-1-
Lý thuyết và
Thực tế
Thiền
sư Ajahn Chah
Toàn
bộ lý do vì sao phải học tập về Giáo Pháp (Dhamma), những
lời dạy của Đức Phật, là để tầm cầu một con đường
vượt qua khổ não, đạt đến an bình và hạnh phúc. Cho dù
chúng ta học về các hiện tượng vật lý hay tâm linh, tâm
(citta) và các tâm sở (cetasika), chỉ khi nào chúng ta lấy sự
giải thoát khỏi mọi phiền não làm mục đích tối hậu thì
chúng ta mới đi đúng con đường, không có gì ít hơn thế.
Khổ não có nguyên nhân và điều kiện đã gây nên sự hiện
hữu của nó.
Xin
hãy hiểu thật rõ ràng rằng khi tâm được tĩnh lặng, đó
là tình trạng tự nhiên, bình thường của tâm. Hễ tâm vừa
khởi động lên, lập tức, nó bị điều kiện hóa. Khi tâm
bị sự vật nào thu hút, âm ấy bị điều kiện hóa. Khi sự
hiềm ghét khởi lên, tâm bị điều kiện hóa. Ý muốn di chuyển
từ nơi này đến nơi khác, cũng khởi lên do sự điều kiện
hóa. Nếu sự hay biết của chúng ta không theo kịp các biến
chuyển lay động của tâm linh, tâm tư sẽ đuổi theo các sự
biến chuyển đó, và từ đó bị điều kiện hóa bởi chúng.
Khi nào tâm chuyển động, vào lúc đó, tâm ấy trở thành
một thực tại qui ước.
Vì
thế, Đức Phật dạy chúng ta phải luôn quán chiếu các biến
chuyển lay động của tâm. Mỗi khi tâm di động, nó trở nên
bất ổn và vô thường (anicca), bất toại nguyện (dukkha, khổ
não), và không thể lấy đó làm một tự ngã bất biến được
(anattā, vô ngã). Vô thường, khổ, vô ngã là ba đặc tính
phổ quát của tất cả các pháp hữu vi. Đức Phật dạy chúng
ta phải quan sát và quán chiếu các biến động của tâm.
*
Đối
với lý duyên sinh (paticca samuppāda), ta cũng nên học tập như
thế: vô minh (avijja) là nguyên nhân và điều kiện khởi sinh
các hành nghiệp; các hành là nhân và duyên khởi sinh các thức
(viññāna); các thức là nhân và duyên khởi sinh danh (nāma)
và sắc (rūpa), v.v., như ta đã từng học trong kinh điển.
Đức Phật đã tách riêng ra từng mấu chốt trong chuỗi dài
mười hai nhân duyên để chúng ta dễ học, dễ hiểu. Đây
là sự mô tả chính xác về thực tại. Nhưng khi tiến trình
của các sự kiện ấy thật sự diễn ra trong đời sống,
các nhà học giả không có đủ khả năng để theo dõi đúng
vào lúc chúng xảy ra. Cũng như ta đang từ trên ngọn cây cao
bị rơi xuống đất. Chúng ta không biết rõ được khi rơi
xuống, chúng ta đã xuyên qua bao nhiêu cành lá. Như thế ấy,
khi tâm bất thần va chạm vào một đối tượng, nếu có sự
thỏa thích trong đó, tâm liền bám theo và tạo trạng thái
vui vẻ. Tâm ấy chỉ biết đến sự vui vẻ đó mà không thể
biết đến chuỗi dài các nhân duyên đưa đến trạng thái
vui vẻ ấy. Tiến trình các sự kiện đã xảy ra đúng với
những gì được mô tả trong lý thuyết, nhưng đồng thời
nó vượt quá giới hạn của lý thuyết đó.
Không
có gì cụ thể rõ ràng khi nói: "Đây là vô minh. Đây là những
hành nghiệp, và đó là thức,..." Tiến trình nhân duyên không
cho các học giả có cơ hội để đọc ra một danh sách các
sự kiện khi chúng xảy ra. Mặc dù Đức Phật đã phân tích
tỉ mỉ và giải thích rõ ràng các chập tâm, nhưng đối với
tôi, tiến trình đó giống với sự kiện một người từ
trên cây cao bị rơi xuống. Khi chúng ta rớt phịch xuống đất
rồi, chúng ta không kịp phỏng tính đã té từ trên cao bao
nhiêu mét nữa. Điều mà chúng ta biết chắc là thân ta đã
chạm mặt đất, và đau quá!
Tâm
cũng như thế ấy. Khi tâm rơi vào một sự việc nào đó,
điều mà chúng ta cảm nhận được là nỗi đau đớn. Sự
thống khổ, đau đớn, ưu sầu, và chán nản đó đã từ đâu
mà đến đây? Chúng không đến từ lý thuyết trong sách vở.
Không thấy có chỗ nào đã viết rõ các chi tiết của nỗi
thống khổ chúng ta. Sự đau khổ của chúng ta không liên quan
chính xác với lý thuyết, nhưng cả hai, sự đau khổ và lý
thuyết, lại cùng đi chung một con đường. Sự nghiên cứu
qua sách vở không thể theo kịp với thực tại được. Vì
lẽ đó, Đức Phật đã dạy cần phải đào luyện sự hiểu
biết thật rõ ràng về chính chúng ta. Bất cứ điều gì khởi
sinh lên, điều đó đều khởi sinh trong sự hay biết đó.
Khi sự hay biết này, đã hay biết được đúng với sự thật,
ta sẽ nhận ra rõ ràng rằng tâm và các tâm sở không phải
là của ta. Một cách rốt ráo, tất cả những hiện tượng
đó cần phải được dẹp bỏ qua và vứt đi như rác rến.
Chúng ta không nên bám níu vào chúng và gán cho chúng một ý
nghĩa nào cả.
Lý
thuyết và thực tế
Đức
Phật dạy về tâm và các tâm sở – thuộc tính của tâm,
nhưng không phải để cho chúng ta bám chặt lấy các ý niệm
đó. Ý định duy nhất của Ngài là giúp chúng ta nhận chân
ra được chúng (tâm và tâm sở) đều vô thường, bất toại
nguyện và vô ngã. Sau đó, hãy buông bỏ chúng, gạt chúng
qua một bên. Hãy nhận thức và hiểu rõ chúng khi chúng khởi
sinh. Tâm này đã bị điều kiện hóa từ lâu. Tâm ấy đã
được tập tành và chịu điều kiện hóa để quay cuồng
và xa rời khỏi tình trạng của sự hay biết thuần tịnh.
Khi tâm ấy quay cuồng, nó tạo nên các hiện tượng bị điều
kiện hóa, rồi các hiện tượng ấy trở lại ảnh hưởng
đến tâm thêm nữa, khiến cho sự biến chuyển cứ tiếp tục
mãi. Tiến trình đó khởi sinh các điều thiện, điều ác,
và các sự vật khác nữa dưới ánh mặt trời này. Đức
Phật dạy ta phải từ bỏ chúng hết đi. Tuy nhiên, ngay buổi
đầu, các bạn còn phải tập làm quen với lý thuyết, rồi
mới có thể buông bỏ nó vào một giai đoạn sau. Đó là tiến
trình tự nhiên. Tâm chỉ là như thế đó. Các tâm sở cũng
chỉ là như thế đó.
Hãy
lấy một thí dụ, về Bát Chánh Đạo chẳng hạn. Khi trí
tuệ (paññā, bát nhã) quán sát sự vật một cách đúng đắn
với minh quán, Chánh Kiến khởi lên và đưa đến Chánh Tư
duy, Chánh Ngữ, Chánh Mạng, và các chi kế tiếp. Điều này
có liên hệ đến các tình trạng tâm lý đã khởi lên từ
giác niệm thuần tịnh. Giác niệm đó cũng như một ngọn
đèn soi sáng trong đêm tối cho con đường phía trước. Nếu
có sự hiểu biết đúng đắn, nghĩa là phù hợp với chân
lý, nó sẽ tỏa lan và soi chiếu cho mỗi bước đi khác trên
đường Bát Chánh.
Bất
cứ điều gì chúng ta thể nghiệm, điều ấy cũng khởi lên
trong phạm vi của sự hiểu biết này. Sự hiểu biết không
thể có nếu tâm không hiện hữu. Tất cả là những hiện
tượng của tâm. Như Đức Phật có giảng, tâm chỉ giản
dị là tâm. Tâm không phải là một chúng sinh, không phải
là một người, một tự ngã, hoặc là chính bạn. Tâm không
phải là chúng ta, cũng không phải là chúng nó. Pháp (Dhamma)
chỉ giản dị là Pháp. Đó là một tiến trình tự nhiên,
vô ngã. Nó không thuộc về chúng ta, hay bất cứ ai khác. Nó
không phải là một vật. Bất cứ những gì mà một cá nhân
thể nghiệm đều rơi vào trong năm nhóm căn bản này (khandas,
năm uẩn): sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Đức Phật dạy
chúng ta nên buông bỏ chúng hết.
Sự
quán chiếu cũng tựa như một thanh gỗ. Minh quán (Vipassanā)
ở đầu này của thanh gỗ, còn An chỉ (Samatha) thì ở đầu
kia. Khi chúng ta cầm thanh gỗ lên, có phải một đầu hay là
hai đầu cùng được nâng lên? Dĩ nhiên, khi cầm thanh gỗ
lên thì hai đầu đều được cất lên cả. Đầu nào là minh
quán, và đầu nào là an chỉ? Chỗ nào là minh quán tận cùng
và chỗ nào là an chỉ bắt đầu? Cả hai đều là tâm cả.
Khi tâm trở nên an tịnh, thì sự an định sẽ khởi lên ngay
bước đầu từ nơi tịch tĩnh, an chỉ (samatha). Chúng ta gom
và hợp nhất tâm lại trong những trạng thái an định (samādhi).
Tuy nhiên, khi sự an bình và ổn cố của samādhi phai nhạt
dần, khổ sở sẽ khởi lên thay thế. Tại sao vậy? Bởi vì
sự an bình do thiền an chỉ đưa đến vẫn còn căn cứ trên
sự bám níu. Sự bám níu này có thể là một nguyên nhân gây
ra đau khổ. Tịch tĩnh chưa phải là bước cuối của con đường.
