Phần
thứ hai
BUỔI
BÌNH MINH CỦA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRÁI
ĐẤT KHÔNG PHẢI LÀ TRUNG TÂM VŨ TRỤ
SỰ
RA ĐỜI CỦA KHOA HỌC THỰC NGHIỆM
THƯỢNG
ĐẾ LÀ NHÀ TOÁN HỌC?
NỀN
VẬT LÝ CƠ GIỚI
NHỮNG
ĐIỀU KHÓ HIỂU
THẾ
GIỚI VÀ TÔI
TRÁI
ĐẤT KHÔNG PHẢI LÀTRUNG TÂM VŨ TRỤ
Chúng
ta đã biết trái đất không hềt là trung tâm của vũ trụ.
Điều này ai cũng đã nghe, đã biết, nhưng liệu ta có dễ
dàng cảm nhận được sự thực này?
Thật
khó tưởng tượng mình không phải là trung tâm của thế giới.
Khi con người ngước nhìn bầu trời, ta chỉ thấy mặt trời,
mặt trăng và các vì sao quay quanh mình. Khi con người mở mắt
nhìn xã hội, tất cả đều hiện ra như chính mình là trung
tâm điểm. Người ta thấy cái tôi, những cái của tôi và
những cái không phải là tôi. Trong vũ trụ cũng thế, trong
tâm lý xã hội cũng thế, con người luôn luôn lấy vị trí
của mình làm trung tâm để nhìn môi trường xung quanh. Thái
độ đó đã ăn sâu vào trong đầu óc con người.
Thế
nhưng, nếu trong xã hội, ta sớm biết mình không phải trung
tâm vì còn có sự hiện diện của những người khác, thì
trong vũ trụ, con người ngày xưa không thể có cơ hội để
nhận thức, để biết rằng mình chỉ là một đơn vị nhỏ
trong không gian bao la. Những đầu óc xuất chúng của thời
cổ đại cũng không thể thoát ra ngoài quy luật đó.
Trong
thời kỳ đầu công nguyên, nhà thiên văn Ptolemy, với số
lượng thông tin hạn chế về sự vận động thiên thể, nhưng
tài năng toán học của ông đã tìm ra được quy luật vận
hành của các hành tinh mà hệ quả gây ấn tượng nhất là
tiên đoán được thời điểm của nhật thực, nguyệt thưc.
Trước sự chính xác đáng kinh ngạc đó của các phép tính
toán trong ngành thiên văn, người thời đó không có lý do
gì để nêu lên một giả thuyết khác ngoài niềm tin trái
đất quả thật là trung tâm bất động của vũ trụ.
Vấn
đề này còn trầm trọng hơn ở chỗ, Giáo hội Thiên chúa
giáo, trong hệ thống thần học của mình, đã xây dựng một
lý thuyết hoàn chỉnh về thần học và tôn giáo, về khoa
học và triết học, về niềm tin và nhận thức, trên cơ sở
đó cho rằng, trái đất là trung tâm bất động của vũ trụ.
Và như thế ta đã biết kể từ thế kỷ thứ 12 trở đi,
Giáo hội thiên chúa giáo có một định chế hết sức há
khắc đối với những ai có chủ trương và thái độ “lệch
lạc”. Để thực thi định chế này, Giáo hội đã thành
lập Tòa án dị giáo mà hoạt động của nó đã bóp chết
nhiều tư duy sáng tạo trong thời Trung cổ và Phục hưng.
Thế
nhưng, thời đại nào cũng có những con người dũng cảm.
Cuối thế kỷ thứ 13, không bao lâu sau khi Thomas Aquina mất,
có một triết gia người Đức tên gọi là Ockham ra đời.
Là một nhà thông thái cũa dòng tu Faciscan, nhưng ông cho rằng
cần tách rời thần học khỏi triết học, tôn giáo khỏi
khoa học, không ai có thể chứng minh Thượng đế là có thật.
Quan điểm của ông dĩ nhiên là bị Giáo hội lên án, ông
bị triệu hồi đi Avignon để giải trình về tư tưởng sai
lạc của mình. Về sau ông bị trục xuất khỏi giáo hội,
bị xem là “kẻ thù” của Giáo hội và phải trốn đi Munich
để khỏi bị giam cầm và mất mạng trong tù. Tại Munich thuộc
về nước Đức, ông trở thành nhà văn chuyên viết những
đề tài về chính trị và trở thành phần tử đối cực
của tòa thánh trong nhiều vấn đề. Ông triệt để chống
lại Giáo hoàng và cho rằng một cộng đồng Thiên chúa giáo
có thể tồn tại “mà không cần sự lãnh đạo của Tòa
thánh”. Ông phê bình sự xa hoa của giáo hội và cuối cùng
dám khẳng định Giáo hoàng mới là kẻ “lệch lạc”.
Mặc
dù khá cực đoan, nhưng quan niệm phải tách rời giữa thần
học và triết học của Ockham dần dần được thừa nhận.
Chủ trương đó của nhóm kinh vận trong Giáo hội là cố duy
trì một sự thống nhất giữa tôn giáo và khoa học, giữa
cái biết và cái tin. Chủ trương đó bị xem như thất bại.
Tri thức con người dần dần có một con đường phân cách
rạch ròi, một bên là khoa học và triết học, bên kia là
tôn giáo và thần học. Trong thế kỷ 14, 15 nhiều học trò
của Ockham nắm giữ các vị trí quan trọng trong các viện
đại học châu Âu. Quan điểm của ông về khoa học đã mở
đường cho nhiều phát minh táo bạo, mà tiêu biểt nhất là
của nhà thiên văn Copernicus.
Copernicus
đi vào lịch sử như người đầu tiên khẳng định là trái
đất quay xung quanh mặt trời. Khẳng định mà ngày nay người
ta cho là bình thường và hiển nhiên này được nhà thơ lớn
và nhà khoa học Đức Goethe cho là “không phát hiện nào có
tác động mạnh hơn lên tâm thức con người bằng lý thuyết
của Copernicus”. Goethe không hề nói quá vì phát hiện của
Copernicus đã mở đường cho ngành thiên văn hiện đại, ngành
đầu tiên của bộ môn khoa học tự nhiên. Hơn thế nữa,
phát minh của Copernicus đã làm đảo lộn quan niệm về thần
học đang ngự trị trong giới triết học và khoa học tại
châu Âu thời bấy giờ.
Copernicus
mồ côi cha từ năm lên mười, được một người chú nuôi
nấng. Lớn lên ông theo ngành toán, thiên văn, triết và ngôn
ngữ La tinh. Khoảng năm 1511, ông rút về sống cô độc trong
một tòa tháp và chỉ chú tâm vào thiên văn học. Thời đó
hệ thống thiên văn của Ptolemy ngự trị toàn bộ khoa học,
với quan niệm trái đất bất động là trung tâm vũ trụ.
Nay Copernicus, với một số quan sát mới, nhất là với một
tư duy mới, cho rằng trái đất vận hành không đều của
các thiên thể, hệ thống Ptolemy vốn đã phải cần đến
40 “hình cầu phụ” để điều chỉnh chúng trong một lý
thuyết. Với một lý thuyết mới mà trong đó bản thân trái
đất cũng vận hành, ngoài con số 40 đó, Copernicus còn cần
thêm 8 hình cầu phụ nữa để tính toán sự vận hành của
các thiên thể.
Công
trình của Copernicus hình thành khoảng năm 1514, thế nhưng ông
không dám công bố. Ông thừa biết công trình này sẽ bị
Giáo hội Thiên chúa giáo lên án gắt gao. Còn các nhà khoa
học khác chắc cũng sẽ phản đối và chê cười ông, họ
đã quá tin vào mô hình của Ptolemy, một mô hình thành công
và đã tồn tại trên 15 thế kỷ.
Có
lẽ công trình của Copernicus sẽ không đọc ai biết đến
nếu không có một nhà toán học trẻ tuổi tên là Rhetikus.
Rhetikus viết một bài khảo cứu giới thiệu mô hình thái
dương hệ của Copernicus và thúc giục ông hày công bố công
trình của mình. Năm 1542, Copernicus ốm nặng, phải nằm trên
giường bệnh. Ngày 24 thnág 5 năm 1543 Rhetikus mang lại cho ông
bản in đầu tiên của tác phẩm De revoluyionibus, trong đó Copernicus
trình bày toàn bộ công trình cách mãng của mình về
thiên văn học. Vài giờ sau Copernicus từ trần, trên tay còn
cầm tập sách mới ra đời.
Hệ
thống của Copernicus được tiếp đón với nhiều thái độ
khác nhau. Bản in đầu tiên với 1000 cuốn bán không chạy
và mãi hơn 300 năm sau cũng chỉ tái bản lần thứ tư. Năm
1611 De revolutinonibus bị ghi vào sổ đen của Tòa thánh, cấm
không cho lưu hành. Đó là thời mà tư tưởng Phục hưng cởi
mở sau một thời gian được chấp nhận lại bị chủ trương
của tôn giáo và thần học lấn át.
