-11-
Vài
ghi chú khi đọc kinh điển
Dưới
đây là vài ghi chú khi đọc tài liệu kinh điển, bao gồm
vài thắc mắc thông thường của người học kinh Phật. Các
ghi chú này có thể còn nhiều thiếu sót, và chúng tôi sẽ
chỉnh sửa, cập nhật, bổ sung theo thời gian.
*
1.
Có 31 hay 32 phần cơ thể?
Ở
đây, câu hỏi là: - Khi đề cập đến quán thân, có 31 hay
32 phần trong thân thể? Câu trả lời là tùy theo quan niệm
về "não" (hay "óc") có được liệt kê hay không.
(1)
Trong quyển Đại Niệm Xứ, ngài Thiền sư Silananda dịch đoạn
kinh Đại Niệm Xứ (Maha Satipatthana Sutta, Trường Bộ 22, Tỳ
khưu Khánh Hỷ dịch Việt):
"Lại
nữa, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát trên cơ thể
này từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống bao
bọc bởi da và đầy các loại bất tịnh khác nhau. Trong cơ
thể này có:
- Tóc,
lông, móng, răng, da (5)
-
Thịt, gân, xương, tủy, thận (5)
-
Tim, gan, ruột, lá lách, phổi (5)
-
Phèo, bao tử, thực phẩm chưa tiêu, phẩn, óc (5)
-
Mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ (6)
-
Nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước
mũi, nước khớp xương, nước tiểu. (6)"
Như
vậy, tổng cộng là 32 phần. Nhưng sau đó, ngài cũng có đề
cập là:
...
Cần ghi nhận ở đây là trong nhiều bản kinh khi nói đến
các bộ phận của cơ thể không đề cập đến "óc" hay "não"
nhưng Chú Giải cho rằng óc hay não được nói đến trong Patisambhidamagga.
Như vậy kinh nào không đề cập đến não thì ta nên hiểu
là não đã được bao gồm trong "tủy".
(2)
Giải thích trên cũng phù hợp với bản Anh ngữ của bài kinh,
do Hội Burma Tipitaka Association dịch từ bản Pāli-Miến Điện
và ấn tống năm 1984 (Ten Suttas from Digha Nikaya - Long Discourses
of the Buddha). Trong bản Anh ngữ này, chỉ liệt kê 31 phần,
còn "não" (brain) thì được in ra trong dấu ngoặc, với ghi
chú là "não" không được ghi trong bản Pāli của bài kinh,
nhưng được đề cập đến trong bộ Patisambhida-magga (Vô ngại
giải đạo).
(3)
Trong Thanh Tịnh Đạo, chương VIII.44 về pháp Niệm Thân, Luận
sư Buddhaghosa liệt kê 31 phần, và giải thích rằng "não" được
bao gồm trong "tủy". Có lẽ Thiền sư Silananda dựa vào đoạn
này để có lời giải thích nêu trên. Theo bản dịch của
Ni sư Trí Hải:
"...
Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân,
xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi,
ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồ
hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước
ở khớp xương, nước tiểu. Não được bao gồm trong tủy,
nên đây ta chỉ thấy có 31 vật."
Cũng
xin ghi nhận ở đây là trong các đoạn kế tiếp giảng về
pháp niệm thân, Ngài Buddhaghosa lại dùng cụm từ "32 phần",
kể cả "não", để bình luận.
(4)
Các bản dịch Anh ngữ khác của Tỳ khưu Nanamoli và Tỳ khưu
Bodhi, của Tỳ khưu Nyanasatta, của Tỳ khưu Soma, các đoạn
về niệm thân của kinh Niệm Xứ (Trung Bộ 10) và kinh Thân
Hành Niệm (Trung Bộ 119), và của Tỳ khưu Thanissaro và Giáo
sư M. Walshe về Đại kinh Niệm Xứ (Trường Bộ 22), chỉ liệt
kê 31 phần, không có phần "não".
Trong
các bài kinh nêu trên, không thấy ghi con số "31 phần" hay "32
phần", chỉ thấy ghi liệt kê các phần của thân mà thôi.
(5)
Trong tập Tiểu Tụng (Khuddakapatha), thuộc Tiểu Bộ Kinh, có
ghi 32 phần (Dvattimsakara), trong đó "não" là phần cuối cùng:
"Trong
thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy,
thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột,
bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt,
mỡ da, nước miếng, nước mủ, chất nhờn ở khớp, nước
tiểu và não trong đầu" (bản dịch của Hòa thượng Minh Châu).
(6)
Trong bộ A-hàm, bản kinh tương đương là kinh Niệm Xứ (Trung
A Hàm 98) và kinh Niệm Thân (Trung A Hàm 81), có ghi "não", nhưng
chỉ liệt kê 29 phần:
"...
Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non,
thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non,
lá lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi,
nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước
tiểu" (bản dịch của Thượng tọa Tuệ Sỹ).
Bài
kinh Nhất Nhập Đạo (Tạp A-hàm, XII) cũng có ghi "não" nhưng
chỉ liệt kê 27 phần:
"...
Lại quán thân này có lông, tóc, móng, răng, da, thịt, gân,
xương, tủy, não, mỡ miếng, mỡ nước, ruột, bao tử, tim,
gan, tỳ, thận đều quán biết hết, phẩn, tiểu, sanh tạng,
thục tạng, nước mắt, đờm dãi, huyết mạch, mỡ, mật,
đều nên quán biết, không có gì đáng tham đắm. Như thế,
các Tỳ khưu quán thân tự vui thích, trừ bỏ niệm ác, không
có sầu lo" (bản dịch của Hòa thượng Thanh Từ và Hòa thượng
Thiện Siêu).
(7)
Tuy nhiên, theo bản dịch Anh ngữ của bộ Giải Thoát Đạo
(Vimuttimagga, The Path of Freedom, Tỳ khưu Ehara, Soma và Kheminda
dịch), cũng như các bản dịch Việt ngữ của Thiện Nhựt,
Thượng tọa Thích Như Điển và Ni sư Mạn Đà La, dịch từ
bản tiếng Hán, danh sách 32 bộ phận trong thân thể có bao
gồm phần "não" giống như Thanh Tịnh Đạo, dù rằng có khác
thứ tự liệt kê.
*
2.
Có 9 hay 10 hồng danh của Đức Phật?
Hằng
ngày, chúng ta thường tụng niệm ân đức Phật: "Itipi so Bhagava
Araham Sammasambuddho Vijjacaranasampanno Sugato Lokavidu Anuttaro Purisadammasarathi
Satthadevamanussanam Bud-dho Bhagavati" (Thật vậy, Ðức Thế Tôn
có hiệu Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhân Sư, Phật, Thế Tôn ).
Câu
hỏi ở đây là: - Trong câu niệm đó, có 9 hay 10 danh hiệu
Phật? Câu trả lời là tùy chúng ta có thể gộp Vô Thượng
Sĩ (Anuttaro) và Điều Ngự Trượng Phu (Purisadammasarathi) thành
một danh hiệu hay không.
(1)
Trong quyển Kinh Nhựt Hành dành cho cư sĩ, Hòa thượng Hộ
Tông tách rời Anuttaro và Purisa-dammasarathi là 2 danh hiệu, và
vì thế có 10 danh hiệu Phật. Về sau này, các quyển kinh tụng
của chùa Kỳ Viên ở Sài Gòn cũng như quyển kinh tụng của
chùa Pháp Luân ở Hoa Kỳ có cùng quan điểm đó.
(2)
Ngài Buddhaghosa trong quyển Thanh Tịnh Đạo giảng có thể xem
Anuttaro và Purisadamma-sarathi là 2 danh hiệu (Chương VII.46 &
47), nhưng cũng có thể gộp lại thành 1 danh hiệu chung là
Anuttaro-purisadammasarathi (VII.48), với ý nghĩa "là một vị vô
thượng có thể điều phục các bậc trượng phu".
(3)
Tỳ khưu Hộ Pháp, trong quyển Tìm Hiểu Pháp Môn Niệm Phật,
giải thích Anuttaro-purisadamma-sarathi là một danh hiệu, và dịch
là "Ðức Vô Thượng giáo hóa chúng sinh", và như thế, Ngài
chỉ trình bày 9 ân đức Phật mà thôi.
