CHƯƠNG
THỨ NHẤT. KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ SỰ NGHIỆP CỦA VUA A DỤC
ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
I.
Kết tập kinh điển lần thứ II.
II.
Sự nghiệp của A Dục Vương đối với Phật giáo.
III.
Kết tập kinh điển lần thứ III.
CHƯƠNG
THỨ HAI. GIÁO ĐOÀN PHẬT GIÁO
I.
Sự đối lập căn bản của hai bộ.
II.
Sự phân liệt về mạt phái của hai bộ.
CHƯƠNG
THỨ BA. GIÁO NGHĨA CỦA CÁC BỘ PHÁI
I.
Giáo nghĩa của Thượng tọa bộ và Hữu bộ.
II.
Giáo nghĩa của Đại chúng bộ.
III
Giáo nghĩa của mạt phái và chi phái.
CHƯƠNG
THỨ TƯ. PHẬT GIÁO Ở VƯƠNG TRIỀU KANISKA
I.
Phật giáo sau triều đại A Dục Vương.
II.
Vương triều Kaniska.
III
Kết tập kinh điển lần thứ IV.
CHƯƠNG
THỨ NĂM. PHẬT GIÁO Ở THỜI KỲ GIỮA TIỂU THỪA VÀ ĐẠI
THỪA
I.
Lời tiểu dẫn.
II.
Ngài Nagasena.
III
Ngài Vasumitra.
IV.
Ngài Asvagosa (Mã Minh Bồ tát).
V.
Giáo nghĩa của ngài Mã Minh.
CHƯƠNG
THỨ SÁU. VIỆC THÀNH LẬP TAM TẠNG
I.
Luật tạng thành lập.
II.
Kinh tạng thành lập.
III
Luận tạng thành lập.
IV.
Vấn đề ngôn ngữ của Nguyên thủy kinh điển.
V.
Hai hệ thống lớn của kinh điển Phật giáo.
CHƯƠNG
THỨ BẢY. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THỪA PHẬT GIÁO
I.
Tiểu thừa Phật giáo thành lập.
II.
Sự phát triển của giáo nghĩa Hữu bộ.
III
Sự phát triển của hệ thống Kinh lượng bộ.
IV.
Nội dung bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá luận.
V.
Nam phương Thượng tọa bộ Phật giáo.
2.
THIÊN THỨ HAI. THỜI ĐẠI BỘ PHÁI PHẬT GIÁO
(271
trước T.L - 200 T.L)
CHƯƠNG
THỨ NHẤT. KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ SỰ NGHIỆP CỦA A DỤC
VƯƠNG ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
I.
KẾT TẬP KINH ĐIỂN LẦN THỨ HAI
Đức
Thích Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm, sau thời kỳ kết tập
kinh điển lần thứ nhất cũng khoảng 100 năm, lại có 700
vị Tỷ-khưu họp tại thành Phệ Xá Li (Vesali) để kết tập
kinh điển. Đấy là lần kết tập thứ hai, và còn gọi là
“Phệ Xá Ly kết tập”, hay “Thất bách tập pháp”.
Nguyên
vì, Đức Thích Tôn diệt độ, sau khoảng 100 năm, có các vị
Tỷ-khưu xuất thân từ giòng họ Tỳ Xá Ly (Viji) đề xướng
ra mười hành vi, chủ trương là thích hợp với giới luật
của Tỷ-khưu, mười hành vi đó như sau:
1.
Diêm-tịnh (Singilonakappa). - Căn cứ vào giới luật, các Tỷ-khưu
không được để đồ ăn cách đêm. Nghĩa là các thứ đồ
ăn phổ thông, không được để đến ngày hôm sau rồi lại
ăn, nhưng nếu đồ ăn đó đem ướp với muối, thì vẫn có
thể được dùng ở ngày hôm sau.
2.
Chỉ tịnh (Dvangulakappa). - Về bữa ăn của Tỷ-khưu phải
là ở lúc chính ngọ, nhưng nếu lúc đang đi giữa đường,
thì bữa ăn có thể được dùng ở quá giờ ngọ một chút,
nghĩa là lúc mặt trời đã xế bóng chừng độ hai chủ (mỗi
chủ: một thước năm tấc ta).
3.
Tụ-lạc-gian tịnh (Gamantarakappa). - Tỷ-khưu sau khi ăn rồi,
nhưng nếu ở trước giờ ngọ, tới chốn tụ lạc khác, xin
được thức ăn, vẫn có thể được thọ dụng.
4.
Trụ-xứ tịnh (Avasakappa). - Một tháng hai kỳ, các Tỷ-khưu
phải tận tập ở một trụ xứ nào đó để làm lễ bố-tát,
nếu trụ xứ quá hẹp, có thể được phân chia làm hai nơi
để làm lễ bố-tát.
5.
Tùy-ý tịnh (Anumatikappa). - Quyết nghị của đoàn thể xuất
gia, cần phải toàn viên tận tập để giải quyết, nhưng
nếu gặp trường hợp không thể xuất tịch được, sau khi
Giáo đoàn quyết nghị, sẽ có thể đem những quyết nghị
đó thông cáo sau.
6.
Cửu-trụ tịnh (Acinnakappa). - Có thể noi theo vào tiền lệ,
nghĩa là noi theo vào những thể lệ của người trước đã
làm.
7.
Sinh-hòa-hợp tịnh (Amathitakappa). - Sau giờ ngọ, các Tỷ khưu
không được ăn phi thời, nhưng có thể được dùng nước
hòa lẫn với sữa, không cần phải để sữa lắng xuống.
8.
Bất-ích-lũ ni-sư-đàn tịnh (Adasakanisi Danakappa). - Tọa cụ
của Tỷ-khưu, kích thước bề dài, bề rộng phải theo đúng
như quy định trong giới luật, nhưng nếu là tọa cụ không
có viền xung quanh có thể được dùng quá khuôn khổ đã định.
9.
Thủy tịnh (Jalogikappa). - Tỷ-khưu không được uống rượu,
nhưng vì trường hợp bệnh hoạn, dùng để làm thuốc, có
thể pha lẫn với nước để uống.
10.
Kim tiền tịnh (Jatarapadikappa). - Tỷ-khưu vốn dĩ không được
cầm tiền, nhưng nếu ở trường hợp bất đắc dĩ, có thể
được cầm tiền bạc, và súc tích tiền bạc(1).
Mười
điều như trên, thực ra là vi phạm với giới luật. Đứng
về phương diện nghiêm khắc của giới luật mà giải thích
là phi pháp, nhưng đứng về mặt khoan đại mà giải thích,
thì thích hợp với giới luật. Các Tỷ-khưu ở phương Đông,
đứng về phe tự do giải thích giới luật, nên dung hứa mười
điều kể trên.
Trong
lúc đó, ở phương Tây, có một học giả tinh thông giới
luật, là Trưởng lão Da Xá (Yasa), du hành tới thành Phệ Xá
Ly (Vesali), gặp Ngài Bồ-tát, Ngài nhận thấy các Tỷ-khưu
thuộc giòng Tỳ Xá Ly khuyến hóa các tín đồ đem cúng dường
tiền bạc, Ngài rất kinh ngạc. Vì mục đích căn ngăn việc
đó, nên Ngài đối trước tín đồ mà tuyên cáo: “Việc
Tỷ-khưu cầm tiền và nhận tiền là một cấm giới nghiêm
trọng trong giới luật”, để cảnh cáo các Tỷ-khưu. Các
Tỷ-khưu cho rằng, Trưởng lão Da Xá có tính cách làm phương
ngại sự cúng dườøng của tín đồ và lăng mạ Tăng chúng.
Rồi bắt Trưởng lão Da Xá phải xin lỗi trước Đại chúng
và tín đồ. Nhưng Trưởng lão Da Xá không nghe theo, trốn vào
thành, đối trước dân chúng công nhiên phát biểu mười hành
vi phi pháp như trên. Đại chúng thấy vậy liền tập Tăng
tác pháp sấn xuất (đuổi ra khỏi chúng, theo luật Phật,
nếu một Tỷ-khưu nào đem lỗi xấu của Đại chúng công
bố trước tín đồ sẽ bị xuất chúng). Trưởng lão Da Xá
liền trở lại phương Tây, cảm khái về giới luật của
Phật bị suy tàn, nên quyết đi vận động các bậc Trưởng
lão để giải quyết mười điều phi pháp, tránh mọi họa
căn cho hậu thế.
Trưởng
lão Da Xá trước hết đi tới thành Kiều Thưởng Di (Kosambi)
ở phương Tây, và phái sứ giả đến các địa phương như
Ma Thâu La (Mathùrà) và A Bàn Đề (Avanti) để cầu thỉnh các
bậc Trưởng lão, và chính tự mình đi tới núi Ahoganga, yết
kiến Trưởng lão Tam Phù Đà (Sambhùta), tới địa phương
Sa Ha Xà Đế (Shaajàti) hỏi ý kiến Trưởng lão Ly Bà Đa (Revata),
đều được sự tán đồng, và đều cùng đi tới thành Phệ
Xá Ly. Sau khi tới thành Phệ Xá Ly lại cầu thỉnh bậc Trưởng
lão ở địa phương đó, là Tát Bà Ca Ma (Sabhakàmi). Tất cả
Tăng chúng của hai phía Đông, Tây gồm có 700 vị, hội họp
để kết tập kinh điển và để nghị quyết về mười hành
vi kể trên là phi pháp hay không phi pháp.
Nhưng,
trong lúc hội nghị, vì sinh nhiều ý kiến bất đồng, không
thể giải quyết ngay được, nên hội nghị đồng ý lựa
chọn một Ủy ban gồm tám người, của cả Đông và Tây.
Bốn vị Trưởng lão ở phía Tây: Ly Bà Đa, Tam Phù Đà, Da
Xá và Tu Ma Na (Sumana). Bốn vị ở phương Đông: Tát Bà Ca
Ma, Sa Lưu (Sàtha), Khuất Xà Tu Tỳ Đa (Khujjasobhita), Bát Tát
Bà Già Mi (Vàsabhagàmi). Trưởng lão Ly Bà Đa, ủy viên của
phương Tây, nêu ra từng điều trong mười điều, để hỏi
là hợp pháp hay phi pháp; Trưởng lão Tát Bà Ca Ma, ủy viên
của phương Đông, y vào giới luật để chiếu hợp từng
điều và đã đáp là “Phi pháp”. Như vậy, mười điều
kể trên trở thành mười điều phi pháp. Trong cuộc hội nghị,
Đại chúng còn hợp tụng lại những Pháp tạng, trải qua
một thời gian tám tháng mới hoàn thành.
Nội
dung cụ thể của kỳ kết tập thứ hai này, tuy không thấy
ghi chép tường tận trong các truyện, lục, nhưng mục đích
của kỳ kết tập này không phải là chỉ dành riêng cho việc
giải quyết mười điều phi pháp, mà còn để xác định lại
giới pháp của Đức Thích Tôn đã quy định, để ngăn ngừa
mọi phi pháp pha trộn, đó là điều xác thực.
Mặt
khác, phần đa số các Tỷ-khưu thuộc Đông bộ, không phục
tòng quyết nghị mười điều kể trên là phi pháp, nên cùng
nhau hội họp tại một nơi khác, và cũng để kết tập kinh
điển, gọi là Đại kết tập (Mahàsamgìti), hay là Đại chúng
kết tập. Nội dung của cuộc kết tập là Kinh tạng, Luật
tạng, Đại pháp tạng và Tạp tạng thành bốn tạng, và còn
gọi là Ngũ tạng, có thêm Bồ-tát tạng.
Vì
nguyên nhân trên, nên Giáo đoàn của Phật giáo phân chia thành
hai bộ phái là Thượng Tọa bộ (Thera) và Đại Chúng bộ
(Màhàsamghika). Thượng Tọa bộ thuộc phái Bảo thủ, Đại
Chúng bộ thuộc phái Canh tân.
II.
SỰ NGHIỆP CỦA A DỤC VƯƠNG ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
1.
TIỂU SỬ A DỤC VƯƠNG.
- Đức
Thích Tôn diệt độ khoảng sau 200 năm, thì phạm vi của Phật
giáo đã lan khắp các nước thuộc Trung Ấn Độ, trên lưu
vực sông Hằng Hà. Tới khi Đức Thích Tôn diệt độ chừng
khoảng gần 300 năm thì phạm vi của Phật giáo không những
ảnh hưởng khắp trong nước mà còn lan tràn tới các nước
ngoài. Nghĩa là một tôn giáo đang ở trong phạm vi nội bộ,
đột nhiên phát triển thành một tôn giáo của thế giới,
tạo thành một trang sử vẻ vang oai hùng cho Phật giáo, đó
là công lao hộ trì Phật giáo của quốc vương A Dục (Asoka).
Khi
Đức Thích Tôn còn tại thế, quốc vương Tần Bà Sa La và
A Xà Thế của nước Ma Kiệt Đà, thuộc vương triều Sisunàga
(Thi Tu Na Già); cách vài đời sau thì vương triều Sinunàga
được thay thế là vương triều Nanda (Nan Đà); kế tiếp vương
triều Nanda là vương triều Maurya (Khổng Tước).
Nước
Ma Kiệt Đà, vì có dã tâm mong nắm quyền bá chủ Trung Ấn,
nên khi Đức Thích Tôn ở thời kỳ vãn niên, vua A Xà Thế
đã ra lệnh kiến thiết thành trì ở vùng Pàtaliputtra (Ba Sất
Ly Tử), để chinh phạt giòng họ Licchavi (Ly Xa Tỳ), sát nhập
nước này vào nước mình dần dần uy thế của vua trở nên
mạnh, rồi nắm quyền bá chủ Trung Ấn.