Chắc
Copernicus không ngờ là mô hình của mình đã mở ra một kỷ
nguyên mới cho loài người. Thế nhưng ông đã đoán đúng
một điều, tư tưởng của mình sẽ bị Giáo hội lên án.
Vì trái đất, từ chỗ là trung tâm bất động của vũ trụ
đã trở thành một hành tinh tí hon quay quanh mặt trời.
Trong một không gian vô tận, trái đất chỉ còn là một hiện
tượng bé nhỏ nằm bê lề của vũ trụ. Với Copernicus, buổi
bình minh của khoa học tự nhiên bắt đầu ló dạng, trong
đó tôn giáo và khoa học trở thành hai cực không thể dung
hòa mà sự đấu tranh của nó còn tồn tại đến ngày nay.
Con người chỉ là hạt bụi trong không gian vô tận, vì thế
không thể được xem là đỉnh cao của sự sáng tạo của
Thượng đế được nữa. Thế nhưng, nếu chỉ là một hạt
bụi vô nghĩa, con người có vai trò gì trong vũ trụ? Vấn
đề đặt ra về tầm quan trọng của ý thức con người trở
nên sắc nét hơn bao giờ hết và ngày nay trở thành quan trọng,
cả trong thực tại vật chất.
SỰ
RA ĐỜI CỦA KHOA HỌC THỰC NGHIỆM
Như
ta biết, công trình của Copernicus không hề được chấp nhận
ngay. Thần học và cả khoa học sẵn sàng lên án mô hình của
ông, dù cả hai có những lý do khác nhau, sau khi ông mất vài
năm một nhà thiên văn xuất sắc người Đan Mạch tên là
Tycho Brahe ra đời. Ông đã khám phá nhiều vì sao, đặc biệt
nhất là phát hiện được một chùm sao xuất hiện năm 1572.
Ông đến với kết luận là cả hai thiên thể hay tinh hà cũng
chịu qui luật sinh thành và hoại diệt như mọi hiện tượng
khác.
Là
một nhà thiên văn học xuất chúng, Tycho Brahe cũng vẫn chưa
chấp nhận nổi thuyết trái đất quay xung quanh mặt trời
của Copernicus. Tycho Brahe không thể từ bỏ được nền vật
lý của Aristotle và mô hình Ptolemy vì mô hình đó đã ăn sâu
vào suy nghĩ của nhà khoa học thời bấy giờ, vì tên tuổi
Aristotle quá vang dội và vì Giáo hội Thiên chúa giáo quá mạnh.
Thế nhưng Tycho Brahe cũng thấy những mặt tiến bộ của Copernicus
nên cuối cùng ông đưa ra một mô hình mới, đó là trái đất
là trung tâm bất động của vũ trụ, mặt trời và mặt trăng
quay quanh quả đất và các thiên thể khác như kim tinh, thổ
tinh... lại quay quanh mặt trời.
Tycho
Brahe đã để lại tên tuổi mình trong lịch sử thiên văn
bằng kỳ tích quan sát được sự hình thành của chùm sao
vào năm 1572, nhưng mô hình “thỏa hiệp” vô nghĩa của ông
sớm đi vào quên lãng. Qua trường hợp của Copernicus, ta đã
biết rõ hơn, một mô hình mới trong khoa học bao giờ cũng
gặp rất nhiều sự đề kháng mạnh mẽ của xã hội và tâm
lý. Điều này sẽ lặp lại về sau và có lẽ sẽ mãi mãi
đến mai sau.
Người
nhất định bênh vực thuyết của Copernicus đến cùng là nhà
bác học người Ý Galileo. Galileo cũng bị lên án và truy lùng
vì hồi đó giáo hội thiên chúa giáo luôn định đoạt cái
gì là đúng, là sai cả trong lĩnh cực khoa học. Giáo hội
buộc ông phải từ bỏ mô hình của Copernicus. Trước tòa
án dị giáo, để khỏi bị bắt tội, Galileo phải miễn cưỡng
thừa nhận rằng trái đất là bất động nhưng miệng ông
vẫn lẩm bẩm: “Thế nhưng nó (trái đất) vẫn cứ vận
động”.
Cuối
cùng ông bị giáo hoàng UrbanVII ra lệnh giam cầm nhưng miễn
tra tấn. Galileo, nhà khoa học danh tiếng nhất của thời Phục
hưng, người khai sinh nền khoa học thực nghiệm hiện đại,
bị giam lỏng đến ngày mất trong năm 1642. Tháng 10 năm 1992,
đúng 350 năm sau, gần 25 năm sau khi con người đặt chân lên
mặt trăng, Tòa thánh Vatican mới phục hồi danh dự cho ông,
cho rằng ông “có lý”.
Khác
với tất cả những bậc tiền bối về khoa học của mình,
Galileo có một khuynh hướng đặc biệt, đó là tính thực
tiễn và sự ưa thích những ứng dụng kỹ thuật của kiến
thức khoa học. Nếu tất cả những nhà khoa học từ xưa đến
nay đều là tư tưởng gia, hay ít nhất là những người dùng
thông tin của thực tiễn để chứng minh cho tư tưởng của
mình thì Galileo xem hực nghiệm là người phán xét cuối cùng
về tư duy của con người; và hơn thế nữa thực tiễn phải
là nơi con người áp dụng thành tựu của tư duy. Thời đó
công nghệ hay kỹ thuật còn hết sức sơ khai, chưa ai biết
đến vai trò của kỹ thuật trong việc nâng cao đời sống
con người.
Thuộc
một dòng dõi quí tộc nhưng bị khánh kiệt tại Ý, mới 17
tuổi Galileo ghi danh học đại học và làm quen vói ngành vật
lý. Mới đầu ông theo học ngành vật lý của Aristotle mà
về sau ông sẽ từ bỏ. Thời đó, ông vẫn còn phảihọc
về hệ thống thiên văn cảu Ptolemy với trái đất bất
động nằm tại trung tâm cảu vũ trụ vì quan đểm của Copernicus
không được thừa nhận. Ông được nghe bốn yếu tố đất
nước gió lửa có tính chất khác nhau và vì thế vật thể
cho các yếu tố đó tại thành cũng rơi xuống đất với vận
tốc nhanh chậm khác nhau, vật càng nặng rơi càng nhanh. Ông
say mê tiếp thu hình học Euclid, một môn mà chủ trương kinh
viện thời Trung cổ không coi trọng bao nhiêu, thậm chí bị
các nhà thần học chê cười là vô giá trị.
Tất
cả những điều đó chỉ gây hoài nghi trong tâm hồn của
chàng trai Galileo. Năm 21 tuổi, ông bỏ ngang đại học, tự
mình tìm tòi và viết nên hai công trình khoa học đầu tay:
thứ nhất, dựa trên nguyên lý archimedes, ông tìm ra phép đo
tỉ trọng của chất lỏng; và thứ hai phép tính trọng tâm
của vật thể chất rắn. Đó là những công trình tiêu
biểu cho tư duy của Galileo, chúng vừa có tính kỹ thuật áp
dụng, vừa đa dạng. Hai công trình này mở màn cho một cuộc
đời khoa học xuất chúng. Sau đó, ông trở thành giáo sư
toán học tại Pisa, Ý; nhờ đó mà người con trai của một
gia đình khánh kiệt giảm nhẹ được gánh nặng tài chánh
triền miên.
Không
kể hết công trình của Galileo về vật lý, thiên văn và cơ
khí chính xác. Những thành tựu của ông thật ra ngày nay đã
trở thành kiến thức của học sinh trung học, chúng trở nên
bình thường. Thế nhưng Galileo là người khai sinh nền khoa
học hiện đại, bởi lẽ ông là người mở đường cho một
phương pháp tư duy hoàn toàn mới mẻ, đó là phép lý luận
“từ dưới đi lên”.
Thế
nào là “từ dưới đi lên”? Nền vật lý trước Galileo
là khoa học của Aristotle, nó xuất páht từ nhữgn giả định
siêu hình, từ những định đề do đầu óc con gười nghĩ
ra. Những giả định đó xuất phát tử một “nguyên lý thiêng
liêng” mà người ta cho là của thượng đế thiết lập nên.
Xuất phát từ những giả định đó, con người phân tích,
lý giải và tiên đoán các hiện tượng trong thế giới tự
nhiên. Những lý giải đó, kể cả toán học, có mục đích
xếp đặt hiện tượng sao cho chúng có thứ tự hợp lý, có
thể nắm bắt được đầu óc con người.
Ngày
nay, nghe quan điểm này, hẳn ta rất lạ lùng tại sao người
xưa lại có thể “mù quáng” như thế. Và hẳn ta cũng còn
ngạc nhiên hơn vì thực sự là, một nền khoa học có một
nguồn đốc siêu hình và mơ hồ như thế lại vẫn có thể
lý giải và tiên đoán nhiều hiện tượng cực kỳ phức tạp
như nhật thực, nguyệt thực. Nơi đây ta đã thấy trước
một luận đề quan trọng của nền vật lý hiện đại, đó
là nhiều mô hình về thực tại – kể cả mô hình “sai”-
vẫn lý giải đúng đắn một hiện tượng trong thiên nhiên.