(4)
Trong quyển Kho Tàng Pháp Học, Chương Chín Pháp, Tỳ khưu Giác
Giới đề cập đến 9 ân đức Phật, trong đó Anuttaro-purisadammasarathi
là "bậc Vô thượng điều ngự trượng phu", nghĩa là bậc
đánh xe vô thượng, khéo điều phục chúng sinh như những
hạng bò ngựa, có loài thuần thục, có loài ương ngạnh.
Tuy
nhiên, tác giả cũng có chú thích rằng về ân đức Phật,
có chỗ ghi là mười hồng danh,vì trong hồng danh Anuttaro purisadammasarathi,
nếu tách ra Anuttaro (bậc vô thượng sĩ), và Purisadammasarathi
(bậc điều ngự trượng phu) thì trình bày ân đức Phật
có 10 hồng danh.
(5)
Hầu như tất cả các bản dịch Anh ngữ và các bài pháp Anh
ngữ của các vị học giả mà chúng tôi có đọc qua, đều
có cùng quan điểm về 9 hồng danh Phật, nghĩa là xem Anuttaro-purisadammasarathi
là một danh hiệu. Xin đơn cử vài thí dụ:
a-
Ngài Nyanatiloka (Sri Lanka), trong quyển Buddhist Dictionary, dịch
Anuttaro-purisadamma-sarathi là: "Unsurpassed leader of men to be trained"
(xem mục từ Anussati).
b-
Bà I. B. Horner, Hội trưởng Hội Pāli Text Society (Anh quốc),
trong bài kinh Dantabhumi Sutta (Kinh Điều ngự địa, Trung bộ
125 ) dịch Anuttaro-purisadammasarathi là: "The matchless charioteer
of men to be tamed" (xem http://www.accesstoinsight. org).
Trong
bản dịch khác của bài kinh trên, Sư cô Upalavanna (Sri Lanka)
dịch Anuttaro-purisa-dammasarathi là: "The incomparable tamer of those
to be tamed". Giáo sư M. Walshe cũng dịch tương tự như thế
trong bài Đại kinh Bát Niết Bàn (Trường Bộ 16).
c-
Tỳ khưu Thanissaro (Hoa Kỳ), trong bài kinh Dhajagga Sutta (Tương
Ưng XI.3) từ nguồn Pāli-Thái, dịch Anuttaro-purisadammasarathi
là: "The un-excelled trainer of those who can be tamed" (xem trang web:
http://www.accesstoinsight.org).
d-
Hòa thượng Piyadassi (Sri Lanka), trong quyển kinh tụng "The Book
of Protection" dịch Anuttaro-purisadammasarathi là: "The peerless trainer
of persons".
e-
Tỳ khưu Sayagyi U Kyaw Htut (Miến Điện), trong bài pháp "The
Nine Attributes of the Buddha", chỉ đề cập đến 9 hồng danh,
dịch Anuttaro-purisa-dammasarathi là: "The Incomparable One in taming
those who deserved to be tamed" (xem trang web: http://nibbana.com).
Tương
tự, Tỳ khưu Aung Thein Nyunt (Miến Điện), trong bài pháp "The
Nine Supreme Attributes of the Lord Buddha", dịch Anuttaro-purisadamma-sarathi
là: "The peerless charioteer to tame men" (xem trang web: http://nibbana.
com).
f-
Khi dịch bộ Giải Thoát Đạo (Hán tạng) sang Anh ngữ, quý
ngài Tỳ khưu Ehara, Soma, Kheminda gộp chung Vô Thượng sĩ và
Điều Ngự Trượng Phu, và dịch là "The matchless guide of men
to be tamed".
g-
Quan trọng nhất là trong phần cuối của bài kinh Phân biệt
Sáu xứ (Salayatana-vibhanga sutta, Trung Bộ 137), cụm từ "Anuttaro-purisadamma-sarathi"
đã được Đức Phật nhắc đến để giảng giải về ba
đức tính chánh niệm của một bậc Đạo sư để diễn giảng
cho đồ chúng, và nếu được như thế, vị ấy được gọi
là vị Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người
đáng được điều phục (theo bản Việt dịch của Hòa thượng
Minh Châu). Trong bản Anh ngữ, Tỳ khưu Bodhi dịch là "The incomparable
leader of persons to be tamed", và dịch giả có chú thích đây
là một trong 9 hồng danh của Đức Phật.
(6)
Xin ghi nhận ở đây là trong kinh sách nguồn Hán Tạng, danh
hiệu "Như Lai" được thêm vào, thành ra 11 danh hiệu (Từ điển
Phật học Hán Việt, Hà Nội, 1994). Do đó, để có 10 danh
hiệu thì có sách gộp Vô Thượng Sĩ và Ðiều Ngự Trượng
Phu thành một danh hiệu (Ðoàn Trung Còn, Tự điển Phật học),
có sách gộp Phật và Thế Tôn thành một danh hiệu, chẳng
hạn như trong bộ kinh Ðại Bát Niết Bàn (Hán tạng), tập
1, trang 585 (Phẩm Phạm Hạnh), Hòa thượng Trí Tịnh dịch
(1996).
Trong
bộ A-hàm, bài kinh tương đương với kinh Dantabhumi Sutta là
kinh Điều ngự địa (Trung A-hàm, 198), trong đó có liệt kê
các hồng danh Phật là: "Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu" (bản
dịch của Thượng tọa Tuệ Sỹ).
*
3.
Ekayano-maggo: Con đường duy nhất?
Trong
đoạn đầu của bài kinh Niệm Xứ (Sati-patthana Sutta, Trung
Bộ 10, Trường Bộ 22), chúng ta thường đọc là:
- Đây
là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh,
vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh
trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ (Hòa thượng
Minh Châu dịch).
Hay:
- Ðây
là con đường duy nhất để thanh lọc tâm chúng sanh, chấm
dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, diệt khổ thân
và khổ tâm, đạt Thánh Ðạo và chứng ngộ Niết Bàn. Ðó
là Tứ Niệm Xứ (Tỳ khưu Khánh Hỷ dịch).
Đây
là bài kinh quan trọng, thường được xem là bài kinh cẩm
nang cho nhiều hành giả thực hành pháp thiền Minh Quán (Vipassana
Bhavana). Các vị thiền sinh đó thường cho rằng pháp hành
của mình là "con đường duy nhất" hay "con đường độc nhất"
– nghĩa là không có con đường nào khác – để chứng ngộ
Niết Bàn. Hiểu như thế, từ chữ "ekayano-maggo", có đúng
theo tinh thần bài kinh không?
Mặc
dù có nhiều dịch giả dùng cụm từ "con đường duy nhất,
độc nhất" (the only way, the sole way) để dịch chữ ekayano-maggo,
nhưng cũng có những dịch giả khác không đồng ý như thế.
Giáo
sư M. Walshe, dịch giả bản Anh ngữ Trường Bộ (The Long Discourses
of the Buddha), dịch chữ ekayano-maggo là "this one way" (đây là
một con đường) trong bài Đại Kinh Niệm Xứ (Trường Bộ
22).
Trong
bản dịch đầu tiên của bài kinh Niệm Xứ (Trung Bộ 10),
Tỳ khưu Nanamoli dịch là "a path that goes one way only" (con đường
chỉ đi theo một hướng). Tuy nhiên, trong bản hiệu đính,
Tỳ khưu Bodhi sửa lại là "the direct path" (con đường trực
tiếp, hay con đường thẳng). Các dịch giả này đều cho rằng
nếu dịch là "the only way, the sole way" (con đường duy nhất)
thì nó có hàm ý là độc nhất, loại trừ các con đường
khác, và như thế là không hoàn toàn chính xác (bản dịch
Trung bộ, "The Middle Length Discourses of the Buddha").
Theo
Tỳ khưu Bodhi, Chú giải Trung Bộ bình luận rằng chữ ekayano-maggo
có thể hiểu như là con đường đơn thuần, không có ngã
rẽ; như là con đường mà hành giả phải tiến bước một
mình, không bạn bè; và như là con đường đưa đến một
mục tiêu, Niết Bàn. Ngài chọn dịch "the direct path" (con đường
trực tiếp) với hàm ý để phân biệt Satipatthana với pháp
tu tiến qua các tầng thiền-na (jhanas) hoặc qua tứ vô lượng
tâm (tứ phạm trú, brahmaviharas). Mặc dù pháp tu tiến này
có thể đưa đến Niết Bàn nhưng chúng cũng có thể rẽ qua
ngõ khác, trong khi Satipatthana là đưa thẳng đến mục đích
tối hậu.