Vào
khoảng cuối thế kỷ thứ IV trước kỷ nguyên, đại đế
Alexander nước Hy Lạp đem quân quấy nhiễu phía Tây Ấn Độ,
lúc đó đang là đời vua Chandragupta (Chiên Đà La Cấp Đa),
thuộc vương triều Khổng Tước. Vua nhân cơ hội đó, đem
quân tiến lên phía Bắc Ấn, dẹp được loạn quân Hy Lạp
lại thừa thế đem quân đánh dẹp cả bốn phương, thống
nhất được lãnh thổ Bắc Ấn, Trung Ấn và Tây Ấn, kiến
thiết một đại đế quốc. Lần thứ hai, cũng tương tự
như Alexander, vua nước Ba By Lon là Seleucos đem quân xâm nhập
Bắc Ấn, vua Chandragupta lại cùng với Seleucos chiến đấu
thắng lợi; vua Seleucos phải tặng lãnh thổ ở Tây bộ sông
Ấn Độ và gả con gái để cầu hòa. Đồng thời Seleucos
lại phải khiến sứ thần Megasthene, trú tại Hoa Thị Thành,
thủ phủ nước Ma Kiệt Đà đương thời để giao hảo thân
thiện giữa hai nước.
Sau,
con vua Chandragupta là Tân Đầu Sa La (Bindusàra), nối đại nghiệp
của phụ vương, rất khéo trị thế, nên các đời vua của
Hy Lạp đều tiếp tục thân thiện và thay đổi sứ thần
ngoại giao. Ấy cũng vì lý do đó, mà văn minh của hai nước
Ấn Độ và Hy Lạp, mỗi ngày một tiếp xúc và ảnh hưởng
lẫn nhau, tạo thành một nền văn minh phồn thịnh cho Ấn
Độ đương thời. A Dục Vương đây tức là con của vua Tân
Đầu Sa La, và là vương vị thứ III của vương triều Khổng
Tước.
Về
đường giao thông xưa vì chưa thuận lợi, nên ở quãng yếu
lộ giữa trung tâm của Bắc Ấn và Trung ương bộ của Ấn
Độ có nước Đức Xoa Thi La (Taksasila), cổ lai là nơi văn
hóa sớm được triển khai, học thuật tiến bộ, nhân dân
phong phú, nhưng vì ở cách xa thủ phủ Hoa Thị Thành, nên
uy lịnh của trung ương không đạt tới, thường thường hay
dấy ra những cuộc phản loạn. Vì thế Tân Đầu Sa La liền
chọn những người thông minh anh tuấn trong các hàng vương
tử, tuyển nhậm làm chức quan Thái thú ở các địa phương.
Ngoài
ra, thành Ô Xà Diễn Ni (Ujjayanì) của Tây Ấn Độ cũng là
một yếu lộ giao thông cho các nước phương Tây, và là nơi
rất quan trọng để tập tán nền kinh tế. Vì lẽ đó, nên
Vương tử A Dục được bổ nhậm làm quan Thái thú ở Bắc
Ấn Độ, và Vương tử lại phái khiển bộ hạ nhậm chức
Thái thú ở thành Ô Xà Diễn Ni.
Cách
vài năm sau, Vương tử A Dục được tin cấp báo là Phụ vương
bị bệnh nặng, liền lập tức trở về Hoa Thị Thành. Sau
khi Phụ vương mất, các hàng vương tử sinh ra tranh nhau vương
vị trong khoảng bốn năm trường. Sau cùng, Vương tử A Dục
thắng lợi, lên nối ngôi vua, thống nhất được ba miền
Trung, Bắc, Tây Ấn Độ, bỗng trở thành một vương vị của
một Đại đế quốc.
Về
niên đại tức vị của A Dục Vương có nhiều thuyết khác
nhau(1). Nhưng đại khái ở vào khoảng Đức Thích Tôn diệt
độ sau 218 năm, tức là 267 năm trước kỷ nguyên.
A Dục
Vương lên ngôi được chín năm, vì mục đích thống nhất
toàn Ấn Độ, nên vua đem quân chinh phạt nước Kalinga (Yết
Lăng Già) ở Nam Ấn Độ. Nhưng vì nước này là một đại
cường quốc của Nam Ấn, trong nước có rất nhiều dũng sĩ,
phải đánh dẹp rất là gian nan vất vả, đôi bên đều hao
tổn rất nhiều tướng tá, binh sĩ. Kết cục, sau A Dục Vương
đại thắng, thống nhất toàn lãnh thổ Ấn Độ, uy tín của
vua lừng lẫy khắp trong và ngoài nước.
Sau
khi chiến tranh kết liễu, vua rất buồn phiền và hối hận
về sự thảm hại của chiến tranh gây ra, nên đã phải giết
hại biết bao lương dân vô tội, để lại biết bao nhiêu
là cô nhi quả phụ khổ cực. Vì thế, muốn để sám hối
những tội lỗi đã gây ra, nên vua quyết ý tin theo Phật giáo.
Về
nhân duyên tin theo Phật giáo của vua, một là nhờ vào nội
nhân tức là chán ghét sự chinh phạt, hai là nhờ sự giáo
hóa của các vị Tỷ-khưu Ni Câu Luật (Nigrodha) và Hải (Sémudra),
nên vua biết tỉnh ngộ và phát nguyện hộ trì Phật giáo.
Để tỏ lòng chán ghét chiến tranh và hối hận việc đã
làm nên vua ban bố sắc lệnh đại lược như sau:
“Thiên
Ái Thiện Kiến Vương (Devànapìyapiyadasi, tên riêng của vua
A Dục), tức vị năm thứ 9, chinh phạt nước Kalinga, bắt
sống 15 vạn người, giết hại 10 vạn người, và số người
chết về tật dịch đói khát gấp bội. Kể từ ngày thôn
tính nước Kalinga tới đây, Thiên Ái rất nhiệt tâm hộ trì
Đạt Ma để truyền bá khắp nơi. Nay đoái lại những sự
sát phạt, bắt bớ, và những sự giết hại ở nước Kalinga,
Thiên Ái rất lấy làm đau lòng đáng hối hận”.
Sau
khi tin theo Phật giáo, lòng tín ngưỡng của vua ngày một tăng,
nên lại càng nhiệt tâm hộ trì Phật giáo. Tức vị tới
năm thứ 2, vua lại phát tâm thọ giới Ưu-bà-tắc, ngộ được
chính trí, năm thứ 12, thường thường công bố nhiều sắc
lệnh chấn hưng Phật giáo. Vua tự mình bỏ nghề chơi săn
bắn, hạ lệnh cấm sát sinh, bảo hộ các loài sinh vật, giảm
bớt các đồ xa hoa, thường thường nghe các bậc Đại đức
thuyết pháp, và đặt những đại trai cúng dường.
Tức
vị tới năm thứ 18, vua lại hết sức ủng hộ việc kết
tập kinh điển lần thứ III tại Hoa Thị Thành. Năm sau, vua
phái khiển các bậc Đạo sư thạc học đi các nước truyền
đạo Phật; năm sau nữa, lại tự mình đi chiêm bái các Phật
tích, và dựng các bia tháp kỷ niệm.
Ngoài
ra, vua còn ra sắc lệnh kiến thiết nhiều chùa tháp, làm nhiều
việc từ thiện, tận tụy với công việc tuyên dương Chánh
Pháp. Tới khi tuổi già, vua giao phó tất cả mọi công việc
chính trị cho hoàng tộc và các quan đại thần đảm nhiệm,
tự mình chuyên việc tu trì. Vua tại vị được 41 năm, thọ
70 tuổi.
2.
SỰ NGHIỆP CỦA VUA ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO.
- Các
sử gia thường thường đem so sánh về sự nghiệp của A Dục
Vương đối với Phật giáo, còn hơn cả về sự nghiệp của
đại đế Constantine của La Mã bảo hộ Thiên Chúa giáo. Nay
kể đại khái về sự nghiệp của vua như sau:
Sự
nghiệp ban bố sắc lệnh. - Vua tức vị từ năm thứ 12 cho
tới năm thứ 39, trong khoảng 27 năm, thường thường đã bố
cáo nhiều sắc lệnh. Những sắc lệnh này đã được khắc
vào các hang núi, cột đá hay bia đá, mà ngày nay đã phát
hiện được ở nhiều nơi, trong toàn cõi Ấn Độ. Những
sắc lệnh đó thật là những cống hiến sử liệu quý báu
cho các sử gia, các nhà học giả khảo cổ, để biết được
ảnh hưởng của Phật giáo, biết được phạm vi và thế
lực của vua lúc đương thời.
Sự
nghiệp truyền đạo. - Sau khi chinh phạt nước Kalinga, vua đã
thắng lợi bằng võ lực, nhận chân được sự thảm hại
của chiến tranh.
Nhưng
sự thắng lợi chân thật của vua là Đạt Ma, tức là thắng
lợi về chánh pháp. Để thực hiện về sự thắng lợi này,
nên trong khoảng năm tức vị thứ 13 và 14, vua đã phái khiển
các bậc Chánh pháp Đại quan (Dhamma Mahàmàtà) đi truyền đạo
Phật ở khắp trong nước và ngoài nước, để khuyến tưởng
sự an lạc cho nhân dân, hạnh phúc cho nhân loại. Các nước
mà vua đã phái khiển các Đại quan đến truyền đạo như:
Hy Lạp, Ai Cập, Syria, và hầu hết các địa phương ở Đông
bộ duyên ngạn Địa Trung Hải; các nước thuộc phương Bắc
như: Aparàntaka, Kamboja; phương Nam như: Pulinda, Bhoja, Pitinika,
Andhra, Cola, Pàndya và Tambapanni. Đặc biệt việc phái khiển
Đại quan truyền đạo tới Tambapanni (Tích Lan) là ngài Mahinda
(Mahendra, tên tiếng Pàli) lại là con của vua. Vị này có nhiều
công lao xây nền đắp móng cho Thượng tọa bộ thuộc Nam
phương Phật giáo.
Sự
nghiệp từ thiện và đạo đức. - Vua đã ban bố những sắc
lệnh: trồng các cây dược thảo để chữa bệnh cho nhân
dân; đào các giếng bên đường để lấy nước cho người
và động vật uống, dùng; lập các “Thí liệu viện” để
chữa bệnh và nuôi người già yếu tàn tật.
Tức
vị năm thứ mười hai, vua hạ sắc lệnh cho các địa phương,
cứ mỗi năm năm một lần, quan và dân phải tề tập để
mở Vô giá Đại hội (Anusamayàna), nghĩa là trong cuộc tập
hội, phải cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn; tôn trọng tính
mệnh các sinh vật; tránh các việc xa hoa, bạo ác, phóng đãng;
tôn kính cha mẹ, sư trưởng, bậc già cả; hòa mục với thân
thích bè bạn; lân mẫn những người tàn tật; thương yêu
những kẻ nô lệ, tôi tớ, và phải khuyến hóa lẫn nhau làm
điều thiện.
Sự
nghiệp chiêm bái Phật tích. - Sau khi quy y Phật giáo, vua thường
thỉnh các Đại đức, Trưởng lão vào trong cung để hỏi
đạo, nghe pháp. Có một khi vua được nghe pháp một vị thạc
học là Ưu Ba Cấp Đa (Upagutta) ở núi Ưu Lâu Mạn Đà (Urumanda),
nhờ sự chỉ giáo của Ngài, nên vua phát nguyện đi tuần
bái các nơi Phật tích. Trước hết, vua đến chiêm bái vườn
Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật giáng sinh. Ở nơi đây, vua đã
sai dựng một cột đá kỷ niệm, để ghi cái ý nghĩa chiêm
bái của vua. (Cột đá này, về bộ phận trên đã bị mai
một, nhưng bộ phận dưới, các nhà khảo cổ đã phát quật
được ở năm 1897, có ghi chép nhiều di văn, cống hiến nhiều
tài liệu quan trong cho lịch sử). Thứ nữa, vua lần lượt
đi chiêm bái thành Ca Tỳ La Vệ, cố quốc của Đức Phật;
thôn Ưu Lâu Tần La, nơi tu hành khổ hạnh; Bồ Đề đạo
tràng, nơi Phật thành đạo; vườn Lộc Dã, nơi Phật sơ chuyển
pháp luân; và rừng Sa la Song thọ, nơi Đức Phật tịch diệt.
Ở các nơi kể trên, vua đều sai xây tháp để cúng dường.
Sau cùng, vua đến thăm di tích Kỳ Viên tinh xá, nơi có các
tháp của các vị đại đệ tử Phật như: Ngài Xá Lợi Phất,
Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, A Nan Đà.
Ngoài
ra, vua còn sai xây dựng nhiều Già lam và Bảo tháp. Căn cứ
vào Bắc truyền Phật giáo, tổng số chùa tháp có tới 8.400
ngôi.
III.
SỰ KẾT TẬP KINH ĐIỂN LẦN THỨ BA
Sự
nghiệp trọng yếu của A Dục Vương đối với Phật giáo
còn là việc kết tập kinh điển lần thứ III tại Hoa Thị
Thành (Pataliputra). Vì vua tín ngưỡng Phật giáo, nên nhiều
Già lam được kiến trúc, số Tăng Ni ngày một đông. Trong
số Tăng chúng, có nhiều người ngoại đạo cũng trà trộn
vào làm Tăng, nên trong tâm vẫn hướng về tư tưởng ngoại
đạo, gây ra nhiều mối phân tranh, trong chúng không hòa hợp,
khó lòng mà phân biệt được chơn ngụy, phàm thánh. A Dục
Vương thấy thế, rất lo ngại cho tiền đồ Phật pháp, liền
quyết ý, muốn xác định lại giáo điều của Đức Thích
Tôn, trong lúc ấy, có ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (Moggalipputa
Tissa) ẩn dật ở núi A Hô Hằng Già (Ahogànga), vua liền sai
sứ đến triệu thỉnh. Ngài Đế Tu vâng sắc lệnh của vua,
tuyển bạt 1000 người trong Tăng chúng, tề tập tại Hoa Thị
Thành, để kết tập lại kinh điển. Kỳ kết tập này đúng
ở năm vua tức vị thứ 18, chỉ có trong 9 tháng thì hoàn thành.