Điều đó có nghĩa: một mô hình giải thích thỏa đáng một
hiện tượng chưa có nghĩa là thiên nhiên vận hành đúng như
mô hình đó mô tả.
Nhưng
hãy trở về với Galileo! Ông đã nêu lên một cách lý luận
hoàn toàn mối trong khoa học. Phương thức của ông là trước
hết cũng đưa ra giả định tạm hời có tính cấht giả thiết
và sau đó dùng kết quả trong thực nghiệm để khẳng định
hay bác bỏ giả thiết đó. Giả định tạm thời đó thường
được phát biểu bằng toán học, nó được gọi là những
mô hình toán học. Vì lẽ đó, toán học không còn đóng một
vai trò lý giải sự kiện một cách thụ động như trước
nữa, mà bây giờ nó là giả thiết, là mô hình, là sự phát
biểu của chính hiện tượng. Galileo nói: “Người ta chỉ
hiểu được tác phẩm của thiên nhiên khi hiểu được ngôn
ngữ và những chữ cái mà nhờ chúng, ngôn ngữ này được
viết ra. Tác phẩm này được viết bằng ngôn ngữ của toán
học và các chữ cái chính là hình tam giác, hình tròn và những
hình dạng hình học khác và nếu không có những phương tiện
này thì con người chúng ta không thể hiểu được, dù chỉ
một chữ”.
Công
trình tiêu biểu nhất của Galileo có thể minh họa quan niệm
này là định luật rơi tự do. Từ trước, Galileo đã không
tin quan niệm của Aristotle cho rằng, vật thể có khối lượng
nặng nhẹ khác nhau thì rơi nhanh chậm khác nhau. Ông thấy
cần phải tìm ra một qui luật mô tả sự rơi tự do của
vật thể. Cuối cùng ông nêu lên những mối tương quan chính
xác: vận tốc rơi không phụ thuộc và khối lượng của vật;
vận tốc rơi tỉ lệ thuận với thời gian rơi, tức là thời
gian rơi gấp đôi thì vận tốc rơi tăng lên gấp đôi; khoảng
cách rơi tỉ lệ thuận với bình phương thời gian rơi, tức
là thời gian rơi gấp đôi thì khoảng cách rơi tăng lên gấp
bốn. Trương truyền rằng, ông đã chứng minh qui luật về
sự rơi tự do ngay tại thành phố Pisa, bằng cách cho thả
vật thể rơi từ một cái tháp cao khoảng 60m. Tháp này được
gọi là “tháp nghiêng Pisa” vì nó lệch nghiêng qua một
bên, ngày nay nó trở thành một điểm tham quan du lịch không
thể thiếu được cho những ai đến Pisa.
Galileo
còn phát hiện nhiều qui luật khác nữa như sự chuyển động
theo hình parapol của vật thể được bắn đi với một vận
tốc ban đầu, chứng minh và khai triển thêm mô hình thiên
thể của Copernicus, sự đồng nhất giữa vận động và tĩnh
tại trong hệ thống quán tính, của sự vận hành cũa thủy
triều, phát minh và hoàn thiện các viễn vọng kính, lý giải
các hiện tượng bất thường của mặt trời... Các công trình
của ông mở đường cho Kepler, Newton về sự chuyển động
của vật chất trong trường trọng lực và cả cho Einstein
400 năm sau về thuyết tương đối tổng quát.
Thành
tựu ưu việt của Galileo là đã đưa mọi qui luật của khoa
học tự nhiên vào khuôn khổ của sự thực nghiệm, của sự
chứng thực bằng kinh nghiệm, những kinh nghiệm đó phải
có thể lặp lại và kiểm chứng chung. Quan niệm của ông
bị lên án là “vô thần” và dĩ nhiên không thể phù hợp
với toà thánh La Mã. Ông chỉ mới bác bỏ nền vật lý của
Aristotle thì đã bị mất chức giáo sư toán học và về sau
bị giam lỏng như ta đã biết.
Galileo
là một trong những người con xuất chúng của dân tộc Ý.
Nền khoa học của ông khai sinh vẫn tồn tại đến ngày hôm
nay và phát triển hơn bao giờ cả. Thế nhưng, như ta sẽ thấy,
đến phiên mình, nền vật lý của Galileo cũng sẽ bị vượt
qua như nền tảng của Aristotle trong thời đại đó đã bị
Galileo bác bỏ.
Với
Galileo, trong lịch sử cũng đã nảy sinh những câu hỏi lớn
của loài người. Chúng là những vấn đề triết học sâu
sắc. Đó là: “thực nghiệm” là gì, liệu những gì mà
tất cả mọi người đều thấy nghe, những gì “lặp lại
và kiểm chứng được” có thật là khách quan tự nó hay
không, hay vẫn là một quá trình có sự tham gia của đầu
óc con người? Đó là, tại sao thiên nhiên, vốn được xem
là thực tại độc lập với đầu có lại tuân thủ một
cách chính xác qui luật toán học, loại qui luật do con người
nghĩ ra? Thiên nhiên và ý thức được “nối” với nhau bằng
chiếc cầu nào?
THƯỢNG
ĐẾ LÀ NHÀ TOÁN HỌC?
Ta
cần biết, “thực nghiệm” của Galileo không hề giản đơn.
Thực tế là vật thể rơi trong không gian nhanh chậm khác
nhau. Chúng bị sứ cản không khí tác động nên vận tốc
rơi của chúng không hề như nhau. Hãy thả từ trên cao một
tờ giấy và một viên sỏi, chúng rơi xuống đất cái trước
cái sau. Thế nhưng Galileo vẫn kết luận là chúng rơi nhanh
như nhau. Galileo vốn dĩ làm một việc rất khác thường là
ông đi giả định mọi vật rơi trong “chân không” mà chân
không thời bấy giờ chưa hề có một thiết bị nào tạo
nên được cả.
Điều
đó có nghĩa “thực nghiệm” của Galileo là một thứ giả
định, một dạng của sự lý tưởng hóa, một sự trừu tượng
hóa không có thực trong thực tế. Sự trừu tượng hóa này
hiển nhiên là nó rất gần đúng với thực tế cho nên nó
tạm thời đại diện được cho thực tại. Tuy thế, vấn
đề này lại là một câu chuyện triết học dài hơi mà về
sau ta sẽ nói đến.
Vấn
đề nơi đây là, thực tại tự nhiên, vốn độc lập với
con người, tại sao lại tuân thủ khít khao với các công thức
toán học do con người nghĩ ra. Thật là một điều trùng hợp
kỳ dị. Tại sao khoảng cách rơi tự do lại tăng lên gấp
bốn lần nếu thời gian tăng lên gấp đôi. Tại sao lại có
một số tròn trịa như thế được?
Hãy
xem Định luật vạn vật hấp dẫn. Tại sao lực hút lại
vừa đúng tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách hai
vật thể? Hãy xem mối liên hệ giữa khối lượng vật chất
và năng lượng. Tại sao người ta có thể có công thức qúa
đơn gaỉn E=mc2? Trong thiên văn học hay cơ học lượng tử
của thời đại hiện nay, tại sao bán kính của một lỗ đen
hay hiệu ứng Casimir lại có những tỉ lệ giản đơn với
đơn vị không gian, thời gian hay khối lượng.
Ta
cần phải biết kinh ngạc về những sự thực này. Điều
này cũng kỳ dị như ta cầm một cái thước trong tay, ra ngoài
thiên nhiên đo mọi vật và chợt thấy tất cả đều là những
con số chẵn chòi cả, không bao giờ có số lẻ. Phải chăng
những đơn vị mà ta gọi là khối lượng, năng lượng, không
gian, thời gian, điện tích... cũng đều là sản phẩm của
ý thức con người cả. Phải chăng sự vật bên ngoài chỉ
là dạng trình hiện của thực tại trong ý thức cũa chúng
ta? Phải chăng ta lại lấy sản phẩm của ý thức đo sản
phẩm cúa ý thức? Nếu không thì làm sao chúng ăn khớp với
nhau về mặt toán học? Nếu ý thức đang chơi trò đuổi bắt
và đo lường lẫn nhau thì cái gì là thực tại độc lập?
Hay thượng đế là một nhà toán học?
Câu
hỏi này không hề buồn cười như ta nghĩ. Nó cũng không phải
vừa mới được đặt ra, kể từ khi Galileo thiết lập mối
quan hệ toán học giữa thời gian và không gian trong sự rơi
tự do. Truớc Plato khoảng 150 năm, trong thế kỷ thứ sáu trước
công nguyên có một nhà toán học Hy Lạp tên gọi là Pythagoras.
Ông chủ trương một trường phái triết học cho rằng mọi
sự vật đều chỉ là hình ảnh của những con số. Vũ trụ
là một sự hòa hợp tối cao của hình ảnh những con số.