Trong
quyển "Satipatthana - The Direct Path to Realization" (Buddhist Publication
Society, Sri Lanka, 2003), Tỳ khưu Analayo cũng có quan niệm tương
tự, và dịch chữ ekayano-maggo là "the direct path" (con đường
trực tiếp). Ngài giải thích chữ ekayano-maggo gồm có những
từ eka (một), ayana (đi) và maggo (đường), dịch sát nghĩa
là "một con đường đi". Truyền thống chú giải thường đề
cập đến 5 ý nghĩa của chữ này:
Con
đường trực tiếp hay con đường thẳng, là vì nó đưa thẳng
đến mục tiêu;
Con
đường phải đi một mình;
Con
đường vạch ra bởi Một Đấng (ám chỉ Đức Phật);
Con
đường duy nhất trong Đạo Phật; và
Con
đường đưa đến một mục tiêu (đó là Niết Bàn).
Đa
số các dịch giả đều chọn cách dịch thứ tư nêu trên,
nhưng Tỳ khưu Analayo chọn cách dịch thứ nhất.
Ngài
cho rằng muốn tìm hiểu rõ ràng ý nghĩa của một thuật ngữ
Pāli, chúng ta cũng cần xem thuật ngữ đó được dùng trong
các bài kinh khác như thế nào, để đối chiếu. Trong Đại
kinh Sư tử hống (Maha-sihanada Sutta, Trung Bộ 12), chữ ekayano
dùng để chỉ con đường mà một người đi theo sẽ đi thẳng
xuống hố, mang ý nghĩa là "thẳng tiến, trực tiếp", không
phải là "độc nhất, duy nhất". Trái lại, trong bài kinh Tam
Minh (Tevijja Sutta, Trường Bộ 13), khi hai người Bà-la-môn tranh
cãi về con đường nào là "con đường duy nhất" để đưa
đến sự hòa nhập với Phạm thiên thì lại không thấy dùng
chữ ekayano. Rõ ràng hơn hết là trong câu kệ 274 của kinh
Pháp Cú, ý nghĩa "con đường duy nhất" - là Bát Chánh Đạo
- đã được nói đến, nhưng chữ ekayano lại không thấy xuất
hiện. Vì thế, Tỳ khưu Analayo cho rằng cách dịch thứ tư
của chữ ekayano (con đường duy nhất) là không thích hợp.
Ngoài
ra, Giáo sư R. Gethin (A Buddhist Path to Awakening: A Study of the Bodhi-Pakkhiya
Dhamma, Oxford, 2001) có cùng quan điểm dịch chữ ekayano-maggo
là con đường thẳng tiến (the direct path) trong bài kinh Niệm
Xứ, vì ông cho rằng: "... căn bản những gì muốn nói ở
đoạn này trong bài kinh là bốn pháp quán niệm (satipatthana)
biểu trưng cho một con đường trực tiếp và thẳng tiến
đến mục đích tối hậu". Tỳ khưu Thanissaro cũng dùng chữ
"the direct path" trong bản dịch Đại Kinh Niệm Xứ (Trường
Bộ 22, xem treng web: http://www.accesstoinsight.org) từ bản Pāli-Thái.
Xin
ghi nhận ở đây là trong bộ A-hàm thuộc Hán tạng, hai bài
kinh tương đương với kinh Satipatthana Sutta là kinh Niệm Xứ
(kinh 98, Trung A-hàm) và kinh Nhất Nhập Đạo (Tăng Nhất A-hàm,
XII). Trong bài kinh Niệm Xứ của bộ Trung A-hàm, đoạn kinh
tương ứng là:
"Có
một con đường tịnh hóa chúng sanh, vượt qua lo sợ, diệt
trừ khổ não, chấm dứt kêu khóc, chứng đắc Chánh pháp.
Đó là Bốn niệm xứ" (Thượng tọa Tuệ Sỹ dịch).
"Một
con đường" là dịch từ chữ "nhất đạo", hoàn toàn không
có ý nghĩa "duy nhất, độc nhất", loại trừ các con đường
khác.
Đặc
biệt hơn nữa, trong kinh Nhất Nhập Đạo thuộc Tăng Nhất
A-hàm, bốn niệm xứ chỉ là một lối vào đạo, và "đạo"
ở đây là Bát Chánh Đạo:
"Có
một lối vào đạo làm trong sạch hạnh của chúng sanh, trừ
bỏ sầu lo, không có các não, được đại trí tuệ, thành
tựu chứng quả Niết-bàn. Ðó là nên diệt Ngũ cái, tư duy
Tứ ý chỉ (Tứ niệm xứ). Thế nào là một lối vào? Nghĩa
là chuyên nhất tâm. Ðó là một lối vào. Thế nào là đạo?
Nghĩa là con đường tám phẩm của Hiền Thánh: Chánh kiến,
Chánh chí (tư duy), Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh phương
tiện (tinh tấn), Chánh ngữ, Chánh niệm, Chánh định" (Hòa
thượng Thanh Từ và Hòa thượng Thiện Siêu dịch).
Trong
bài kinh trên, không thấy đoạn nào nói rằng tứ niệm xứ
là "con đường duy nhất".
*
4.
Satipatthana là Niệm Xứ hay Lập Niệm?
Nhân
đề cập đến bài kinh Satipatthana Sutta nêu trên, chúng ta thử
tìm hiểu thêm: Satipatthana được dịch như thế nào? Chúng
ta thường thấy dịch là Niệm Xứ hay Nền Tảng Của Niệm
(Foundation
of Mindfulness). Ngay cả bài kinh tương đương trong Trung A-hàm
(Hán tạng) cũng có tên là Kinh Niệm Xứ.
Có
lẽ lối dịch nầy là dựa theo quan niệm xem chữ Satipatthana
như là kết hợp của chữ Sati (Niệm) và Patthana (Xứ, Nền
Tảng). Nhưng cũng có nhiều dịch giả – như các ngài Tỳ
khưu Bodhi, Tỳ khưu Analayo – không đồng quan điểm, mà cho
rằng nên dịch là Sự Thiết Lập Niệm (Establishment of Mindfulness).
Quý ngài xem Satipattha như là kết hợp của chữ Sati và Upatthana
(thiết lập), và như thế, tựa đề sẽ là Kinh Lập Niệm
và Đại Kinh Lập Niệm. Tỳ khưu Soma trong quyển Con Đường
Chánh Niệm (The Way of Mindfulness), dịch là Bài Giảng Về Sự
Khơi Dậy Niệm, hay Bài Giảng Về Thẩm Thấu Niệm (the Dis-course
on the Arousing of Mindfulness, the Discourse on Penetrating Mindfulness).
Tuy
nhiên, Tỳ khưu Thanissaro, mặc dù nghiêng theo lối dịch dựa
theo sự kết hợp Sati và Patthana, công nhận rằng cả hai lối
dịch đều chính xác, đều phản ảnh ý nghĩa của bài kinh.
*
5.
Đại kinh hay kinh đại?
Trong
kinh tạng, chúng ta thấy có các cặp bài kinh cùng một tựa
đề, chỉ khác nhau ở chữ Maha (Đại) và Cula (Tiểu). Thí
dụ như hai bài kinh: Cula-sihanada Sutta (Trung Bộ 11) và Maha-sihanada
Sutta (Trung Bộ 12). Chúng ta dịch hai tựa đề đó như thế
nào? Kinh Tiểu Sư Tử Hống và Kinh Đại Sư Tử Hống? Hay
là Tiểu Kinh Sư Tử Hống và Đại Kinh Sư Tử Hống? Nếu
dịch sát nghĩa Hán Việt, Cula-sihanada Sutta và Maha-sihanada Sutta
là Tiểu Sư Tử Hống Kinh và Đại Sư Tử Hống Kinh. Ở đây,
chữ Tiểu và Đại là bổ nghĩa cho chữ nào? Nếu dịch là
Kinh Đại Sư Tử Hống, ta sẽ hiểu như thế nào về cụm
từ "Đại Sư Tử Hống"? Là tiếng rống lớn của con sư tử,
hay là tiếng rống của con sư tử lớn?