Nội
dung của kỳ kết tập này gồm đủ Tam tạng: Kinh tạng, Luật
tạng và Luận tạng. Tương truyền Luận tạng tức là “Thuyết
sự” (Kathàvatnu) do ngài Đế Tu tự trước tác, để thuyết
minh sự lý luận giữa ngoại đạo với Phật giáo. Nhưng kỳ
kết tập lần thứ III này chỉ thấy lưu truyền ở Nam phương
Phật giáo; ở Bắc phương Phật giáo không thấy ghi chép rõ
ràng. Căn cứ vào ký lục của hai ngài Pháp Hiển và Huyền
Trang, thấy có ghi chép nơi kết tập kỳ I và kỳ II, nhưng
không thấy ghi tràng sở kết tập kinh điển lần thứ III.
CHƯƠNG
THỨ HAI. GIÁO ĐOÀN PHÂN PHÁI
I.
SỰ ĐỐI LẬP CĂN BẢN CỦA HAI BỘ
Mối
phân liệt căn bản của Giáo đoàn Phật giáo là do sự đối
lập của Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ, rồi từ hai
bộ này đã chia thành nhiều mạt phái, gồm có 20 bộ, đó
là sự phân phái của Tiểu thừa.
Niên
đại của sự đối lập căn bản này có nhiều thuyết khác
nhau, nhưng tài liệu căn cứ rõ ràng hơn, là ở thời kỳ
kết tập kinh điển lần thứ II tại Phệ Xá Ly thành, khoảng
Đức Thích Tôn diệt độ sau 100 năm.
Về
nguyên nhân đối lập là do việc nghị luận mười điều
phi pháp hay hợp pháp, ở thời kết tập lần thứ II, và năm
nghĩa mới của Đại Thiên (Mahadeva, Ma Ha Đề Bà, Hán dịch
là Đại Thiên). Nguyên nhân phân phái, nếu căn cứ vào Nam
truyền thì do mười điều phi pháp; căn cứ vào Bắc truyền
thì do Tân thuyết của Đại Thiên.
Vì
nguyên nhân đối lập, nên Giáo đoàn Phật giáo chia làm hai
là Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Hai bộ phái này đều
là đại biểu quan trọng cho Tiểu thừa Phật giáo. Các bậc
Trưởng lão thuộc khuynh hướng bảo thủ lập thành Thượng
Tọa bộ; Đại Chúng bộ thuộc khuynh hướng cách tân, lập
thành Đại Chúng bộ. Trong phần tử của hai luồng tư tưởng
này, vì không thu dụng lẫn nhau, phát sinh ra nhiều tư tưởng
mới, nên lại phân tán thành nhiều phái khác.
Mười
điều phi pháp, đã thuật ở kỳ kết tập lần hai, thì quan
hệ về một bộ phận của giới luật; trái lại, tân thuyết
của Đại Thiên đề xướng thì quan hệ về phương diện
thành quả. Tóm lại, nguyên nhân phân phái về Giáo hội là
do mười điều phi pháp; nguyên nhân phân liệt về giáo lý
là giáo nghĩa tân thuyết của Đại Thiên.
Niên
đại về nguyên nhân đối lập của Giáo hội thì ở thời
kỳ Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm; nhưng niên
đại đối lập về giáo lý không được rõ ràng. Vì niên
đại xuất thế của ngài Đại Thiên có nhiều thuyết khác
nhau: khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau hơn 100 năm, sau 116
năm và sau hơn 200 năm. Căn cứ vào sử liệu, thì niên đại
xuất thế của ngài Đại Thiên cùng với niên đại xuất
thế của A Dục Vương, nghĩa là vào khoảng hơn 200 năm, sau
khi Đức Thích Tôn nhập diệt.
Phần
lịch sử của ngài Đại Thiên cũng không biết được rõ
ràng. Nhưng căn cứ vào Luận Đại Tỳ Bà Sa, thấy chép đại
khái: “Trước kia ở nước Ma Thâu La (Mathura) thuộc Trung
Ấn Độ, có người con của thuyền chủ tên là Đại Thiên
(Mahadeva), tới tuổi trưởng thành, đi xuất gia tu đạo, bẩm
tính thông minh, tinh thông Tam tạng, chứng được quả A-la-hán,
trong chúng trên dưới, hết đều tôn kính. Nhưng có một hôm,
hội họp Bố-tát tại chùa Kê Viên (Kukhutarama), Đại Thiên
liền đối trước chúng, nói một bài kệ, gồm có năm việc,
và tới trước Đại chúng nói rằng: “Khi Phật còn tại
thế,
chư Thiên và Tứ chúng nói ra, đều phải được Phật ấn
chứng, mới gọi là Kinh, nay Phật đã diệt độ, nếu trong
Đại chúng, có người thông minh, có tài thuyết pháp, cũng
có thể trước tác được “Kinh điển”.
Vì
lý do trên, nên trong Đại chúng, hết thảy đều kinh ngạc,
đem việc đó ra tranh luận và cho lời của Đại Thiên nói
là vọng thuyết. A Dục Vương thấy vậy, liền sai sứ thần
tới làm trung gian hòa hợp, nhưng đôi bên đều không nghe.
Đại chúng phần đông công nhận về tân thuyết của ngài
Đại Thiên, lập thành Đại Chúng bộ, thiểu số theo về
Kỳ túc Thượng tọa lập thành Thượng Tọa bộ. Nên Giáo
đoàn Phật giáo phân liệt làm hai. Thượng Tọa bộ giữ khuynh
hướng bảo thủ, lấy nước Ca Thấp Di La (Kasmira) thuộc Bắc
Ấn Độ, làm địa điểm trung tâm truyền đạo; Đại Chúng
bộ tin theo thuyết mới của Đại Thiên, có khuynh hướng tiến
bộ, lấy vùng Trung Ấn Độ làm địa điểm trung tâm truyền
đạo.
Về
năm tân thuyết của Đại Thiên, Nam truyền và Bắc truyền
giải thích có đôi chút khác nhau. Nay căn cứ vào bộ “Dị
Bộ Tôn Luân Luận” giải thích bài kệ của ngài Đại Thiên
đã nói: “Dư sở dụ vô tri; do dự tha linh nhập; đạo nhân
thanh cố khởi, thị danh chân Phật giáo”, đại lược như
sau:
1.
Dư sở dụ. - Tới bậc A-la-hán thì đoạn diệt hết mọi
phiền não, nhưng vì còn có nhục thân, nên vấn đề sinh lý
không phải là đã hết hẳn, trong khi thụy miên, bị ác ma
dụ hoặc, cũng vẫn có lậu thất.
2.
Vô tri. - Dù A-la-hán đã đoạn diệt được vô minh, nhưng
không phải là đã biết hết tất cả. A-la-hán thì thấu suốt
được mọi phiền não chướng ngại và lý tưởng giải thoát,
nhưng đối với công việc thông thường của thế tục, cũng
có nhiều trường hợp không biết hết.
3.
Do dự. - Tới bậc A-la-hán thì không sinh ra nghi hoặc (do dự)
về sự tu hành giải thoát, nhưng có sinh ra nghi hoặc với
công việc thường xuyên của thế tục, là làm thế nào là
hợp lý, thế nào là không hợp lý.
4.
Tha linh nhập. - Bậc A-la-hán cần phải có Phật hay bậc Sư
trưởng chỉ bảo, rồi mới biết là mình đã chứng ngộ.
5.
Đạo nhân thanh cố khởi. - (Đạo nương vào âm thanh mà sinh).
Do tâm cảm thấy khổ, thốt ra tiếng khổ thay! Nên cảm thống
thiết thấy cuộc đời là khổ, vô thường, vô ngã, do thế
mà đạt được Phật đạo. Đại Thiên cho năm thuyết này
là hợp với Phật giáo.
Y vào
năm thuyết kể trên, ta nhận thấy về lý tưởng của A-la-hán
thuộc cảnh giới Tiểu thừa, hãy còn khuyết điểm, nên đã
nẩy nở ra tư tưởng đó, để chỉ trích về lý tưởng của
A-la-hán, và cũng là manh nha cho tư tưởng Đại thừa.
Tóm
lại, sự đối lập căn bản của hai bộ khởi nguyên cho sự
phân liệt của Giáo đoàn Phật giáo là ở hai thời kỳ: thời
kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai tại Phệ Xá Ly thành;
Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm là thời kỳ đối
lập về Giáo hội; thời kỳ Đức Thích Tôn diệt độ khoảng
sau hơn 200 năm, do sự phân tranh nghi luận về năm tân thuyết
của Đại Thiên, là thời kỳ đối lập về giáo lý của
Phật giáo.
II.
SỰ PHÂN LIỆT VỀ MẠT PHÁI CỦA HAI BỘ
Y vào
mười điều phi pháp ở thời kỳ kết tập lần thứ hai,
nên sinh ra sự đối lập về Giáo hội; nương vào năm tân
thuyết của Đại Thiên, nên sinh ra sự đối lập về giáo
lý. Giáo đoàn Phật giáo vì mối phân liệt ngày một triển
khai, khuynh hướng tự do ngày một nẩy nở, tân tư tưởng
bột hưng, nên lại sinh ra nhiều dị nghĩa, dị thuyết, phân
môn rẽ phái ngày một nhiều, đều bắt nguồn từ hai phái
căn bản là Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ.
Về
niên đại phân liệt của mỗi bộ phái, theo Nam truyền, thì
từ khoảng Phật diệt độ sau 100 năm đến hơn 200 năm. Theo
Bắc truyền, thì ở khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau 100
năm tới 200 năm, có sự phân liệt về mạt phái của Đại
Chúng bộ; từ lúc Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 200
năm tới 300 năm, có sự phân liệt về mạt phái của Thượng
Tọa bộ. Số mục của các bộ phái, theo Nam truyền gồm có
24 bộ, theo Bắc truyền, có hai thuyết, 18 bộ hoặc 20 bộ.
Tên gọi của các bộ, có sự sai khác nhau giữa Nam truyền
và Bắc truyền, nhưng căn cứ vào bộ “Dị Bộ Tôn Luân
Luận” thì các phái gồm cả bản mạt có 20 bộ.
Sự
phân liệt của mạt phái, trước hết bắt nguồn từ nội
bộ của Đại chúng. Vì bộ này rất phong phú, tư tưởng
tự do, nên lần thứ nhất phát sinh ra ba bộ: Nhất Thuyết,
Xuất Thế, Kê Dận; lần thứ hai phát sinh ra Đa Văn bộ; lần
thứ ba phát sinh ra Thuyết Giả bộ; lần thứ tư lại phát
sinh ra ba bộ: Chế Đa Sơn, Tây Sơn trụ, Bắc Sơn trụ, gồm
cả bản mạt là chín bộ, thời gian phân liệt trong vòng 100
năm, kể từ khoảng sau khi Phật diệt độ 100 năm tới 200
năm.
Về
mặt khác, Thượng Tọa bộ sau khi thoái ẩn về nước Ca Thấp
Di La, giữ khuynh hướng bảo thủ, quý trọng lối truyền thừa,
tôn trọng sự hòa hợp. Nhưng vì chịu ảnh hưởng phân liệt
của Đại Chúng bộ, nên khuynh hướng bảo thủ truyền thừa
cũng bị thay đổi, nên từ khoảng Đức Thích Tôn diệt độ
sau 200 năm tới 300 năm, trong vòng 100 năm này đã chia thành
11 bộ (mười một bộ). Tức là, hồi thứ nhất phát sinh
ra Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ; hồi thứ hai từ Hữu bộ
phát sinh ra Độc Tử bộ; hồi thứ ba từ Độc Tử bộ sinh
ra bốn bộ: Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng
bộ và Mật Lâm bộ; hồi thứ năm, từ Hóa Địa bộ phát
sinh ra Pháp Tạng bộ; hồi thứ sáu cũng lại từ Hữu bộ
phát sinh ra Ẩm Quang bộ; hồi thứ bảy cũng lại từ Hữu
bộ phát sinh ra Kinh Lượng bộ. Căn bản Thượng Tọa bộ,
sau khi phân ra Hữu bộ, thế lực bị suy kém, phải nhường
căn cứ địa truyền đạo là nước Ca Thấp Di La cho Hữu
bộ, rồi về ẩn dật ở núi Tuyết Sơn, nên lại có tên
là Tuyết sơn bộ. Về hệ thống phân phái, căn cứ vào bộ
“Dị Bộ Tôn Luân Luận” theo như biểu đồ sau:
1.
Đại Chúng bộ (Mahàsamghikàh)
2.
Nhất Thuyết bộ (Ekavyavahàrikàh)
3.
Thuyết Xuất Thế bộ (Lokottaravàdinàh)
4.
Kê Dận bộ (Kaukkutikàh)
5.
Đa Văn bộ (Bàhusrutìyàh)
6.
Thuyết Giả bộ (Prajnàptivàdinàh)
7.
Chế Đa Sơn bộ (Caityasailàh)
8.
Tây Sơn Trụ bộ (Aparasailàh)
9.
Bắc Sơn Trụ bộ (Uttarasailàh)
1.
Thượng Tọa bộ (Sthaviràh, sau là Tuyết Sơn bộ (Haima-vàtàh)
2.
Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Saivàstivàdàh), còn gọi là Thuyết
Nhân bộ (Hetuvàdàh)
3.
Độc Tử bộ (Vàtsìputriyàh)
4.
Pháp Thượng bộ (Dharmottariyàh)
5.
Hiền Trụ bộ (Dhadrayàniyàh)
6.
Chính Lượng bộ (Sammitìyàh)
7.
Mật Lâm Sơn bộ (Sandagirikàh)
8.
Hóa Địa bộ (Mahìsàsakàh)
9.
Pháp Tạng bộ (Dharmaguptakàh)
10.
