CHƯƠNG
THỨ NHẤT. SỰ THÀNH LẬP VÀ BIẾN THIÊN CỦA MẬT GIÁO
I.
Sự quan hệ giữa Mật giáo và Ấn Độ giáo.
II.
Tư tưởng Mật giáo thành lập.
III.
Sự phát triển của Mật giáo.
IV.
Quân Hồi giáo xâm nhập và bi kịch của Phật giáo.
CHƯƠNG
THỨ HAI. PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
I.
Phật giáo bắt đầu truyền vào Tây Tạng.
II.
Sự biến thiên của Phật giáo Tây Tạng.
III.
Kinh điển của Phật giáo Tây Tạng.
IV.
Giáo lý của Phật giáo Tây Tạng.
PHỤ
LỤC DI TÍCH CỦA PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
•
Các sách tham khảo.
THIÊN
THỨ TƯ. THỜI ĐẠI MẬT GIÁO
(701
- 1200 TL)
CHƯƠNG
THỨ NHẤT. SỰ THÀNH LẬP VÀ BIẾN THIÊN CỦA MẬT GIÁO
I.
SỰ QUAN HỆ GIỮA MẬT GIÁO VÀ ẤN ĐỘ GIÁO
Mật
giáo là tiếng gọi tắt của Bí mật Phật giáo. Trên phương
diện giáo lý và giáo tướng của Mật giáo thì được phát
triển từ tư tưởng của Đại thừa Phật giáo, nhưng ở
phương diện sự tướng của Mật giáo thì chịu ảnh hưởng
nghi thức tác pháp của Tân Bà La Môn giáo, tức là Ấn Độ
giáo. Thí dụ như đồ hình Mandala (Mạn Trà La) của Mật giáo,
trong đồ hình đó, một mặt thì phối trí các hình chư Phật,
một mặt kết hợp các vị thần của Bà La Môn giáo. Mandala
của Mật giáo có nhiều thứ khác nhau, nhưng Mandala chính để
tượng trưng cho Chân thực giới của Mật giáo thì phối trí
Ngũ Phật hay Lục Phật. Tức là ở trung ương của đồ hình
Mandala có hình Đại Nhật Phật, bốn phương của đồ hình
có bốn Đức Phật là A Sơ Phật, Bảo Sinh Phật, Bất Không
Thành Tựu Phật, và A Di Đà Phật, gọi là Ngũ Phật, hoặc
trên năm Đức Phật này lại thêm Đức Phật Kim Cương Tát
Đỏa (Vajrasattva), gọi là Lục Phật. Ngoài ra còn có rất
nhiều Mandala của chư Bồ-tát và các thần của ngoại giáo.
Các đồ hình Mandala tuy nhiều, nhưng hình tướng và sắc thể
của nó đại khái có hai phương pháp là hóa hiện và điều
phục. Hóa hiện có ý nghĩa là chư Phật và Bồ-tát vì mục
đích hóa độ chúng sinh, nên phương tiện quyền hiện ra hình
tướng các thần của ngoại giáo. Thí dụ như Đức Quan Âm
hóa hiện ra 33 thân là Phạm Thiên, Đế Thích và Đại Tự
Tại Thiên v.v... Điều phục có ý nghĩa là chư Phật và Bồ-tát
dùng rất nhiều uy lực quyền thế để chinh phục các thần
của ngoại đạo, khiến các thần đó quay về với Phật giáo.
Vì lý do quan hệ đó nên hình tướng của chư Phật, Bồ-tát
và các thần của Ấn Độ giáo dần dần trở thành một quan
điểm cộng thông.
Sự
tướng của Mật giáo như các cách tụng thần chú, quán Du-già
v.v... không phải là lối tác pháp đặc biệt của Mật giáo
mà cũng là chịu ảnh hưởng tập tục cổ truyền của dân
tộc Ấn Độ và Bà La Môn giáo. Thí dụ như pháp thiền định
của Phật giáo thì chú trọng ở chỗ đạt tới trí tuệ,
nhưng phép quán Du-già của Mật giáo lại chú trọng ở mục
tiêu cầu phúc trừ tai cho thế gian.
Sau
hết là sự quan hệ mật thiết giữa phái Sàkta (Tính lực
phái) của Ấn Độ giáo, và phái Kim Cương thừa (Vajrayàna)
của Mật giáo. Nguyên lai phái Sàkta thì sùng bái nữ thần
Durga, nghi thức của phái này rất là bí mật, có nhiều trò
ma thuật, nhiều hình thức dâm đãng. Sau, lối hành pháp của
phái này lạm nhập vào lối hành pháp của phái “Kim Cương
thừa”, nên phái Kim Cương thừa dần dần bị đọa lạc
vào vòng tà đạo, và cũng là nguyên nhân đọa lạc của Mật
giáo.
Sự
giao thiệp giữa Mật giáo và Ấn Độ giáo cứ mỗi ngày một
rõ rệt, một mặt thì Mật giáo tiếp nhận các yếu tố hành
pháp của Ấn Độ giáo, một mặt thì Ấn Độ giáo tiếp
nhận các lối hành pháp của Mật giáo, nên hai giáo trở thành
một trạng thái hỗn hợp khó thể phân biệt được rõ ràng.
II.