Thế gian là một tập hợp của những thứ bậc toán học.
Bốn yếu tố cơ bản là bốn con số 1, 2, 3, 4 mà tổng số
của chúng là 10 và số 10 là con số toàn hảo, bao gồm mọi
dạng của thiên nhiên do một tetraktys (bộ tứ) xây dựng nên.
Trong
thời Plato, khi mọi thứ đều được trừu tượng hóa thành
ý niệm, mọi hình ảnh trở thành những khái niệm toàn hảo
của hình học thì chúng mới được xem là thật, người ta
thấy tính chất nội tại của tự nhiên chính là toán học
và cụ thể hơn, nói như Plato, “Thượng đế là một
nhà hình học”. Cả Pythagoras lẫn Plato đều xem toán học,
cho dù số học hay hình học, là tính chất nội tại của
vũ trụ. Hiển nhiên đây chỉ là một giả định siêu hình
– nói theo ngôn từ của thời đại bây giờ - nhưng từ xưa
đến nay con người không ai có thể bỏ chúng vì nếu không
thì làm sao lý giải và suy đoán được hiện tượng.
Đặc
trưng của thời đại Galileo là sự từ bỏ nền khoa học
tự nhiên chế ngự gần 20 thế kỷ trước, tức là nền vật
lý của Aristotle. Thế nhưng, toán học không hề mất vai trò.
Trước đó toán học là “bản thể” của vũ trụ thì bây
giờ nó vẫn đóng một vai trò trung tâm. Toán học là phương
tiện đắc lực để mô tả hiện tượng, là gạch nối giữa
con người và thế giới, giữa chủ thể nhận thức và vũ
trụ bị nhận thức. Với Galileo, mô hình toán học mới đầu
là một giả thiết do con người tạm thời giả định và
cuối cùng chỉ có thực nghiệm mới thừa nhận được nó
có chính xác hay không. Và khi thực nghiệm đã thẩm định
mô hình rồi thì toán học chính là sự “phát biểu” của
thiên nhiên. Thế thì điều gì làm cho thiên nhiên tuân thủ
những công thức toán học. Người trả lời câu hỏi này
trong thời đại Galileo là một người Đức, tên gọi là Kepler.
Trước
khi nói chuyện triết học của Kepler ta phải kể, điều quan
trọng nhất mà ông để lại cho hậu thế là những công trình
xuất sắc về sự vận động của các thiên thể. Đó là
ba qui luật toán học hết sức bất ngờ về sự vận hành
của các hành tinh xung quanh một hành tinh khác. Qui luật thứ
nhất cho rằng qũi đạo của hành tinh không phải là hình
tròn mà một hình ellipse. Một tiêu điểm của ellipse đó chính
là trung tâm của hệ thống đang vận hành. Qui luật thứ hai
cho rằng hành tinh chuyển động với vận tốc khác nhau, càng
gần trọng tâm thì nó chuyển động càng nhanh; thế nhưng
diện tích quét của hành tinh trong một đơn vị thời gian
luôn luôn bằng nhau. Qui luật thứ ba nói lên mối tương quan
toán học giữa chu kỳ vận hành và khoảng cách của trục
ellipse của các thiên thể.
Các
qui luật về sự vận động của các thiên thể nằm xa, nằm
ngoài khả năng quan sát của con người bình thường nhưng
chúng lại tuân thủ các qui tắc toán học, đó là một điều
kỳ lạ. Và người khám phá ra chúng là Kepler, một nhà thiên
văn cận thị, mắt kém, bị đủ chứng bậnh từ phong sởi
cho đến động kinh hành hạ. Kepler xuất thân từ một gia
đình mà người cha thì hề sức khó chịu, ưa gây gổ; người
mẹ thì tính tình đồng bóng, ham mê phù thủy. Ông tự nói
về mình: “Tôi là một người mà mọi phương diện đều
khổ sở như một con chó”.
Người
phát hiện thiên tài trong “con chó” đó là Tycho Brahe, nhà
thiên văn được nhắc tới trong chương trước, Kepler trở
thành người kết vị của Brahe; ông bắt đầu công trình
nghiên cứu về quang học. Sau đó ông cho ra đời tác phẩm
Dioptrik, trong đó nói về các hệ thống thấu kính; và trở
thành người tiên phong trong quang học hiện đại. Con người
cận thị nằng Kepler đó lại chính là người đã trình bày
chính xác nhất sự vận hành của con mắt về mặt toán học.
Khác
với Galieo, Kepler có khuynh hướng triết học cao độ. Ông
tự thấy phải trả lời câu hỏi, tại sao toán học, một
sản phẩm của đầu óc con người lại mô tả được vũ
trụ, một thực tại nằm độc lập với con người. Và đó
là một câu trả lời đầy tính thần học: “Thượng đế
dựa trên tư tưởng của mình mà sáng tạo ra thế giới. Những
tư tưởng này có tính toán học. Thượng đế lại tạo nên
con người dựa trên hình ảnh của chính mình.” Kepler tin
nơi một sự hòa điệu tối cao của vạn vật, tin vào sự
thống nhất của thế giới, sự hòa nhập giữa con người
và vũ trụ. Khi con người khám phá thiên nhiên và thế giới
vật chất chính là khám phá lại Thượng đế, đó chính là
khoa học.
Với
Kepler, sở dĩ toán học có thể mô tả được thiên nhiên
vì tất cả, từ vũ trụ đến con người, đều phát xuất
từ Thượng đế và Thượng đế suy tư một cách toán học.
Nền tảng chung của hai cực, con người nhận thức và vũ
trụ bị nhận thức là Thượng đế. Nhờ Thượng đế mà
con người nhận thức được vũ trụ. Và tư tưởng của Thượng
đế có tính toán học nên con người có thể dùng toán
học để mô tả vũ trụ.
Tư
tưởng của Kepler chính là tư tưởng của Plato nhưng được
phát biểu theo cách nói Thiên chúa giáo. Nếu nói thuần túy
thoe cách của Plato thì ta nói: linh hồn con người là một
phần của linh hồn vũ trụ. Bản thân tư duy con người, khi
nhận thức một thực tại trường cửu chính là tư duy thiêng
liêng đang nhận thức thực tại. Linh hồn vũ trị là kẻ
đang vận hành, làm mọi thứ vận hành, làm mọi thứ sinh
thành hoại diệt. Linh hồn đó biết rõ nó đang làm gì.
Kepler
nhìn sự vận hành của thế giới, bản thân hoạt động khoa
học của chính mình với một lòng nhiệt thành của con người
nhìn hoạt động của Thượng đế. Hiển nhiên, ngày nay không
còn nhiều nhà khoa học nghĩ như Kepler, nhưng ta đừng vội
tưởng Kepler cô đơn trong suy nghĩ của mình. Có nhiều nhà
khoa học vĩ đại, khi vượt lên các bài toán thường ngày,
họ vẫn phải đặt lại vấn đề cốt tủy của Kepler và
tự hỏi, do đâu mà ta có khả năng “thiêng liêng” là nhận
thức được thế giới. Einstein đã từng nói về khả năng
này : “ (Trong việc này) chúng ta đâu làm gì khác hơn là
vẽ lại các đường nét của Người (Thượng đế)”.
Thật
vậy tại sao toán học lại mô tả được thiên nhiên hay ngược
lại, tại sao thiên nhiên để cho toán học mô tả được
mình? Đó là câu hỏi rất khó, khó đến nỗi phần lớn các
nhà khoa học, nhất là vật lý học không muốn trả lời nó.
Họ chỉ muốn im lặng giải các bài toán của mình, tiên đoán
các kết quả thực nghiệm và cầu mong thực nghiệm thừa
nhận mô hình toán học của mình. C.F.Weizsäcker, nhà vật lý
và triết gia người Đức đã viết: “Thực vậy, thực hành
khoa học dễ hơn là hiểu được nó. Là một nhà vật lý
và tìm kiếm tri thức về vật lý dễ hơn là trả lời câu
hỏi: khi thí nghiệm vật lý thì thực chất là làm những
gì. Và tất nhiên trong tất cả các ngành khoa học khác thì
sự thể cũng như thế”.
Thực
ra, nhiệm vụ của nhà vật lý không phải là trả lời câu
hỏi trên, đó là một câu hỏi triết học và câu trả lời
cho nó thường là thần học, nghiêng về phía huyền bí tôn
giáo. Pythagoras, Plato đã có câu trả lời, các vị đó là
những triết gia. Kepler cũng có câu trả lời, nhưng với một
tinh thần tôn giáo. Những câu trả lời đó không được cộng
đồng vật lý thừa nhận nhưng đến nay không có câu trả
lời nào tốt hơn.
NỀN
VẬT LÝ CƠ GIỚI
Sau
ngày Galileo mất đúng một năm, một đưa bé người Anh tên
là Isaac Newton chào đời non ngày non tháng. Thể chất của
Newton nhỏ bé và yếu đuối, nhưng cuối cùng ông lại sống
đến 84 tuổi, vào thời đó, đấy là một tuổi thọ đáng
kể.