Ẩm Quang bộ (Kàsyapìyàh), còn gọi là Thiện Tuế bộ (Suvarsakàh)
11.
Kinh Lượng bộ (Sautràntikàh), còn gọi là Thuyết Chuyển bộ
(Samkràntivàdàh)
Các
phái như trên được phân chia đều vì tư tưởng đối lập,
vì nhân duyên bất hòa, nên đã bị chia ra. Các nhân duyên
đó đại lược như sau:
1.
ĐẠI CHÚNG BỘ. - Trước hết, từ Đại Chúng bộ phát sinh
ra ba bộ: “Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất Thế bộ và Kê
Dận bộ”. Nguyên vì Đại Chúng bộ, trong khi lưu trụ tại
nước Ương Quật Đa La (Angottara) thuộc phương Bắc thành
Vương Xá, đề xướng ra vấn đề nghiên cứu giáo nghĩa của
các kinh điển Đại thừa như: Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Thắng
Man, Duy Ma v.v... Nhưng trong Đại chúng có phe thuận và không
thuận, nên phân ra hai bộ Nhất Thuyết và Thuyết Xuất Thế.
Kê
Dận bộ. - Bộ này chủ trương Kinh tạng và Luật tạng là
giáo pháp phương tiện giả thiết của Đức Thích Tôn, duy
có Luận tạng là giáo lý chân thật, vì Luận tạng được
giải thích nghĩa lý tinh vi rõ ràng, vì thế nên lập thành
bộ riêng.
Đa
Văn bộ. - Khi Đức Thích Tôn còn tại thế, có vị A-la-hán
tên Từ Bi Y (Yàjnavalkya), trước khi Đức Thích Tôn diệt độ,
vào nhập định ở trong núi Tuyết Sơn, sau khi Đức Thích
Tôn diệt độ khoảng 200 năm, từ thiền định ra khỏi núi
Tuyết Sơn, đi tới nước Ương Quật Đa La, chủ trương nghĩa
thiển thám của ba tạng. Nghĩa là Đại Chúng bộ, mới chỉ
hoằng truyền nghĩa nông cạn của ba tạng, chưa hoằng về
nghĩa thâm thúy của ba tạng, vì thế nên biệt lập thành
một bộ để nghiên cứu nghĩa thâm thúy của Tam tạng.
Thuyết
Giả bộ. - Do ngài Đại Ca Chiên Diên (Mahakatyayana) thuộc nước
Ma Ha Lạt Đà (Mahàrattha) sáng lập. Bộ phái này chủ trương
nghĩa chân thuyết, giả thuyết, chân đế, tục đế, nhân
và quả của Phật đã nói trong ba tạng. Bộ này còn chủ
trương lối giải thích kinh điển cần phải hợp lý, và tùy
nghi lựa chọn thủ xả.
Chế
Đa Sơn bộ, Tây Sơn Trụ bộ và Bắc Sơn Trụ bộ. - Như trên
đã kể, vì tranh luận về năm điều tân thuyết của Đại
Thiên, nên Giáo đoàn Phật giáo phân liệt ra Thượng Tọa
bộ và Đại Chúng bộ. Nhưng về sau trong nội bộ của Đại
Chúng bộ lại đem năm điều tân thuyết ra tranh luận, vì
ý kiến bất đồng, có phe tin theo, phe không tin theo nên lại
phân liệt thành ba bộ: Chế Đa Sơn bộ, Tây Sơn Trụ bộ
và Bắc Sơn Trụ bộ.
2.
THƯỢNG TỌA BỘ. - Trước hết là Hữu bộ, từ Thượng Tọa
bộ phát sinh ra Hữu bộ. Hữu bộ chủ trương lấy Luận tạng
làm bản vị, đối lập với Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng
làm bản vị, không thiên trọng về Luật tạng và Luận tạng.
Vì Thượng Tọa bộ cho rằng, Luật vì y vào người, nên có
sự bất định về nghĩa khai (khoan dung), giá (nghiêm cấm),
luận để giải thích về Kinh tạng, nhưng thường thường
đi xa với nghĩa căn bản của nó, nên lấy Kinh tạng làm tiêu
chuẩn. Sau khi Đức Thích Tôn diệt độ khoảng 300 năm, có
ngài Ca Chiên Diên Tử (Katyayaniputra) ra đời, tuy cũng có hoằng
truyền cả về Kinh tạng và Luật tạng, nhưng thiên trọng
Luận tạng, lập ra Hữu bộ, lấy Luận tạng làm bản vị.
Độc
Tử bộ còn gọi là Trụ Tử bộ. - Bộ này cũng lấy Luận
tạng làm bản vị, nhưng sở y về Luận tạng khác với Hữu
bộ. Ngài Độc Tử (Vàtsíputra) là đệ tử ngài La Hỗ La,
ngài La Hỗ La là đệ tử ngài Xá Lợi Phất, căn cứ về
nghĩa luận cũng khác với nội dung của bộ Luận A Tỳ Đàm
do ngài Xá Lợi Phất đã nói. Vì thế nên ngài Độc Tử biệt
lập thành một bộ gọi là Độc Tử bộ.
Pháp
Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng bộ, Mật Lâm Sơn
bộ. - Bốn bộ này cũng lấy Luận tạng làm bản vị, được
phân xuất từ Độc Tử bộ. Nguyên vì trong khi giải thích
về A Tỳ Đàm luận của ngài Xá Lợi Phất, tới chỗ nào
không được minh bạch, liền đem ý nghĩa của kinh thêm vào,
nhưng có nhiều ý kiến bất đồng, nên chia ra làm bốn bộ
này:
Hóa
Địa bộ. - Bộ này cũng từ Hữu bộ mà biệt lập, sau khi
Phật diệt độ 300 năm. Ngài Hóa Địa xuất thân từ giòng
họ Bà-la-môn, thông đạt mọi giáo nghĩa của kinh điển Phệ
Đà. Sau đi xuất gia, chứng được quả A-la-hán, trong khi giảng
đọc kinh điển, nếu chỗ nào còn thiếu sót, lại đem lời
văn của kinh điển Phệ Đà và văn điển Phạn ngữ để
tu sức, như là lời Phật nói. Sau khi ngài Hóa Địa mất,
đệ tử của ngài lập thành một bộ riêng, lấy tên là Hóa
Địa bộ.
Pháp
Tạng bộ. - Bộ này từ Hóa Địa bộ phát sinh. Nguyên vì
Pháp Tạng (Dharmagupta), đệ tử ngài Mục Kiền Liên, thường
thường đi theo thầy và ký ức tất cả những điều gì thầy
đã nói. Sau khi thầy mất, ngài đem chia kinh điển làm năm
tạng: Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, Chú tạng và Bồ
tát tạng, vì thế nên biệt lập thành một bộ.
Ẩm
Quang bộ. - Ngài Ẩm Quang (Kàsyapa) đã chứng quả A-la-hán,
trong khi thuyết pháp, đem lời Phật đã nói, chia làm hai bộ
phận. Một bộ phận để đả phá thuyết ngoại đạo, một
bộ phận để đối trị phiền não cho chúng sinh, chủ trương
thuyết “Phá tà hiển chánh”. Vì nhân duyên đó, nên biệt
lập thành một bộ riêng.
Kinh
Lượng bộ. - Mục đích của bộ này là phục cổ, để tái
lập cái lập trường bản lai của Thượng Tọa bộ. Nghĩa
là không y vào Luật tạng và Luận tạng, chỉ y vào Kinh tạng
làm tiêu chuẩn.
CHƯƠNG
THỨ BA. GIÁO NGHĨA CỦA CÁC BỘ PHÁI
I.
GIÁO NGHĨA CỦA THƯỢNG TỌA VÀ HỮU BỘ
1.
LỜI BÀN TỔNG QUÁT.
- Về
giáo nghĩa của các bộ phái, trừ Hữu bộ ra, còn đều y
vào bộ “Dị Bộ Tôn Luân Luận” của ngài Phiệt Tô Mật
Tử La (Vasumitra) trước tác, ở khoảng thế kỷ II, do ngài
Huyền Trang dịch; và các bản dịch khác như “Thập Bát Bộ
Luận”, ngài La Thập dịch; “Bộ Chấp Dị Luận”, ngài
Chân Đế dịch, mà biết được một phần nào giáo nghĩa
đại cương.
Về
giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ, là giáo nghĩa Nguyên thủy
Phật giáo, những giáo nghĩa của Hữu bộ thì nương vào sự
tiến triển của giáo lý Nguyên thủy Phật giáo và sự biến
thiên của nó, vì vậy chỉ nói về giáo nghĩa của Hữu bộ,
cũng có thể suy biết được giáo lý của Thượng Tọa bộ.
Về
nguyên nhân từ Thượng Tọa bộ phát sinh ra Hữu bộ như ở
chương thứ hai đã thuật, ở thời kỳ Đức Thích Tôn diệt
độ sau 300 năm, có ngài Ca Đa Diễn Ni Tử (Ca Chiên Diên Tử),
chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, để đối lập
với Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng làm bản vị. Ngài Ca
Đa Diễn Ni Tử tự sáng tác ra bộ “A Tỳ Đạt Ma Phát Trí
Luận” (Abhidharma Jnànaprasthàna Sàstra, 20 quyển), để làm
nền tảng giáo lý của Hữu bộ. Vì thế nên giáo tổ của
Hữu bộ là Ca Đa Diễn Ni Tử, giáo lý căn bản của Hữu
bộ là “Phát Trí Luận”. Ngoài Phát Trí Luận ra, như “Lục
Túc Luận” cũng là các bộ luận sở y của Hữu bộ. Lục
Túc Luận: (1) A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn Túc Luận (Abhidharma
Sanjìtiparyàpàdá Sàstra, 20 quyển), tương truyền do ngài Xá
Lợi Phất chế tác trong khi Đức Thích Tôn còn tại thế.
(2) A Tỳ Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận (Abhidharma Dharma Skandhapàda
Sàstra, 12 quyển), do ngài Mục Kiền Liên sáng tác. (3) A Tỳ
Đạt Ma Thi Thiết Túc Luận (Abhidharma Prajnàtipàda Sàstra, 18.000
bài tụng), do ngài Đại Ca Chiên Diên sáng tạo. (4) A Tỳ Đạt
Ma Thức Thân Túc Luận (Abhidharma Vijnànakàyapàda Sàstra, 16
quyển), do ngài Đề Bà Thiết Ma (Devasarman, Thiên Tịch) sáng
tác, khoảng Phật diệt độ sau 100 năm. (5) A Tỳ Đạt Ma Phẩm
Loại Túc Luận (Abhidharma Prakadanapàda Sàstra, 18 quyển). (6)
A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận (Abhidharma Harma Dhàtukàyapàda
Sàstra, 3 quyển), hai bộ này ngài Thế Hữu soạn thuật, ở
thời kỳ sau khi Phật diệt độ hơn 200 năm (Thế Hữu, cũng
cùng tên với ngài Thế Hữu trước tác bộ “Tôn Luân Luận”,
nhưng nhân vật khác nhau). Sáu bộ luận kể trên, về phần
giáo lý chỉ là một bộ phận của Phát Trí Luận, nên gọi
là Lục Túc Luận, còn Phát Trí Luận gọi là Thân Luận, đó
là theo ý nghĩa bản và mạt.
Về
sau, ở vương triều Ca Nhị Sắc Ca (Kaniska), các bậc học
giả của Hữu bộ, lại giải thích giáo nghĩa của “Phát
Trí Luận”, biên tập thành một bộ, gọi là “A Tỳ Đạt
Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận” (Abhidharma Mahàvibhàsà Sàstra, 200
quyển), trong đó thường thường có dẫn chứng nhiều về
Lục Túc Luận.
Ngài
Ca Đa Diễn Ni Tử là một bậc “thạc học trong Phật giáo,
tinh thông Tam tạng, nhưng ngài không thích về chủ trương
của Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng làm bản vị, nên ngài
lấy Luận tạng làm bản vị. Trong khi tu trì ở chùa Ám Lâm
tự (Tamasàvanasaghàràma) nước Cinabhukti (Chi Na Bộc Để),
thuộc Bắc Ấn Độ, ngài đã chế tác ra bộ “Phát Trí Luận”,
lấy Bắc Ấn Độ làm trung tâm điểm tuyên dương Phật giáo.
Ngài
chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, vì hai lý do, một
là để đối kháng với tân thuyết của Đại chúng, một
là để đả phá hai học phái Thắng Luậnvà Số Luận của
ngoại đạo, đang phục hưng lúc đương thời, thường thường
hay bài xích Phật giáo. Vì mục đích đó, nên ngài chủ trương
môn lý luận của Phật giáo cần phải được tổ chức cho
vững chắc, trong khi biện luận, thường lấy nghĩa lý của
Thắng Luận và Số Luận để dẫn chứng, nên giáo nghĩa của
Hữu bộ, có hình tích ảnh hưởng về Thắng Luận, cũng như
giáo nghĩa của Đại Chúng bộ, chịu ảnh hưởng giáo nghĩa
Số Luận của ngoại đạo.
2.
NGÃ KHÔNG PHÁP HỮU LUẬN. - Giáo nghĩa của Hữu bộ, căn
cứ về phương diện triết học, là “Đa nguyên thực tại
luận”. Mọi hiện tượng của các pháp, nương vào thời
gian thì phải trải qua bốn trạng thái sinh, trụ, dị, diệt,
nương vào không gian phải có sự ly, hợp, tập, tán, biến
hóa vô thường, sát na sinh diệt, nhưng thể tính của chư
pháp, không có sinh diệt biến hóa, vẫn thường tồn tại
trong ba đời, giống như làn sóng, có sinh diệt biến hóa,
nhưng thể tính của nước hằng hữu, không thay đổi. Thể
tính hằng hữu trong ba đời, nghĩa là các tác dụng đang diễn
ra gọi là hiện tại, các tác dụng đã qua gọi là quá khứ.