Đức Phật đã nhìn thấy điều đó, do chính kinh nghiệm của
Ngài, khi còn là vị Bồ-tát trên đường tu tập, sự an định
của tâm như thế vẫn chưa phải là cứu cánh. Các nguyên
nhân nằm bên dưới tiến trình của sự hiện hữu (bhava)
vẫn chưa được đoạn diệt (nirodha). Các điều kiện của
tái sinh vẫn còn đó. Công tác tâm linh của ngài Bồ-tát vẫn
chưa đạt đến mức toàn hão. Tại sao? Bởi vì vẫn còn khổ
não. Do đó, căn cứ trên sự an định của tịch tĩnh, Ngài
tiếp tục quán chiếu, điều tra, và phân tích bản chất hữu
vi của thực tại cho đến khi Ngài đã giải thoát khỏi mọi
sự ràng buộc, ngay cả sự ràng buộc vào tịch tĩnh. Tịch
tĩnh vẫn còn là một phần của thế giới hữu vi và thực
tại ước định. Bám vào loại an định đó là bám vào thực
tại ước định. Khi nào còn bám vào đó, chúng ta vẫn còn
sa lầy trong hiện hữu và tái sinh. Hân hoan trong sự an định
của tịch tĩnh sẽ đưa đến hiện hữu và tái sinh kế tiếp.
Khi tâm bất an và chao động đã lắng dịu xuống rồi, con
người thường hay bám níu vào sự yên tịnh tiếp theo đó.
Thế
nên, Ngài Bồ-tát quan sát các nguyên nhân và điều kiện nằm
bên dưới sự hiện hữu và tái sinh. Cho đến khi nào Ngài
còn chưa thấm nhập hoàn toàn vào vấn đề và hiểu rõ ràng
được Chân Lý, Ngài vẫn tiếp tục thẩm sát càng lúc càng
thâm sâu hơn, với một tâm tư an định, chiếu rọi vào tất
cả mọi sự vật, an lành hay xáo động, mỗi khi chúng khởi
sinh lên. Ngài tiếp tục thẩm sát cho đến khi Ngài thấy thật
rõ ràng, minh bạch rằng, muôn pháp khi khởi lên hiện hữu
thì cũng tựa như một hòn sắt nóng đang nung đỏ. Năm uẩn
(sắc, thọ tưởng, hành, thức) của chúng sinh là hòn sắt
nóng đỏ. Khi một hòn sắt nung nóng đỏ, còn có chỗ nào
cho ta cầm mà không bị phỏng tay chăng? Có chỗ nào nơi hòn
sắt nóng đỏ đó còn dịu mát chăng? Thử sờ vào bên trên,
bên dưới hoặc hai bên, ta có thể thấy được chỗ còn nguội
lạnh chăng? Không thể được. Hòn sắt nung đỏ đã hoàn
toàn nóng cháy. Chúng ta không thể nào bám vào sự an tịnh.
Nếu tự đồng hóa với sự an tịnh đó, rồi phỏng đoán
rằng cũng có kẻ đang được yên ổn và tịch tĩnh, đó là
vô tình củng cố thêm ý nghĩ sai lầm rằng có một linh hồn
riêng biệt, một tự ngã độc lập. Ý tưởng về tự ngã
chỉ là một phần của thực tại qui ước. Khi nghĩ rằng,
"Tôi bình an, tôi xao động, tôi tốt, tôi xấu, tôi sung sướng,
tôi đau buồn,...", chúng ta càng bị vướng vào hiện hữu
và tái sinh. Lại càng thêm khổ sở. Khi hạnh phúc tàn phai,
chúng ta đau khổ. Khi sự khổ sở biến mất, chúng ta có hạnh
phúc trở lại. Vướng mãi trong vòng lẩn quẩn đó, ta trồi
lên thụt xuống triền miên giữa thiên đường và địa ngục.
Trước
khi giác ngộ, Ngài Bồ-tát nhận thấy điều này trong chính
tâm của Ngài. Ngài biết rõ rằng các điều kiện của sự
hiện hữu và tái sinh vẫn chưa tận diệt hết. Công tác của
Ngài vẫn chưa hoàn tất. Chú tâm vào tính duyên sinh của cuộc
đời, Ngài quán chiếu: "Do nguyên nhân này mà có sự sinh;
do sự sinh này mà có sự chết, và tất cả các sự biến
chuyển này đến và đi." Thế là Ngài nắm lấy các chủ đề
đó để quán chiếu hầu thông hiểu Sự Thật về năm uẩn.
Tất cả mọi sự vật tâm linh hay vật chất, mọi sự việc
được quan niệm hay suy tư đến, đều do duyên sinh, không
có một ngoại lệ nào. Khi Ngài đã hiểu rõ như thế, Ngài
dạy chúng ta nên đặt chúng xuống. Khi Ngài đã hiểu rõ như
thế, Ngài dạy chúng ta nên buông bỏ chúng hết. Ngài khuyến
khích mọi người nên thông hiểu cho phù hợp với Chân Lý.
Nếu không như thế, chúng ta sẽ đau khổ. Chúng ta không đủ
khả năng để vứt bỏ các sự vật đó. Tuy nhiên, khi chúng
ta thấy rõ Sự Thật về vấn đề này, chúng ta sẽ nhận
ra rằng các sự vật đó làm mê hoặc chúng ta. Như Đức Phật
có nói, "Tâm không có thực chất, nó không phải một vật
nào cả."
Tâm
không phải sinh ra là thuộc về một ai. Tâm không chết đi
như bất cứ ai. Tâm ấy tự do, chiếu sáng rạng ngời, và
không vướng mắc vào bất cứ vấn đề nào cả. Lý do các
vấn đề khó khăn khởi lên là vì tâm ấy bị che mờ bởi
các sự vật bị điều kiện hóa, bị vẩn đục vì quan niệm
sai lầm về tự ngã. Bởi thế, Đức Phật dạy ta phải nên
quan sát tâm ấy. Ngay tại buổi đầu, đã có gì ở đấy?
Thực sự, không có gì cả. Tâm ấy không khởi lên cùng với
các pháp hữu vi, và tâm ấy cũng không diệt mất theo các
pháp hữu vi đó. Khi gặp một sự việc gì thiện lành, tâm
ấy không thay đổi để trở thành thiện lành theo. Khi gặp
một sự việc xấu ác, tâm ấy cũng không xấu ác theo. Tâm
ấy như thế đó, khi có sự minh quán nhìn rõ ràng vào bản
thể của chính mình. Ta sẽ thông hiểu rằng đây vốn là
một tình trạng vô thực chất.
Trí
tuệ minh quán của Đức Phật nhìn thấy muôn pháp đều vô
thường, bất toại nguyện và vô ngã. Ngài muốn mọi người
chúng ta phải thông hiểu hoàn toàn theo đường lối đó. Do
đó, trí tuệ đã biết rõ những gì phù hợp với Chân Lý.
Khi trí tuệ đó biết đến niềm an lạc hay nỗi sầu bi, tâm
sẽ giữ được sự an nhiên, tự tại. Cảm giác hỷ lạc
là một hình thức của sự sinh ra. Khuynh hướng trở nên buồn
bã là một hình thức của sự chết đi. Khi có sự chết,
tất sẽ có sự sinh; và những gì sinh ra rồi sẽ chết đi.
Khởi sinh rồi suy diệt, cứ mãi vướng vào vòng lẩn quẩn
của sự hiện hữu. Khi tâm tư của hành giả đã đạt đến
tình trạng hiểu biết như thế đó, hành giả không còn sót
lại chút nghi ngờ nào về sự trở thành và tái sinh nữa
cả. Không còn cần phải hỏi lại ai nữa cả.
Đức
Phật thẩm sát đầy đủ hết tất cả các pháp hữu vi và
đã buông bỏ được chúng. Năm uẩn cũng được buông bỏ,
và sự "hay biết" chỉ đơn thuần là một quan sát viên vô
tư. Nếu Ngài thể nghiệm điều chi tích cực, Ngài không vì
thế mà trở thành tích cực. Ngài chỉ đơn thuần quan sát
và tỉnh giác. Nếu Ngài thể nghiệm điều chi tiêu cực, Ngài
không hề trở thành tiêu cực. Và tại sao lại như vậy? Bởi
vì tâm tư Ngài đã giải thoát khỏi các nhân duyên ấy. Ngài
đã thấm nhập vào Chân Lý. Nhân duyên đưa đến tái sinh
không còn hiện hữu nữa. Đó là sự "hay biết" chắc chắn
và đáng tin cậy. Đó là một tâm tư thật sự hoàn toàn an
định. Đó là những gì không hề được sinh ra, không già
lão, không bệnh hoạn, và không hề chết đi. Đó cũng không
phải là nguyên nhân hoặc hậu quả, cũng không tùy thuộc
vào nhân và quả; hoàn toàn độc lập đối với tiến trình
duyên sinh. Các nguyên nhân bấy giờ đã chấm dứt, và không
còn sót lại một duyên nào nữa. Tâm tư ấy vượt qua sự
sinh và sự chết, vượt qua an lạc lẫn ưu bi, cả thiện lẫn
ác. Còn có thể nói gì hơn nữa? Nó vượt qua mọi giới hạn
của ngôn từ để mô tả nó. Tất cả các điều kiện hỗ
trợ đã chấm dứt, và nỗ lực nào để mô tả nó cũng sẽ
chỉ đưa đến sự bám thủ. Ngôn từ được dùng bấy giờ
chỉ trở thành một tràng lý thuyết của tâm tư mà thôi.
Các
mô tả lý thuyết về tâm và cách vận hành của tâm tuy chính
xác nhưng Đức Phật lại xem loại hiểu biết đó tương đối
vô dụng. Chúng ta dùng trí thức để hiểu biết một điều
gì, rồi tin tưởng vào đó, nhưng đấy không có chút ích
lợi thực sự nào. Kiến thức đó không đưa đến an định.
Sự hiểu biết của Đức Phật đưa đến sự buông bỏ. Kết
quả là sự xả ly. Bởi vì chính cái tâm đã dẫn ta nhúng
tay vào cả hai, điều phải và điều trái. Nếu khôn ngoan,
chúng ta sẽ chọn điều phải. Nếu quá khờ khạo, chúng ta
sẽ dính dấp đến điều quấy. Tâm ấy là tâm thế gian,
và đức Thế tôn đã dùng các sự vật của thế gian này
để quan sát chính thế gian đó. Biết được rõ ràng thế
gian này đúng như thật nó là như thế, Ngài được tôn xưng
là bậc "Thế gian giải", nghĩa là bậc đã hiểu được thế
gian này rất rõ ràng và minh bạch.