Nếu
Galileo là người khai sinh nền vật lý thực nghiệm thì Newton
là người hoàn chỉnh nó bằng một hệ thống lý luận nhất
quán, xây dựng một nền vật lý vững chãi mà ngày nay ta
gọi là vật lý cơ giới. Nền vật lý đó tồn tại đến
ba trăm năm mới bị điều chỉnh; và thực tế là ngày ngay
nó vẫn còn có giá trị trong đời sống thông thường của
con người. Với nền vật lý của Newton, một thế giới quan
cơ học mang tính quyết định luận ra đời và ngay này
vẫn còn có ảnh hưởng mạnh mẽ.
Trong
lịch sử vật lý khó có một thiên tài khác ngoài Newton xây
dựng được một công trình đồ sộ và chặt chẽ trong phạm
vi của mình, một công trình mà Einstein cũng phải khâm phục
ca ngợi là “bước tiến lớn nhất trong tư duy mà một cá
nhân xưa nay làm được”.
“Bước
tiến” của Newton tương truyền được bắt đầu trong một
vườn táo. Là con của một nông dân nhưng ông mất cha từ
lúc còn nằm trong bụng mẹ, Newton hay trở về quê cũ, nằm
chơi trong cườn nhưng tâm hồn luôn luôn nhớ những mô hình
vật lý của mình. Dưới gốc cây, ngày nọ Newton thấy một
trái táo rơi. Trong mộc cái nhìn tuệ giác ngàn năm một thuở,
ông thấy trái táo hay mặt trăng xem ra chẳng khác gì nhau.
Trái táo rơi là do sức hút trái đất. Sức hút đó cũng chính
là lực kéo các thiên thể quay chung quanh một hệ thống, như
trái đất quay quanh mặt trời, như mặt trăng quay quanh trái
đất. Đó là ngày khai sinh của thuyết trọng trường của
Newton.
Ngày
nay học sinh trung học cũng biết thế nào là sức hút của
trái đất, tác dụng của nó lên đời sống con người, cũng
như biết rõ tương tác qua lại giữa mặt trời, trái đất,
mặt trăng. Thế nhưng ba trăm năm trước, sự phát hiện của
Newton về lực trọng trường là một trực giác thiên tài.
Có
cái gì giống nhau giữa trái táo rơi và mặt trăng quay quanh
trái đất? Không có gì giống nhau cả, nếu không muồn nói
là chúng hoàn toàn khác nhau. Thực tế trước tiên là, trái
táo thuộc phạm vi “nhân thế” còn mặt trăng thuộc về
các thiên thể. Ngày xưa, trong lúc Aristotle quả quyết đã
tìm ra định luật chung cho mọi thức vận hành, dù thuộc
phạm vi sublunar hay của các thiên thể thì nhà triết học
thuộc thế kỷ thứ nam Proclus cho rằng hai phạm vi đó cần
phải được tách rời hẳn nhau, chúng không thể có một định
luật chung. Thời đại của Newton là thời kỳ mà vật lý
của Aristotle bị bác bỏ. Thế nhưng dưới gốc cây táo, chàng
trai trẻ Newton vẫn dám thấy trái táo và mặt trăng có gì
đó giống nhau.
Chúng
còn khác nhau một điều trọng đại nữa là trái táo rơi
xuống đất, còn mặt trăng thì không. Thế nhưng tuệ giác
của Newton thấy chúng có một điều chung nhất là cả
hai - trái táo và mặt trăng- bị một lực hút, chúng chịu
một sự “bó buộc”, chúng có một gia tốc.
Gia
tốc là từ đầu tiên mà loài người được nghe. Gia tốc,
lực trọng truờng, khối lượng, qui luật quán tính là những
khái niệm của Newton đề ta, chúng nằm trong một thể thống
nhất và là nền tảng của một tòa lâu đài cơ học trường
tồn mãi đến bây giờ.
Trước
hết, lực trọng trường là gì? Đó là lực hút giữa các
thiên thể- nói chung là giữa các vật thể bất kỳ có khối
lượng – nó tỉ lệ thuận với khối lượng của chúng
và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng,
tứ là càng nằm xa, lực hút đó càng yếu hẳn. Lực trọng
trường của trái đất tác dụng lên mặt trăng cũng chính
là lực “kéo” trái táo xuống đất. Sở dĩ trái táo rơi
xuống mặt đất nhưng mặt trăng không rơi - may thay - vì mặt
trăng có sẵn một vận tốc và từ đó cỏ một lực ly tâm,
lực này dung hòa với sức hút trái đất để mặt trăng có
một qũi đạo ổn định.
Newton
phát biểu lực trọng trường không phải chỉ vì trái táo
hay mặt trăng mà để lý giải sự vận hành toàn bộ hệ
thống thiên thể của mặt trời và các vì sao. Dĩ nhiên ông
đã lấy hệ thống của Copernicus làm tiền đề; và công trình
của ông không thể thành hình nếu trước đó Kepler không
phát hiện ra ba qui luật vận hành của các hành tinh mà ta
đã nói ở chương trước.
Lịch
sử khoa học kể lại rằng Newton phát hiện phép tính lực
trọng trường nhưng khi đối chiếu lại với sự vận hành
của mặt trăng thì thấy nó chỉ gần đúng với thực tế
chứ không đúng hẳn. Ông để yên bài tính đó trong hộc
bàn khoảng mười hay mười lăm năm. Về sau khi người ta đo
lại chính xác hơn khoảng cách giữa trái đất và mặt trăng,
ông đối chiếu lại và thấy chính xác. Sau đó ông mới yên
tâm công bố thành tựu của mình.
Với
Newton, thế giới cơ học có thê một khái niệm gọi là lực,
Thomas Aquinas cũng đã nói về lực nhưng đó là một khái niệm
thần học, về năng lực của Chúa. Còn với Newton, lần đầu
tiên ta có một lực được định lượng hẳn hoi. Trên cơ
sở của khái niệm lực, Newton đưa ra ba định đề làm nòng
cốt cho toàn bộ nền cơ học như sau:
a.
Một vật thể bị lực tác dụng sẽ giữ nguyên trạng thái
vận hành của mình, tức là đứng yên hoặc vận hành với
vận tốc đều trên một đường thẳng.
b.
Một vật thể bị lực tác dụng sẽ chịu một gia tốc, gia
tốc đó tỉ lệ thuận với lực, tỉ lệ nghịch với khối
lượng của vật thể.
c.
Một lực tác dụng luôn luôn sinh ra một phản tác dụng có
cùng cường độ nhưng có hướng ngược lại.
Với
ba định đề này, Newton lý giải toàn bộ công trình của
Galileo về sự rơi tự do, công trình của Kepler về sự vận
hành của các thiên thể. Với những qui luật đó thì trái
táo hay mặt trăng đều là những vật thể vận hành có gia
tốc, trái táo rơi càng lúc càng nhanh như Galileo khẳng định
và mặt trăng phải quay một vòng ellipse như Kepler quả quyết.
Trái táo không thể không rơi, mặt trăng không thể chuyển
động trên đường thẳng với vận tốc đều vì chúng bị
một thứ lực duy nhất tác dụng: lực hút của trái đất.
Công
trình vĩ đại nhất của Newton là nêu lên khái niệm của
trọng trường và mối liên hệ giữa lực và gia tốc trong
sự vận hành của vật thể. Chỉ hai phát hiện đó đã đưa
ông vĩnh viễn và lịch sử của ngành vậ lý và của triết
học về tự nhiên. Thế nhưng cùng với khái niệm gia tốc
- mức độ biến đổi, tăng hay giảm của vận tốc theo thời
gian - Newton còn được xem là người khám phá ra phép tính
vi phân và tích phân, một phép toán học có tính cách mạng
trong thời đại đó. Thành tựu toán học này được chia đều
cho Newton và Leibniz, vị thứ hai cũng là một thiên tài của
vật lý học, toán học và triết học. Không rõ trong một
nhân duyên bí ẩn nào mà cả hai nhà khoa học hầu như bằng
tuổi nhau; kẻ ở Anh, người ở Đức mà cùng phát hiện ra
phép tính vi phân tích phân, hoàn toàn độc lập với nhau.
Hai nhà khoa học tài danh Newton và Leibniz có nhiều tư duy hết
sức sâu xa về vật lý, để lại cho hậu thế ảnh hưởng
triết học rất to lớn mà ta sẽ nói đến sau.
Hồi
đó Newton đã dùng phép tính vi phân để nêu lên các định
nghĩa cơ học của mình, nhưng ông thấy giới khoa học xem
ra không thể theo kịp mình, nên trong tác phẩm nổi danh Philosophiae
naturalis principia mathematica (Các nguyên lý toán học của triết
học tự nhiên) xuất bản năm 1687, ông chỉ chứng minh các
định đề đó bằng phép tính hình học. Ngày nay ta có thể
tìm thấy tác phẩm này trên mạng Internet, nhưng không mấy
ai đọc hiểu vì nó được viết bằng tiếng La-tinh – thứ
tiếng bác học thời bấy giờ - và với một loại văn cổ
rất khó hiểu.