Đó là thuyết “Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu”
của Hữu bộ.
Căn
cứ về lý tưởng tôn giáo là đoạn hoặc diệt khổ để
tới Niết-bàn. Vì do hoặc tạo ra nghiệp, từ nghiệp cảm
sinh ra quả khổ, vậy nên đoạn được hoặc tức là diệt
được khổ. Nhưng căn bản của hoặc là do chấp trước,
nên trước hết phải phá chấp trước, tức là phá ngã chấp.
Nhưng ngã chấp vì nương vào các pháp của “Sắc” và “Tâm”
mà tồn tại, nên việc phá ngã chấp trước hết phải tu
phép quán tưởng, phân tích tất cả các pháp của Sắc và
Tâm, biết được mọi pháp đều do nhân duyên hòa hợp, sát
na sinh diệt, biến hóa vô thường, đều là vô ngã. Nói tóm
lại, điều kiện cốt yếu để đoạn hoặc chứng lý, là
phải liễu Ngã là Không. Vì thế nên giáo nghĩa của Hữu
bộ gọi là “Ngã Không pháp Hữu”, nói về quán là “Chiết
Sắc nhập Không”, gọi tắt là “Chiết Không Quán”.
3.
PHÂN LOẠI VẠN HỮU. - Theo Nguyên thủy Phật giáo, thì
năm uẩn là những yếu tố để thành lập thế giới, và
phân loại thế giới ra “Tam giới”, “Nhị thập ngũ hữu”
là nơi y báo của chúng sinh. Nhưng Hữu bộ, vì ảnh hưởng
sự phân loại thế giới của Thắng luận phái, nên đem chia
vạn hữu thành 5 vị và 75 pháp, lập thành một tổ chức
nhất định, đó là điểm đặc biệt về giáo lý của Hữu
bộ.
Trước
hết, Hữu bộ đem vạn hữu chia ra Hữu vi pháp (Samskarta) và
Vô vi pháp (Asamskarta). Hữu vi pháp thì nương vào nhân duyên
sinh diệt, biến hóa. Vô vi pháp không nương vào nhân duyên
sinh diệt, bản lai thường tồn. Hữu vi pháp, vì nương vào
vật và tâm; vật tâm cùng quan hệ, và không phải vật và
tâm, nên lại chia thành bốn pháp: Sắc pháp (Rùpa), Tâm pháp
(Cita), Tâm sở hữu pháp (Aitta) và Tâm bất tương ứng hành
pháp (Cittaviprayuktasamskàra), thành năm vị:
Sắc
pháp. - Sắc pháp có mười một thứ: 5 căn (Nhãn, Nhĩ, Tỵ,
Thiệt, Thân), 5 cảnh (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc) và Vô biểu
sắc (Avijnapttirùpa). Vô biểu sắc là một lực không hình
không dáng, nó huân phát ở trong thân, để đưa nghiệp nhân
của hai nghiệp thân và khẩu, cảm sinh ra nghiệp quả ở vị
lai. (Vô biểu sắc thì không phải là vật chất, nhưng vì
là nơi nương tựa của sắc pháp, nên thuộc trong ngôi sắc
pháp).
Tâm
pháp. - Tâm pháp nếu đem tế phân là lục thức: Nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ý, nhưng đây nói về nhất tâm pháp tức
là Tâm vương.
Tâm
sở hữu pháp. - Tâm sở hữu pháp gồm có 46 pháp là thọ,
tưởng, tư v.v... thường thường theo nhịp với Tâm vương,
dấy ra mọi tác dụng, do sự quan hệ giữa Vật và Tâm, nên
sinh ra tác dụng của Tâm. Tâm sở nghĩa là Tâm sở hữu của
Tâm vương.
Tâm
bất tương ưng hành pháp. - Tâm này gồm có 14 pháp: Đắc
(tác dụng kế phược), Phi đắc (tác dụng xa lìa, sinh, trụ,
dị, diệt v.v... không ăn nhịp với sắc và tâm.
Vô
vi pháp. - Vô vi pháp có ba thứ: Trạch diệt, Phi trạch diệt
và Hư không. “Trạch diệt” nghĩa là nhờ vào sự tuyển
trạch mà được diệt độ, tức là nương vào sức tuyển
trạch của trí tuệ, lìa được mọi kết phược phiền não,
chứng đặng lý Không tịch tức là Niết-bàn. Nương vào sự
đoạn được một hoặc, tức là được một trạch diệt
vô vi, đoạn hoặc trạch diệt hai bên cân đối nhau, nên có
tên trừu tượng là “Trạch diệt vô vi”. “Phi trạch diệt
vô vi” thì bản lai nhất như thanh tịnh, không cần sức lựa
chọn của trí tuệ mới hiển ngộ. “Hư không vô vi” là
khoảng không gian vô tận, không có sự chướng ngại của
mọi pháp, và cũng không bị mọi pháp làm chướng ngại, có
tính chất vô ngại. Vì có vô ngại tính, nên sắc pháp được
tự do, tự tại sinh diệt ở trong đó.
Biểu
tóm tắt vạn hữu, năm vị và bảy mươi lăm pháp như sau:
(5
vị) (75 pháp)
1.
Sắc pháp 11 Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, sắc, thanh,
hương, vị, xúc, vô biểu sắc
2.
Tâm pháp 1 Tâm vương (tiếp cả 6 thức)
Đại
địa pháp 10: Thọ, tưởng, tư, xúc, dục tuệ, niệm, tác
ý, thắng giải, tam ma địa
Đại
thiện pháp 10: Tín, cầu, hành xả, tàm, quý, vô tham, vô sân,
bất hại, khinh an, không phóng dật
Đại
phiền não địa pháp 6: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín,
hôn trầm, điệu cử
Đại
bất thiện pháp 2: Vô tàm, vô quý
Tiểu
phiền não địa pháp 10: Phẫn, phú, xan, tật, não, hại, hận,
xiểm, cuống, kiêu
Bất
định địa pháp 8: Hối, miên, tầm, tứ, tham, sân, mạn, nghi
Đắc,
phi đắc, chúng đồng phận, vô tưởng quả, vô tưởng định,
diệt tận định, mệnh căn, sinh, trụ, dị, diệt, danh thân,
cú thân, văn thân
5.
Vô vi pháp 3 Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Hư không
vô vi.
4.
BA KHOA UẨN, GIỚI, XỨ. - Năm vị và bảy mươi lăm pháp
là đứng ở phương diện khách quan để phân loại vũ trụ
vạn hữu; ba khoa: Ngũ uẩn, Mười hai xứ, Mười tám giới
là đứng ở phương diện chủ quan để phân loại vũ trụ
vạn hữu. Phật giáo cho rằng con người chỉ là nương vào
sự kết hợp phân tán của ngũ uẩn mà sinh hay diệt, tinh
thần của con người cũng hoàn toàn nương vào sự quan hệ
kết hợp đó mà sinh ra những tác dụng. Tức là ba phần căn,
cảnh, thức làm nhân duyên lẫn cho nhau mà sinh ra mọi tác
dụng của tinh thần và sinh ra các pháp.
Ngũ
uẩn (Panca skandhàh). - Ngũ uẩn là năm yếu tố: Sắc, Thọ,
Tưởng, Hành, Thức. “Sắc uẩn” thuộc về sắc pháp trong
năm vị; “Thọ”, “Tưởng”, hai uẩn thuộc về tâm sở
pháp; “Hành uẩn” trừ thọ, tưởng thuộc về các pháp
của tâm sở; còn đều thuộc cả về tâm bất tương ưng
hành pháp; “Thức uẩn” thuộc về tâm pháp. Ngũ uẩn chỉ
ăn nhịp với hữu vi pháp, không thích hợp với vô vi pháp.
Mười
hai xứ (Dvàdasa àyatana). - Xứ là nghĩa định xứ và y xứ,
tức là sáu căn và sáu trần là nơi y cứ để sinh khởi ra
tâm vương và tâm sở, sáu căn là sáu cơ quan: Nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý; sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp, sáu đối tượng của sáu căn. Trừ ý căn và pháp cảnh,
còn ngũ căn và ngũ cảnh thuộc sắc pháp. Ý căn thuộc về
tâm pháp (tác dụng tư lương của tâm vương). Pháp cảnh tiếp
hết thảy mọi pháp, trừ ngũ căn, ngũ cảnh và tâm vương.
Mười hai xứ thì thích hợp với tất cả các pháp hữu vi
và vô vi.
Mười
tám giới (Assstadasa dhàtu). - Giới là nghĩa chủng tộc, vì
tự tính của mười tám loại đều riêng biệt, trở thành
những chủng loại riêng, cho nên gọi Lục căn, Lục trần
và Lục thức là mười tám giới. Vì lẽ khai hợp, nên lục
thức chỉ là sự triển khai từ ý căn của mười hai xứ.
Cho nên, mười hai xứ và mười tám giới đều tiếp thông
với các pháp hữu vi và vô vi. Sở dĩ một bên gọi là xứ
và một bên gọi là giới, xứ là nơi y xứ của các pháp
sinh khởi, giới là nói về nghĩa tự tính của các pháp.
Danh
mục của ba khoa theo như biểu đồ sau:
12
Xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ,
sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ.
18
Giới: Nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới,
ý giới, sắc giới, thanh giới, hương giới, vị giới, xúc
giới, pháp giới; Nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỵ thức
giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới
5 Uẩn:
Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
5.
TU
ĐẠO VÀ CHỨNG QUẢ. - Phép tu đạo của Hữu bộ chia làm
ba bậc: (1) Kiến đạo (Darsana màrga), nương vào sức tuyển
trạch của trí tuệ, biết được lý của Tứ đế, đoạn
hết được phần Kiến hoặc. (2) Tu đạo (Bhavanà màrga), đem
tuệ lực để tu tập lý của Tứ đế, đoạn hết được
Tư hoặc, (3) Vô học đạo (Asaiksa màrga), không còn phải đoạn
phiền não, đạt tới bậc Vô học.
Vì
nương vào căn cơ của người tu hành, nên lại chia ra thượng
căn, trung căn, hạ căn, gọi là “Tam thừa”. Hạ căn là
Thanh văn thừa, nương vào lời dạy của Phật để tu hành,
quán về lý của Tứ đế, chứng được quả A-la-hán. Trung
căn là Độc giác thừa (Bích chi Phật, Pratyeka Bhuddha), tự
mình quán tưởng mười hai nhân duyên mà độc ngộ, đoạn
hoặc chứng lý; còn gọi là Duyên giác thừa. Thanh văn và
Duyên giác gọi là nhị thừa. Thượng căn thuộc Bồ-tát thừa,
y vào các pháp tràng kỳ tu hành trong nhiều kiếp nhiều đời,
đoạn hết được mọi tập khí (tập quán lực), đầy đủ
phần nhất thiết chủng trí, viên mãn phần tự lợi lợi
tha, chứng được đạo Vô thượng Chánh giác, trở nên bậc
Đại giác tức là Phật.
6.
NIẾT-BÀN
VÀ PHẬT THÂN. - Khi Đức Thích Tôn còn tại thế, thực
thân chứng được Niết-bàn, Phật thân hiện tồn tại, nên
không có sự bàn luận về Niết-bàn và Phật thân. Nhưng sau
khi Đức Thích Tôn nhập Niết-bàn, thì vấn đề đó trở
thành một vấn đề trọng đại, sinh ra nhiều kiến giải
không giống nhau. Đặc biệt về vấn đề Phật thân dần
dần được lý tưởng hóa bởi tư tưởng tự do tiến bộ,
nên hoặc có hai thân, hoặc có ba thân, làm đầu đề luận
tranh cho các bộ phái đương thời.
Về
kiến giải của Hữu bộ đối với vấn đề Niết-bàn và
Phật thân, cũng như giáo lý Nguyên thủy Phật giáo, nghĩa
là Niết-bàn cũng chia ra “Hữu dư Niết-bàn” và “Vô dư
Niết-bàn”. Vấn đề Phật thân cũng chưa lý tưởng hóa,
nghĩa là Phật là một thân người hiện thực. Thân thể của
Phật Đà vì có liên quan tới hoặc nghiệp của tiền thế,
nên thọ mệnh của xác thân có hạn định, nghiệp quả hết
thì xác thân mất, vào Vô dư Niết-bàn, trở về nơi tịch
tĩnh. Và Phật cũng có tâm vô ký, không phải thiện, không
phải ác, tự thân không làm điều ác, nhưng vì còn có xác
thân, còn là nơi y xứ của điều ác. Phật cũng có sự ngủ
nghỉ, không phải là thường thường ở định; một sát-na
của tâm không thể suốt hết được mọi pháp, một tiếng
không thể nói hết được mọi pháp. Về nhân hạnh của Phật
ở quá khứ, vì mục đích cứu độ chúng sinh, nên sinh ở
trong Tam giới, cốt yếu không phải là đoạn hết phiền não,
chỉ là nương vào sự tu hành, để chế phục phiền não,
khi nhân hạnh viên mãn, tức là đoạn hết mọi hoặc, trở
thành Phật Đà. Đó là thuyết “Phục hoặc nhân hạnh”
của Hữu bộ.
Như
trên đã lược thuật về giáo nghĩa của Hữu bộ. Nương
vào giáo nghĩa đó, ta có thể suy biết được giáo nghĩa của
Thượng Tọa bộ, vì đều phảng phất giáo nghĩa của Nguyên
thủy Phật giáo. Đặc biệt, giáo nghĩa của Hữu bộ, sau
trở thành những tài liệu quan trọng cho môn Duy thức học
trong Phật giáo.
II.
GIÁO NGHĨA CỦA ĐẠI CHÚNG BỘ
1.
VẠN HỮU LUẬN. - Giáo nghĩa của Đại Chúng bộ, nếu đem
so sánh với giáo lý Nguyên thủy Phật giáo của Hữu bộ,
thì tiến bộ hơn. Đứng về phương diện triết học, giáo
lý của Hữu bộ là “Đa nguyên thực tại luận”, thì giáo
lý của Đại chúng bộ là “Phê phán thực tại luận”,
phủ định hiện tượng, nên đề xướng ra “Pháp không luận”.