TƯ TƯỞNG MẬT GIÁO ĐƯỢC THÀNH LẬP
Khởi
nguyên tư tưởng của Mật giáo có thể là đã có từ thời
đại nguyên thủy kinh điển. Vì trong nguyên thủy kinh điển
có thấy chép các thần chú thủ hộ trong các bộ luật và
trong kinh Khổng Tước. Nhưng đó chỉ là sự phôi thai của
tư tưởng Mật giáo. Tư tưởng Mật giáo được thành lập
một cách đích xác là ở khoảng thế kỷ thứ VII, khi bộ
kinh “Đại Nhật” được xuất hiện ở Nam Ấn Độ. Sau
khi bộ kinh này xuất hiện thì Mật giáo cũng được thành
lập. Bộ kinh này gọi đủ tức là “Đại Tỳ Lư Giá Na
Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh”, gồm 7 quyển, 63 phẩm.
Tư tưởng căn bản của bộ kinh này là “Tức sự nhi chân”,
rút ở hệ thống tư tưởng của kinh Hoa Nghiêm. Mật giáo
lấy bộ kinh này làm căn cứ và gọi là phái “Chân Ngôn
thừa” (Mantra yàna). Phái này là phái thuần túy của Mật
giáo, nên gọi là “Hữu Đạo Mật giáo”. Phái này đại
biểu cho phần lý luận của Mật giáo.
Tới
khoảng cuối thế kỷ thứ VII, lại có bộ “Kim Cương Đính
Kinh” xuất hiện, bộ kinh này gồm có 18 hội, 10 vạn bài
tụng. Nội dung của bộ kinh này thuộc hệ thống “Du già
hành phái”, nương vào tâm thức mà tổ chức thành. Hệ thống
Mật giáo y vào bộ kinh này làm căn bản, gọi là phái “Kim
Cương thừa” (Vajra yàna). Nhưng phái Mật giáo này về sau
kết hợp với phái Sàkta của Ấn Độ giáo, đọa lạc vào
vòng tà đạo, nên lại gọi là “Tả đạo Mật giáo”. Phái
này đại biểu cho phần thực tế của Mật giáo.
III.
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MẬT GIÁO
Hai
hệ thống “Chân Ngôn thừa” và “Kim Cương thừa” của
Mật giáo sau khi xuất hiện, thì tư tưởng Mật giáo phát
triển mạnh mẽ trên lãnh thổ Ấn Độ. Trong hai hệ thống
này, “Chân Ngôn thừa” thì chú trọng phần lý luận, nên
kém phát triển ở phương diện thực tế, trái lại “Kim
Cương thừa” chú trọng phần thực tế, nên kém phát triển
ở phương diện lý luận. Từ khoảng thế kỷ thứ X trở
về sau, vì “Kim Cương thừa” kết hợp với phái Sàkta của
Ấn Độ giáo, nên phái này bày đặt ra nhiều hành pháp theo
tà giáo, dần dần đi vào vòng đọa lạc, lấy chủ nghĩa
khoái lạc, dục vọng cho là diệu lý chí chân, làm mất hẳn
cái bản lai chân tướng của Phật giáo.
Trong
lúc Mật giáo đang phát triển, các vương triều Pàla thuộc
Đông Ấn đều bảo hộ Phật giáo, nhất là vua Dharmapàla
(Pháp Hộ, dựng ra ngôi chùa rất lớn ở thế kỷ thứ VIII,
tức là ngôi chùa Vikramasilà, để làm nơi đạo tràng căn
bản cho Mật giáo. Các bậc học tượng của Mật giáo phần
nhiều đều xuất thân từ ngôi chùa này.
Và
ngôi chùa này cũng là nơi trước tác của nhiều bộ kinh điển
thuộc Mật giáo. Thí dụ như bộ “Như Lai Tam Nghiệp Bí Mật
Kinh” (Tathàgata Guhyaka Guhyasamàja), “Sàdhanamàlà” và rất
nhiều các “Nghi quỹ” (Tantra) v.v... Kinh “Như Lai Tam Nghiệp
Bí Mật” có ghi chép rất nhiều lối tác pháp kỳ quái, đó
chính là ảnh hưởng tư tưởng phái Sàkta của Ấn Độ giáo.
Trên
phương diện truyền bá tư tưởng Mật giáo và làm cho Mật
giáo được phát triển ở Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng
và các nước khác thì có các vị đại học giả như ngài
Thiện Vô Úy (Subha Karasimha, 637-735), người Trung Ấn;
ngài Kim Cương Trí (Vajra Bodhi, 671-741), người Nam Ấn, và ngài
Bất Không Kim Cương (Amoghavajra, 705-774), người Sri Lanka, ba
vị này không những làm cho Mật giáo hưng thịnh ở trong nước,
mà các ngài đều cùng lần lượt đem tư tưởng Mật giáo
sang Trung Quốc, phiên dịch nhiều kinh điển của Mật giáo
sang chữ Hán, làm cho Mật giáo ở Trung Quốc phát triển rất
mạnh mẽ. Cũng ở thế kỷ thứ VIII, lại có ngài Liên Hoa
Sinh (Padmasambava) xuất hiện, ngài đem Mật giáo truyền bá
sang Tây Tạng và sáng lập ra Lạt Ma giáo ở Tây Tạng. Từ
thế kỷ thứ VIII trở về sau, cũng có nhiều vị học giả
của Mật giáo xuất hiện, đều là những vị xuất thân ở
chùa Vikramasila. Đặc biệt ở thế kỷ thứ XI, có ngài Dipankarasrijnàna
tức là Atisa ra đời, ngài cũng sang Tây Tạng truyền tư tưởng
Mật giáo, và trở thành một nhà đại phiên dịch của Tây
Tạng. Còn các nước thuộc Đông Nam Á Tế Á như: Sri Lanka,
Myanmar, Campuchia, đảo Java, Sumatra v.v..., Mật giáo cũng đều
được truyền vào. Chính lối kiến trúc cung thành như Angkor
Thom và Angkor Wat của Campuchia ở thế kỷ thứ XII, đó cũng
là những kết tinh của tư tưởng Mật giáo.