Newton
còn để lại cho hậu thế nhiều công trình khác về quang
học, kim loại và hợp kim. Thế nhưng quan trọng hơn cả, trong
triết học tự nhiên, nền cơ học của ông sinh ra hai tư tưởng
lớn. Thứ nhất, nếu Galileo là người tìm hiểu những hiện
tượng riêng lẻ trong thế giới tự nhiên bằng phép thực
nghiệm thì cơ học của Newton thâu tóm chúng trong một hệ
thống có thế lý giải mọi chuyện trên đời, từ sự rơi
tự do đến hiện tượng thủy triều. Với cơ học Newton,
người ta bắt đều thầm có một hy vọng, đó là niềm tin
thế giới là một thể nhất quán, con người có thể thống
nhất mọi hiện tượng trong tự nhiên, từ nhỏ đến lớn,
trong một thế giới quan duy nhất. Nhà vật lý mơ ước tìm
ra một công thức duy nhất nhằm lý giải toàn bộ thế giới.
Niềm mơ ước dường như thiêng liêng đó ngày nay vẫn còn
nguyên dù cho cơ học Newton đã bị vượt qua, dù cho nhiều
phát hiện của vật lý hiện đại đã làm đảo lộn mọi
công trình xưa cũ.
Thứ
hai, với những công thức cơ học của Newton, con người có
thể tính toán mọi sự vận hành xảy ra trong tương lai. Nếu
biết các đều kiện ban đầu – vận tốc và vị trí của
vật thể - con người biết hết “số phận” của nó về
sau. Từ thế giới quan, cơ học này nảy sinh ra một quan niệm
triết học trong tự nhiên. Đó là chủ thuyết quyết định
luận, cho rằng mọi thứ đều có thể tính toán và tiên đoán
được, sự ngẫu nhiên không thể có chỗ trống trong tự
nhiên. Con người thấy có nhiều điều tưởng như ngẫu nhiên
vì nó không biết nguyên nhân chứ không thể có ngẫu nhiên.
Quan điểm triết học này đã đi cùng với ngành vật lý suốt
thế kỷ qua và ngày nay vẫn còn hết sức sinh động.
NHỮNG
ĐIỀU KHÓ HIỂU
Dù
hệ thống cơ học của Newton thành công vang dội, nhưng có
nhiều điều rất khó thừa nhận trong lý thuyết của ông.
Hệ
thống cơ học này có bốn yếu tố độc lập với nhau, đó
là: vật thể, lực tác dụng, không gian và thời gian. Nếu
suy xét kỹ, cả bốn yếu tố này hiện ta với ta một cách
rất mơ hồ, dường như chúng có những tính chất rất kỳ
lạ.
Lực
của Newton nói đến đây là lực trọng trường, là sức hút
của trái đất hay nói chung là sức hút củ vật thề có khối
lượng. Đó là một thứ lực “tức thời và tác động từ
xa”, một điều nghe ra thật kỳ dị. Ta hãy thử tưởng tượng,
phải chăng lúc trái đất hút mặt trăng vào qũi đạo của
mình, hay kéo trái táo rơi xuống đất, nó đã “thò tay”
tác động lên vật? Làm sao có một thứ lực du hành với
vận tốc vô tận trong không gian để tác động tức khắc
lên một vật khác? Lực mà thông thường ta biết đến phải
là một cái gì cụ thể như cơ bắp của con người, nó phải
đụng chạm đến vật thể mới tác động lên vật được
và cần một thời gian nhất định mới chạm được vật
thể. Nay có một từ lực rất to lớn, thông qua chân không
mà tức khắc tác động lên vật thể. Đó là điều không
ai hiểu được. Cả Newton cũng không. Ông thừa nhận
mình chỉ “mô tả” lực trọng trường đó, nhưng nguyên
ủy của lực là từ Thượng đế, là sáng tạo của Thượng
đế.
Lực
cơ học Newton tác động lên vật thể bằng một mối quan
hệ hết sức giản đơn, đó là làm cho vật có một gia tốc.
Nói đến gia tốc tức là nói đến sự thay đổi của vận
tốc trong thời gian. Nói một cách chính xác gia tốc là mối
liên hệ vi phân cấp hai của không gian trên thời gian. Muốn
định nghĩa gia tốc, Newton đưa vào trong hệ thống cơ học
của mình một khái niệm xem ra vừa rất hiển nhiên, vừa
rất nghiêm trọng, đó là quan niệm về tính tuyệt đối của
không gian và thời gian. Trong thế giới quan của hệ thống
cơ học Newton, người ta chấp nhận có một không gian trường
cửu và bất động. Không gian là sân khấu bất di bất dịch
cho mọi vận động xảy ra trong đó, sân khấu không hề bị
các vật thể vận động trong đó tác động ngược lại.
Không
gian bất động của Newton là hệ qui chiếu của sự vận động,
tức là dựa trên nó mà người ta định nghĩa một thứ gia
tốc tuyệt đối. Không gian đó dường như là một vật cụ
thể, nó làm chuẩn cho các vật khác. Nhưng, như ta đã nói
đến, không gian không thể được xem là vật thể. Ta có thể
xê dịch vật thể torng không gian nhưng không ai có thể xê
dịch không gian, không ai nói không gian tồn tại “đâu đó”.
Đúng hơn không gian dường như là điều kiện tiên quyết
để vật thể có thể tồn tại. Nói như I.Kant, không gian
là “dạng” của sự nhận thức. “Không gian bất động”
của Newton do đó là một tiền đề không đơn giản.
Khi
nói vật thể vận động là ta nói vật thể dời chỗ trong
không gian sau một thời gian nhất định. Trong nền vật lý
của Newton, thời gian được xem là tồn tại độc lập và
trôi chảy một cách đều đặn từ quá khứ đến tương lai.
Sự vận động của vật thể không tác động ngược lên
tính chất của thời gian. Toàn bộ nền vật lý Newton được
xây dựng trên những phương trình vi phân theo thời gian.
Thế
nhưng từ xưa đến nay khái niệm thời gian là hết sức khó
hiểu. Nói như Kant, nó cũng là một dạng của nhận thức
và có tính siêu nghiệm. Nếu không gian thuộc về những cảm
nhận ngoại cảnh thì thời gian liên hệ không những với
nhận thức ngoại cảnh mà còn với những cảm nhận nội
tâm. Giữa không gian và thời gian, dường như tính chất của
thời gian là cơ bản hơn. Tại nơi mà khái niệm không gian
bị xem xét một cách nghiêm khắc thì thời gian vẫn còn được
thừa nhận.
Cuối
cùng, yếu tố thứ tư trong cơ học Newton là vật thể. Yếu
tố vật thể của cơ học Newton được qui lại thành điểm,
chúng được xem là không có kích thước. Đặc trưng của
các điểm vật thể trong nền cơ học này là chúng có khối
lượng. Khối lượng cũng có những thuộc tính rất kỳ lạ.
Nó tạo nên sức hút trọng trường, tức là khối lượng
càng lớn nó càng hút mạnh và càng bị hút. Nó chính là tác
nhân gây nên sức nặng, khối lượng càng lớn, vật thể
càng nặng. Nó lại có quán tính, nghĩa là nó có sức trì
trệ, muốn tăng tốc một vật có khối lượng lớn, ta phải
càng cần lực lớn hơn. Đặc tính đó của khối lượng,
vừa gây lực trọng trường, vừa gây sức trì trệ, hai khái
niệm hoàn toàn khác nhau nhưng lại mang cùng một khối lượng
như nhau; nó làm phát sinh nhiều suy luận khoa học và triết
học về vật thể, cũng như dẫn đến những tri kiến vô
cùng bất ngờ trong tương lai.
Bốn
yếu tố cơ sở của cơ học Newton – vật thể, lực tác
dụng, không gian và thời gian – đều là những khái niệm
không hề giản đơn và hiển nhiên. Thật ra chúng cũng là
những giả định siêu hình. Trong thời điểm của thế kỷ
17, chúng phù hợp để soi rọi các vấn đề vật lý. Còn
liệu vũ trụ là thực sự như vậy hay không, về sau chúng
ta sẽ biết rõ hơn. Ở đây, ta cần sớm nhắc đến một
luận điểm của Kant đó là ta không bao giờ biết “vũ trụ
tự nó” – nói chung là “thực tại tự nó” – được
cả, ta chỉ biết được những gì thực tại ấy trình hiện
cho ta, còn thực tại tự nó là gì thì theo Kant “ta không
biết và cũng không cần biết”.
Thời
đại của Newton là thời nở rộ nhiều phát kiến vĩ đại
khác nhau về khoa học và triết học. Tiêu biểu nhất là tư
tưởng của Leibniz, những công trình tuy không nổi tiếng như
của Newton nhưng lại mở đường cho các phát triển của Leibniz
về bốn yếu tố trọng đại – vật thể, lực tác dụng,
không gian và thời gian – của nền vật lý cơ giới. Những
tư tưởng đó khác hẳn quan niệm của Newton.