*
Trở
lại với vấn đề an chỉ (samatha) và minh quán (vipassanā),
điều quan trọng nhất là phải phát triển các trạng thái
đó ngay trong chính tâm của chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta thật
sự phát triển chúng nơi ta thì chúng ta mới hiểu biết rõ
thực sự chúng là như thế nào. Chúng ta cố tìm học những
gì trong sách vở nói về các yếu tố của tâm, nhưng loại
kiến thức trí năng này lại không có ích lợi chi cho việc
cắt đứt hẳn các ham muốn vị kỷ, sân hận và si mê. Chúng
ta nghiên cứu lý thuyết về tham, sân, si, giản dị chỉ mô
tả các đặc tính khác nhau của các lậu hoặc tinh thần đó:
"Ham muốn ích kỷ có nghĩa là như thế này; sân hận mang ý
nghĩa như thế kia; si mê được định nghĩa như thế nọ,
v.v." Khi chỉ hiểu biết suông qua các đặc tính lý thuyết
đó, chúng ta có thể thuyết giảng về chúng, nhưng chỉ trên
một mức độ nông cạn. Chúng ta thông minh và hiểu biết
như thế, nhưng khi các lậu hoặc đó thực sự khởi lên trong
tâm chúng ta, chúng có hoàn toàn giống hệt như trong lý thuyết
không? Thí dụ như, khi chúng ta gặp phải việc gì bất như
ý, chúng ta có phản ứng chống lại và trở nên cau có chăng?
Chúng ta có bám chặt lấy nó không? Hay là chúng ta buông bỏ,
cho qua đi? Nếu sự hiềm ghét nổi lên và chúng ta thấy được
như thế, chúng ta có còn ôm ấp sự hiềm ghét đó mãi chăng?
Hoặc khi chúng ta đã nhận diện rõ ra sự hiềm ghét rồi,
chúng ta có lập tức buông bỏ nó không? Nếu tự xét mình
khi có điều không vừa ý nào đó mà lại nổi lên sự hiềm
ghét và cố giữ sự hiềm ghét đó mãi, tốt hơn là ta nên
quay về học tập lại nữa. Bởi vì sự cố chấp đó không
phải là thái độ đúng đắn. Sự thực tập vẫn chưa được
hoàn hảo. Hễ khi đã hoàn hảo rồi, tự nhiên có sự buông
bỏ xảy ra. Các bạn hãy nhìn lại sự việc dưới ánh sáng
này.
Chúng
ta phải thành thực nhìn sâu vào chính tâm của chúng ta, nếu
ta muốn thể nghiệm được các lợi lạc của sự thực tập.
Cố gắng mô tả các tình trạng tâm lý, qua các loại tâm
sở khác nhau và các đặc tính của chúng, chưa phải là sự
thực tập đầy đủ. Còn nhiều việc khác cần làm hơn thế
nữa. Nếu cần học tập các điều ấy, bạn hãy tìm hiểu
chúng một cách tuyệt đối, với sự sáng tỏ rõ ràng và
sự hiểu biết thâm sâu. Thiếu sự trong sáng của minh quán,
làm sao ta hoàn tất được việc học tập? Chúng ta không bao
giờ học tập cho xong cả.
*
Vì
thế, thực hành Chánh Pháp là một việc làm rất quan trọng.
Khi tôi thực hành, đó là tôi đang học tập. Tôi không biết
nhiều về các tâm sở, các bản tính đặc thù của tâm. Tôi
chỉ quan sát phẩm chất của sự hiểu biết. Nếu một tư
tưởng khởi lên, tôi liền tự hỏi tại sao. Nếu một ý
hờn giận nổi lên, tôi tự hỏi tại sao. Nếu một ý yêu
thương sinh ra, tôi tự hỏi tại sao. Đó là phương cách mà
tôi thực hiện. Cho dù có đặt tên các ý đó là tư tưởng,
là tâm sở, là yếu tố tâm lý, là gì gì đi nữa, cũng đã
có sao? Chỉ cần đi thật sâu vào điểm đó cho đến khi nào
các cảm xúc thương hay ghét hoàn toàn biến mất khỏi tâm.
Khi tôi có đủ khả năng để chận dừng sự yêu hay ghét,
trong bất cứ trường hợp nào, tôi mới có thể vượt thoát
khỏi sự đau khổ. Rồi thì đâu cần việc gì xảy ra thêm;
tâm và trí đã được giải thoát và thoải mái. Không có
gì còn lưu lại. Tất cả đều dừng đứng lại.
Xin
hãy thực tập như thế. Nếu có ai muốn thuyết giảng về
lý thuyết, đó là việc của họ. Nhưng dù có tranh luận đến
bao nhiêu đi nữa, sự thực tập cũng chỉ gom lại ở một
điểm duy nhất tại đây. Khi sự việc nào khởi lên, nó khởi
lên ngay tại đây. Dù nhiều hay ít, nó cũng bắt nguồn từ
ngay nơi đây. Khi nó chấm dứt, sự chấm dứt cũng xảy ra
ngay tại đây. Còn chỗ nào khác nữa sao? Đức Phật gọi
điểm tại đây là "trí tuệ". Khi trí tuệ đó biết được
sự vật một cách chính xác, phù hợp với Chân Lý, chúng
ta thông hiểu được ý nghĩa của tâm. Sự vật luôn luôn
lừa gạt không ngừng. Khi ta học tập về chúng, chúng luôn
dối gạt ta. Tôi còn phải nói cách nào nữa đây? Mặc dù
bạn biết chúng, bạn vẫn bị mê hoặc vì chúng, ngay tại
nơi bạn biết đến chúng. Đấy là thực trạng. Vấn đề
là như thế này: ý định của Đức Phật không phải là muốn
ta biết các sự vật được gọi tên là gì. Mục đích giáo
pháp của Ngài là dạy ta hãy suy gẫm để tìm ra con đường
giúp chúng ta thoát ra khỏi các ràng buộc của vạn pháp, xuyên
qua sự truy tầm các nguyên nhân sâu xa nằm ẩn bên dưới.
Thiện
Nhựt & Bình Anson trích dịch
-2-
Bốn
mươi lăm năm hoằng pháp của Ðức Phật
Năm
đầu tiên (528 TCN): Sau khi thành đạo vào đêm rằm tháng Vesakha
(tức tháng Tư âm lịch), Đức Phật đến ngụ tại khu vườn
nai (Lộc uyển), vùng Chư thiên đọa xứ (Isipatana) tức Sa-nặc
(Sarnath) ngày nay, gần thành Ba-na-lại (Benares). Tại đó, Ngài
giảng bài kinh đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân, hóa độ năm
anh em đạo sĩ Kiều-trần-như (Kodañña) và cư sĩ Da-xá (Yasa).
Năm
thứ 2-4 (527-525 TCN): Ngụ tại thành Vương-xá (Rajagaha), kinh
đô của xứ Ma-kiệt-đà (Magadha). Ngài cảm hóa vua Bình-sa
(Bimbisara). Vua cúng dường khu rừng Trúc Lâm (Veluvana), ngoài
cửa Bắc của thành Vương-xá, làm nơi trú ngụ của Ðức
Phật và chư Tăng. Ngài thường đến núi Linh Thứu (Gijjhakuta)
để giảng đạo.Trong thời gian nầy, Ngài hóa độ Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên, y sĩ Kỳ-bạt (Jivaka) và trưởng giả Tu-đạt
Cấp Cô Độc (Sudatta Anathapindika). Y sĩ Kỳ-bạt cúng dường
khu vườn xoài làm tinh xá, và trưởng giả Cấp Cô Độc cúng
dường tinh xá Kỳ Viên (Jetavana). Ngài trở về thăm phụ vương
Tịnh Phạn (Suddhodana), và nhận hoàng tử La-hầu-la (Rahula)
vào hàng sa di.
Năm
thứ 5 (524 TCN): Ngụ tại Vệ-xá-li (Vesali), thủ đô của xứ
Licchavi, và tại thành Vương-xá. Tại thành Vệ-xá-li, Đức
Phật cứu độ dân chúng đang bị nạn hạn hán và bệnh dịch
tả hoành hành. Vua Tịnh Phạn qua đời trong năm này. Ðức
Phật thành lập giáo đoàn Tỳ khưu ni theo lời thỉnh cầu
của bà di mẫu Maha Pajapati Gotami (Kiều-đàm-di).
Năm
thứ 6 (523 TCN): Ngụ tại đồi Mankula, thành Kiều-thượng-di
(Kosambi), xứ Vamsa, Ngài thu phục và giáo hóa các người ngoại
đạo.
Năm
thứ 7 (522 TCN): Theo Chú giải bộ Pháp Tụ và Chú giải kinh
Pháp Cú (kệ 181), trong mùa hạ năm này, Đức Phật trú tại
cõi trời Ðao-lợi (Tavatimsa). Ngài dạy Thắng Pháp (Abhidhamma,
Vi diệu pháp) cho chư thiên và mẫu hậu Ma-da (Maha Maya). Mỗi
ngày, Ngài trở về cõi người, tại thành Sankassa, tóm tắt
lại cho tôn giả Xá-lợi-phất để tôn giả khai triển và
giảng rộng ra cho hàng đệ tử.
Năm
thứ 8 (521 TCN): Ngụ tại rừng Bhesakala, núi Cá Sấu (Sumsumaragiri),
xứ Vamsa, Ngài giảng pháp cho bộ tộc Bhagga.
Năm
thứ 9 (520 TCN): Ngụ tại thành Kiều-thượng-di. Nhân khi bị
bà thứ hậu Magandhiya của vua Udena oán ghét và bêu xấu, Ðức
Phật dạy tôn giả A-nan (Ananda) về hạnh kham nhẫn.
Năm
thứ 10 (519 TCN): Ngụ tại rừng Parileyya gần thành Kiều-thượng-di.
Không khuyên giải được các xung đột và tranh cãi giữa hai
nhóm tu sĩ, Ðức Phật bỏ vào rừng sống độc cư trong suốt
3 tháng hạ, và hóa độ được một voi chúa và một chú khỉ.
Hai con thú nầy đã giúp đỡ Ngài trong các công việc hằng
ngày.
Năm
thứ 11 (518 TCN): Ngụ tại làng Ekanala, phía nam thành Vương-xá,
Ngài hóa độ vị điền chủ Kasibharadvaja.
Năm
thứ 12 (517 TCN): Ngụ tại Veranja, phía nam thành Xá-vệ, Ðức
Phật dạy tôn giả Xá-lợi-phất rằng Ngài sẽ thiết chế
giới luật vì có hoen ố phát sinh trong hàng Tăng chúng. Nếu
không như thế, Giáo Pháp sẽ không tồn tại lâu dài.
Năm
thứ 13 (516 TCN): Ngụ tại núi đá Caliya.
Năm
thứ 14 (515 TCN): Ngụ tại tinh xá Kỳ-viên, thành Xá-vệ (Savatthi).
Tôn giả La-hầu-la tròn 20 tuổi và thọ Cụ túc giới, trở
thành một vị Tỳ khưu. Đức Phật hóa độ bà Tỳ-xá-khư
(Visakha), về sau là vị nữ thí chủ bậc nhất trong hàng đệ
tử cư sĩ.