Vì
thế, nếu chúng ta hiểu tựa đề của hai bài kinh trên có
nghĩa là bài kinh ngắn và bài kinh dài về tiếng rống sư
tử, theo thiển ý, tựa đề hai bài đó có thể dịch là Tiểu
Kinh Sư Tử Hống và Đại Kinh Sư Tử Hống. Điều này cũng
tương đồng với tựa đề của các bản dịch Anh ngữ của
Tỳ khưu Bodhi: The Shorter Discourse on the Lion's Roar và The Greater
Discourse on the Lion's Roar. Ngài Bodhi ghi nhận rằng từ "maha"
thường được thêm vào tựa đề một bài kinh dài để phân
biệt với bài kinh ngắn có cùng tên. Tương tự như thế cho
các cặp bài kinh khác:
- Đại
Kinh Khổ Uẩn (Maha-dukkhakkhanda Sutta, Trung Bộ 13) và Tiểu Kinh
Khổ Uẩn (Cula-dukkhakkhanda Sutta, Trung Bộ 14);
- Tiểu
Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Cula-hatthi-padopama Sutta, Trung Bộ 27)
và Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Maha-hatthipadopama Sutta, Trung
Bộ 28);
- Ðại
Kinh Ví Dụ Lõi Cây (Maha-saropama Sutta, Trung Bộ 29) và Tiểu
Kinh Ví Dụ Lõi Cây (Cula-saropama Sutta, Trung Bộ 30);
- Tiểu
Kinh Tánh Không (Cula-sunnata Sutta, Trung Bộ 121) và Đại Kinh
Tánh Không (Maha-sunnata Sutta, Trung Bộ 122).;
- Tiểu
Kinh Nghiệp Phân Biệt (Cula-kamma-vibhanga Sutta, Trung Bộ 135)
và Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt (Maha-kammavibhanga Sutta, Trung
Bộ 136);
- Kinh
Niệm Xứ (Satipatthana Sutta, Trung Bộ 10) và Đại Kinh Niệm
Xứ (Maha-satipatthana Sutta, Trường Bộ 22); v.v.
Thêm
vào đó, tựa bài kinh Maha-parinibbana Sutta (Trường Bộ 16) có
lẽ nên dịch là Đại Kinh Bát-niết-bàn (dịch sát nghĩa là
Đại Bát-niết-bàn Kinh), thay vì Kinh Đại Bát-niết-bàn như
thường gặp trong nhiều tài liệu kinh sách. Theo thiển ý,
chữ Bát-niết-bàn (phiên âm của parinibbana) tự nó đã đủ
nghĩa, không cần thêm từ "Đại". Chữ Đại ở đây có thể
hiểu như là bổ nghĩa cho chữ Kinh, Đại Kinh là bài kinh dài.
Theo học giả Maurice Walshe, đây là bài kinh dài nhất trong
Kinh tạng. Trong bản dịch Anh ngữ, Tỳ khưu Thanissaro dịch
là "The Great Discourse on the Total Unbinding".
*
6.
Bát Chánh Đạo: Con Đường Tám Chánh hay Tám Con Đường
Chánh?
Một
vài tác giả Phật tử, cư sĩ lẫn tu sĩ, thường suy diễn
Bát Chánh Đạo là tám con đường chánh mà Đức Phật có
giảng trong bài pháp đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân, cho năm
anh em Kiều-trần-như sau khi Ngài giác ngộ, đạt đạo quả
Chánh Đẳng Giác. Đây là một sự suy diễn sai lầm rất đáng
tiếc. Có lẽ các vị tác giả đó đã quen suy diễn theo lối
pháp số: Tứ Diệu Đế là bốn sự thật cao sang, Ngũ Uẩn
là năm tập hợp, Lục Căn là sáu căn, Thất Giác Chi là bảy
chi phần giác ngộ, thì ắt hẳn Bát Chánh Đạo là tám con
đường chánh. Một phần có lẽ là vì chữ Hán, âm sang Hán
Việt, không dùng dấu gạch nối để phân biệt rõ ràng "bát-chánh
đạo"
(đạo bát-chánh, hay con đường tám chánh) với "bát chánh-đạo"
(tám chánh-đạo, tám con đường chánh).
Tìm
đọc kinh điển, chúng ta sẽ thấy ngay rằng Bát Chánh Đạo
là Con Đường Tám Chánh, nghĩa là một con đường có tám
phần tử – hay tám yếu tố – chân chánh, có sách dùng chữ
"Thánh Đạo Tám Ngành", dịch từ chữ Pāli "ariya atthangika
maggo". Đây là con đường duy nhất để đưa đến đạo quả
giải thoát (Pháp Cú, 273-274), là con đường cổ xưa mà chư
Phật đều đi qua trong các thời kỳ trước (Tương Ưng, 12.65).
Cũng
xin ghi nhận ở đây là trong tiếng Anh, không thấy có sự
lầm lẫn đáng tiếc này. Trong khi Tứ Diệu Đế dịch là
"Four Noble Truths" (số nhiều, với "s"), Bát Chánh Đạo được
dịch là "Noble Eightfold Path" (số ít, không có "s").
*
7.
A-tỳ-đàm trong Kinh tạng?
Abhidhamma
thường được dịch là Vi diệu pháp, Thắng pháp, Vô tỷ
pháp, bắt nguồn từ chữ Dhamma là pháp và Abhi (hay Adhi) là
cao siêu, vượt trội, tối thượng, tối thắng. Tàu âm là
A-tỳ-đàm. Có quan niệm cho rằng Đức Phật đã giảng giáo
lý A-tỳ-đàm và có ghi lại trong Kinh tạng, vì chữ Abhidhamma
đã được tìm thấy trong các bài kinh:
- Kinh
Phúng Tụng (Sangiti Sutta), Trường Bộ 33.
-
Ðại Kinh Rừng Sừng Bò (Mahagosinga Sutta), Trung Bộ 32.
-
Kinh Gulisani (Gulisani Sutta), Trung Bộ 69.
Tuy
nhiên, theo ông Maurice Walshe, dịch giả bản Anh ngữ của Trường
Bộ, chữ Abhidhamma (pháp tối thượng) trong bài kinh Phúng Tụng
là được dùng chung với chữ Abhivinaya (luật tối thượng)
để chỉ giáo pháp và giới luật của Ngài, không liên hệ
gì đến giáo lý kết tập trong tạng Vi diệu pháp về sau
này. Nhận xét nầy cũng áp dụng trong trường hợp bài kinh
Gulisani, Trung Bộ. Thêm vào đó, theo Tỳ khưu Bodhi, dịch giả
bản Anh ngữ của Trung Bộ, chữ Abhidhamma trong bài Đại Kinh
Rừng Sừng Bò có thể hiểu là giáo lý có hệ thống và có
phân tích. Theo Từ điển Pali-Anh (Pali-English Dictionary, Pali
Text Society), chữ Abhidhamma không tìm thấy trong Tương Ưng Bộ
và Tăng Chi Bộ, và có lẽ chữ này đã được dùng thêm trong
giai đoạn cuối của tiến trình triển khai và kết tập bốn
tạng kinh chính.
*
8.
Đức Phật giảng Vi diệu pháp ở đâu, khi nào?
Đây
là câu hỏi thường gặp khi chúng ta học Vi diệu pháp (Abhidhamma),
và đã có nhiều bình luận về nguồn gốc Vi diệu pháp trong
các sách giáo khoa Phật học và lịch sử Phật giáo.
Sự
kiện Đức Phật giảng Vi diệu pháp chỉ được ghi trong chương
đầu tiên của bản Chú giải bộ Pháp tụ (Atthasālīnī),
Chú giải Thuyết luận sự (Kathāvat-thuppakarana Atthakathā),
và trong Chú giải kinh Pháp cú (kệ 181) của Luận sư Buddhaghosa
(Phật Âm) với nhiều chi tiết hơn. Trong 3 tháng hạ vào năm
thứ 7 sau khi Thành Đạo, Đức Phật đến cõi trời Ba Mươi
Ba (Tavatimsa, Đao-lợi) giảng Vi diệu pháp cho chư thiên, trong
đó có mẫu hậu Đại Ma-da (Maha Maya) từ cung trời Đâu-suất
(Tusita) đến nghe. Mỗi ngày, Ngài trở về địa cầu, nơi
thành Sankassa, tóm tắt lại cho tôn giả Xá-lợi-phất. Dựa
vào đó, Trưởng lão Xá-lợi-phất giảng rộng ra cho chư
Tăng gồm 500 vị tỳ khưu, và về sau, kết tập thành tạng
Vi diệu pháp.