Thuộc
một gia đình dòng dõi, Leibniz được xem là một nhà triết
học cuối cùng của trường phái “vạn năng”, tức là của
những nhà thông thái nghiên cứu tất cả các vấn đề lớn
của loài người từ triết học, thần học, toán học, khoa
học tự nhiên đến đạo đức và thẩm mỹ học. Trong tác
phẩm nổi danh Specimen Dynamicum được viết lúc chưa đến
40 tuổi, Leibniz trình bày nhiều tư tưởng cơ bản về lực
và sự vận động.
Thay
vì lực tác động của Newton – mối liên hệ giữa khối
lượng và gia tốc – thì Leibniz nghĩ đến một đại lượng
mô tả của sự vận động mà ông gọi là vis viva (sức sống).
Đại lượng đó được Leibniz cho bằng khối lượng nhân
với bình phương của vận tốc(mv2) vật thể. Ông cho rằng
“sức sống” đó của vật thể phải được bảo toàn trongmọi
tương tác, nó nói lên tính vận động nội tại của vũ trụ,
sự tự quản của mọi quá trình vận động. Với nguyên lý
đó, Leibniz cho là: “Chúng ta có thể thiết lập một qui luật
của thiên nhiên mà tôi coi là nó vạn năng nhất và khó bị
thương tổn nhất… nó luôn luôn có một sự cân bằng toàn
hảo của toàn bộ những nguyên nhân và tất cả những kết
quả… mỗi kết quả là tương đương với nguyên nhân”.
Theo
Leibniz, sự vận động phải được nhìn dưới nhiều dạng
hình, nhiều quan niệm khác nhau. Trái táo rơi là một sự vận
động, khi đến mặt đất, sự vận động chấm dứt. Tếh
nhưng, quả lắc đồng hồ, lúc tới biên độ cao nhất, nó
dừng lại và đổi chiều, ta quan niệm thế nào về nó? Khi
vật thể vận động chậm lại và dừng hẳn vì sự ma sát,
ta quan niệm thế nào về nó. Đó là khởi thủy của khái
niệm “năng lượng” mà Leibniz đã đưa ra một đại lượng
cụ thể.
Như
ta dễ dàng nhận thấy, “sức sống” của Leibniz chính là
nội dung của một năng lực mà ngày nay ta gọi là động năng.
Năm 1807, khoảng hơn 100 năm sau, Thomas Young đổi tên là vis
viva thành “động năng” và khoảng 40 năm sau, người ta phát
hiện định luật bảo toàn năng lượng, điều mà Leibniz đã
tiên đoán trước đó khoảng 150 năm. Định luật bảo toàn
năng lượng là một quy luật vật lý hết sức vạn năng,
ngày nay nó vẫn đóng vai trò cốt tủy trong nền vật lý hiện
đại. Trong lúc đó thì các khái niệm của Newton đã bị vượt
qua.
Khái
niệm về vật thể của Leibniz cũng rất khác với của Newton.
Nếu Newton xem vật thể là một cái gì thụ động, chịu sự
tác động củ lực thì đối với Leibniz, “đặc trưng của
vật là tác động”. Vì lẽ đó mà nó có “sức sống”.
Hình dung về vật thể của Leibniz là nó phải có tính “đàn
hồi”, hình dung này làm nền tảng có qui luật bảo toàn
năng lượng được phát hiện về sau.
Leibniz
không quan niệm có một không gian tuyệt đối như Newton. Đối
với Leibniz, không gian chỉ là thuộc tính của vật thể, vật
thể là chủ yếu, không gian là thứ yếu. Thậm chí đối
với ông, không gian chỉ là “khoảng cách giữa các vật”.
Thế nhưng lý luận của Newton về một gia tốc tuyệt đối
trong thí nghiệm “xô nước xoay tròn” quá thuyết phục nên
trong thế kỷ 17, người ta không có cách nào khác hơn là phải
chấp nhận một không gian tuyệt đối của Newton. Về sau,
E.Mach, một triết gia và nhà toán học người Áo, lấy
lại quan niệm của Leibniz, cho rằng có một không gian tuyệt
đối và cho rằng gia tốc tuyệt đối của Newton tức là gia
tốc lấy “các định tinh” làm hệ qui chiếu. Quan niệm
của Mach đã mở đường cho Einstein phát hiện thuyết tương
đối trong nền vật lý hiện đại. Và ngày nay người ta biết
rõ rằng không gian quả thật là thuộc tính của vật chất,
không có vật chất thì không có không gian.
Như
ta thấy, đến nay mọi lý thuyết về vật chất, về thế
giới đều là những mô hình do con người nghĩ ra. Những mô
hình đó, dù là của Ptolemy, Copernicus hay Newton, Leibniz, chúng
co thể khác hẳn nhau nhưng mang lại câu trả lời và lý giải
giống nhau cho hiện tượng trong tự nhiên. Sự thể này đưa
ta đến một vấn đề triết học cực kỳ nan giải, đó là,
liệu những mô hình là hình ảnh thực sự của thực tại
hay chúng chỉ là cấu trúc của tư tưởng nhưng lại phù hợp
để lý giải thực tại. Phải chăng khối lượng, lực trọng
trường, không gian, thời gian… đều chỉ là sản phẩm của
đầu óc con người nhằm lý giải hiện tượng hay chúng thực
có? Nói cách khác, phải chăng nền vật lý nói chung là có
tính duy thực hay có tính công cụ.
Trớ
trêu thay, các nhà vật lý thường không mấy quan tâm đến
câu hỏi này, họ tin chắc chắn nơi một thực tại có thật
và các khái niệm vật lý cũng phải có thật. Newton hiển
nhiên là một người duy thực, tin rằng có một thế giới
có thực ở bên ngoài nhưng có thể ông lại vô tình sử dụng
phép công cụ, sử dụng những khái niệm thuần túy của trí
năng để lý giải hiện thực. Thời đại của Newton chưa
ý thức hết chiều sâu của câu hỏi này, nhưng trong thế
kỷ 20, câu hỏi duy thực hay công cụ sẽ trở thành một luận
đề then chốt trong nền vật lý hiện đại.
THẾ
GIỚI VÀ TÔI
Ta
phải hỏi, thế thì Giáo hội Thiên chúa giáo phản ứng thế
nào về khoa học của Newton, của Leibniz? Phải chăng Tòa thánh
La Mã cũng lên án Newton như đã lên án Galileo?
Trong
thế kỷ thứ 17, tình hình đã có nhiều thay đổi. Giáo hội
Thiên chúa giáo không còn đóng một vai rò chủ đạo trong
khoa học và thế giới quan về thiên nhiên nữa. Sự thay đổi
này, oái oăm thay, có lẽ là nhờ một nhà toán học và cũng
là một triết lý gia Thiên chúa giáo xuất chúng, đó là Descartes.
Thời
kỳ của Descartes cũng là thời kỳ nở rộ của vô số nhận
thức luận về thế giới. Câu hỏi ngàn xưa đến nay vẫn
là, thực tại là gì, là ai. Làm sao nhận thức được nó.
Galileo, Newton và Leibniz đã hoàn thành xuất sắc trách nhiệm
của mình trong lĩnh vực vật lý và toán học đồng thời
cũng đã nêu lên nhiều tiền đề triết học cho thế
giới quan. Thế nhưng câu hỏi triết học nọ vẫn còn y nguyên
chưa ai trả lời nổi, thậm chí các luận điểm về thực
tại ngày càng sai biệt và mâu thuẫn lẫn nhau.
Một
trong những triết gia muốn đưa khoa học ra kohỉ ảnh hưởng
của thần học, thoát kỏi chủ nghĩa kinh viện của thời
Trung cổ là Francis Bacon. Bacon cho rằng khoa học phải xuất
phát từ kiến thức của kinh nghiệm chứ không gì khác. Ông
cho rằng con người phải miệt mài thu lượm kinh nghiệm của
mình trong tự nhiên, phải xem xét từng biến cố, từng sự
vật và hiện tượng cụ thể để xây dựng khoa học. Bacon
so sánh con người cũng phải làm như “loài ong”, phải hút
mật từng đóa hoa để tìm kiếm tri kiến. Bacon cho rằng con
người phải gạt bỏ mọi giả định ban đầu và óc tưởng
tượng thì kinh nghiệm mới “thuần túy” và trên cơ sở
đó mà dùng phép loại suy để tới với tri thức.
Luận
điểm của Bacon không hề phi lý nhưng lại dẫn đến một
dạng cực đoan. Bacon đi quá đà khi ông lên án phép suy diễn
thuần lý là sai lầm, xem toán học là vô bổ, chỉ kinh nghiệm
mới là nguồn gốc mọi khoa học. Bacon đi vào lịch sử triết
học như người sáng lập chủ nghĩa kinh nghiệm.