IV.
QUÂN HỒI GIÁO XÂM NHẬP VÀ BI KỊCH CỦA PHẬT GIÁO
Từ
thế kỷ thứ VIII, quân Hồi giáo thuộc hệ thống Thổ Nhĩ
Kỳ đã xâm nhập vào phía Tây bắc Ấn Độ. Rồi từ thế
kỷ này cho tới thế kỷ thứ XI, đã bao lần quân Hồi giáo
xâm nhập, đánh phá Trung Ấn Độ, gây nhiều tai hại cho Phật
giáo và gieo bao nỗi đau khổ cho dân tộc Ấn Độ. Để phản
kháng quân Hồi giáo, nên các tôn giáo của Ấn Độ liên kết
lại, lập thành một tôn giáo gọi là “Thời Luân giáo”
(Kàlacakra
Tantra), tôn giáo này là một biến hình của Mật giáo. Nhưng
tới đầu thế kỷ thứ XIII, tức là năm 1203, quân Hồi giáo
do tướng Iktyàr Uddìn chỉ huy, đem đại quân tiến vào Trung
Ấn Độ, tiêu diệt vương triều Sena, rồi làm bá chủ khắp
Trung Ấn. Trung Ấn trở thành lãnh thổ của Đế quốc Hồi
giáo. Sau, thế lực của Hồi giáo dần dần lan đi các ngả.
Vì
mục đích lập ra một Đế quốc Hồi giáo, nên quân đội
Hồi giáo rất hung ác, tàn bạo. Đi đến nơi nào, nếu là
người khác giáo thì họ đều giết hại. Vậy nên, Phật
giáo cũng như Ấn Độ giáo, đều bị cái thảm họa chung,
trong lúc quân Hồi giáo xâm nhập. Nhưng riêng về Phật giáo,
thì quân Hồi giáo lại đối đãi tàn ngược hơn; họ phá
hủy chùa tháp, thiêu đốt kinh điển, tịch thu bảo vật,
hãm hại Tăng Ni, làm cho Phật giáo hầu như đến chỗ tiêu
diệt. Các vị cao Tăng lúc bấy giờ, một mặt thì phải ẩn
náu trong rừng núi, một mặt chạy trốn sang Tây Tạng hoặc
nước khác. Đó thực là một trang sử rất đau thương trong
lịch sử Phật giáo.
Phật
giáo ở Ấn Độ trải qua 1700 năm lịch sử, đã từng làm
bá chủ về tư tưởng của toàn Ấn Độ, đoạt hẳn được
địa vị độc tôn của Bà La Môn giáo. Nhất là Phật giáo
ở dưới thời đại hai vương triều A Dục Vương và Kaniska
(Ca Nhị Sắc Ca) thực là cực kỳ phồn thịnh. Phật giáo
đã phát triển thành một đại tôn giáo của thế giới. Qua
thời đại Đại thừa Phật giáo tới thời đại Mật giáo,
đã có biết bao những vị Thánh tăng, học tượng ra đời,
tổ chức Phật giáo thành một hệ thống giáo học có quy
mô trật tự. Nhưng theo định luật biến thiên, di chuyển
của thời đại có thịnh tất phải có suy, nên Phật giáo
cũng không thoát khỏi cái vòng định luật đó vậy.
Tuy
nhiên, Phật giáo bị suy tàn ở Ấn Độ lúc đương thời,
nhưng ánh sáng của Phật giáo đã lan tràn đi các ngả, chiếu
vào mọi chốn, khắp nơi, và hiện nay ánh sáng đó đang chiếu
trở về nơi bản xứ.
Nghĩa
là, từ cuối thế kỷ XIV cho tới hiện nay, Phật giáo trên
dải đất Ấn Độ đã có cơ hội phục hưng và đang phát
triển. Người đứng ra vận động phục hưng, trong đó có
nhà học Phật uyên thâm là Anagarika Dharmapala, người có công
huân hơn cả.