Năm
thứ 15 (514 TCN): Ngụ tại thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavatthu) của
bộ tộc Thích-ca. Vua Thiện Giác (Suppabhuddha), cha của công
chúa Da-du-đà-la (Yosodhara), băng hà.
Năm
thứ 16 (513 TCN): Ngụ tại vùng Alavi, phía bắc thành Ba-na-lại.
Ngài hàng phục quỷ ăn thịt người Alavaka, sau đó, quỷ xin
quy y Tam Bảo và nguyện hộ trì Chánh Pháp.
Năm
thứ 17 (512 TCN): Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá.
Năm
thứ 18 và 19 (511-510 TCN): Ngụ tại núi đá Caliya.
Năm
thứ 20 (509 TCN): Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá.
Vào một buổi sáng, trên đường đi khất thực, Ngài hóa
độ tướng cướp Vô Não (Angulimala). Ðức Phật bị ngoại
đạo vu cáo là đã mưu sát bà Sundari.
Năm
thứ 21 (508 TCN): Ngụ tại tinh xá Trúc Lâm, thành Vương-xá.
Tôn giả A-nan (Ananda) chính thức nhận lời làm thị giả hầu
cận Ðức Phật.
Năm
thứ 22-44 (507-485 TCN): Trong thời gian 23 năm này, Đức Phật
thường ngụ tại tinh xá Kỳ-viên. Ngài cũng đến ngụ tại
tinh xá Ðông viên (Pubbarama), phía đông thành Xá-vệ, do bà
Tỳ-xá-khư cúng dường. Hai vị đại trưởng lão Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên lần lượt tịch diệt vào năm 485 TCN.
Năm
thứ 45 (484 TCN): Ngụ tại làng Beluva, phía nam thành Vệ-xá-li,
Ngài trải qua một cơn bệnh rất trầm trọng. Sau khi bình
phục, vào buổi trưa ngày rằm tháng Magha (tháng Giêng âm lịch),
tại điện thờ Capala, Ngài tuyên bố sẽ nhập diệt sau 3
tháng. Đức Phật tiếp tục du hành qua các làng khác và nhập
diệt tại làng Kusinara của bộ tộc Malla, vào đêm trăng rằm
tháng Vesakha (tương đương với tháng Tư âm lịch).
*
Ghi
chú:
1)
TCN: Trước Công Nguyên (Tây Lịch)
2)
Tham khảo:
-
Ðức Phật và Phật Pháp (The Buddha and his Teachings), Hòa thượng
Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1970.
-
Ðức Phật Lịch sử (The Historical Buddha), H.W. Schumann, Trần
Phương Lan dịch Việt, 1997.
-
Tuần báo Giác Ngộ, số 67, ngày 12-07-1997.
-3-
Tám
giới của bậc Thánh
Ngoài
việc thọ trì, tuân giữ 5 điều giới căn bản trong đời
sống hằng ngày, thỉnh thoảng, trong các ngày trai giới, các
dịp lễ lớn, hay trong các khóa tu thiền tịnh tâm, người
Phật tử cư sĩ chúng ta thường giữ thêm Bát Quan Trai Giới.
Tám giới đó dựa vào năm giới căn bản, nhưng được khai
triển thêm để giúp tạo một đời sống tịnh hạnh, đơn
giản, giúp tạo các điều kiện thuận lợi để tu dưỡng
tâm trí. Đó là:
1)
Không sát sinh.
2)
Không trộm cắp.
3)
Không hành dâm.
4)
Không nói dối.
5)
Không uống rượu và dùng các chất say.
6)
Không ăn ngoài giờ (không ăn sau 12 giờ trưa).
7)
Không tham gia múa hát, thổi kèn, đánh đàn, xem múa hát, nghe
đàn, kèn, và không trang điểm, thoa vật thơm, dồi phấn và
đeo tràng hoa.
8)
Không nằm hay ngồi nơi quá cao, và nơi xinh đẹp.
Ngày
trai giới còn có tên gọi là ngày Bố-tát, phiên âm từ chữ
"Uposatha". Uposatha có nghĩa là đi đến và lưu lại tại một
ngôi chùa hay một tu viện. Theo phong tục Ấn Độ ngày xưa,
các giáo sĩ Bà-la-môn thực hiện các nghi lễ thanh tịnh hóa,
rồi rời gia đình, chọn một nơi thanh vắng để sống độc
cư trọn ngày, vào ngày trăng tròn (ngày rằm) và ngày đầu
trăng (mồng 1). Trong bối cảnh đó, Đức Phật cho phép các
vị tu sĩ đệ tử của Ngài hội họp lại vào các ngày đó
để tụng giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Patimokkha, giới luật
tu sĩ) và thuyết giảng cho hàng đệ tử cư sĩ khi họ đến
lưu lại tại chùa. Ngoài ra, cộng đồng Phật tử thời đó
còn có 2 ngày Bố-tát khác là ngày giữa tuần trăng đầu
(mồng 8) và ngày giữa tuần trăng sau (ngày 23).
Đó
là bốn ngày Bố-tát căn bản của truyền thống Phật giáo
Nguyên thủy, vẫn còn được áp dụng cho đến ngày nay. Tuy
nhiên, tại Việt Nam, Phật tử cư sĩ thường thọ trì 6 ngày
trong tháng: 8, 14, 15, 23, 29, 30 (28, 29 cho tháng thiếu), hoặc
8 ngày: 5, 8, 14, 15, 20, 23, 29, 30.
1.
Tám giới của bậc Thánh
Các
bài giảng của Đức Phật có liên quan đến tám giới căn
bản được ghi lại trong Tăng chi bộ, Chương Tám Pháp, Phẩm
"Ngày Trai Giới". Đức Phật giảng rằng người nào thọ trì
tám giới nghiêm túc với tâm trong sạch, người ấy sống
tịnh hạnh như một vị thánh A-la-hán. Vì thế, các đệ
tử của Ngài phải cố gắng giữ tám giới trong ngày Bố-tát.
Ngài giảng chi tiết cho bà Visakha (Tỳ-sá-khư) như sau:
-"Thánh
đệ tử ấy, này Visakha, suy tư như sau:
1)
"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ sát sinh, tránh
xa sát sinh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng
từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng
sinh và loài hữu tình. Cũng vậy đêm nay và ngày nay, ta sống
từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, bỏ trượng, bỏ kiếm,
biết tàm quí, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc
của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Về chi phần này,
ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới."
2)
"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ lấy của không
cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã
cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cắp. Cũng vậy, đêm
nay và ngày nay, ta sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy
những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống
thanh tịnh, không có trộm cắp. Về chi phần này, ta theo gương
các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới."
3)
"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ tà hạnh, tịnh
tu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ.
Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ tà hạnh, tịnh
tu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ.
Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực
hành trai giới."
4)
"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ nói láo, tránh
xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật
chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại
lời hứa đối với đời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay,
ta sống từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời
chân thật, y chỉ nơi sự thật chắc chắn, đáng tin cậy,
không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời.
Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực
hành trai giới."
5)
"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ rượu men, rượu
nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu nấu làm cho
đắm say. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ rượu
men, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu
nấu làm cho đắm say. Về chi phần này, ta theo gương các vị
A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới."
6)
"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán ăn một ngày một bữa,
không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Cũng vậy, đêm nay và
ngày nay, ta sống ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm,
không ăn phi thời. Về chi phần này, ta theo gương các vị
A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới."
7)
"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán tránh xa không xem múa,
hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương
liệu, dầu thoa và các thời trang. Cũng vậy, đêm nay và ngày
nay, ta sống tránh xa không xem múa, hát, nhạc, diễn kịch,
không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các
thời trang. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán
và ta sẽ thực hành trai giới."
8)
"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ giường cao,
giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Các vị ấy
nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ.
Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta từ bỏ giường cao, giường
lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Ta nằm trên giường
thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ. Về chi phần này,
ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới."
"Như
vậy, này Visakha, là Thánh trai giới, thực hành Thánh trai giới,
này Visakha, có quả lớn, có lợi ích lớn, có chói sáng lớn,
có ánh sáng lớn."
Trong
Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, Đức Phật cũng khuyên các
cư sĩ của bộ tộc Thích-ca trong các ngày Bố-tát phải nỗ
lực hành trì bát quan trai giới, sống tinh cần, nhiệt tâm,
không phóng dật trọn ngày và trọn đêm. Những lợi lạc
do công phu tu tập đó còn to lớn hơn tài sản của cải mà
họ có thể tích tụ được để sống sung túc cả trăm năm;
vì công phu đó sẽ tạo thiện nghiệp đưa đến tái sinh trong
các cõi trời an lạc với tuổi thọ cả ngàn năm.
Hơn
thế nữa, kết quả đó sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển tuệ giác, đưa họ nhập dòng thánh giải
thoát, qua các quả vị Dự lưu, Nhất lai, và Bất lai. Ngài
nói:
-"Ở
đây, này các Thích tử, đệ tử của Ta, trong 10 năm sống
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy.
Như vậy, vị ấy thực hành, vị ấy có thể sống trăm năm,
ngàn năm, trăm ngàn năm được cảm thọ nhất hướng lạc.
Vị ấy có thể chứng được quả Bất lai, quả Nhất lai
hay quả Dự lưu không có sai chạy.
Này
các Thích tử, đâu phải là 10 năm! Ở đây, đệ tử của
Ta trong 9 năm, ... trong 8 năm, ..., trong 1 năm, ... trong 10 tháng,
... trong 9 tháng, ... trong 8 tháng, ... trong 1 tháng, ... trong 10
đêm 10 ngày... trong 9 đêm 9 ngày... trong 8 đêm 8 ngày... trong
1 đêm 1 ngày sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như
lời Ta giảng dạy. Như vậy, vị ấy thực hành, vị ấy có
thể sống trăm năm, ngàn năm, trăm ngàn năm được cảm thọ
nhất hướng lạc. Vị ấy có thể chứng quả Bất lai, quả
Nhất lai, hay quả Dự lưu, không sai khác."
2.
Tám giới trong đời sống tu sĩ
Không
chỉ dành riêng cho hàng cư sĩ, tám giới trên cũng áp
dụng cho đời sống xuất gia. Tám giới này được bao
gồm trong 10 giới căn bản cho hàng Sa-di (Tiểu tụng thuộc
Tiểu bộ, và Chương I, Đại Phẩm, Tạng Luật, Tỳ khưu
Indacanda dịch), trong đó, giới thứ bảy của bát quan trai
giới được tách ra làm hai: giới không tham gia múa hát,
thổi kèn, đánh đàn, xem múa hát, nghe đàn, kèn; và giới
không trang điểm, thoa vật thơm, dồi phấn và đeo tràng hoa.