Như
ta dễ dàng nhận thấy, chủ nghĩa kinh nghiệm củ Bacon là
khía cạnh triết học thô thiển của nền khoa học thực nghiệm
của Galileo, người sinh trước Bacon khoảng 30 năm và đã nêu
lên những kiến giải hoàn toàn mới về khoa học tự nhiên.
Khoa học thực nghiệm của Galileo làm tiền đề cho suy tư
triết học duy kinh nghiệm của Bacon.
Triết
lý của Bacon dù còn thô thiển nhưng nó nêu lên một quan điểm
hoàn toàn mới mẻ. Khuynh hướng tự nhiên của tư duy là những
suy tư triết học non nớt đó sẽ trở nên tinh tế với những
triết gia của đời sau và đến phiên nó, triết học lại
soi sáng cho khoa học. Khoa học tự nhiên và tiết học luôn
luôn làm tiền đề cho nhau, cái này dẫn dắt cái kia. Đó
là một sự thực quan trọng của lịch sử loài người mà
trong thế kỷ 21 nó mang tính thời sự hơn bao giờ hết.
Descartes
ra đời khi Bacon trở thành một nhà quí tộc cao cấp ở Anh,
làm việc cho triều đình nữ hoàng Elisabeth. Cậu bó người
Pháp Descartes năm lên tám đã vào tu viện học hành. Trong thời
rất trẻ của Descartes, người ta đã khám phá nơi chàng trai
này một đầu có rất linh mẫn. Tu viện cho càng một đặc
quyền là buổi sáng miễn đi học vì chàng chuyên tĩnh tâm
vào giờ đó.
Là
một nguời có bộ óc xuất chúng trong cã hai lĩnh vực khoa
học và triết học, nhưng tiếc thay Descartes không sống được
lâu, ông mất năm 54 tuổi tại Thụy Điển. Cái chết của
ông gây nhiều nghi ngờ, kẻ thì cho rằng ông mất vì bệnh
sưng phổi, người thì cho rằng ông bị đối thủ triết học
trong giới hoàng gia tại Thụy Điển ám hại. Thế nhưng, cuộc
đời ngắn ngủi của Descartes mang lại cho hậu thế vô số
kiến giải quan trọng. Thế giới quan của ông được thể
hiện qua những lời sau: “Thế nên toàn bộ triết học có
thể ví như một cây cao; gốc của nó là siêu hình học, thân
của nó là vật lý học và mọi cành ngọn của nó là mọi
ngành khoa học khác; các ngành đó có thể xếp lại thành
ba loại, đó là y khoa, cơ học và đạo đức học. Với đạo
đức học, tôi hiểu đó là ngành học cao cấp nhất và hoàn
thiện nhất của phép hành sử, ngành học lấy mọi tri kiến
của các nhà khoa học khác làm tiền đề, nó chính là sự
minh triết chung cuộc và cao cả nhất. Cũng như người ta không
hái rái từ rễ cây, mà từ cành ngọn, thì cũng thế, cái
lợi lạc chủ yếu của triết học chỉ nằm ở những phần
mà từ đó cuối cùng ta học được những gì”.
Một
trong những công trình lớn nhất của Descartes cho khoa học
là ông vạch một đường phân chia dứt khoát, rõ ràng giữa
“vật chất” và “linh hồn”. Đối với Descartes, vật
chất có kích thước nhưng không biết “suy tư”; ngược
lại linh hồn, không có tính chất đo được trong không
gian nhưng biết suy luận. Cả vật chất lễn linh hồn đều
là những thứ “được tạo tác”, ngược lại Thượng đế
thuộc phạm trù “phi tạo tác”. Về mặt cơ học, Descartes
quan niệm rằng, vật chất vận động trong không gian một
cách thụ động, và không gian là không gian ba chiều của Euclid.
Vì quan niệm này mà thỉnh thoảng không gian trong vật lý cổ
điển được mệnh danh là không gian Descartes.
Những
điều khẳng định nói trên mới nghe qua không có gì to tát
cả. Thế nhưng Descartes tới với một kết luận bất ngờ,
đó là ông vẽ một đường phân thủy giữa khoa học và thần
học. Theo ông, thế giới vật chất là đối tượng của khoa
học, thần học không cần quan tâm tới. Còn linh hồn con người
là khu vực ngự trị của thần học, Giáo hội có quyền quyết
đoán đúng sai trong lĩnh vực này. Với Descartes, nền khoa học
tự nhiên được giải phóng khỏi vòng kim cô của Toà thánh
La Mã. Thần học bị tước quyền phán quyết trong khoa học
và triết học về thế giới tự nhiên. Nhờ Descartes mà hàng
trăm nhà nghiên cứu khoa học ra đời, trong đó có Newton. Newton
đọc các tác phẩm toán học và triết học của Descartes trước
khi tới với những thành tựu vĩ đại của mình.
Hai
thế giới vật chất và linh hồn của Descartes tách rời lẫn
nhau, không có mối quan hệ tương tác lên nhau, đó là hai thế
giới “tuyến tính”. Thế nhưng Descartes cho rằng con người
thông qua nghiên cứu, vận dụng lý tính mà hiểu được thế
giới. Ông cho rằng kinh nghiệm chỉ là giai đoạn sơ khai của
tri kiến, chỉ có tư duy mới nắm bắt được tri kiến đích
thực. Như thế Descartes bác bỏ chủ nghĩa kinh nghiệm của
Bacon và chủ trương một chủ nghĩa duy lý. Descartes đi xa trong
cách chia cắt của mình tới mức mà ông tách thân thể ra
khỏi tâm thức, xem chúng là hai lĩnh vực riêng biệt. Hơn
thế nữa, ông còn tách lý luận ra khỏi trực giác, điều
mà về sau bị chứng tỏ là một sai lầm nghiêm trọng.
Trong
thế giới, con người cũng bị đường phân thủy của Descartes
chia cắt, trong đó con người là chủ thể, thế giới còn
lại là khách quan, chủ thể không thể tác động được gì
lên khách thể. Khi con người quan sát thế giới thì những
ấn tượng thuộc về cảm giác như màu sắc xanh đỏ, âm
thanh hay mùi vị… được Descartes xem là chủ quan, chúng không
phải là “thực tại tự nó”. Thế nhưng Descartes xem nguyên
nhân của những ấn tượng đó lại thuộc về lĩnh vực khách
quan, chúng thuộc về đối tượng của khoa học.
Một
tư tưởng nữa của Descartes ít người biết đến đó là
ông xem chỉ con người mới có linh hồn do Thượng đế tạo
nên, thú vật thì không. Đối với ông, thú vật chỉ là những
cỗ máy vô hồn, “thiếu lý tính”. Nếu ai hỏi ông, liệu
con chó có Phật tính hay không, chắc chắn Descartes sẽ trả
lời “không”.
Chỉ
con người có lý tính, có suy tư mới được Descartes xem là
có linh hồn của Thượng đế và cũng chỉ thông qua suy tư
mà con người mới khẳng định mình tồn tại thật sự. Cogito,
ergo sum “Tôi suy tư, nên tôi hiện hữu”, đó là câu nói
nổi tiếng của Descartes. Thông qua linh hồn biết suy tư –
linh hồn bị giới hạn như của con người, vô hạn như của
Thượng đế - Descartes “chứng minh” Thượng đế phải có
thật. Ông cho rằng, con người chỉ là một phần của Thượng
đế thôi mà đã có thật rồi thì Thượng đế cũng phải
có thật.
Với
tư cách là một triết gia Thiên chúa giáo, Descartes hiển nhiên
không thoát khỏi ảnh hưởng thần học – khác hẳn với
Lapace say này – nhưng triết học của ông làm nền tảng sâu
sắc cho nền vật lý cơ giới của Newton. Newton cũng thừa
nhận vai trò của Thượng đế, đồng thời cơ học của ông
hoàn thiện tới mức cao nhất trong thời bấy giờ. Triết
học “chia cắt” của Descartes cùng thừa nhận Thượng đế
là người sáng tạo uyên nguyên; nhưng công lao của nền triết
học đó là khoanh vùng một cách rạch ròi các lĩnh vực; lĩnh
vực của thần học và khoa học, khách quan và chủ quan, linh
hồn và thể xác, lý tính và trực giác. Sự phân chia đó,
“có tôi đây và có thế giới” đặt con người vào vai
trò của một chủ thể biết nhận thức, trả lời một lần
cho tất cả câu hỏi triết học, liệu lý tính con người
có thể nhận thức thế giới được chăng.
Hiển
nhiên, ngày nay triết học Descartes xuất hiện như một thế
giới quan cơ học sơ lược. Nhưng trong thời đại của thế
kỷ thứ 17, nó chính là mặt triết học ưu việt của nền
văn minh châu Âu bên cạnh khía cạnh khoa học của Newton. Cả
hai, tay trong tay đã xây dựng một nền học thuật đóng vai
trò chủ đạo gần ba thế kỷ. Và hoa quả của nền học
thuật đó, cái được sinh nơi cành là theo cách nói của Descartes,
là vô cùng phong phú mà con người không thể kể hết.
WP:
Hoàng Ngọc Anh