Angarika
Dharmapala là người Sri Lanka. Ông là con một nhà tín đồ Phật
giáo ở Colombo, thủ đô của Sri Lanka. Ngay từ khi còn nhỏ,
ông thường phải theo học ở trường học của Thiên Chúa
giáo, mỗi ngày phải đọc kinh cầu nguyện tại trường, tuy
vậy, nhưng ông vẫn tỏ ra là con một tín đồ thuần thành
của Phật giáo. Nhân khi Đại tá Henry Steel Ocott, người Hoa
Kỳ, qua Sri Lanka chấn hưng Phật giáo, thì ông A. Dharmapala
là một người giúp việc đắc lực cho Đại tá. Vì thế,
lòng mộ đạo của ông ngày một vững. Sự nghiên cứu đạo
Phật ngày một uyên thâm, đi đôi với mục đích duy nhất
của ông là phải chấn hưng Phật giáo tại Sri Lanka và Ấn
Độ.
Năm
1891 là năm ông 29 tuổi. Ông qua Ấn Độ chiêm bái các nơi
Phật tích. Trước hết, ông tới Lộc Dã Uyển (Mrgadana), nơi
thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật. Ở nơi đây, ông đã
chứng kiến di cảnh điêu tàn nơi Thánh địa. Rồi ông lại
tiếp tục tới chiêm bái “Bồ Đề đạo tràng, hay gọi là
nơi Phật thành đạo” (Phật Đà Già Da, Buddha Gayà). Gặp
cảnh sinh tâm, nên ông vô cùng xúc động mà phát ra lời thệ
nguyện(1): “Uy nghiêm thay! Nơi Thánh tích! Thực quả là một
thắng cảnh vô tỷ của thế giới. Mỗi Phật tử chúng ta,
ai nấy phải có nhiệm vụ bảo hộ duy trì, để nơi Thánh
địa này tới khi nào có các vị tu hành tới quản đốc,
không thể để cho một Thánh địa vĩ đại như thế này phải
đoạn tuyệt”. Rồi ông lấy ngày ông chiêm bái (ngày 21-1-1891)
làm ngày kỷ niệm phục hưng Phật giáo Ấn Độ.
Năm
1892, ông đi truyền bá đạo Phật ở Calcutta, và thường diễn
thuyết với đề tài “Sự quan hệ giữa Phật giáo và Ấn
Độ giáo”. Đồng thời, ông cho phát hành tờ “Bồ Đề
tạp chí” (Bodhi Journal) làm cơ quan truyền bá Phật giáo,
và liên lạc với Phật giáo đồ của các nước trên thế
giới, kêu gọi sự ủng hộ “phục hưng Phật tích” tại
Ấn Độ.
Ông
còn tiếp tục du lịch các nước Nhật Bản, Hawai, Hoa Kỳ,
châu Âu để liên lạc sự hộ trì thiết thực của các nước.
Sau khi trở về, ông sáng lập một hội Phật để đảm nhiệm
công cuộc vận động chấn hưng Phật giáo tại Ấn Độ,
lấy tên là “Hội Đại Bồ Đề Ấn Độ” (Maha Bodhi Society
of India).
Tới
ngày 13 tháng 7 năm 1930, ông chính thức được thế phát xuất
gia. Càng về tuổi già, sự hoạt động của ngài càng tinh
tiến. Mỗi khi diễn thuyết trước các tín đồ, ngài thường
trịnh trọng tuyên bố: “Phật giáo đồ Ấn Độ đã bị
truy phóng một thời gian dài 800 năm, ngày nay họ đã và đang
tiếp tục quay trở về cố quốc. Tất cả chúng ta hãy thức
tỉnh, siêu vượt chế độ giai cấp và tín điều, với mục
đích duy nhất của Hội Đại Bồ Đề là đem giáo lý của
đấng Phật Đà tặng mọi người dân Ấn Độ”.
Công
việc hoạt động của ngài đang tiến hành, tới tháng mười
hai năm 1932, ngài thọ bệnh mà mất. Các đệ tử của ngài
kế thừa sự nghiệp, duy trì Hội Đại Bồ Đề cho tới hiện
nay. Hội này là một trong những hội Phật hoạt động mạnh
nhất tại Ấn Độ.
Nhờ
có Hội Đại Bồ Đề hoạt động và các hội Phật giáo
khác ở Ấn Độ, nên số tín đồ của Phật giáo Ấn Độ
ngày một tăng, mỗi ngày một bành trướng. Hơn thế, Ấn
Độ hiện nay là một nước ban bố chính thể cộng hòa, tất
nhiên phải coi “Tứ dân bình đẳng” làm nền tảng căn
bản cho “Dân chủ chủ nghĩa”, mà yếu tố này lại rất
hợp với chủ nghĩa Từ bi bình đẳng, đả phá giai cấp của
Phật giáo chủ trương. Vì vậy, hiện nay các vị lãnh tụ,
các chính trị gia của Ấn Độ đều hằng lưu ý đến công
cuộc chấn hưng Phật giáo tại bản xứ.
Theo
sự thống kê năm 1957 của Hội Quốc Liên về dân số Ấn
Độ như sau:
* Diện
tích: 3.288.876km2.
* Dân
số: 392.440.000 người.
* Thủ
đô: New Delhi.
* Tín
đồ Phật giáo ước: 4.000.000 người.
CHƯƠNG
THỨ HAI. PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
I.
PHẬT GIÁO BẮT ĐẦU TRUYỀN VÀO TÂY TẠNG
Tương
truyền, Phật giáo bắt đầu truyền vào Tây Tạng đã từ
ở khoảng giữa thế kỷ thứ III, nhưng Phật giáo chính thức
được truyền vào là ở thời đại vua Sron Btsan Sgampo (569-650).