Thành
Sankassa ngày nay là một làng nhỏ, còn lại di tích một gò
đất, người ta tin rằng đó là nơi Đức Phật trở về địa
cầu. Gần đó có một ao nhỏ, theo truyền thuyết, đó là
hồ Anotatta (A-nâu-đạt), nơi Ngài rửa mặt, đánh răng. Ngoài
ra, còn có di tích trụ đá và một con voi đá do vua A-dục
dựng lên.
*
9.
Cờ Phật giáo có 5 hay 6 màu?
Chúng
ta thường nghe nói cờ Phật giáo là cờ ngũ sắc, gồm 5 màu:
xanh dương (nila), vàng (pita), đỏ (lohita), trắng (odata), cam
(manjesta). Có người bình giải rằng đó là tượng trưng cho
ngũ căn và ngũ lực: tín, tấn, niệm, định, huệ. Có đúng
thế không?
Thật
ra, cờ Phật giáo có 6 màu, 5 màu đầu tiên được liệt kê
như trên, và màu thứ sáu là màu sáng chói (prabaswara), do 5
màu kia kết hợp lại. Do đó, cờ có 6 vạch đứng, vạch
thứ sáu có 5 phần ngang tượng trưng cho sự kết hợp của
5 màu kia. Cờ nầy do Hội đồng Bảo vệ Phật giáo ở Colombo,
Sri Lanka, cùng với ông H. S. Olcott (Phật tử Mỹ), thiết kế
và dùng trong dịp lễ Vesakha, vào năm 1885. Về sau, vào năm
1952, lá cờ này được Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới
(WBF, World Buddhist Fellowship) công nhận là lá cờ Phật giáo
chung cho cộng đồng Phật tử trên toàn thế giới.
Sáu
màu nầy là dựa theo truyền thuyết ghi lại trong quyển Atthasālīnī
(Chú giải bộ Pháp tụ). Trong tuần lễ thứ tư sau ngày Thành
Đạo, Đức Phật ngồi thiền, chiêm nghiệm về Vi diệu pháp,
toàn thân Ngài phát hào quang gồm 6 màu nêu trên.
*
10.
Tám vạn bốn ngàn pháp môn?
Trong
sách báo Phật giáo, chúng ta thường thấy cụm từ "84 ngàn
pháp môn" để chỉ tính đa dạng, đa phái của đạo Phật.
Có nhiều người dùng cụm từ "84 ngàn pháp môn" để chỉ
các pháp môn, các truyền thống khác nhau trong đạo Phật,
và cho rằng bất kỳ pháp môn nào, bất kỳ truyền thống
nào rồi cũng đưa đến mục đích cuối cùng của giác ngộ
giải thoát. Đức Phật có giảng dạy như thế không?
Theo
sự hiểu biết thô thiển của chúng tôi, trong kinh điển Pāli
nguyên thủy không thấy có cụm từ "84 ngàn pháp môn" trong
ý nghĩa nêu trên, mà chỉ có một đoạn văn do Trưởng lão
Ānanda trả lời ông Moggallāna người chăn bò, khi ông ấy
hỏi ngài lời dạy của đức Phật là gì, có tất cả là
bao nhiêu pháp. Ngài đáp: "Trong 84 ngàn pháp, chính tôi được
nghe Đức Phật giảng 82 ngàn, còn 2 ngàn kia là do các vị
tỳ khưu khác thuật lại" (Trưởng lão Tăng kệ, 1025, Tiểu
bộ).
Xin
ghi nhận vài điểm sau đây:
(1)
Con số "84.000" hay cụm từ "tám mươi bốn ngàn", hay "tám vạn
bốn ngàn", là một thành ngữ thường thấy trong nhiều bài
kinh, như: 84.000 đại kiếp, 84.000 năm, 84.000 thị nữ, 84.000
cỗ xe, 84.000 con voi, 84.000 con bò, 84.000 chén bạc, 84.000 thước
vải, v.v. Đây chỉ là một thành ngữ phổ thông tại Ấn
Độ trong thời đó, là cách nói tổng quát để chỉ một
số lượng rất lớn, rất nhiều, không phải là một con số
chính xác.
(2)
Chữ "pháp" (dhamma) trong câu trả lời của ngài Ānanda có nghĩa
là gì? Giáo sư K. R. Norman, dịch giả bản dịch Anh ngữ Theragatha
(Trưởng Lão Tăng Kệ), cho biết rằng ngài luận sư Buddhaghosa,
trong Chú giải Trưởng Lão Tăng Kệ, có giải thích "pháp"
ở đây được hiểu như là "pháp uẩn" (dhamma-khandha), nghĩa
là đoạn văn về giáo pháp.
Trong
quyển Saddhammasangaha (Diệu Pháp Yếu Lược, Tỳ khưu Indacanda
dịch) do Trưởng lão Dhammakitti Mahāsāmi soạn ra tại Sri Lanka
vào khoảng thế kỷ 13 DL, Ngài có giải thích về Pháp Uẩn
như sau:
...
Thế nào là có tám mươi bốn ngàn phần khi nói về Pháp Uẩn?
Bài kinh nào có nhiều chủ đề thì tính nhiều Pháp Uẩn.
Như thế, việc tính đếm Pháp Uẩn tức là đề cập đến
chủ đề. Trong những phần Kệ (gāthā), mỗi câu hỏi hay
chất vấn là một Pháp Uẩn và câu trả lời là một Pháp
Uẩn. Trong tạng Vi diệu pháp, mỗi một phần chia chẻ gồm
có một nhị đề hoặc tam đề và mỗi một phần chia chẻ
theo loại tâm được gọi là một Pháp Uẩn. Trong tạng Luật
thì có phần câu chuyện (vatthu), có phần tiêu đề (mātikā),
có phần phân tích từ ngữ, có phần phạm tội, có phần
không phạm tội, có phần phán xét; trong trường hợp này,
cứ mỗi một phần được xem là một Pháp Uẩn. Như thế,
khi đề cập đến Pháp Uẩn thì có tám mươi bốn ngàn phần.
(3)
Cũng trong quyển Saddhammasangaha, ngài Dhammakitti Mahāsāmi có
đưa ra các con số thống kê về Tam Tạng kinh điển như sau:
a)
Trong 84.000 pháp uẩn, Tạng Kinh có 21.000 pháp uẩn, Tạng Luật
có 21.000 pháp uẩn, và Tạng Vi diệu pháp có 42.000 pháp uẩn.
Ngày
nay, các con số này cũng thấy được trích dẫn trong nhiều
tác phẩm Phật học. Đây có phải là con số chính xác và
khả tín không? Đã có vị Tăng Ni học giả nào nghiên cứu
tường tận để chứng minh các con số này, hay không?
b)
Tam Tạng Pāli gồm có một ngàn một trăm tám mươi ba (1.183)
tụng phẩm (bhānavāra).
c)
Tam Tạng Pāli có số lượng từ là hai trăm chín mươi lăm
ngàn bảy trăm năm mươi (295.750).
d)
Tam Tạng Pāli có số lượng mẫu tự là chín triệu bốn trăm
sáu mươi bốn ngàn (9.464.000).
Về
Tạng Kinh, ngài liệt kê:
e)
Trường Bộ có 34 bài kinh.
f)
Trung Bộ có 152 bài kinh.
g)
Tương Ưng Bộ có 7.762 bài kinh.
h)
Tăng Chi Bộ có 9.557 bài kinh.
Ngoài
ra, ngài cũng có đưa ra các con số thống kê về các bộ Chú
giải và Sớ giải:
i)
Tất cả Chú giải Tam Tạng do luận sư Buddha-ghosa giảng giải
có số lượng tụng phẩm là một ngàn một trăm sáu mươi
ba (1.163).
j)
Tất cả Chú giải Tam Tạng có số lượng từ là hai trăm
chín chục ngàn bảy trăm năm mươi (290.750).
k)
Tất cả Chú giải Tam Tạng có số lượng mẫu tự là chín
triệu ba trăm lẻ bốn ngàn (9.304.000).
l)
Sớ giải của Tam Tạng được giảng giải bởi các vị thầy
giáo thọ về sớ giải, có số lượng tụng phẩm là sáu
trăm ba hai (632).
m)
Sớ giải của Tam Tạng có số lượng từ là một trăm năm
mươi tám ngàn (158.000).
n)
Sớ giải của Tam Tạng có số lượng mẫu tự là năm triệu
không trăm năm mươi sáu ngàn (5.056.000).
Các
con số về các bài giảng trong Kinh Tạng cũng được đề
cập trong quyển Chú giải bộ Pháp tụ (Attha-sālīnī), nhưng
không nhiều chi tiết.
