BÁT CHÁNH ĐẠO (Àryàstàngika màrga). - Tám con đường công
bằng chân chính, hợp với chân lý Tứ đế, tiến tới đạo
Niết bàn, nên gọi là Chánh đạo. (1) Chánh kiến (Samyag
drsti). - Chánh quán về lý của Tứ đế, tin vào sự giải
thoát và nhân quả của mê ngộ. (2) Chánh tư duy (Samyag samkalpa).
- Tư duy về nghĩa chân chánh của lý Tứ đế, để lìa Tham,
Sân, Si. (3) Chánh ngữ (Samyag vàca). - Nói năng ngay thẳng, lìa
mọi lỗi của khẩu nghiệp. (4) Chánh nghiệp (Samyag karmànta).
- Bỏ mọi tà nghiệp để thân nghiệp thanh tịnh. (5) Chánh
mệnh (Samyag àgiva). - Lìa mọi tà mệnh, mọi sinh hoạt bất
chánh để ba nghiệp trong sạch. (6) Chánh tinh tiến (samyag vyàyàma).
- Tinh tiến về việc bỏ ác làm thiện. (7) Chánh niệm (Samyag
smrti). - Nhớ nghĩ về chánh pháp, gạt mọi tà niệm. (8) Chánh
định (Samyag samàdhi). - Chuyên chú vào một cảnh để thiền
định trở thành vô lậu thanh tịnh.
Tóm
tắt bảy khoa có 37 trợ đạo phẩm như sau:
1.-
4 Niệm xứ
2.-
4 Chánh cần
3.-
4 Như ý túc
4.-
5 Căn
5.-
5 Lực
6.-
7 Giác chi
7.-
8 Chánh đạo
IX.
TAM HỌC
Nói
về yếu ước tu hành trong Phật giáo, ta có thể quy kết vào
Tam học, tức là Giới, Định, Tuệ.
Mục
đích cứu cánh của Phật