Trong thời đại này, nhà vua đã phái khiển Sứ Tiết thân
thiện đi các nước, nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, và đón
tiếp văn hóa của nhà Đường và Bắc Ấn, nên văn hóa của
Phật giáo cũng được truyền vào. Đặc biệt là vương nữ
nước Népal và công chúa Văn Thành nhà Đường được mời
tới Tây Tạng, đều là những người tin theo Phật giáo. Sau,
nhà vua lại đón các vị cao Tăng của nhà Đường và Ấn
Độ tới, để phiên dịch kinh điển Phật giáo sang tiếng
Tây Tạng, Phật giáo Tây Tạng được bắt nguồn tiến triển
từ đấy.
Sau
thời đại vua Sron Btsan Sgampo ước hơn 100 năm, có vua Khri
Lde Btsan (755-781) ra đời. Trong thời đại vua này thì Mật
giáo cũng được truyền vào. Nhà vua rất hâm mộ Phật giáo,
sai sứ thần tới Ấn Độ cầu thỉnh kinh điển, và đón
ngài Sàntaraksita (Tịch Hộ) tới Tây Tạng. Vua lại tự phát
tâm thọ giới Bồ-tát ở ngài Sàntaraksita. Sau, vua nghe lời
khuyên của ngài Sàntaraksita, thỉnh được ngài Padmasambhava
(Liên Hoa Sinh), tới để truyền bá Mật giáo ở Tây Tạng.
Ngài Padmasambhava là bậc đại học giả của phái “Kim Cương
thừa” Mật giáo Ấn Độ. Sau khi tới Tây Tạng, ngài hết
sức truyền bá tư tưởng Mật giáo ở đó. Vua còn kiến thiết
ngôi chùa Bsamyus để làm nơi phiên dịch kinh điển Phật giáo
sang tiếng Tây Tạng. Ngôi chùa này phỏng theo kiểu mẫu của
Vikramasila của Ấn Độ, toàn cảnh ngôi chùa này cấu tạo
thành một đồ hình Đại Mandala và cứ tiếp tục như vậy,
mỗi thời đại mỗi nhiều các bậc cao Tăng từ Ấn Độ
tới, rồi di chuyển toàn thể Phật giáo từ Ấn Độ vào
Tây Tạng.
Tới
thời đại vua Ralpacan (814-836) ra đời, vua là người rất
nhiệt thành với công cuộc chấn hưng Phật giáo. Công việc
vĩ đại nhất của vua là việc ủng hộ sự nghiệp phiên
dịch kinh điển. Nghĩa là tất cả những kinh điển đã dịch
thuộc cựu dịch thì đều được dịch lại và đính chính,
nên lần phiên dịch ở thời đại này gọi làl tân dịch.
Bộ Đại tạng kinh của Tây Tạng hiện nay cũng đều căn
cứ vào sự nghiệp phiên dịch ở thời đại này mà hoàn
thành. Tới thời đại vua Clandarma, vua là người không tin
theo Phật giáo, lại còn tìm nhiều cách phá hoại. Phật giáo
Tây Tạng một thời đã lâm vào mối nguy cơ diệt vong. Sau
vua Clandarma bị ám sát, trong nước bị phân liệt, nên Phật
giáo cũng không thể phục hưng được một cách dễ dàng.
Theo sự khu phân của lịch sử Phật giáo Tây Tạng, thì từ
đời vua Clandarma trở về trước gọi là thời kỳ sơ truyền,
từ thời vua đó trở về sau gọi là thời kỳ hậu truyền.
Từ
thời vua Clandarma trở về sau, Phật giáo Tây Tạng dần dần
được phát triển trên ba phương diện là Giới luật, Hiển
giáo và Mật giáo. Đặc biệt về Mật giáo, sau khi ngài Rin-chèn-brán-po
qua Népal học được Mật giáo đem về nước, và phiên dịch
được nhiều “Nghi quỹ” của Mật giáo, làm cho Mật giáo
được phát triển ở Tây Tạng, nên gọi là thời đại tân
Mật giáo.
Lại
ở thời đại vua Ysses Hod thuộc địa phương Tây bộ Tây
Tạng, vua thỉnh được ngài Atìsa (980-1055) từ Ấn Độ tới.
Ngài Atìsa xuất thân từ một vương tộc ở Trung Ấn, 29 tuổi
đi xuất gia, và đã từng làm chức Thủ tọa tại ngôi chùa
Vikramasilà, Trung Ấn. Ngài là một bậc học tượng nổi tiếng
lúc đương thời. Sau khi tới Tây Tạng, ngài tích cực hoằng
dương Mật giáo. Nhưng vì hệ thống Mật giáo của ngài thuộc
Thời luân giáo của phái “Kim Cương thừa” nên có nhiều
lối tác pháp kỳ quái. Sau 16 năm truyền đạo ở các địa
vực Tây Tạng, rồi ngài mất tại đó. Sau khi ngài mất, người
kế tiếp về giáo lý của ngài gọi là phái Bkàhgdams pa. Về
sau, phái này lại chia thành nhiều phái khác nhau như: Atisa,
Nin Ma Pa, Kadan Pa, Sa Skya Pa và Kargyùt Pa v.v... đều chủ trương
dung hòa cả Hiển giáo và Mật giáo, nhưng màu sắc của Mật
giáo mạnh hơn.