Pháp không luận, theo Hữu bộ chủ trương mọi pháp sát-na
sinh diệt, thể tính của mọi pháp thường lẫn có trong ba
đời quá khứ, hiện tại, vị lai; nhưng trái lại, Đại chúng
bộ chủ trương: Vì chư pháp thì sát-na sinh diệt, nên thể
dụng của mọi pháp ở quá khứ không tồn tại, thể dụng
của mọi pháp ở vị lai thì chưa xuất hiện, đôi bên đều
không phải là thực tại, mà duy chỉ có thể dụng của mọi
pháp ở hiện tại, trong một sát-na của hiện tại mới là
thực tại. Đó là thuyết “Quá vị vô thể, hiện tại hữu
thể” của Đại Chúng bộ chủ trương, gần với thuyết
“Ngã pháp câu không luận”.
Về
vô vi pháp, Đại Chúng bộ lập ra chín thứ vô vi pháp. Tức
là ba thứ vô vi của Hữu bộ, thêm vào sáu thứ nữa là:
Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi
tưởng, Phi phi tưởng xứ, Duyên khởi chi tính và Thánh đạo
chi tính. Nhưng, lý thể vô vi pháp của Hữu bộ đứng ở
phương diện tịch tĩnh, trái lại vô vi pháp của Đại chúng
bộ chủ trương lại ở phương diện hoạt động. Chín thứ
vô vi pháp: (1) Hư không; (2) Trạch diệt; (3) Phi trạch diệt,
như trước đã giải thích; (4) Không vô biên xứ. - Tu vô biên
xứ định, đoạn được một phần hoặc, chứng được một
phần diệt, nương vào phần diệt đó sinh lên cõi trời Không
vô biên xứ; (5) Thức vô biên xứ. - Quán thức vô biên, diệt
được một phần hoặc, chứng được một phần diệt, y vào
diệt này sinh ở cõi trời Thức vô biên xứ; (6) Vô sở hữu
xứ. - Quán về phần vô sở hữu, đoạn được một phần
hoặc, chứng được một phần diệt, nương vào phần diệt
đó, sinh lên cõi trời Vô sở hữu xứ; (7) Phi tưởng, Phi
phi tưởng xứ. - Tu định này hết thảy lìa được trạng
thái hữu tướng và vô tướng, đoạn được một phần hoặc,
chứng được một phần diệt, nương vào diệt độ sinh ở
cõi trời Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ. Hữu bộ chi xứ là
Thiện xứ, nơi chốn để sinh lên, nhưng Đại Chúng bộ cho
Xứ là “Sở y”, vì thế nên bốn xứ thuộc vô vi pháp,
không ở trong phạm vi Tam giới, chỉ nương vào phần đoạn
hoặc chứng diệt, tất nhiên sinh ở Thiện xứ, đó là lý
đương nhiên không biến đổi; (8) Duyên khởi chi tính. - Về
lý pháp của sinh tử lưu chuyển, Hữu bộ chỉ nhận về phần
tướng của các phần duyên khởi nên thuộc về hữu vi pháp;
Đại chúng bộ cho rằng mười hai chi duyên khởi tuy là hữu
vi pháp, nhưng vì nó có lý pháp nhất định không thay đổi,
để điều hòa về sự sinh khởi cho tiền nhân hậu quả,
tương tục không ngừng, nên thuộc vô vi pháp; (9) Thánh đạo
chi tính. - Thánh đạo chi tính còn gọi là “Lý pháp của
khổ giới đoạn diệt”. Ở trường hợp Hữu bộ trừ Diệt
đế ra, còn ba đế khác đều là hữu vi pháp, nhưng ở trường
hợp Đại Chúng bộ chủ trương, các chi của “Bát chánh
đạo” tuy là hữu vi, nhưng vì các chi đó đều là phần
lìa khổ được giải thoát, đó là y vào lý pháp nhất định
bất biến nên thuộc vô vi pháp. Còn các chi khác đều lý
luận tương tự như vậy.
Tóm
lại, về “Vô vi pháp” của Đại Chúng bộ chủ trương,
không phải là tịch tĩnh, mà là hoạt động. Về “Pháp không
luận” không phải không về bản thể của mọi pháp, mà
chỉ là phủ định hiện tượng của mọi pháp.
2.
TÂM TÍNH BẢN TỊNH LUẬN. - Ở trường hợp Hữu bộ, cho “Tâm
tính bản lai bất tịnh”, vì tâm thường có đầy dẫy mê
vọng, tập nhiễm nhưng nhờ sự tu đạo, nên tâm tính được
thanh tịnh, nghĩa là tâm tính bản lai bất tịnh, chuyển thành
thanh tịnh, tới chỗ giải thoát. Trái lại, ở trường hợp
của Đại Chúng bộ chủ trương “Tâm tính bản lai thanh tịnh”,
lìa mọi mê vọng tạp nhiễm, chỉ vì khách trần phiền não
bên ngoài làm ô nhiễm, nên trở thành bất tịnh nếu nương
vào sự tu đạo, để gột rửa mọi tạp nhiễm phiền não
đó, thì tâm trở nên thanh tịnh, hiển hiện được bản tính
của nó. Đó là thuyết “Tâm tính bản tịnh, khách trần
ô nhiễm” của Đại Chúng bộ. Thuyết này giống như thuyết
“Quan hệ giữa tự tính và thần ngã” của Số Luận.
Vì
tâm tính thì bản tịnh, phiền não là khách trần, nên phiền
não và tịnh tâm đều cùng có từ vô thủy, thường thường
cùng theo đuổi cái tâm, nên gọi là tùy phiền não. Vì có
tùy phiền não, nên tâm trở nên ô nhiễm, tạo ra nghiệp,
lưu chuyển trong khổ giới, nhưng nếu nương vào sự tu đạo,
thì rửa sạch được các phiền não, chỉ còn lại một thứ
tâm thanh tịnh. Tâm là chủ mà phiền não là khách, tâm tính
thì “vô thủy vô chung”, phiền não thì “vô thủy hữu
chung”, nên gọi là “Tâm tính bản tịnh, khách trần ô nhiễm”.
Tóm lại Hữu bộ chỉ nhận phần Tướng của tâm, mà không
nhìn nhận về thể tính của tâm, trái lại, Đại Chúng bộ
quán về phần thể tính của tâm. Đứng về phương diện
triết học thì Hữu bộ chủ trương “Hiện tượng luận”,
Đại Chúng bộ chủ trương “Bản thể luận”.
3.
NIẾT-BÀN VÀ PHẬT THÂN. - Niết-bàn quan của Đại chúng bộ
thì không ghi chép rõ ràng, nhưng Phật thân quan của Đại
Chúng bộ chủ trương tiến bộ hơn Hữu bộ. Đại Chúng bộ
cho rằng, Phật vì nương vào nhân hạnh của nhiều kiếp nhiều
đời, nên có quả báo thực thân, đối với không gian thì
“Biến mãn nhất thiết xứ”, đối với thời gian thì “Thọ
mệnh vô tận”; uy lực của Phật cũng vô biên tế, giáo
hóa khắp mọi loài hữu tình, tùy nghi giáo hóa, tùy thời
nhập diệt, đều tự do tự tại. Đức Phật khi 80 tuổi nhập
diệt, đó cũng là Hóa thân tùy cơ ứng hiện của Ngài.
Đại
chúng bộ quán sát Phật thân, không giống như Hữu bộ cho
là thực thân, mà là Siêu thân và tồn tại. Phật thân là
vô lậu thân, không phải hữu lậu pháp; lời Phật thì lời
lời là Chuyển pháp luân, hết thảy đều lợi ích; một âm
thanh của Phật có thể nói được hết thảy pháp; một sát-na
của tâm, hiểu biết được hết thảy pháp; và thường ở
định, không có thụy miên; chúng sinh hỏi gì Phật đều đáp
ngay, không cần phải suy nghĩ.
Trên
đây là yếu nghĩa của Đại Chúng bộ. Đặc biệt về thuyết
“Ngã pháp câu không” rất gần với không quán của Đại
thừa Bát nhã; thuyết “Vô vi pháp” có thể là tiền khu
cho thuyết “Chân như duyên khởi” của Đại thừa; thuyết
“Tâm tính bản tịnh, khách trần ô nhiễm”, về điểm phiền
não thì vô thủy hữu chung rất giống với thuyết “Chân
như duyên khởi luận”, cho vô minh là vô thủy hữu chung;
thuyết “Tâm tính bản tịnh” cũng còn là nguyên nhân để
dụ dẫn đến tư tưởng “Nhất thiết chúng sinh, tất hữu
Phật tính” của giáo lý Đại thừa. Vì vậy, giáo nghĩa
của Đại Chúng bộ, tuy cũng là Tiểu thừa, mà có những
tư tưởng rất gần với tư tưởng Đại thừa. Vậy có thể
nói, giáo nghĩa Đại thừa là từ chỗ phát triển dần dần
ở giáo nghĩa của Đại Chúng bộ.
III.
GIÁO NGHĨA CỦA MẠT PHÁI VÀ CHI PHÁI
1.
LỜI BÀN TỔNG QUÁT. - Như trên đã kể, về bộ phái của
Tiểu thừa gồm 20 bộ. Các bộ đều do sự dị chấp, nên
đã từ Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ mà phát sinh, nhưng
về phần giáo nghĩa của các bộ, không đi đôi với sự quan
hệ của Giáo hội. Thí dụ, các phân phái của Đại Chúng
bộ thì bao hàm giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ; mạt phái
của Thượng Tọa bộ lại bao hàm giáo nghĩa của Đại Chúng
bộ. Sự hỗn đồng giáo nghĩa như vậy có rất nhiều.
Như
Đa Văn bộ là phân phái của Đại Chúng bộ, nhưng về giáo
nghĩa thì phần nhiều giống với Hữu bộ; Hóa Địa bộ là
mạt phái của Hữu bộ, nhưng về giáo nghĩa, phần nhiều
là giáo nghĩa của Đại Chúng bộ. Nay theo chỗ thích nghĩa
phân loại thành từng hệ thống như sau:
1.
Hệ thống Đại Chúng bộ Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất Thế
bộ, Kê Dận bộ, Thuyết Giả bộ, Chế Đa Sơn bộ, Tây Sơn
Trụ bộ, Bắc Sơn Trụ bộ
Hệ
thống chiết trung Đa Văn bộ, Hóa Địa bộ, Pháp Tạng bộ,
Ẩm Quang bộ, Tuyết Sơn bộ
2.
Hệ thống Hữu bộ Kinh Lượng bộ (Tuyết Sơn bộ)
Hệ
thống chiết trung (Kinh Lượng bộ)
3.
Hệ thống Độc Tử bộ Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ,
Chính Lượng bộ, Mật Lâm Sơn bộ
Tức
là,Đa Văn bộ phân phái từ nội bộ của Đại Chúng bộ,
nhưng phần nhiều lại theo giáo nghĩa của Hữu bộ: Hóa Địa
bộ, Pháp Tạng bộ, Tuyết Sơn bộ, Ẩm Quang bộ, thuộc về
hệ thống Thượng Tọa bộ, nhưng giáo nghĩa phần nhiều lại
cũng giống với Đại Chúng bộ. Các bộ thuộc hệ thống
Độc Tử bộ, vì có một hệ thống đặc biệt về giáo nghĩa
của Thượng Tọa bộ, nên trở thành một hệ thống riêng.
Kinh Lượng bộ thì kế thừa giáo lý của Hữu bộ, nhưng
lại có tư tưởng về Độc Tử bộ. Tuyết Sơn bộ là căn
bản Thượng Tọa bộ, giáo nghĩa cũng giống như Hữu bộ.
Ngoài ra, còn các giáo nghĩa của các chi phái, vì sợ phiền
toái nên tĩnh lược.
2.
HỆ THỐNG ĐẠI CHÚNG BỘ. - Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất
Thế bộ và Thuyết Giả bộ, ba bộ này có ít nhiều giáo
nghĩa đặc sắc trong hệ thống Đại Chúng bộ. Trước hết,
Nhất Thuyết bộ kế thừa thuyết các pháp ở quá khứ và
vị lai đều không có thực thể, duy chỉ có các pháp ở một
sát-na của hiện tại là có thực thể, rồi nghiên cứu tiến
bước hơn, cho các pháp ở trong ba trạng thái quá khứ, hiện
tại và vị lai đều không có thực thể, chỉ là giả danh;
chủ trương thuyết “Tam thế chư pháp, giả danh vô thể”.
Sau là Thuyết Xuất Thế bộ, Nhất Thuyết bộ thì kế thừa
giáo lý “Pháp không luận” của Đại Chúng bộ; Thuyết
Xuất Thế bộ cũng kế thừa giáo nghĩa đó, nhưng đứng ở
lập trường phê phán thực tại luận, để bàn luận về
thực tướng của chư pháp. Trước hết đem các pháp chia ra
“Chân đế” và “Tục đế”. Thế gian pháp thuộc về
Tục đế, là giả pháp, điên đảo, hư vọng không thực;
xuất thế gian pháp thuộc Chân đế, thì không điên đảo
vọng kiến, mà là chân thực. Đó là chủ trương thuyết “Tục
vọng, Chân thực”. Sau nữa là Thuyết Giả bộ, giáo nghĩa
cũng giống như Nhất Thuyết bộ, nhưng không quyết đoán chư
pháp là giả danh vô thể, và cũng không nói các pháp xuất
thế gian đều hoàn toàn là chân thực, chủ trương các pháp
thế gian và xuất thế gian đều có phần giả và thực. Đó
là thuyết “Chân giả tịnh hữu” của bộ này.
3.