Ngày
nay, các bộ Tam Tạng Pāli, Chú giải và Sớ giải đã được
số hóa từ các nguồn Sri Lanka, Myanmar và Thái Lan, và đã
được phổ biến rộng rãi qua dạng đĩa CD-ROM. Chúng tôi
không biết đã có những công trình nghiên cứu nào để minh
chứng các con số thống kê nêu trên, bằng cách viết các
chương trình vi tính để xử lý nguồn số hóa trên CD-ROM,
hay không?
Theo
thiển ý, đó là đề tài rất thú vị và cũng rất quan trọng,
rất xứng đáng để cho các vị nghiên cứu sinh Phật học
lưu tâm và thực hiện trong các bài luận văn hay luận án
tốt nghiệp.
*
11.
Chánh Pháp tồn tại bao lâu?
Trong
Chương 10, Tiểu Phẩm, Tạng Luật (Tỳ khưu Indacanda dịch)
có đề cập đến việc bà Mahā-pajāpati Gotamī đến
gặp Đức Phật xin xuất gia tỳ khưu ni, và Ngài chỉ
đồng ý cho phép nếu bà thọ nhận Tám Trọng Pháp
(bát kỉnh pháp). Sau đó, Ngài nói với Trưởng lão Ānanda:
- Này
Ānanda, nếu nữ nhân không đạt được sự xuất gia rời
nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như
Lai công bố, phạm hạnh có thể sẽ được tồn tại lâu
dài, Chánh Pháp có thể tồn tại một ngàn năm. Này Ānanda,
bởi vì nữ nhân đã xuất gia rời nhà sống không nhà trong
Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, giờ đây,
phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài. Này Ānanda, giờ đây,
Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm.
(Sự
kiện này cũng được ghi trong bài kinh Mahā-pajāpati Gotamī,
Tăng chi VIII.51)
Do
đó, ngày nay, 2.500 năm sau khi Đức Phật bát-niết-bàn,
nhiều người bi quan cho rằng chúng ta đang ở trong thời
Mạt Pháp, không ai có thể đạt giác ngộ giải thoát
nữa. Tuy nhiên, Chú giải Luật Tạng và Chú giải Tăng
Chi Bộ có giải thích: 1000 năm của Chánh Pháp là đề
cập đến sự diệt tận các lậu hoặc với sự thành đạt
về bốn Tuệ Phân Tích. Từ đó về sau là 1.000 năm của sự
diệt tận các lậu hoặc do thuần túy tuệ minh sát, 1000 năm
của đạo quả Bất Lai, 1.000 năm của đạo quả Nhất Lai,
1.000 năm của đạo quả Nhập Lưu. Như vậy, Chánh Pháp sẽ
tồn tại 5.000 năm, và sau đó sẽ không còn ai trong cõi
người có thể nhập dòng thánh giải thoát. Thêm vào
đó, Tỳ khưu Dhammanando (chùa Benchamabophitr, Bangkok) cho biết
trong bản Chú giải Trường Bộ và Trung Bộ có ghi một
con số khác: thời kỳ của đạo quả A-la-hán có thể
kéo dài đến 4.000 năm, sau đó mới từ từ suy tàn.
Dù
sao đi nữa, chúng ta cũng nên ghi nhận rằng trong lời
giảng cuối cùng cho ngài Subhada trước khi nhập diệt,
Đức Phật có tuyên bố khi nào Bát Chánh Đạo được
tu tập và truyền giảng một cách đúng đắn thì thế
giới nầy không bao giờ trống vắng các đạo quả thánh
(Đại kinh Bát-niết-bàn, Trường Bộ).
-12-
Tu
sĩ và thế giới hôm nay
Sinh
hoạt tu viện tại Tây Úc
Bài
đọc trong diễn đàn Diệu Pháp,
Paltalk,
tháng 10-2005
*
Kính
thưa quý chư tôn đức Tăng Ni và quý anh chị đạo hữu,
Hôm
nay, chúng tôi xin mạo muội trình bày sơ lược các nét chính
về sinh hoạt của Tu viện Bodhin-yana (Giác Minh) và Ni viện
Dhammasara (Tinh Pháp) tại tiểu bang Tây Úc, như là một thí
dụ về sinh hoạt tu học trong một xã hội Tây Phương.
Mặc
dù là một trong những hội viên lâu năm của Hội Phật giáo
Tây Úc (The Buddhist Society of Western Australia) và có phước duyên
được gần gũi chư Tăng Ni, chúng tôi chỉ là cư sĩ Phật
tử và vì thế, sự hiểu biết của chúng tôi về sinh hoạt
Tăng đoàn còn nhiều hạn chế. Kính mong quý vị hoan hỷ thông
cảm cho những thiếu sót của chúng tôi.
1.
Hội Phật giáo Tây Úc
Hội
Phật giáo Tây Úc được thành lập năm 1974 do Giáo sư Jayasuriya,
người gốc Tích Lan, và một số Phật tử tại thành phố
Perth khởi xướng. Hiện nay, tổng số hội viên chính thức
là 300 người, gồm có người Úc gốc Âu Mỹ và các Phật
tử gốc Á Đông như Thái Lan, Lào, Campuchia, Miến Điện, Tích
Lan, Mã Lai, Singapore, Trung Hoa, và Việt Nam.
Lúc
ban đầu, Hội mua được một ngôi nhà nhỏ ở vùng North Perth
để làm nơi thờ phượng và sinh hoạt giáo lý. Thỉnh thoảng
Hội mời thỉnh các danh tăng đến từ Thái Lan, Miến Ðiện,
và Tích Lan để giảng pháp và hướng dẫn các khóa tu thiền.
Ðến
năm 1981, Hội thỉnh được hai tu sĩ Phật giáo người Úc
– nhưng tu học ở Thái Lan trong nhiều năm, đến hoằng pháp
tại Perth. Ðó là Tỳ khưu Jagaro và Purisso, thuộc truyền thống
Ẩn Lâm của ngài thiền sư Ajahn Chah, một vị thiền sư danh
tiếng ở Thái Lan. "Ajahn" (A-chàn) là tiếng Thái, có nghĩa
là Thầy, bắt nguồn từ tiếng Phạn "Acarya" (A-xà-lê).
2.
Tu viện Bodhinyana
Sự
có mặt của hai vị Tỳ khưu nầy đã lôi cuốn được rất
nhiều người Úc đến nghe giảng pháp và thực tập hành thiền.
Năm 1983, Hội mua được một thửa đất rừng nguyên sinh trong
huyện Serpentine, cách thành phố Perth khoảng 70 kílômét về
hướng Nam để thành lập một Tu viện. Tu viện nầy rộng
khoảng 40 hécta, nằm trên một ngọn đồi cao, có suối chảy
ngang, với nhiều loại cây nguyên sinh, chưa khai phá. Vị trụ
trì hiện nay, và cũng là vị lãnh đạo tinh thần của Hội
Phật giáo Tây Úc, là ngài Tỳ khưu Brahmavamso, người Anh,
nhưng rất thông thạo tiếng Thái và Pali.
Tu
viện có tên là Bodhinyana (Giác Minh), dựa theo pháp danh của
ngài Thiền sư Ajahn Chah, được dành làm nơi tu học cho các
vị Tỳ khưu. Trong khuôn viên của tu viện có một chánh điện
lớn để các vị Tỳ khưu tụ hội tham thiền, học kinh điển
và giới luật. Phía sau là một thư viện chứa các bộ Tam
Tạng bằng tiếng Pali, Thái, và Anh, và các kinh sách quan trọng
khác.
Ở
gần chánh điện có một trai đường, gồm 2 tầng. Tầng trên
dành cho quý chư Tăng thọ trai và tiếp khách, tầng dưới
là nhà bếp và một phòng đa dụng dành cho các sinh hoạt của
cư sĩ đến làm công quả. Rải rác trong rừng là các tịnh
thất nhỏ dành cho các Tỳ khưu, mỗi vị một tịnh thất,
với kích thước khoảng 3x3 mét, vừa đủ để một giường
ngủ và một bàn viết nhỏ. Bên ngoài mỗi tịnh thất là
có một đường đi ngắn khoảng 30 mét, có mái che để đi
kinh hành.
Ngoài
ra, còn có một khu nhà 4 phòng dành cho các giới tử tu học
dài hạn, một nhà 3 phòng dành cho nam cư sĩ và một nhà 3
phòng dành cho nữ cư sĩ đến tu học ngắn hạn.