Cộng thêm vào đó là giới không cất giữ vàng bạc,
tổng cộng thành 10 giới.
Tám
giới nầy cũng nằm trong giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa
(Patimokkha) của các vị tỳ khưu.
- Không
sát sinh: trong phần Triệt khai bất cộng trụ và phần
Ưng đối trị.
-
Không trộm cắp: trong phần Triệt khai bất cộng trụ.
-
Không hành dâm: trong phần Triệt khai bất cộng trụ.
-
Không nói dối: trong phần Triệt khai bất cộng trụ và
phần Ưng đối trị.
-
Không uống rượu và các chất say: trong phần Ưng đối trị.
-
Không ăn trái giờ: trong phần Ưng đối trị.
-
Không nằm ngồi nơi quá cao và xinh đẹp: trong phần Ưng xả
đối trị và phần Ưng đối trị.
Riêng
giới không múa hát, thổi kèn, đàn, xem múa hát, nghe đàn
kèn tuy không ghi rõ trong giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa nhưng
có ghi trong các điều liên quan đến tội Tác ác (dukkata),
thuộc Tiểu Phẩm (Chương V), của Tạng Luật. Duyên sự
như sau:
Một
lần nọ, tại thành Rājagaha (Vương xá) có lễ hội ở trên
đỉnh núi. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (lục quần tỳ khưu)
đã đi xem lễ hội ở trên đỉnh núi. Dân chúng phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại đi xem vũ, ca, luôn cả tấu nhạc,
giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm
tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, đến trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn. Ngài khiển trách nhóm Lục
Sư ấy, rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, không nên đi xem vũ, ca, hoặc tấu nhạc; vị
nào đi thì phạm tội dukkata (tác ác).
Ngay
cả đến việc ngâm nga các bài kệ, bài pháp với các
âm điệu trầm bổng du dương cũng bị Đức Phật khiển
trách và ngăn cấm. Một lần nọ, các tỳ khưu nhóm Lục
Sư ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài.
Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các
sa-môn Thích tử này ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát
với sự kéo dài giống y như chúng ta ca hát vậy.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm
tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, đến trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn. Ngài khiển trách nhóm Lục
Sư ấy, rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga giáo
pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài: Bản thân vị
ấy bị say đắm trong âm điệu, luôn cả những kẻ khác cũng
bị say đắm trong âm điệu, hàng tại gia phàn nàn, trong khi
ra sức thể hiện âm điệu thiền định bị phân tán, điều
cuối cùng là dân chúng thực hành theo đường lối sai trái.
Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga
Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài. Này các tỳ khưu,
không nên ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự
kéo dài; vị nào ngâm nga thì phạm tội dukkata (tác ác).
Chương
V, Tiểu Phẩm, cũng có ghi việc Đức Phật khiển trách
và ngăn cấm các tu sĩ trang điểm, thoa vật thơm, đeo tràng
hoa, v.v. Duyên sự như sau:
Một
lần nọ, các tỳ khưu trong nhóm Lục Sư thoa dầu khuôn mặt,
xoa bóp khuôn mặt, thoa phấn khuôn mặt, tô điểm mặt bằng
bột phấn đỏ, vẽ màu ở thân thể, vẽ màu ở mặt, vẽ
màu ở thân thể và ở mặt. Dân chúng phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại thoa dầu khuôn mặt, xoa bóp khuôn
mặt, thoa phấn khuôn mặt, tô điểm mặt bằng bột phấn
đỏ, vẽ màu ở thân thể, vẽ màu ở mặt, vẽ màu ở thân
thể và ở mặt giống như các kẻ tại gia hưởng thụ dục
lạc vậy?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm
tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, đến trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn. Ngài khiển trách nhóm Lục
Sư ấy, rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, không nên thoa dầu khuôn mặt, không nên xoa bóp
khuôn mặt, không nên thoa phấn khuôn mặt, không nên tô điểm
mặt bằng bột phấn đỏ, không nên vẽ màu ở thân thể,
không nên vẽ màu ở mặt, không nên vẽ màu ở thân thể
và ở mặt; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkata (tác
ác).
3.
Áp dụng bát quan trai giới trong đời sống cư sĩ
Theo
truyền thống, trong ngày Bố-tát, người cư sĩ Phật tử thức
dậy sớm, sửa soạn thức ăn, rồi cúng dường đến các
vị Tăng sĩ đi khất thực trong xóm làng. Hoặc họ mang thức
ăn đến chùa và cúng dường đến chư Tăng ở đó. Đồng
thời, các vị Phật tử này xin chư Tăng đọc truyền Tam quy
và Bát quan trai giới để được thọ trì trong suốt ngày
và đêm hôm đó. Có thể là sau đó, họ trở về nhà, sinh
hoạt bình thường, nhưng vẫn tuân giữ tám giới cho đến
sáng hôm sau. Có thể là họ thu xếp để ở lại chùa trọn
ngày và trọn đêm hôm đó. Cần ghi nhớ ở đây là phải
trì giữ trọn vẹn các trai giới đó trong suốt 24 giờ.
Tùy
theo nếp sinh hoạt của mỗi chùa, chương trình có thể thay
đổi. Có những nơi Phật tử lưu lại đó để đọc sách,
nghe thuyết pháp, đóng góp vào các công tác Phật sự, làm
công quả tại chùa. Có những nơi chú trọng đến hành thiền,
người Phật tử dành trọn ngày và đêm để tập sống quán
niệm, tĩnh tâm, xen kẽ các buổi ngồi hành thiền và đi kinh
hành, và đến gặp thiền sư để tham vấn riêng về các vấn
đề có liên quan đến công phu tu tập của mình.
Có
những chùa tổ chức đêm thọ đầu đà, với tham dự viên
nguyện không ngủ hay nằm, tích cực tham gia vào các buổi
thuyết pháp và thảo luận về Phật pháp. Trong đêm đầu
tháng và giữa tháng, nếu tại chùa có trên 4 vị Tỳ khưu,
chư Tăng tụ họp tại chánh điện, nơi có kết giới Sima,
để tụng đọc 227 điều giới bổn của hàng Tỳ khưu, và
cuộc lễ này có thể kéo dài hơn một giờ.
*
Ngày
nay, trong môi trường xã hội kinh tế hiện đại, khi chúng
ta phải sinh hoạt, làm việc theo lịch Tây phương, rất khó
tuân giữ các ngày Bố-tát đúng theo âm lịch. Khuynh hướng
thông thường là dời ngày Bố-tát vào những ngày cuối tuần,
khi mọi người được nghỉ ngơi, dễ thu xếp để gặp nhau,
hay đi đến chùa, đến các tịnh thất, thiền viện. Có những
nhóm Phật tử đã linh hoạt tổ chức ngày "Tĩnh tâm" hằng
tháng, vào ngày cuối tuần kề cận với đêm trăng rằm, thường
là ngày thứ Bảy và hành trì bát quan trai giới trọn ngày
và trọn đêm đó cho đến sáng ngày Chủ nhật.
Nếu
có chư Tăng Ni hiện diện, chúng ta thỉnh quý vị ấy truyền
quy giới. Ở những nơi không có Tăng Ni, chúng ta có thể mời
một vị cư sĩ lớn tuổi, có uy tín, tuyên đọc quy giới,
và mọi người cùng đọc theo, và tự nguyện thọ trì với
tâm trong sạch. Chương trình sinh hoạt thì tùy duyên, có thể
là tổ chức các buổi hành thiền, tham cứu kinh sách, xen
kẽ với các buổi thuyết pháp hoặc đàm luận về Phật pháp,
hoặc cùng tụng đọc các bài kinh căn bản như kinh Từ Bi,
kinh Hạnh Phúc, kinh Châu Báu, kinh Chuyển Pháp Luân, v.v., hoặc
cùng nghe các bài giảng, các bài kinh tụng thu âm trong băng
audio-cassette hay đĩa CD.
Tương
tự trong tinh thần đó, ở những nơi xa xôi, không có nhiều
bạn đồng tu, không có chùa, không có Tăng Ni, chúng ta vẫn
có thể tự tổ chức một ngày trai giới tại nhà riêng, tự
đọc lên lời nguyện quy y Tam Bảo và hành trì Tám Giới,
rồi lập ra một chương trình tịnh tu cho riêng mình trong trọn
ngày ấy.
Điều
quan trọng là mỗi người chúng ta cần phải tu tập giữ tâm
thanh tịnh, nhu hòa, không bận rộn, không lo âu tính toán,
và lúc nào cũng cố gắng tỉnh giác, chuyên chú, chánh niệm,
nhất tâm hướng về Phật Pháp trong suốt thời gian thọ trì
bát quan trai giới.
-4-
Sơ
lược về Lý Duyên Khởi
Tên
Phạn ngữ Pāli của lý Duyên khởi hay Duyên sinh là "Paticcasamuppāda",
còn được dịch là "Tùy thuộc Phát sinh", tiếng Anh là "Dependent
Origination". Thuyết nầy bao gồm 12 thành tố, nên cũng được
gọi là Thập Nhị Nhân Duyên.
Trong
Tăng chi bộ, bài kinh số 92 thuộc chương Mười Pháp, Đức
Phật giảng cho trưởng giả Cấp Cô Độc:
"Ở
đây, này gia chủ Cấp Cô Độc, vị Thánh đệ tử quán sát
như sau:
Do
cái này có, cái kia có.
Do
cái này sinh, cái kia sinh.
Do
cái này không có, cái kia không có.
Do
cái này diệt, cái kia diệt."
Đó
là tóm lược lý Duyên khởi. Rồi Ngài giảng rộng ra:
"Tức
là do duyên vô minh, có các hành.
Do
duyên các hành, có thức.
Do
duyên thức, có danh sắc.
Do
duyên danh sắc, có sáu nhập.
Do
duyên sáu nhập, có xúc.
Do
duyên xúc, có thọ.
Do
duyên thọ, có ái.
Do
duyên ái, có thủ.
Do
duyên thủ, có hữu.
Do
duyên hữu, có sinh.
Do
duyên sinh, có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Như
vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này."
Tiếp
theo, Đức Phật giảng về sự đoạn diệt các khổ uẩn:
"Do
vô minh diệt, không có dư tàn, nên các hành diệt.
Do
các hành diệt, nên thức diệt.
Do
thức diệt, nên danh sắc diệt.
Do
danh sắc diệt, nên sáu nhập diệt.
Do
sáu nhập diệt, nên xúc diệt.
Do
xúc diệt, nên thọ diệt.
Do
thọ diệt, nên ái diệt.
Do
ái diệt, nên thủ diệt.
Do
thủ diệt, nên hữu diệt.
Do
hữu diệt, nên sinh diệt.