Khi
vua Thế Tổ nhà Nguyên đem quân tiến vào chiếm Tây Tạng,
và bắt được ngài Pags Pa (Phát Tư Ba) thuộc phái Sa Skya Pa
đem về Mông Cổ. Và Lạt Ma giáo được truyền vào Mông Cổ
bắt đầu từ đó.
Ngài
Pags Pa được vua Thế Tổ rất mến phục, sau lại đưa ngài
về Tây Tạng ủy thác cho chủ quyền cai trị. Vì thế nên
vương triều Sa Skya Pa được thành lập. Vương triều này
nắm giữ cả hai quyền hành là chính trị và tôn giáo. Trong
vương triều này lại có ngài Mi La Ras Pa (1038-1120) xuất hiện.
Ngài là một vị đạt tới chỗ bí mật của Mật giáo, trở
thành một nhà thần bí, đồng thời ngài còn là một thi nhân,
thơ của ngài hãy còn được nhiều người đọc ở hiện
nay.
II.
SỰ BIẾN THIÊN CỦA MẬT GIÁO TÂY TẠNG
Các
phái kế thừa giáo nghĩa của ngài Atìsa, sau dần dần loại
bỏ giáo lý Hiển giáo, chỉ chú trọng ở giáo lý Mật giáo,
đi vào lối tác pháp cực đoan của “Kim Cương thừa” nên
Mật giáo dần dần bị trụy lạc. Tức là Mật giáo đi vào
con đường dị đoan của tà đạo.
Trong
thời kỳ đó, may có ngài Tson Kha Pa (Tôn Khách Ba, 1357-1419)
ra đời. Ngài xuất thân ở tỉnh Cam Túc, lúc đầu học về
Hiển giáo, sau tu theo Mật giáo và rất nghiêm trì giới luật.
Để cứu vãn lại tình thế của Mật giáo, nên ngài đưa
hết năng lực vào sự nghiệp vận động cải cách Phật giáo,
đưa Phật giáo lại một hệ thống tổ chức mới. Sau, sự
cải cách của ngài đã thành công. Hệ thống phái cải cách
này gọi là “Hoàng mạo phái” (phái Mũ vàng), phái này tuy
cũng là Mật giáo nhưng lấy giới luật làm trọng. Còn các
phái cũ gọi là “Hồng mạo phái” (phái Mũ hồng). Về trước
tác của Tson Kha Pa gồm có bộ “Bồ Đề Đạo Thứ Đệ
Luận”, là trước tác đại biểu cho Hiển giáo; bộ “Chơn
Ngôn Thứ Đệ Luận” là trước tác đại biểu cho Mật giáo,
và các tác phẩm khác ước 300 bộ. Ngài còn sáng lập ra chùa
Dgah Idan ở phía Đông thành phố Lhasa để làm nơi đạo tràng
căn bản cho “Hoàng mạo phái”, và lấy ngày 15 tháng Giêng
làm ngày lễ Đản sinh Đức Phật, theo lịch Tây Tạng. Sau
khi cải cách thành công, thanh danh của ngài lừng lẫy khắp
nơi. Vua Thái Tổ nhà Minh mấy lần phái sứ giả tới thỉnh
ngài, nhưng ngài đều từ chối, mà chỉ phái khiển đệ tử
tới triều kiến. Vua Thái Tổ và vua Nhân Tôn đời Minh đều
là những ông vua tin theo Lạt Ma giáo, nên đã khắc được
bộ “Tây Tạng Đại tạng kinh, kinh luật bộ”. Bộ Đại
tạng này gọi là “Vĩnh Lạc bản Đại tạng kinh”.
Đời
Dalai Blama thứ ba là ngài Bsodnams Rgya Mtsho (1543-1588), ngài có
công truyền bá Lạt Ma giáo ở địa phương Nội Mông Cổ.
Sau
khi Tson Kha Pa (Tôn Khách Ba) mất, các đệ tử kế thừa sự
nghiệp của ngài có rất nhiều. Theo “Thánh Võ ký đệ ngũ
Quốc triều Tây Tạng ký” chép: “Tson Kha Pa, trước khi tịch,
ngài đem giáo pháp di chúc cho hai đệ tử Thượng thủ là
Dalai Blama (Đạt Lai Lạt Ma) và Panchen Blama (Ban Thiền Lạt
Ma). Ngài Dalai Blama là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ tát; Panchen
Blama là hóa thân của A Di Đà Như Lai, hai vị này cứ đời
đời chuyển sinh”. Nhưng thuyết này chép không được tường
tận.