Hiện
nay, có nhiều Phật tử tại Tây Úc cũng như từ các nơi khác
trên thế giới đến xin ở lại tại tu viện để thọ tám
giới, hành thiền, và giúp điều hành tu viện; có thể xem
như đó là các cư sĩ hộ tăng, những ưu-bà-di (upasika, cận
sự nữ) và ưu-bà-tắc (upasaka, cận sự nam). Thông thường,
đây là những Phật tử thuần thành, có sinh hoạt thường
xuyên với Hội Phật giáo Tây Úc và từng tham gia nhiều khóa
tu thiền ẩn cư do Hội tổ chức. Sau đó, nếu phát tâm xuất
gia, các vị này xin trở thành giới tử (anagarika), mặc y phục
trắng, cạo tóc, và tuân giữ 8 giới căn bản. Ngoài công
phu hành thiền và học tập giáo lý căn bản, các vị giới
tử nầy cũng được hướng dẫn các nghi thức căn bản và
giới luật.
Sau
một năm, vị giới tử xin thọ giới Sa-di (samanera), giữ 10
giới. Điểm căn bản khác với hàng giới tử là ngoài việc
đắp y vàng nâu, các vị Sa-di không được phép cất giữ
tiền bạc, không được phép tự lái xe, nhưng vẫn có thể
phụ với các giới tử để sửa soạn thức ăn nếu cần
thiết. Tuy nhiên, cũng như hàng Tỳ khưu, mỗi vị Sa-di được
cấp cho một tịnh thất riêng biệt. Lễ xuất gia Sa-di thường
được tổ chức tại Trung tâm Phật giáo Dhammāloka (Pháp Quang)
ở thành phố Perth.
Sau
một năm, nếu thích hợp, vị Sa-di có thể xin thọ đại giới
để trở thành Tỳ khưu (Bhikkhu). Tuy nhiên, lễ thọ Đại
giới Tỳ khưu thì được tổ chức trong chánh điện của
Tu viện Bodhinyana, nơi đã có kết giới Sima, theo đúng nghi
thức truyền thống của Phật giáo Nguyên thủy.
Các
vị Tỳ khưu tại tu viện không cất giữ tiền bạc hay sở
hữu bất kỳ một hình thức tài sản riêng tư nào, hoàn toàn
sống nhờ vào sự cúng dường tứ vật dụng của hàng cư
sĩ. Tất cả mọi việc có liên quan đến chi thu tài chánh
đều do các cư sĩ trong Ban Trị sự của Hội Phật giáo Tây
Úc quản lý. Trong bối cảnh hiện đại của nước Úc, các
vị có giữ thêm một thẻ y tế Medicare do chính phủ cấp
để được khám bệnh miễn phí mỗi khi đau ốm. Thêm vào
đó, các vị tu sĩ hoàn toàn không tham gia vào các hoạt động
chính trị hay các thế sự khác. Một thí dụ là mặc dù ở
Úc có quy chế bắt buộc mọi công dân phải đi bầu phiếu
mỗi khi có các cuộc tuyển cử Quốc hội Liên bang và Tiểu
bang, các vị Tỳ khưu đã xin đặc miễn, để không tham gia
vào các hoạt động đó.
Thông
thường, vị Tỳ khưu thức giấc khoảng 4.00 giờ sáng và
hành thiền trong tịnh thất của mình. Điểm tâm tại trai
đường lúc 6.30 giờ, nhưng cũng có vị không dùng điểm tâm.
Sau đó là các công tác bảo quản và điều hành tu viện.
Bửa ăn chính vào khoảng 10.30 giờ sáng, thức ăn do các cư
sĩ mang đến cúng dường hay cho các giới tử nấu thêm. Các
vị đều ăn trong bình bát riêng của mình, cùng ngồi chung
tại trai đường, hoặc ăn riêng tại tịnh thất.
Phần
thời gian còn lại trong ngày là ẩn cư tịnh tu. Hành thiền
tại tịnh thất, tự học kinh điển tại thư viện, hoặc
có những giờ tham vấn riêng với Sư Cả hay các vị sư cao
hạ khác. Vào buổi chiều, khoảng 18.00 giờ, các vị tụ hội
tại chánh điện, tụng đọc khóa lễ buổi chiều, sau đó
là uống trà, và bàn luận về các vấn đề liên quan đến
sự tu học. Mỗi tháng 2 lần, vào buổi tối, các vị Tỳ
khưu tụ hội tại chánh điện để đọc tụng giới bổn
của tu sĩ, Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa).
Thỉnh
thoảng, mỗi vị lại tự nhập thất tịnh tu biệt cư, trong
khoảng từ 2 tuần lễ đến 1 tháng hoặc lâu hơn, không giao
tiếp với một người nào khác.
Đôi
khi các vị Tỳ khưu mới xuất gia cũng được phép tháp tùng
theo Sư Cả hoặc các vị trưởng lão về thành phố Perth vào
cuối tuần để thuyết pháp, hoặc tham dự các khóa lễ cầu
siêu, cầu an tại nhà của cư sĩ nếu có thỉnh mời, hoặc
tham dự hướng dẫn các khóa tu thiền dành cho cư sĩ, để
quan sát và học tập kinh nghiệm về cách thức thuyết giảng
giáo pháp, các khóa nghi lễ phổ thông, cũng như cách giao tiếp
với hàng cư sĩ.
Sau
khi tu học ở đây được 5 năm, các vị Tỳ khưu được gửi
đến các tu viện khác, thường là đến các nơi trong cùng
truyền thống của Ngài Ajahn Chah ở Thái Lan để tu học thêm.
Ngoài ra, các vị đó có thể đến tu học ở Miến Điện,
Sri Lanka, Tân Tây Lan, và Anh quốc. Mỗi năm vào mùa an cư kiết
hạ, có thêm một số Tỳ khưu ở các nơi khác đến tu viện
để nhập hạ tịnh tu. Hiện nay, có tất cả là 20 vị Tỳ
khưu đang tu học tại đây, gồm nhiều thành phần sắc tộc
khác nhau: Úc, Anh, Mỹ, Đức, Na Uy, Thái, Sri Lanka, Nepal, Malaysia,
và 2 vị Tỳ khưu gốc Việt. Với nhu cầu tu học ngày càng
phát triển, Ngài Ajahn Brahm đã mở thêm một tu viện chi nhánh
ở tiểu bang New South Wales, miền đông nước Úc, có tên là
Tu viện Santi, cũng tọa lạc trong khung cảnh núi rừng để
tịnh tu.
3.
Ni viện Dhammasara
Để
cung ứng nhu cầu tu học của các nữ Phật tử, vào năm 1999,
Hội Phật giáo Tây Úc mua thêm một thửa đất rừng nguyên
sinh, rộng khoảng 150 hécta, trong huyện Gidgeganup, 60 kilômét
về hướng Đông Bắc thành phố Perth, để thành lập Ni viện
Dhamma-sara (Tinh Pháp). Viện chủ hiện nay là Ni sư Vayama, người
Úc, đã từng tu học 10 năm với cố Ni sư Ayya Khema ở Sri
Lanka.
Ni
viện Dhammasara được thành lập để tạo một môi trường
thuận lợi và thích nghi cho việc tu học ẩn cư của các vị
nữ Phật tử, với những điều kiện tương tự như Tu viện
Bodhinyana dành cho các nam Phật tử. Ni viện gồm có một nhà
đa dụng, trong đó có một trai đường rộng lớn, một phòng
khách, nhà bếp, và 2 phòng ngủ dành cho giới tử. Trong rừng
sâu, có 5 tịnh thất biệt lập dành cho các vị Tu nữ. Kiến
trúc tịnh thất cũng tương tự như tịnh thất ở Tu viện
Bodhinyana: một phòng 3x3 mét, và một lối đi kinh hành dài
30 mét có mái che.
Những
nữ Phật tử cư sĩ có thiện tâm muốn xuất gia thì có thể
xin đến thử tu học một thời gian từ 3 đến 6 tháng, mặc
y phục trắng, giữ 8 giới. Sau đó, nếu thích hợp, có thể
xin làm giới tử, quấn y trắng, giữ 8 giới và cạo tóc.
Sau 2 năm, vị nữ giới tử có thể xin xuất gia thành Tu nữ,
tuân giữ 10 giới, và đắp y màu nâu. Ngoài 10 giới căn bản,
còn có một số điều lệ học giới, dựa theo giới bổn
của Tỳ khưu ni.