Do
sinh diệt, nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt.
Như
vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt. Ðây là Thánh lý được
khéo thấy và khéo thể nhập với trí tuệ."
Như
thế, khi thuyết giảng lý Duyên khởi, Đức Phật dạy cho
chúng ta thấy rằng vì vô minh và bị mê si mà sự hiện hữu
và khổ đau hiện tại đã phát sinh; do sự diệt tận của
vô minh, và từ đó ái diệt và thủ diệt, mà không còn sự
tái sinh nào tiếp theo; và như vậy, tiến trình hiện hữu
được dừng lại, và cùng với sự dừng lại ấy, là sự
chấm dứt mọi đau khổ.
*
Ở
đây, xin trình bày sơ lược tóm tắt về các liên hệ giữa
12 thành tố của lý Duyên khởi như sau:
Vô
minh duyên hành: Do vô minh (avijjā), các hành (sankhara) có điều
kiện để sinh ra. Hành là những tâm sở Tư (cetanā - tác ý,
cố ý), sẽ đưa đến tái sinh, còn gọi là hành nghiệp. Vô
minh ở đây chủ yếu là vô minh về Tứ Diệu Ðế, vô minh
về lý nhân duyên, vô minh về quá khứ và hiện tại của
chúng ta.
Do
vô minh, đôi khi chúng ta làm những hành động thiện, nhưng
phần lớn chúng ta làm những hành động bất thiện, vì thông
thường những gì chúng ta làm đều bắt nguồn từ tham lam
và sân hận. Do vô minh, chúng ta làm đủ mọi loại hành động,
vì chúng ta không biết đâu là đúng, đâu là sai, hoặc chúng
ta chỉ hiểu đại khái rằng những hành động thế này là
thiện, những hành thế kia là bất thiện. Vì mù quáng bởi
vô minh mà chúng ta thường làm những điều sai lầm, dù rằng
đôi khi chúng ta cũng làm được những việc tốt lành.
Hai
chi phần này, Vô Minh và Hành, thuộc thời quá khứ, và đây
là hai yếu tố đã khiến ta hiện hữu ở thế gian này. Những
hành động thiện trong quá khứ như bố thí, trì giới, có
những ý nghĩ tốt đẹp, v.v. là những thiện nghiệp (kusala-kamma),
đã giúp ta sinh ra trong cõi người trên thế gian này.
Hành
duyên thức: Tùy thuộc nơi hành nghiệp, thiện và bất thiện,
chi phần thứ ba khởi sinh, đó là Thức (viññāna). Thức thuộc
thời hiện tại, sinh khởi như kết quả của Vô Minh và Hành
trong quá khứ. Ở đây, Thức không có nghĩa là tất cả các
loại tâm mà chỉ là tâm tục sinh sau khi chết. Như vậy, khởi
đầu của kiếp sống hiện tại này, chúng ta có kiết sinh
thức – thức nối liền – nghĩa là thức nối liền kiếp
sống hiện tại với quá khứ. Khi Thức tái sinh phát khởi,
ta được tái sinh. Ở đây, ta dùng chữ "tái sinh", mà không
dùng chữ "đầu thai" với ý nghĩa một linh hồn bất biến
đi tái sinh, bởi vì không có một linh hồn bất tử trong quan
niệm của đạo Phật.
Thức
duyên danh sắc: Tùy thuộc nơi kiết sinh thức - thức nối
liền, chúng ta có tâm và thân, tức là Danh (nāma) và Sắc
(rūpa), hay sự kết hợp tâm lý và vật lý. Danh là phần tinh
thần, còn Sắc là phần vật chất.
Danh
sắc duyên lục nhập: Do có thân và tâm, hay danh và sắc, ta
có sáu Căn hay sáu Nhập (āyatana). Có năm căn bên ngoài (ngoại
môn, năm căn vật lý): mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân, còn
gọi là "ngũ môn" hay năm cửa. Chẳng hạn qua nhãn môn, chúng
ta tiếp nhận một đối tượng của sự thấy, và qua nhãn
môn, chúng ta buông bỏ đối tượng đó; vì thế, con mắt
có hai chức năng: thu nhận và buông bỏ. Chữ "căn" được
dùng ở đây với ý nghĩa của một "căn cứ", dựa vào đó
mà tâm có thể tác động. Căn thứ sáu là ý căn (căn tâm
lý). Đây là một căn thuộc bên trong, hay nội môn. Nó không
những chỉ là một căn hay môn, mà nó cũng còn là dòng tiến
sinh của chúng ta – Phạn ngữ Pāli gọi là bhavanga hay "hữu
phần". Chính dòng tiến sinh này dẫn ta đi hết kiếp sống
này đến kiếp sống khác trong vòng sinh tử luân hồi.
Lục
nhập duyên xúc: Nhờ có sáu căn, ta có Xúc (phassa). Xúc là
sự va chạm hay giao tiếp giữa một đối tượng giác quan
bên ngoài với cơ quan tương ứng của thân, hay nói cách khác,
giữa căn và cảnh (trần). Tùy thuộc nơi năm cửa giác quan
(ngũ môn vật lý) và ý căn (ý môn), ta có Xúc. Thí dụ như
khi hiện hữu một cảnh sắc và phần nhạy cảm của con mắt
vật lý (tức nhãn căn), trong một khoảng cách thích hợp và
có ánh sáng thích hợp, lúc đó, sự tiếp xúc giữa căn và
cảnh sắc khởi sinh. Hình sắc đó tiếp chạm với phần nhạy
cảm của con mắt vật lý. Tương tự như vậy với âm thanh
và nhĩ căn, mùi hương và tỉ căn, v.v.
Xúc
duyên thọ: Vì có xúc nên ta có cảm giác, và Thọ (vedanā)
phát sinh. Khi có sự giao tiếp với một đối tượng qua căn,
ta có cảm thọ. Nếu sự tiếp xúc là mềm mại, ta có một
cảm giác dễ chịu; nếu sự tiếp xúc là thô tháo, ta có
một cảm giác khó chịu; hoặc đôi khi, ta cũng có một cảm
giác trung tính, không khổ không lạc.
Thọ
duyên ái: Vì có thọ, nên Tham Ái (tanhā) khởi sinh. Khi có
cảm thọ dễ chịu - qua thấy, nghe, ngữi, nếm, đụng chạm,
v.v., tham ái, thích thú sinh khởi. Ái cũng khởi sinh khi có
cảm thọ khó chịu. Trong bộ Thanh Tịnh Ðạo, Ngài Phật Âm
giải thích: "Khi một bệnh nhân có cơn đau kinh khủng, người
ấy có cảm thọ khó chịu. Lúc ấy, tham ái khởi lên, vì
người ấy có ước muốn thoát ra khỏi cơn đau đó, mong muốn
thoát ra khỏi cảm thọ khó chịu đó. Như vậy, tham ái khởi
lên bằng hai cách: khi có cảm thọ dễ chịu và khi có cảm
thọ khó chịu".
Ái
duyên thủ: Khi ái phát sinh, Chấp Thủ (upādāna) liền theo
sau. Ái là tham muốn nhẹ nhàng, Thủ là bám rễ thâm sâu,
trói buộc chúng ta vào một điều gì đó. Tham tự nó không
dính mắc, không tiến đến trạng thái chấp thủ, đó chỉ
là sự ước muốn hay mong muốn đơn thuần. Tuy nhiên, với
một phàm nhân không tỉnh giác, tham ái liền dẫn theo lòng
chấp thủ.
Thủ
duyên hữu: Chấp thủ tạo duyên để khởi sinh Hiện Hữu.
Hữu (bhava) nghĩa là sự trở thành, thu thập nghiệp lực mới
cho đời sống tương lai. Hữu có hai mặt: nghiệp hữu (kamma-bhava)
là hành động tích lũy của quả dị thục, và sinh hữu (upapatti-bhava)
là quả dị thục hướng đến tái sinh. Nói cách khác, do duyên
Ái và Thủ, chúng ta hành động tạo nghiệp, đây là những
hành động hiện tại (nghiệp hữu), và đồng thời, chúng
ta chuẩn bị cho sự tái sinh về sau (sinh hữu).
Hữu
duyên sinh: Do những hành động hay nghiệp hiện tại, ta tạo
mầm mống cho lần Tái Sinh sắp tới (jāti), khởi đầu của
kiếp sống tương lai.
Sinh
duyên già chết: Do tái sinh trong thế gian này, nên ắt sẽ
đưa đến Già Chết (jarā-marana). Jarā là tuổi già, suy yếu
dần dần, rồi chết (marana). Vì đã sinh ra nên phải chịu
buồn rầu, sầu bi, khổ, ưu, não, tuyệt vọng, v.v.
*
Chúng
ta thấy ở đây có tất cả 12 chi phần, thường được các
nhà Phật học phân tích, chia thành 3 thời: quá khứ, hiện
tại, và vị lai. Hai chi Vô Minh và Hành thuộc về quá khứ.
Năm chi: Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ thuộc về hiện
tại, xem như là quả dị thục của quá khứ. Ái, Thủ, Hữu
cũng thuộc hiện tại và làm nhân cho tương lai. Sinh và Già
chết thuộc về tương lai, kết quả của những nhân đã gieo
trong hiện tại. Từ Sinh đến Già chết, chỉ có hai chi được
đề cập ở thời tương lai; tuy nhiên, chúng bao hàm cả năm
chi phần trong nhóm quả dị thục hiện tại – từ Thức đến
Thọ. Trong cõi người, sự kết hợp của năm chi phần này
tạo ra cái gọi là đàn ông hay đàn bà, và chính năm chi phần
này là những gì được sinh ra, già yếu, chết đi, rồi lại
tái sinh… cứ tiếp tục mãi mãi không ngừng, do những hành
nghiệp từ quá khứ cũng như trong hiện tại.
*
Trong
quyển sách "Cây Giác Ngộ" (The Tree of Enlightenment), Giáo sư
Peter Santina phân chia 12 chi phần thành 3 nhóm:
1)
Nhóm tai ách (ô trược): vô minh, ái và thủ;
2)
Nhóm hành động (nghiệp): hành và hữu; và
3)
Nhóm khổ đau: thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, sinh,
và già chết.
Trong
nhóm thứ nhất, vô minh là căn bản. Do vô minh mà chúng ta
tham đắm vào các dục lạc giác quan, vào hưởng thụ, vào
những ý tưởng sai lầm, nhất là ý tưởng về cái Ta độc
lập và thường còn. Do vậy, vô minh, ái và thủ là nguyên
nhân của nghiệp (hành động).