HỆ THỐNG ĐỘC TỬ BỘ. - Từ Hữu bộ trước hết phát sinh
ra Độc Tử bộ. Đặc biệt, giáo nghĩa của Độc Tử bộ
thì không thuộc vào Đại Chúng bộ và Thượng Tọa bộ, tự
nó sáng lập ra một hệ thống giáo nghĩa riêng. Bộ này, trước
hết đem mọi pháp chia làm ba tụ: “Hữu vi tụ”, “Vô vi
tụ” và “Phi nhị tụ”, hoặc đem chia thành “Ngũ tạng”:
“Quá khứ”, “Hiện tại”, “Vị lai”, “Vô vi” và
“Bất khả thuyết”. Ba tạng đầu gọi là “Tam thế tạng”
do sự tế phân từ “Hữu vi tụ”; “Bất khả thuyết”
là biệt danh của “Phi nhị tụ”. Nhưng về giáo nghĩa đặc
biệt của bộ này là thuyết “Bất khả thuyết tạng”.
Trong Bất khả thuyết tạng thì thành lập một thứ “Ngã”
gọi là “Bổ Đặc Già La” (Pudgala). Y vào thuyết này, con
người tạo ra nghiệp, thiện, ác, rồi cảm đến kết quả
của nó, là vì có một thực thể tồn tại, nó liên tục
từ hiện tại tới vị lai; nếu không có thực thể đó duy
trì, con người khi chết, đồng thời ngũ uẩn cũng tiêu diệt,
sẽ không có sự chuyển sinh ở lai thế. Cái thực thể đó
thì tự do tự tại, thường trụ không biến và luôn luôn
liên tục để duy trì cái nghiệp nhân trong ba đời quá khứ,
hiện tại, vị lai; và các thực thể này, từ ở địa vị
phàm phu cho tới sau khi thành Phật cũng vẫn tồn tục, gọi
là “Bổ Đặc Già La”. Bổ Đặc Già La này tức là “Ngã”
thuộc “Bất khả thuyết tạng”, cái Ngã này không phải
là đương thể của ngũ uẩn, và cũng không phải là ngoài
ngũ uẩn ra mà tồn tại giống như linh hồn (Àtman), nên lại
gọi là “Phi tức phi ly ngã”. Theo như nghĩa trên thì không
thể nói cái “Ngã” đó thuộc về hữu vi pháp của ngũ
uẩn, và cũng không thể nói là thuộc về vô vi pháp của
Niết-bàn, nghĩa là nó không thuộc về cả Hữu vi và Vô vi,
nó là sự tồn tại của “Phi nhị tụ”.
Sau
là Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng bộ, Mật
Lâm Sơn bộ, bốn bộ này đều kế thừa giáo nghĩa của Độc
Tử bộ. Nhưng giáo nghĩa của Chính Lượng bộ đã trở thành
ưu thế. Cho nên Chính Lượng bộ và Hữu bộ là hai bộ phái
trọng yếu của Tiểu thừa Phật giáo.
4.
HỆ THỐNG CHIẾT TRUNG. - Đa Văn bộ là phân phái của Đại
Chúng bộ, nhưng về giáo nghĩa phần nhiều lại nương theo
giáo nghĩa của Hữu bộ. Đặc điểm về giáo nghĩa của bộ
này là, đem giáo pháp của Phật chia ra thế gian và xuất thế
gian, chủ trương: “Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, Tịch
tĩnh, Niết-bàn” là giáo pháp vô lậu, xuất thế gian; còn
các giáo pháp khác đều là giáo pháp hữu lậu của thế gian.
Về Đại Chúng bộ cho ngôn giáo của Phật đều là vô lậu,
trái lại Hữu bộ lại cho hết thảy là hữu lậu, vì lẽ
đó nên giáo nghĩa của Đa Văn bộ thuộc hệ thống chiết
trung.
Hóa
Địa bộ. - Bộ này là phân phái của Hữu bộ, nhưng chủ
trương thuyết “Quá, vị vô thể” của Đại Chúng bộ.
Phần đặc điểm về giáo nghĩa của bộ này, đem vô vi pháp
chia ra làm chín thứ. Ba thứ vô vi đầu cũng giống như Hữu
bộ, hai thứ cuối là “Chi đại chân như” và “Duyên khởi
chân như”, cũng giống như nghĩa “Thánh đạo chi tịnh”
và “Duyên khởi chi tịnh” của Đại chúng bộ; trung gian
là bốn thứ vô vi: “Bất động, Thiện pháp chân như, Bất
thiện pháp chân như, Vô ký pháp chân như”. Bất động vô
vi là lý thể để đoạn diệt tâm thô động, nó làm chướng
ngại thiền định. Thiện pháp chân như là lẽ làm thiện
tất được thiện quả. Bất thiện pháp là lẽ làm ác tất
phải chịu ác quả. Vô ký pháp chân như là cái “Lý pháp”
làm việc không phải thiện, không phải ác, sẽ đưa đến
kết quả vô ký. Chân như có nghĩa là chân thực như thường,
không bị sinh diệt chi phối, nó là cái “Lý pháp bất biến”.
Pháp
Tạng bộ. - Bộ này là phân phái của Hóa Địa bộ, dùng
nhiều giáo nghĩa của Đại Chúng bộ. Phần đặc điểm giáo
nghĩa của bộ này là đem kinh điển chia thành năm tạng: Kinh,
Luật, Luận, Chú và Bồ-tát. Đặc biệt, Bồ-tát tạng có
nói nhiều về sắc thái của giáo lý Đại thừa, chủ trương
thuyết “Tăng trung hữu Phật, Tam thừa đồng nhất giải
thoát”, rất gần với giáo lý của Đại thừa. Sau là Ẩm
Quang bộ, phân phái của Hữu bộ, giáo nghĩa cũng giống như
Pháp Tạng bộ.
5.
HỆ THỐNG KINH LƯỢNG BỘ. - Đại thể giáo nghĩa của Kinh
Lượng bộ thuộc hệ thống Hữu bộ, nhưng có nhiều tư tưởng
đặc biệt, như thuyết “Chủng tử”, nên thành lập một
hệ thống riêng. Bộ này cũng như Độc Tử bộ, thành lập
một thứ “Ngã” gọi là “Thắng nghĩa ngã” (Paramàrth
pudhala) và tư tưởng “Nhất vị uẩn” cùng “Vô lậu chủng
tử”.
Tư
tưởng nhất vị uẩn. - Nhất vị uẩn nghĩa là một loại
không thay đổi, ngoài ngũ uẩn sát na sinh diệt ra, còn có
“Vi tế ngũ uẩn” là căn bản cho “Sinh diệt ngũ uẩn”,
nó liên tục trong quá khứ, hiện tại, vị lai. Vi tế ngũ
uẩn này trở thành chủng tử, sinh ra phần thô ngũ uẩn. Thô
ngũ uẩn thì sát-na sinh diệt, liên tục mãi mãi, không để
cho đến chỗ diệt mất. Thô ngũ uẩn đối với “Nhất vị
uẩn” thì gọi là “Căn biên uẩn” (Chi mạt uẩn). Sở
dĩ gọi là “Nhất vị uẩn” là vì từ vô thủy trở lại
đều luôn luôn tương tục, nhất vị hòa hợp với Thọ uẩn,
Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn, và Sắc uẩn thì bao hàm
chủng tử của tâm và chủng tử của sắc, tâm thì bao hàm
chủng tử của sắc và chủng tử của tâm, vì vậy nên có
tên “Sắc tâm hỗ trì thuyết” và “Sắc tâm hỗ huân thuyết”.
Thắng
nghĩa ngã. - Thắng nghĩa ngã là một thực thể của vô thủy
vô chung, thông với tất cả các pháp hữu vi và vô vi, thông
với nhân vị và quả vị, thông với tất cả các pháp hữu
lậu và vô lậu.
Vô
lậu chủng tử. - Tuy còn ở địa vị phàm phu, nhưng cũng
đã sẵn có cái chủng tử xuất thế vô lậu từ đời vô
thủy lại đây, bản lai có cái thế lực giải thoát. Thuyết
“Vô lậu chủng tử” là một giáo nghĩa đặc biệt của
Tiểu thừa.
Ngoài
ra, tư tưởng tương tự với thuyết chủng tử của Kinh Lượng
bộ là tư tưởng thuộc chi phái của các bộ. Như chi phái
thuộc hệ thống Đại Chúng bộ đề xướng ra thuyết “Hữu
lậu pháp chủng tử” và “Đa tâm hòa hợp”, tương tự
với thuyết “Nhất vị uẩn” của Kinh Lượng bộ; chi phái
của Hóa Địa bộ chủ trương thuyết “Cùng sinh tử ấm”,
cũng tương tự với thuyết “Nhất vị uẩn” của Kinh Lượng
bộ.
Như
trên đã thuật khái quát giáo nghĩa của mạt phái và chi phái
trong các bộ, có thể nói tư tưởng của các bộ phái đó
là tư tưởng “Duyên khởi luận”. Tư tưởng “Thắng nghĩa
ngã” và “Vô lậu chủng tử” rất tương tự với tư tưởng
“Như Lai tạng” của Đại thừa; tư tưởng “Nhất vị
uẩn” tức “Hữu lậu chủng tử”, là tiền đề cho tư
tưởng “Căn bản thức”; “Vô lậu chủng tử cũng là tư
tưởng tiền khu cho “Phật tính luận”; tư tưởng “Tam
thừa đồng nhất giải thoát” là căn nguyên cho tư tưởng
“Nhất thiết giai thành Phật” của Đại thừa.
CHƯƠNG
THỨ TƯ. PHẬT GIÁO Ở VƯƠNG TRIỀU KANISKA
I.
PHẬT GIÁO SAU TRIỀU ĐẠI A DỤC VƯƠNG
Vì
A Dục Vương nhiệt tâm bảo hộ Phật giáo, nên Phật giáo
đã trở thành một đại tôn giáo của thế giới. Và sau đó
một khoảng thời gian 300 năm, Phật giáo lại được sự bảo
hộ của quốc vương Kaniska (Ca Nhị Sắc Ca), vị anh quân của
một đại đế quốc từ nửa Bắc Ấn Độ đến Trung ương
Á Tế Á, và mở một đường lối truyền bá Phật giáo tới
Đông phương.
Tại
Trung Ấn, sau khi A Dục Vương tạ thế, Khổng Tước vương
triều nối nghiệp, nhưng uy thế của vương triều này không
được như xưa, hơn nữa các vua nối nghiệp phần nhiều lại
tin theo Bà La Môn giáo và Kỳ Na giáo, không thực tâm bảo
hộ Phật giáo. Đến khoảng đầu thế kỷ thứ II trước
Tây lịch, có võ thần là Pusyamitra (Bổ Sa Mật Đa La) nổi
lên cướp ngôi vua và lập ra vương triều Sunga, vương triều
này cũng thiên tín về Bà La Môn giáo, bức hại Phật giáo.
Tới đầu thế kỷ thứ I sau Tây lịch, vương triều Kànva
được thành lập thay thế vương triều Sunga, cũng tin theo
Bà La Môn giáo, nên Phật giáo Trung Ấn bị sút kém dần dần.
Nhưng
vì thế lực của các vương triều kể trên chỉ cục hạn
trong phạm vi Trung Ấn mà các bậc thạc học cao đức ở Trung
Ấn phần nhiều đi truyền đạo ở nước ngoài, nên các nước
ngoài Trung Ấn, Phật giáo lại phát triển.
Lối
kiến trúc tại Trung Ấn đương thời mà di tích hiện còn
như các Phật tháp ở Lộc Dã Uyển (Magadava), Phật Đà Già
Da (Buddha gayà) v.v...
Phật
giáo ở Tây bắc Ấn Độ dưới triều đại A Dục Vương
đã có nhiều bậc truyền đạo tới. Đặc biệt là hai nước
Kasmitra (Ca Thấp Di La) và Gandhàra (Kiền Đà La) là hai căn
cứ địa truyền đạo của Thượng Tọa bộ. Trong đó giáo
lý của Hữu bộ được phổ cập rõ rệt hơn.
Phía
Tây nam Ấn Độ hiện còn các di tích như các động: Ellora,
Ajantà, và các Phật tháp Amaràvatì, Sanchì, được kiến tạo
vào khoảng từ thế kỷ thứ II trước Tây lịch tới thế
kỷ thứ II sau Tây lịch. Ở các địa phương này cũng là
nơi lưu bá của Đại Chúng bộ và Thượng Tọa bộ.
Phía
Đông bắc Ấn Độ vì thế lực bành trướng của Kỳ Na giáo,
Đông nam Ấn Độ bị sự uy hiếp của dân tộc Tamil nên ảnh
hưởng của Phật giáo không được sâu rộng.
Tóm
lại, Phật giáo sau thời đại A Dục Vương chỉ được bành
trướng và thịnh hành ở Bắc Ấn, Tây Ấn và Sri Lanka (Tích
Lan), còn các địa phương khác mãi tới vương triều Kaniska
mới phổ biến khắp.
II.
VƯƠNG
TRIỀU KANISKA
Kaniska,
một ông vua rất tôn sùng và bảo hộ Phật giáo, sánh ngang
với sự bảo hộ Phật giáo ở triều đại A Dục Vương.
Tổ tiên vua Kaniska, giòng dõi một bộ tướng nước Nhục
Chi (Tukhàra). Đương thời lãnh thổ nước đó phân cắt thành
năm chư hầu. Tới khoảng nửa thế kỷ thứ I trước Tây
lịch, trong năm chư hầu đó, có Kujula Kadphises thuộc Kusana
(Quý Xương Hầu), thế lực mạnh hơn cả, liền nổi lên diệt
bốn chư hầu khác, và lập ra vương triều Kusana. Sau con của
Kujula Kadphises là Wema Kadphises nối nghiệp, lại đem quân chinh
phục các nơi, và chiếm lĩnh các nước Kasmitra và Gandhàra,
các nước thuộc Bắc Ấn cùng một bộ phận Tây Ấn, thế
lực ngày một mạnh, bỗng trở thành một đại đế quốc
tại Trung Á Tế Á. Vua Kaniska, người kế thừa lãnh thổ vĩ
đại này, là ngôi vua thứ ba thuộc vương triều Kusana (Quý
Xương Hầu). Niên hiệu tức vị của vua không được biết
rõ ràng, nhưng đại khái vào khoảng đầu thế kỷ thứ
II sau Tây lịch.