Tức
là sau khi Tson Kha Pa, khai tổ của Hoàng mạo phái tịch, thì
có hai đệ tử Thượng túc của ngài là Dharma Run Chen và Dge
Hdun Grub. Ngài Dharma Run Chen được kế thừa pháp đăng của
Hoàng mạo phái. Còn Dge Hdun Grub, năm 1439 được lên nối ngôi
vua, nắm quyền cai trị quốc dân, đồng thời ngài còn dựng
chùa Bkra sis Ihun po để khoáng trương giáo quyền, và chính
ngài là Sơ tổ của Đạt Lai Lạt Ma. Mãi đến đầu thế
kỷ thứ XVII, có Blo-zanchos-gyi-rgyal-mtshan dựng ra một ngôi
chùa làm nơi căn cứ tu trì, rồi tự xưng tên hiệu là Panchen
Blama, tức là đệ nhất thế của Ban Thiền Lạt Ma. Tiếp
đến, Blo-bzanye-sés-dpal-bzan-po (mất năm 1737) là đệ nhị
thế; Dpal-ldanye-sés (mất năm 1779), đệ tam thế; Blo-bzan-bstan-pahini-ma
(mất năm 1852), đệ tứ thế; Chos-kyi-grags-pa-bstan-pa-idan-phyug
(mất năm 1882), đệ ngũ thế; Blo-bza-thub-bstan-chos-kyi-ni-ma
(mất năm 1935), đệ lục thế; ngài Ban Thiền Lạt Ma hiện
đang ở Tây Tạng là đệ thất thế.
Ngài
Panchen Blama cũng như Dalai Blama là hai vị Phật sống, đều
được quốc dân cung kính; nhưng Dalai Blama vì ngài nắm cả
chức vị Quốc vương và Pháp vương nên nhiều quyền hành
hơn.
Sau
khi ngài Dge-hdun-grub, thủy tổ của Dalai Blama tịch, những
vị thừa kế sau cũng đều là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ
tát hóa sinh, và đều là hóa thân của Dalai Blama thứ nhất.
Đời Dalai Blama thứ ba tên là Bsodnamsrgya mtsho (1543-1588), ngài
có công truyền bá Lạt Ma giáo ở địa phương Nội Mông Cổ.
Các
đời truyền thống hóa thân của vị Dalai Blama cho tới hiện
nay là đời thứ XIV.
Đời
Dalai Blama thứ V là ngài Blo-kzan-rgyạ-mtsho (1617-1680), ngài
có công thống nhất lãnh thổ Tây Tạng. Vì ngài được sự
giúp sức của Cố Thủy Hãn, một tù trưởng của Mông Cổ,
nên diệt được giáo đồ của “Hồng mạo phái” ở Tây
bộ Tây Tạng. Trong tay ngài nắm tất cả quyền hành chính
trị và tôn giáo, nên ngài vừa là ngôi Pháp vương của tôn
giáo. Sau, ngài được Thanh triều mời tới Bắc Kinh và tôn
ngài là bậc Quốc sư trong nước.
Đời
Dalai Blama thứ VI, vì sự áp bức của Thanh triều nên ngài
lại phải trốn sang Mông Cổ. Đời Dalai Blama thứ VII, ngài
là bậc kiêm cả học vấn và đạo đức, lại thông hiểu
đường lối chính trị, nên thế lực tôn giáo cũng như là
quốc gia trở nên khá mạnh. Từ đời thứ VIII cho đến đời
thứ XII thì không có việc quan trọng đáng kể xảy ra. Đặc
biệt, đời Dalai Blama thứ XIII là Thub Idan rgya mtsho (1875-1933),
vì ngài liên kết với Russia nên bị quân Anh xâm nhập, phải
chạy sang tỵ nạn tại Mông Cổ, và sau lại trở về Lhasa,
nhưng lại bị quân Tứ Xuyên tràn vào, nên lại phải chạy
trốn sang Ấn Độ, cách mấy năm sau ngài lại trở về bản
quốc. Sau khi trở về nước, ngài nhiệt tâm hưng long Phật
giáo, và khuyến khích về sự nghiên cứu giáo học của Phật
giáo. Ngài có công rất lớn về sự nghiệp in bộ “Tây Tạng
Đại tạng kinh” và nhiều kinh khác.
Hiện
nay là đương thời Dalai Blama thứ XIV, tên là Chamo-Tondrup,
sinh ngày 6-6-1935 tại Amdo, thuộc tỉnh Thanh Hải (Tsinghai).
Chữ
Blama có ý nghĩa là “Thượng nhân”, nhưng ý nghĩa phổ thông
là “Sư trưởng” hay “Thiện tri thức”. Lạt Ma giáo là
của riêng Tây Tạng.
Tây
Tạng chiếm một diện tích rất rộng, gồm có 1.520.000km2,
nhưng phần nhiều là rừng núi. Dân số có chừng 3.790.000
người, phần đông là tín đồ Phật giáo. Tổng Bản Sơn
của Lạt Ma giáo là chùa Labrang ở giữa thành Lhasa. Chung quanh
chùa này còn có 30 đại Già lam và rất nhiều chùa nhỏ ở
trung tâm đô thị, gồm có hơn 10 vạn vị Tăng Lạt Ma. Người
Tây Tạng gọi Lhasa, chữ này có nghĩa là Liên hoa (hoa sen),
vì kinh đô này được coi như là cái nhụy hoa ở giữa các
dãy núi cao Côn Lôn và Hy Mã Lạp Sơn, coi tựa hoa sen nên gọi
là Lhasa.
III.