Nhóm
thứ hai là nghiệp (hành động), gồm có hành và hữu. Hành
bao hàm những dấu ấn, hay thói quen hình thành trong dòng tâm
thức, hay sự tiếp diễn không ngừng của thức. Những dấu
ấn ấy được tạo thành bởi những hành động lập đi lập
lại từ nhiều kiếp trước, trở thành thói quen. Những thói
quen đó dẫn dắt nhiều hành động của ta trong hiện tại.
Ngoài ra, còn có những hành động tạo tác trong kiếp sống
này, và được gọi là hữu. Những thói quen vốn phát triển
từ nhiều kiếp trước cùng với những hành động tạo tác
trong kiếp này dẫn đến tái sinh với thân ngũ uẩn, rồi
già chết, khổ đau, v.v. Đó là nhóm thứ ba.
Khi
hiểu được sự vận hành của lý Duyên khởi, ta có thể
phá vỡ vòng luân hồi sinh tử đó, bằng cách thanh lọc những
bất tịnh của tâm – là vô minh, ái và thủ. Một khi các
bất tịnh này bị loại bỏ, còn hành nghiệp sẽ không còn,
và nguồn thói quen cũng không sinh khởi. Khi hành nghiệp ngưng,
tái sinh và khổ đau cũng ngưng.
*
Trong
Trường bộ, kinh số 15, Ðức Phật dạy ngài Anandā rằng:
- "Nầy
Anandā, giáo pháp Duyên khởi rất thâm sâu, thật sự thâm
sâu. Chính vì không thông hiểu giáo pháp này mà thế gian giống
như một cuộn chỉ rối ren, một tổ chim, một bụi rậm lau
lách, và không thể thoát khỏi các đọa xứ, cõi dữ, phải
chịu khổ đau trong vòng luân hồi sinh tử."
Trong
một đoạn khác, trong bài kinh số 28 thuộc Trung bộ, Ngài
dạy rằng:
- "Ai
hiểu được lý Duyên khởi, người ấy hiểu Pháp; và ai hiểu
được Pháp, người ấy hiểu lý Duyên khởi".
Cho
nên, giáo lý Duyên khởi là một giáo lý tinh yếu, thâm sâu,
quan trọng, không phải dễ dàng thực chứng và thông hiểu.
Là một phàm nhân cư sĩ còn đang tu học, ở đây, chúng tôi
chỉ có thể trình bày tóm tắt sơ lược theo kiến giải thô
thiển của mình.
-5-
An
cư, Tự tứ và Vu-lan
Có
ba dịp lễ lớn trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy.
Đó là ngày lễ Magha Puja, Vesakha Puja, và Asalha Puja. Puja nghĩa
là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng
dường. Ở đây, Puja còn có nghĩa là ngày lễ lớn. Magha,
Vesakha, Asalha là tên các tháng trong lịch của Ấn độ. So
với âm lịch Việt Nam, Magha tương ứng với tháng Giêng, Vesakha
tương ứng với tháng Tư, và Asalha tương ứng với tháng Sáu.
Magha
Puja là ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày Đức Phật
thuyết kệ Ovada-Patimokkha, là căn bản cho các giới luật sau
này. Vesakha Puja là ngày lễ Rằm tháng Tư, tức là ngày Tam
Hợp, thường được gọi là lễ Phật Đản. Asalha Puja là
ngày lễ Rằm tháng Sáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng kinh
Chuyển Pháp Luân, và sau đó, chư Tăng Nam tông bắt đầu mùa
An cư kiết hạ.
Ngoài
ra, truyền thống Nam tông còn có các ngày lễ khác như ngày
Tự tứ (rằm tháng Chín) – kết thúc mùa An cư kiết hạ,
và mùa lễ Dâng Y Kathina trong một tháng, từ ngày 16 tháng
Chín đến ngày Rằm tháng Mười âm lịch.
1.
Chuyển Pháp Luân
Ngài
Bồ tát Sĩ-đạt-ta rời gia đình, tìm đạo giải thoát năm
29 tuổi, và thành đạo năm 35 tuổi, vào đêm trăng Rằm tháng
Tư. Sau khi Ngài giác ngộ, có vị Phạm thiên Sahampati cung thỉnh
Ngài vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Đức Phật quan
sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên, Ngài nghĩ
đến đạo sĩ Alara Kalama và đạo sĩ Uddaka Ramaputta, là hai
vị thầy dạy đạo cho ngài khi còn là Bồ-tát tầm sư học
đạo, nhưng chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếp
đến, Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu là anh em đạo
sĩ Kondañña (Kiều-trần-như), Bhaddiya, Vappa, Mahānāma và Assaji,
lúc trước đã cùng tu khổ hạnh với ngài, và hiện giờ
họ đang ở vườn Lộc Uyển, gần thành Ba-la-nại.
Từ
Bồ đề đạo tràng, nơi Ngài giác ngộ, Đức Phật đi đến
Lộc Uyển, một cuộc hành trình khoảng 210 km, mất khoảng
2 tháng, và đến nơi đó vào đúng ngày Rằm tháng Sáu. Thoạt
tiên, khi thấy Ngài, anh em Kondañña quyết định không chào
hỏi, cũng không đứng lên đảnh lễ Ngài, bởi vì họ cho
rằng lúc trước, Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh, không
còn là một bậc chân tu nữa. Tuy nhiên, khi Ngài tiến đến
gần, chư vị bị chinh phục trước vẻ cao quý của một bậc
giải thoát, khiến họ đối xử với Ngài vô cùng kính cẩn.
Chư vị cầm lấy bình bát và thượng y của ngài, sửa soạn
chỗ ngồi cho Ngài, rửa chân Ngài và gọi Ngài là "Hiền giả"
(Avuso) theo thói quen. Song Đức Phật bác bỏ cách xưng hô này,
và nói:
-"Này
chư vị, đừng gọi Như Lai (Tathagata) là ‘Hiền giả’ như
một trong các vị. Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác"
- (Đại Phẩm, Tạng Luật)
Lời
tuyên bố đã khám phá con đường đưa đến bất tử tức
con đường giải thoát, đã giác ngộ và chứng đắc Chân
Lý của Ngài được năm người bạn đồng tu cũ đáp lại
với vẻ hoài nghi. Chư vị hỏi: - Làm thế nào một người
đã từ bỏ khổ hạnh để chọn đời sống sung túc, lại
có thể chứng đắc Chân Lý? Ðức Phật giải thích rằng
Ngài chẳng hề tham đắm đời sống sung túc. Để làm sáng
tỏ mọi việc, Ngài thuyết giảng bài kinh Chuyển Pháp Luân,
khởi đầu công trình hoằng pháp của Ngài. Bài kinh trình
bày Pháp Giải Thoát là Trung Ðạo, và nêu lên Bốn Chân Lý
Cao Quý (Tứ Diệu Đế) – như đã ghi lại trong Tạng Luật
và trong Tương ưng bộ:
"Có
hai cực đoan, này chư vị, mà người xuất gia nên tránh. Hai
cực đoan đó là gì? Đắm mình vào dục lạc, thấp kém, tầm
thường, hạ liệt, không xứng đáng bậc Thánh, không ích
lợi, là một cực đoan. Cực đoan kia là chuyên tâm khổ hạnh
ép xác, gây khổ đau, không xứng đáng bậc Thánh, và cũng
không ích lợi.
Này
chư vị, Như Lai đã tránh xa hai cực đoan này, và tìm ra Trung
Ðạo, chính là con đường khiến cho Ta thấy và biết rõ,
con đường đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."
Ngài
giảng tiếp:
"Đây
là Chân lý về Khổ: Sanh, già, bệnh, chết là khổ; sầu,
bi, ưu, não là khổ; thân cận những gì ta không thích là khổ;
xa lìa những gì ta thích là khổ; cầu không được là khổ;
tóm lại, ngũ thủ uẩn là khổ.
Đây
là Chân lý về Nguồn gốc của Khổ: Ðó chính là khát ái
đưa đến tái sinh, câu hữu với hỷ và tham, tìm thấy lạc
thú chỗ này chỗ kia: đó là Dục ái, Hữu ái và Phi hữu
ái.
Đây
là Chân lý về Khổ Diệt: Đó chính là sự đoạn trừ, diệt
tận hoàn toàn khát ái đó, quăng bỏ nó, chấm dứt nó, xả
ly nó, không chấp thủ nó.
Đây
là Chân lý về Con Ðường Diệt Khổ: Ðó là Thánh Ðạo Tám
Ngành, tức là Chánh Kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp,
Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, và Chánh Ðịnh." -
(Đại Phẩm, Tạng Luật; Tương Ưng Bộ)
Năm
vị tôn giả hết sức chú tâm lắng nghe lời Ngài. Khi Ngài
thuyết giảng, tôn giả Kondañña quán triệt: "Những gì có
sinh khởi đều phải chịu qui luật hoại diệt", và đắc
quả Dự lưu. Sau đó, tôn giả liền xin Đức Phật nhận làm
đệ tử. Đức Phật nói: "Ðến đây, này tỳ khưu, Giáo Pháp
đã được khéo giảng, hãy sống đời phạm hạnh để đoạn
tận khổ đau" và nhận tôn giả làm đệ tử tỳ khưu. Như
vậy, tôn giả Kondañña là vị đệ tử tỳ khưu đầu tiên
trong lịch sử Phật giáo, đánh dấu khởi điểm sự thành
lập Tăng đoàn, tồn tại cho đến ngày nay.
Chẳng
bao lâu, lời dạy của Đức Phật đã giúp cho tôn giả Vappa
và Bhaddiya hiểu Pháp và hai vị cũng được nhận làm đệ
tử tỳ khưu. Trong lúc các ngài Kondañña, Vappa và Bhaddiya
đi khất thực để cung cấp thức ăn cho cả nhóm, Đức Phật
thuyết giảng riêng cho tôn giả Mahānāma và Assaji. Sau đó,
hai vị nầy đắc quả bậc Nhập lưu, và xin làm đệ tử.
Như vậy, lúc đó có sáu vị tỳ khưu trên thế gian: Đức
Phật và năm vị đệ tử đầu tiên của Ngài.
Vài
ngày sau, Đức Phật dạy bài pháp về Vô Ngã – ghi lại trong
bài kinh Vô Ngã Tướng, Tương Ưng Bộ. Khi năm vị đệ tử
tỳ khưu nghe lời thuyết giảng này của Đức Phật, tâm của
chư vị thoát khỏi mọi lậu hoặc, và trở thành bậc Thánh
A-la-hán giải thoát.
*
2.
An cư kiết hạ
Một
ngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phật
giáo Nam tông bắt đầu mùa An cư kiết hạ.
Trong
Chương "Vào Mùa Mưa", Đại Phẩm, Tạng Luật, có ghi:
Đức
Thế Tôn ngự tại Trúc Lâm, thành Vương Xá. Lúc bấy giờ,
việc an cư mùa mưa chưa được Đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đi du hành trong mùa lạnh, trong
mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
-"Vì
sao các sa môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong
mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoại
đạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cố
định một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khi
làm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa.