Sau
khi tức vị, vua đem quân tiến vào Trung Ấn, chiếm lĩnh thành
Pàtaliputra (Hoa Thị Thành), và chinh phục cả nước Parthia
(An Tức) thuộc Ba Tư bây giờ, đồng thời chiếm cả lãnh
thổ nhà Hậu Hán như: Sở Lặc (Kashgar), Xa Sa (Yarkand) và Vu
Điền (Khotan). Vua đóng đô ở thành Purusapura (Bá Lộ Xa Thành)
thuộc nước Gandhàra, kiến thiết thêm thành Kaniskapura (Ca
Nhị Sắc Ca thành) tại nước Kasmitra.
Vua
Kaniska tuy tín phụng Phật giáo, nhưng tin về giáo lý của
Hữu bộ. Sự nghiệp quan hệ đối với Phật giáo của vua
có ba điểm trọng yếu:
1.
Phỏng theo sự nghiệp của A Dục Vương, thiết lập rất nhiều
tháp để thờ Xá lợi của Phật.
2.
Khuyến khích và bảo hộ duy trì nền văn minh Gandhàra (Kiền
Đà La mỹ thuật).
3.
Có công đức lớn đối với sự nghiệp kiết tập kinh điển
lần thứ IV.
Vua
Kaniska tại vị được hơn ba mươi năm thì mất. Các vương
triều kế tiếp sau, tuy có ủng hộ Phật giáo, nhưng cũng
có vương triều lại bài xích, nên Phật giáo không được
hưng thịnh như trước.
III.
KẾT
TẬP KINH ĐIỂN LẦN THỨ IV
Vương
triều Kaniska đối với Phật giáo, một sự nghiệp vĩ đại
nhất là việc kết tập kinh điển của Hữu bộ lần thứ
IV tại nước Kamistra.
Tương
truyền, vua Kaniska cứ mỗi ngày thỉnh một vị Tăng vào cung
để nghe pháp, và lại chính mình duyệt lãm các kinh, luận,
thấy giáo nghĩa không giống nhau, lấy làm ngờ vực, đem hỏi
ngài Hiếp Tôn Giả (Pàrava). Tôn giả giảng giải cho vua biết
lý do, vì có nhiều bộ phái, nên giáo nghĩa của mỗi bộ
phái cũng khác nhau. Vua thấy thế nảy ra ý nghĩ thống nhất
giáo nghĩa của mọi bộ phái, liền bàn cùng ngài Hiếp Tôn
Giả, rồi phát nguyện mở đại hội kết tập.
Trước
hết, vua hạ lệnh chiêu tập các học giả khắp trong nước,
tuyển bạt lấy 500 vị, là những bậc học rộng tài cao,
tinh thông Tam Tạng, hội họp tại tinh xá Hoàn Lâm (Kundalavana
samgharàma) nước Kasmitra để kết tập Tam tạng. Kỳ kết
tập này do ngài Vasumitra (Thế Hữu) là Thượng thủ, và có
các Đại đức Dharmatràtà (Pháp Cứu), Ghosa (Diệu Âm), Bhuddadeva
(Giác Thiên) và Pàrsva (Hiếp Tôn Giả), các ngài chú thích
Kinh tạng gồm 10 vạn bài tụng; Luật tạng gồm 10 vạn bài
tụng; và Luận tạng (Abhidharma vibhàsa) 10 vạn bài tụng, cả
thảy là 30 vạn bài tụng, gồm 660 vạn lời. Kỳ kết tập
này, Kinh, Luật, Luận đều được khắc vào bản bằng đồng,
trước sau phải mất mười hai năm mới hoàn thành. Sau khi
hoàn thành, vua ra lệnh xây cất một bảo tháp lớn để tàng
trữ, cắt cử người hộ vệ, để ngăn ngừa học thuyết
ngoại đạo trà trộn. Nếu ai muốn học hỏi và nghiên cứu,
chỉ được xem ở trong tháp, cấm không được đem ra bên
ngoài. Tuy thế, nhưng Kinh tạng và Luật tạng cũng đã sớm
bị thất lạc, không còn thấy truyền tới ngày nay, duy có
phần chú thích của Luận tạng Abhidharma mahavibhàsa sutra (A
Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Ba Sa Luận), gồm 200 quyển do ngài Huyền
Trang dịch là hiện còn lưu truyền. Nội dung của bộ luận
này là tổng hợp giáo nghĩa dị đồng của các bộ phái để
hoàn thành giáo nghĩa của Hữu bộ.
Về
niên đại kỳ kết tập này có nhiều thuyết khác nhau, nghĩa
là Đức Phật nhập diệt sau 400 năm, 500 năm hoặc 600 năm.
Thuyết Phật diệt độ sau khoảng 600 năm thì thích ứng hơn,
tức là ở vào khoảng đầu thế kỷ thứ II sau Tây lịch.
CHƯƠNG
THỨ NĂM. PHẬT GIÁO Ở THỜI KỲ GIỮA TIỂU THỪA VÀ ĐẠI
THỪA
I.
LỜI TIỂU DẪN
Như
các chương trên đã thuật, đó là sự phát đạt và biến
thiên của Tiểu thừa Phật giáo. Tới khoảng thế kỷ thứ
III (Phật diệt độ sau 800 năm), có các bậc đại Luận sư
ra đời như Bồ-tát Long Thọ và Đề Bà, là những bậc đã
phát huy chân giáo lý Đại thừa của Phật giáo, làm cho Đại
thừa Phật giáo được phát triển và hưng thịnh. Nhưng Đại
thừa Phật giáo không phải đột nhiên mà xuất hiện, nghĩa
là không phải do ngài Long Thọ, Đề Bà xuất hiện mới bắt
đầu dựng ra, mà nó vẫn tiềm tàng ở tư tưởng trong giáo
nghĩa của các bộ phái, rồi dần dần phát triển thành tư
tưởng Đại thừa Phật giáo. Các học giả ở thời kỳ giữa
Tiểu thừa và Đại thừa này, ta có thể kể các ngài như
Nàgasena, Vasumitra và Asvaghosa làm đại biểu.
II.
NGÀI
NÀGASENA (NA TIÊN TỶ-KHƯU HOẶC LONG QUÂN)
Ngài
Nàgasena xuất hiện ở cuối thế kỷ thứ II trước Tây lịch,
người Trung Ấn, thiếu thời ngài tới ngài Rùpana (Lâu Ba)
xin đầu Phật xuất gia, 20 tuổi thọ giới Cụ túc ở ngài
Asvagupta. Ngài rất chuyên tâm tu hành, chứng tới quả A-la-hán,
sau đi các địa phương giáo hóa. Khi tới thành Sàgàla (Sa
Yết La) thuộc Bắc Ấn, ngài thuyết pháp cho vua Milinda (Di
Lân Đà) nghe, vua nhờ sự giáo hóa của ngài, liền quy y Phật
giáo. Đương thời, sự vấn đáp giữa nhà vua và Nàgasena
đều được ghi chép lại, nên trong Đại tạng có kinh gọi
là “Na Tiên Tỷ-khưu kinh”. Nam truyền Đại tạng kinh gọi
là Milinda Panha, hiện còn lưu truyền tới nay.
Y vào
kinh Milinda Panha, thì Nàgasena chủ trương tư tưởng vô ngã
của Tiểu thừa để đả phá cái ngã kiến của nhà vua. Nhưng
trong đó có thuyết hiện thế làm ác nghiệp, tới lúc lâm
chung nương vào công đức niệm Phật, thì không những tiêu
bạt được nghiệp chướng mà còn được hưởng quả báo
sinh thiên. Vậy nên, ta có thể biết được ngài Nàgasena không
phải là nhà học giả thuần túy Tiểu thừa, mà là người
kiêm học cả Tiểu thừa và Đại thừa.
Sự
khởi nguyên tư tưởng niệm Phật, và đối tượng niệm Phật
của Nàgasena, tuy trong sử không chép rõ ràng, nhưng đương
thời, tư tưởng của các bộ phái Tiểu thừa có tư tưởng
quán Phật thân; từ thế kỷ thứ II trước Tây lịch trở
về sau, đã có điêu khắc tượng Phật để làm đối tượng
tín ngưỡng. Đó là lẽ phát đạt tự nhiên từ Tiểu thừa
tiến tới Đại thừa.
III.
NGÀI VASUMITRA (THẾ HỮU)
Ngài
Vasumitra xuất hiện ở đầu thế kỷ thứ II, người nước
Gandhàra. Tục truyền ngài trước thuật hai bộ luận “Dị
Bộ Tôn Luân Luận” (1 quyển) do ngài Huyền Trang dịch, và
“Tôn Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập Luận” (10 quyển). Giáo
nghĩa của hai bộ này thuộc Tiểu thừa Hữu bộ. Nhưng căn
cứ vào lý do sau đây thì tư tưởng của ngài là bậc kiêm
học cả Tiểu thừa và Đại thừa.
Vì
ngài Chân Đề đời Trần bên Trung Quốc dịch bộ “Bộ Chấp
Nghị luận”, và ngài Huyền Trang đời Đường dịch bộ
“Dị Bộ Tôn Luân Luận”, đều tôn xưng danh hiệu ngài
là “Thiên Hữu Đại Bồ-tát” và “Thế Hữu Đại Bồ-tát”,
như vậy tỏ ra ngài không phải là học giả thuần túy của
Tiểu thừa mà kiêm cả tư tưởng Đại thừa.
IV.
NGÀI
ASVAGHOSA (MÃ MINH BỒ-TÁT)
Asvaghosa,
về niên đại xuất thế của ngài có nhiều thuyết khác nhau,
khó thể mà xác định được rõ ràng. Như những thuyết ngài
xuất thế vào khoảng Phật diệt độ sau 300 năm, sau 400 năm,
hoặc 600 năm. Căn cứ vào Luận Thích Ma Ha Diễn(1), thì từ
khi Đức Phật còn tại thế cho tới lúc Ngài nhập diệt sau
800 năm, trong khoảng thời gian đó có tất cả sáu ngài Mã
Minh ra đời.
Tác
giả của Luận Đại Thừa Khởi Tín, căn cứ vào nội dung
tư tưởng của bộ luận này, thì tư tưởng của tác giả
là thuần túy Đại thừa.
Vì
lẽ đó nên ngài Asvaghosa có thể có từ hai người trở lên,
một người là tác giả của tư tưởng Tiểu thừa, một người
là tác giả của Đại Thừa Khởi Tín luận. Theo cuốn “Ấn
Độ Phật Giáo Sử” của tác giả Shoma Gyokei cũng chép: “Ngài
Mã Minh luận chủ Luận Khởi Tín là tác giả tư tưởng thuần
Đại thừa thì xuất hiện ở thời đại sau, riêng về ngài
Mã Minh kiêm học cả Tiểu thừa và Đại thừa thì xuất thế
ở khoảng thời đại giữa tuổi vãn niên của vua Kaniska,
cho tới khoảng ngài Long Thọ xuất thế, tức là ở khoảng
700 năm sau khi Phật diệt độ, hậu bán thế kỷ thứ II Tây
lịch”.
Ngài
Asvaghosa thuộc giòng dõi Bà-la-môn, người thành Sakera (Sa Kỳ
Đa) thuộc Trung Ấn. Ngài học rộng, tài cao, biện tài vô
ngại, lại thông hiểu cả Hán học, có tài làm ca phú. Lúc
đầu ngài tin theo ngoại đạo, khi tới nước Magàdha (Ma Kiệt
Đà), biện luận hầu hết với các nhà học giả Phật giáo
tại đó, ngài đều chiếm phần ưu thế, nhưng sau biện luận
với ngài Pùrnayasas (Phú Na Dạ Sa) bị thua, nên ngài quy y Phật
giáo và tôn ngài Pùrnayasas làm thầy. (Hoặc biện luận cùng
với ngài Hiếp Tôn Giả bị thua, xin phục tùng làm đệ tử).
Sau
ngài đi du lịch các địa phương như Trung Ấn, Bắc Ấn, đem
sức biện tài trác tuyệt để tuyên dương Phật giáo. Và
ngài đem lời văn hùng tráng để tán dương công đức quảng
đại vô biên của Đức Phật, sau được ghi chép thành một
bộ gọi là “Phật Sở Hạnh Tán”. Hơn nữa, ngài còn đem
sức hùng biện triết phục Số luận, để tuyên dương chánh
giáo. Thanh danh của ngài vang dội khắp Ấn Độ lúc đương
thời. Hoặc có thuyết nói, khi vua Kaniska tới đánh thành Pàtaliputra
(Hoa Thị Thành), vua yêu cầu phải nộp vàng chín ức, chủ
thành Pàtaliputra không đủ vàng để nộp, nên phải đem Mã
Minh dâng để thay thế cho một bộ phận vàng. Khi vua Kaniska
được ngài Mã Minh, liền rước về Bắc Ấn để hoằng dương
Đại thừa Phật giáo. Tương truyền trong thời kỳ kết tập
kinh điển lần thứ IV, ngài Mã Minh cũng có tham gia, đảm
đương công việc nhuận sắc văn chương.
Phần
trước tác, tương truyền ngài soạn thuật tới hơn 100 bộ
kinh luận, nhưng hiện nay trong Đại tạng chữ Hán chỉ còn
lưu truyền các bộ như sau:
1.
“Phật Sở Hạnh Tán” (Buddhakaritakàvya) 5 quyển, (Đàm Vô
Sấm (Dharmaraksa) dịch).