Cũng
như các vị Tỳ khưu, các vị Tu nữ ăn cơm trong bình bát,
không cất giữ tiền bạc hay sở hữu bất kỳ một hình thức
tài sản riêng tư nào, hoàn toàn sống nhờ vào sự cúng dường
tứ vật dụng của hàng cư sĩ. Mọi vấn đề tài chánh để
điều hành Ni viện đều do các cư sĩ trong Ban Trị Sự của
Hội Phật giáo Tây Úc quản lý.
Chương
trình sinh hoạt hằng ngày tại Ni viện Dhammasara cũng tương
tự như lịch sinh hoạt của các vị Tỳ khưu tại Tu viện
Bodhinyana.
Hiện
nay, Tu viện có 5 vị Tu nữ: Ni sư Vayama và 4 vị Sư cô khác.
Ngoài ra, tu viện có nhận thêm các vị nữ giới tử. Mỗi
tháng, Ni sư Vayama về thành phố Perth để giảng pháp và hướng
dẫn hành thiền cho các cư sĩ hội viên. Theo nội qui của
Hội Phật giáo Tây Úc, Ni sư Vayama cùng với Ngài Ajahn Brahmavamso
là hai vị đồng Cố vấn Tinh thần của Hội.
Ngoài
tu viện Bodhinyana và ni viện Dhamma-sara ở Úc, còn có một
số tu viện khác của tăng sĩ Tây phương trong truyền thống
Ẩn Lâm của ngài Ajahn Chah, như tu viện Abhayagiri ở Hoa Kỳ;
ở Anh quốc có các tu viện Amaravati, Ratanagiri, Cittaviveka, Santidhamma;
ở Thụy Sĩ có tu viện Dhammapala; ở Ý có tu viện Santacittarama;
và ở Tân Tây Lan có tu viện Bodhinyanarama. Nguyên tắc sinh
hoạt tại các tu viện này cũng tương tự như tu viện tại
Tây Úc.
4.
Sinh hoạt ngày nay
Nhìn
chung, mặc dù môi trường và hoàn cảnh hiện nay trong xã hội
Tây Phương có phần khác biệt so với thời Đức Phật còn
tại thế, nhưng trong 20 năm qua, Tăng đoàn tại Tây Úc đã
nỗ lực gầy dựng một truyền thống tu học và gìn giữ
giới luật theo đúng tinh thần của Phật giáo Nguyên thủy.
Điều này tùy thuộc nhiều yếu tố, nhưng có lẽ có hai yếu
tố quan trọng nhất: thứ nhất là sự quyết tâm tu học và
hành trì giới luật nghiêm túc của vị lãnh đạo Tăng chúng
và các thành viên Tăng đoàn; và thứ hai là sự quyết tâm
hỗ trợ chư Tăng Ni và lòng thành tâm học tập, nhiệt tình
đóng góp tích cực vào các Phật sự của các vị cư sĩ hộ
tăng, hộ tự nòng cốt của Hội.
Thêm
vào đó, chúng tôi nghĩ rằng để Phật giáo được quảng
bá và thật sự bám rễ tại một quốc gia Âu Mỹ, các tu
viện, tự viện cần phải được mở rộng, vượt qua các
rào cản về văn hóa, sắc tộc, để đón nhận người dân
bản địa. Hoạt động của Hội Phật giáo Tây Úc và hai
tu viện Bodhinyana và Dhammasara có thể xem như là một thí dụ
điển hình. Đây không phải là một hội Phật giáo dành riêng
cho cộng đồng người Việt, hay người Hoa, người Thái, người
Miến, v.v... mà là hội Phật giáo của người Úc tại xứ
Úc. Các thành viên đến từ nhiều nguồn gốc sắc tộc khác
nhau, nhưng tất cả đều dùng tiếng Anh là ngôn ngữ chính,
và các hình thức văn hóa phong tục lễ nghi cúng kiến rườm
rà, không cần thiết, mang đến từ Á Đông, đều được
gạn lọc, chỉ giữ lại phần gốc tinh túy nhất của đạo
Phật. Các vị tu sĩ giảng sư hoặc là người bản địa,
hoặc là người có thể thuyết giảng thông thạo bằng tiếng
bản xứ (ở đây là tiếng Anh). Các vị này cũng đã trải
qua một quá trình tu học nhiều năm tại một xã hội Phật
giáo ở châu Á (Thái Lan, Sri Lanka, Miến Điện) để thấm
nhuần và thông hiểu tường tận các sinh hoạt và nghi thức
tinh yếu của Phật giáo. Thêm vào đó, một phần các sinh
hoạt của Hội cũng hướng đến mục đích cung ứng nhu cầu
tâm linh của giới trẻ, giảng giải Phật pháp bằng những
ngôn từ giản dị, hiện đại, thuận lý và mạch lạc, hướng
dẫn các khóa thiền thư dãn tâm trí, và khuyến khích hội
viên tích cực tham gia các công tác thiện nguyện, cứu trợ
xã hội, v.v.
Đời
sống xuất gia là một đời sống thanh cao, lý tưởng. Những
người cư sĩ tại gia chúng ta cần phải có nhiều đóng góp
– thì giờ, công sức, lẫn tiền bạc – để tạo điều
kiện thuận lợi cho những vị nào thành tâm tu học, nam tu
sĩ lẫn nữ tu sĩ. Qua những gì chúng tôi quan sát được tại
Tây Úc, chúng ta cần khuyến khích giới Phật tử trẻ tham
gia Phật sự, nghe thuyết pháp, và hành thiền, để tạo duyên
lành cho họ, để tạo những cơ hội tốt cho họ xuất gia
nếu thích hợp. Để tiếp nối con đường hoằng pháp của
các vị tiền bối, chúng ta phải hướng đến việc đào tạo
lớp tu sĩ trẻ, sinh ra hoặc trưởng thành tại bản địa.
Nếu
vị Phật tử cư sĩ nào phát tâm xuất gia thì cũng cần phải
kiên nhẫn, để thực hiện từng bước, qua nhiều giai đoạn.
Đầu tiên là thường xuyên tham gia các khóa học Phật pháp
phổ thông, các khóa thiền căn bản, và cũng nên cố gắng
học tụng đọc các bài kinh căn bản. Đời sống riêng tư
tại gia cũng cần phải giản dị hóa, giảm thiểu mọi ràng
buộc, mọi nhu cầu không cần thiết. Sau đó, nên thu xếp
thì giờ để đến tu học ngắn hạn tại tu viện, đóng góp
Phật sự, gần gũi chư Tăng Ni, để làm quen với lối sống
tại đó. Dần dần, nếu cảm thấy thích hợp thì có thể
tiến đến giai đoạn lâu dài hơn, xin tu học như là giới
tử, rồi thọ giới sa-di, tỳ khưu hoặc là tu nữ.
Với
những ai vì già yếu, hay bệnh tật, không thể sống được
tại tu viện, hoặc ở xa xôi, không thể tiếp cận được
một tu viện thích hợp, thì vẫn có thể tu ẩn cư tại nhà,
giữ 8 giới. Tuy rằng phương cách nầy có nhiều hạn chế,
nhưng theo thiển ý, cũng là một phương cách tốt, một phương
cách tâm lý xuất gia, cũng có thể đưa đến nhiều kết quả
tốt lành và cao quý cho đời sống tâm linh.
*
Trong
bài nầy, chúng tôi chỉ mạo muội trình bày tóm tắt các
sinh hoạt chính của chư Tăng Ni tại Tây Úc trong truyền thống
Phật giáo Nguyên thủy. Chúng tôi cố gắng trình bày một
cách khách quan, qua sự quan sát và ghi nhận của một người
cư sĩ tại gia. Mỗi tu viện có đường lối và nguyên tắc
sinh hoạt riêng, không hoàn toàn giống nhau, tùy theo hoàn cảnh
và môi trường xã hội, văn hóa của từng địa phương.
Những
gì đã trình bày trên đây không phải là một mẫu mực chung
cho mọi nơi; mà chỉ có thể xem như là một thí dụ để
góp ý, không hẳn có thể hoàn toàn thích nghi, áp dụng được
tại các địa phương khác.
Trước
khi dứt lời, chúng tôi thành tâm kính chúc quý vị thân tâm
an lạc, tu hành tinh tấn trong hồng ân Tam Bảo.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Bình
Anson,
Tây
Úc, tháng 10-2005