Còn các sa môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh,
trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đang
dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống
của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết
hại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi."
Các
tỳ khưu nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Vì thế, các vị ấy trình sự việc lên Đức Thế
Tôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các tỳ khưu rằng:
-"Này
các tỳ khưu, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời
điểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau.
Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn tháng
Asalha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau."
Tính
theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời
điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16
tháng 7. Ngài dạy tiếp:
-"Này
các tỳ khưu, không nên ra đi du hành trong mùa an cư ba tháng.
Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata)."
Tuy
nhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vị
tỳ khưu được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá
7 ngày. Đức Phật dạy:
-"Này
các tỳ khưu, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công
việc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi,
nếu không được thỉnh mời."
Suốt
thời kỳ gió mùa ở miền bắc Ấn Độ, từ tháng Sáu đến
tháng Mười, chư Tăng sống một nơi cố định trong 3 tháng
an cư. Chư vị có thể lựa chọn cách tự mình xây một am
thất trú mưa, hay ở trong một tinh xá sẵn có.
Mùa
an cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Asalha (rằm tháng Sáu).
Tuy nhiên, Đức Phật cũng cho phép bất kỳ một tỳ khưu nào
khởi sự chậm hơn một tháng, vào ngày rằm tháng Bảy, gọi
là "hậu An cư". Việc đình chỉ du hành chấm dứt vào ngày
rằm tháng Chín (Assina). Nếu vị nào khởi sự chậm hơn một
tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattika). Chư Tăng tổ
chức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt, gọi là lễ
Tự tứ (Pavarana), đánh dấu kết thúc mùa an cư. Sau đó, các
tỳ khưu công bố hoàn tất các phận sự trong Giới Luật,
rời nơi an cư, và bắt đầu du hành truyền đạo.
Tập
tục an cư mùa mưa không chỉ có lý do cổ truyền, mà còn
có lý do thực tiễn nữa. Khi trời đổ mưa ào ạt và các
con sông chảy tràn bờ, khi đường xá chìm trong bùn lầy,
và những mảnh đất không ngập nước làm thành nơi trú ẩn
cho rắn rết, bọ cạp, việc du hành và cắm lều ngoài trời
hầu như không thể thực hiện được. Hơn nữa, khí ẩm bốc
hơi trong thời gió mùa tạo ra những tai hại khác cho sức
khỏe; và nếu một tỳ khưu bị bệnh, chư Tăng dễ săn sóc
vị ấy tại một tinh xá hơn là lúc di chuyển.
Tục
lệ an cư mùa mưa còn có lợi cho Tăng chúng theo nhiều cách.
Trong suốt những tháng du hành theo ý riêng của mỗi người,
có thể là một vài tỳ khưu nào đó trở thành buông lung
trong nếp sinh hoạt. Trong mùa an cư, các tỳ khưu chung sống
sinh hoạt với nhau, nên phải chú tâm đến quy luật xử thế
và theo đúng nguyên tắc. Mùa an cư còn tăng cường mối đạo
tình trong Tăng đoàn. Cuộc sống chung ở một nơi và cùng
học tập lời dạy của bậc Ðạo Sư, sự trao đổi kinh nghiệm
và kiến thức đưa đến sự thiết lập các mối quan hệ
thân hữu có giá trị giáo dục, đã được Đức Phật đánh
giá cao. Ngài nói:
"Quả
thật tất cả đời sống đồng Phạm hạnh của Tăng chúng
cốt yếu ở tình thân hữu giữa những người ưa thích điều
thiện, ở tình đồng đạo, đồng chí hướng. Một tỳ khưu
làm bạn với điều thiện, là người bạn giao du, người
đồng chí hướng, có triển vọng tu tập và làm sung mãn Bát
Chánh Ðạo, để giải thoát cho đồng bạn cũng như bản thân
vị ấy."
Có
lần Đức Phật thấy một tỳ khưu bị bệnh, nằm bơ vơ
không ai chăm sóc, Ngài và Trưởng lão Ananda cùng đến săn
sóc vị ấy. Rồi Ngài gọi Tăng chúng đến và dạy: "Này
các tỳ khưu, chư vị không có cha mẹ chăm sóc mình. Vậy,
nếu chư vị không chăm sóc nhau, thì ai sẽ làm việc ấy?
Này các tỳ khưu, bất cứ ai trong chư vị muốn chăm sóc Như
Lai, thì vị ấy hãy chăm sóc người bạn đồng Phạm hạnh."
Việc
an cư mùa mưa cũng quan trọng trong việc học tập của chư
Tăng thời đó. Chư vị tụng đọc lại các bài kinh của Đức
Phật và học hỏi những lời dạy mới của Ngài. Việc học
tập nghe kinh không chỉ giới hạn vào mùa an cư, nhưng được
thuận lợi hơn nhờ sự chung sống suốt ba tháng của một
hội chúng tỳ khưu đông đảo tại cùng một địa điểm.
Có lẽ Giáo Pháp sẽ không được truyền tụng đến thời
đại chúng ta trong hình thức chính xác như ngày nay, nếu Tăng
chúng thời xưa không có cơ hội duyệt lại toàn thể lời
giáo huấn của Đức Phật trong các mùa an cư kiết hạ hằng
năm ấy.
3.
An cư trong các truyền thống khác
Giới
luật tu sĩ trong các truyền thống Phật giáo, trên căn bản,
rất giống nhau. Các tông phái đều tuân theo quy luật an cư
kiết hạ trong ba tháng. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu và
kết thúc không giống nhau, tùy theo cách tính mùa hạ trong
năm.
Như
đã trình bày ở trên, theo Luật Nguyên thủy (Đại phẩm,
Luật tạng, Tỳ khưu Indacanda dịch), chương III (Mùa mưa):
An cư bắt đầu từ ngày 16 tháng Asalha (tương ứng với
tháng Sáu âm lịch), kéo dài 3 tháng. Hậu an cư bắt
đầu một tháng sau đó.
Theo
Luật Hữu Bộ (Tỳ-nại-da, Căn bản thuyết nhất thế
hữu bộ, Tỳ khưu Tâm Hạnh dịch), quyển An cư sự: An
cư bắt đầu từ ngày 16 tháng Năm âm lịch, kéo dài
3 tháng, Hậu an cư bắt đầu một tháng sau đó.
Theo
Luật Ma-ha-tăng-kỳ (Hòa thượng Thích Phước Sơn dịch),
quyển 27, Phép An cư: An cư bắt đầu từ ngày 16 tháng
Tư âm lịch, kéo dài 3 tháng. Hậu an cư bắt đầu một
tháng sau đó.
Theo
Luật Tứ Phần (Hòa thượng Thích Nguyên Chứng dịch),
quyển 4, chương III (An cư): An cư trong 3 tháng mùa hạ, không
thấy ghi rõ ngày tháng. Hậu an cư bắt đầu một tháng
sau đó.
4.
Vu-lan và kinh điển nguyên thủy
Ngày
nay, đa số Phật tử chúng ta thường tổ chức ngày Rằm tháng
Bảy, theo truyền thống Bắc tông, là ngày Lễ Vu-lan, một
ngày báo hiếu công ơn của cha mẹ. Trong cùng ngày đó, chư
Tăng Ni Bắc tông làm lễ Tự tứ, kết thúc mùa an cư, theo
Luật Ma-ha-tăng-kỳ. Lễ Vu-lan là dựa theo tích chuyện trong
kinh Vu-lan-bồn (Ullambana Sutra, Đại Chánh Tạng, tập 16), trong
đó, Đức Phật dạy Trưởng lão Mục-kiền-liên cúng dường
thức ăn đến chư Tăng trong ngày Tự tứ và hồi hướng phước
báu đến mẹ là bà Thanh-đề để giúp bà thoát khỏi khổ
cảnh của kiếp ngạ quỷ.
Trong
kinh điển nguyên thủy, không thấy đề cập đến sự tích
nêu trên. Tuy nhiên, trong quyển Ngạ quỷ sự, thuộc Tiểu
bộ, có ghi lại một câu chuyện tương tự. Đó là chuyện
ngạ quỷ mẹ của Ngài Xá-lợi-phất (Chú giải Ngạ quỷ
sự, Phẩm Ubbari, Chuyện số 2, Tỳ khưu Thiện Minh dịch).
Tóm tắt như sau:
Một
ngày nọ, các ngài Trưởng lão Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên,
A-nậu-lâu-đà và Kế-tân-na ngụ tại một khu rừng hoang
gần thành Vương Xá. Một nữ ngạ quỷ với thân hình gầy
ốm, hình tướng gớm ghiết, đến gặp các ngài và cho biết
trong tiền kiếp, ngạ quỷ từng là mẹ của Ngài Xá-lợi-phất.
Do lòng keo kiết, bủn xỉn, bà đã đối xử tàn tệ với
các vị tu sĩ, và lại sinh ác tâm chưởi rủa mắng nhiếc
các vị ấy, nên bà phải lảnh quả báo ác, sinh làm ngạ
quỷ trong kiếp này. Bà xin Trưởng lão Xá-lợi-phất tổ chức
bố thí cúng dường, rồi hồi hướng phước đến cho bà
để được thoát khỏi cảnh ngạ quỷ khổ sở.
Sáng
hôm sau, nhân khi đi khất thực trong thành Vương Xá, các ngài
đến gặp vua Bình-sa, và Ngài Mục-kiền-liên thuật lại câu
chuyện ấy cho vua nghe. Nhà vua hoan hỷ phát tâm trong sạch
hứa sẽ giúp Ngài Xá-lợi-phất. Vua truyền lệnh cho các quan
dựng bốn tịnh thất trong khu rừng ngoại thành, và sửa soạn
vật thực, đồ ăn, thức uống và y phục. Sau đó, nhà vua
chuyển toàn bộ những thứ ấy đến Ngài Xá-lợi-phất. Nhân
danh mẹ, Ngài Xá-lợi-phất bố thí cúng dường đến Đức
Phật và Tăng đoàn, rồi hồi hướng công đức phước báu
đến cho bà. Nhờ đó, bà được tái sinh vào cõi Trời Phạm
Thiên.
Mặc
dù vài chi tiết trong câu chuyện này không giống như chuyện
ghi trong kinh Vu-lan-bồn, việc cúng dường đến chư Tăng, rồi
hồi hướng phước báu đến cha mẹ đã qua đời, có một
ý nghĩa rất rõ ràng, tương hợp trong cả hai truyền thống
chính của Phật giáo.
Perth,
Tây Úc,
Tháng
8-2007