KINH ĐIỂN CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Đại
tạng kinh của Tây Tạng vì được dịch từ nguyên điển
chữ Phạn sang tiếng Tây Tạng, dịch theo lối “trục tự”
(dịch theo từng chữ một), nên rất sát nghĩa với kinh điển
chữ Phạn. Lúc ban đầu thì chép bằng bút, mãi đến hồi
thế kỷ thứ XIII mới khắc bản in, rồi dần dần in hết
toàn bộ. Đại tạng kinh của Tây Tạng có nhiều bản khác
nhau, nhưng bản được lấy làm “Quyết định bản” là
bản in ở đời Dalai Blama thứ XIII.
Nội
dung bộ “Đại tạng kinh” của Tây Tạng gồm có Kinh, Luật,
Luận và các trước tác của các nhà học giả Phật giáo
Tây Tạng. Bộ Đại tạng này chia thành hai bộ phận là Kanjur
(Cam thù) và Tanjur (Đan thù). Kanjur gồm có những bộ luật
và kinh. Tanjur gồm có những phần chú sớ kinh luận và các
tạp thư (xem mục Tây Tạng Phật điển ở trang thứ
133).
IV.
GIÁO LÝ CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Giáo
nghĩa của Lạt Ma giáo, thành phần gồm có giáo nghĩa của
Mật giáo Ấn Độ lấy làm chủ yếu, và thêm vào sự tín
ngưỡng tập tục cổ truyền của dân tộc, tức là tôn giáo
“Bon”, một tôn giáo sùng bái thần linh, quỷ thần, đặc
biệt tin sự bói toán. Cổ lai dân tộc Tây Tạng rất tín
ngưỡng tư tưởng hóa thân, họ tin các vị Dalai Blama đời
đời đều là những vị hóa thân của Phật mà ra.
Lúc
đầu, ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sinh) đem Mật giáo từ Ấn
Độ truyền vào Tây Tạng, hệ thống Mật giáo này thuộc
phái “Kim Cương thừa Thời Luân Tôn” của Mật giáo Ấn
Độ. Phái này vì kết hợp với phái Sakta (Tính lực phái)
của Ấn Độ giáo, nên pha trộn nhiều tà nghĩa. Hệ thống
Mật giáo ở Tây Tạng thuộc phái “Kim Cương thừa Thời
Luân Tôn” này gọi là “Cựu giáo”, tức là “Hồng mạo
phái”. Nhưng sau ngài Tson Kha Pa đứng ra cải cách lại lập
thành “Tân giáo”, tức là “Hoàng mạo phái”. Phái này
vì dung hòa cả giáo lý của Hiển giáo và Mật giáo, nên lại
gọi là “Hiển Mật tương quan giáo”.
Hiển
giáo, phổ thông gọi là Đại thừa Phật giáo, và còn gọi
là “Ba la mật thừa”. Hiển giáo chia ra làm ba bậc là “Tiểu
trượng phụ đạo”, “Trung trượng phụ đạo” và “Đại
trượng phụ đạo”. Tiểu trượng phụ đạo thì nương vào
lý nhân quả mà tu hành để cầu lấy quả lành ở vị lai,
tương đương với Tiểu thừa Phật giáo. Trung trượng phụ
đạo thì quán tưởng lý Tứ đế, để mong đạt tới đích
Niết-bàn, tương đương với Tiểu thừa Chung giáo. Đại trượng
phụ đạo thì phải phát tâm đại Bồ-đề để tế độ
chúng sanh và tu theo hạnh Lục độ để cầu đạo đại Bồ-đề,
tương đương với Đại thừa Bồ-tát. Ba la mật thừa thì
chú trọng vào phép tu Bát nhã ba-la-mật. Muốn hoàn thành phép
tu này cần phải tu môn chỉ quán. Tới khi phép tu chỉ quán
đã thành tựu, tức là chứng được đạo đại Bồ-đề.
Mật
giáo của Tây Tạng thuộc hệ thống “Kim Cương thừa Thời
Luân Tôn”, hay gọi là phái Tantra. Tantra có chia ra nhiều phép
tắc về cách tu trì để đạt tới cảnh giới “Đại lạc”.
Muốn đạt tới cảnh giới này cần phải tu theo năm giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất là “Tam ma da giới”, nghĩa là tự mình
phát tâm Bồ-đề để ngự chế ba nghiệp thân, khẩu, ý.
Thứ hai là “Quán đỉnh”, nghĩa là Sư trưởng lấy nước
pháp cam lộ dội lên đầu đệ tử để trao truyền cho tư
cách là một hành giả của bí mật giới. Hai giai đoạn này
là lối dự bị cho phép tu, nên gọi là “Nhân tướng”.
Giai đoạn thứ ba là “Tu pháp”, nghĩa là phải tu các pháp
như: Gia trì, tụng niệm, tu thiện v.v...; kiến lập Mandala
để khuyến thỉnh chư Phật Bồ-tát, và phải quán tưởng
Mandala với tự mình đều bình đẳng không hai tướng. Giai
đoạn thứ tư là “Quán pháp”, nghĩa là người hành giả
phải luôn luôn trụ ở phép quán Du-già (Thiền định) để
tu luyện. Hai giai đoạn này thuộc bản chất của lối tu nên
gọi là “Tính tướng”. Giai đoạn thứ năm là “Đắc quả”,
tức là sự tu hành đã tới chỗ cứu cánh viên mãn, hiện
thân được thành Phật nên gọi là “Quả tướng”.
HẾT