-13-
Thiền
trong đời sống
Phỏng
vấn Ðại đức Bodhesakho
*
Sau
đây là một bài phỏng vấn Ðại đức Bodhesakho, một tu sĩ
Mỹ, cộng tác viên Hội Xuất bản Phật giáo (Buddhist Publication
Society), do đài phát thanh Sri Lanka thực hiện năm 1986.
*
Hỏi:
Chúng tôi rất hân hạnh được Ðại đức Bodhesakho, một
vị tăng sĩ người Mỹ, tham dự vào cuộc phỏng vấn hôm
nay. Bạch Ðại đức, ngài đã xuất gia, tu học trong hơn 5
năm qua, và ngài đã có nhiều quan tâm trong các lĩnh vực học
tập, hành trì, và truyền giảng các lời dạy của Ðức Phật.
Một trong những chủ đề quan trọng và sâu sắc nhất của
đạo Phật là giáo thuyết Vô Ngã, mà người phương Tây thường
cảm thấy rất khó thông hiểu cho tường tận. Bạch Ðại
đức, tại sao như thế?
Ðáp:
Trước hết, tôi nghĩ rằng bất cứ người nào tìm
kiếm một lời giải thích cho Vô Ngã cũng đều tìm cách áp
đặt giáo thuyết nầy vào những nhu cầu và tham muốn của
họ, cho dù lời giải thích đó có đúng với Phật Pháp hay
không. Con người luôn luôn tìm kiếm lời giải đáp cho các
câu hỏi, luôn luôn tìm kiếm phương cách giải quyết cho mọi
tình huống. Sự kiện nầy không phải chỉ xảy ra trong thời
đại bây giờ mà cũng không phải chỉ riêng cho người Âu
Mỹ, nó xảy ra trong mọi thời và cho mọi người. Con người
lúc nào cũng tìm kiếm câu trả lời cho mọi câu hỏi.
Bây
giờ, nếu có người nào đến với đạo Phật, họ được
cho biết Ðức Phật dạy rằng dù họ có hoài công tìm kiếm,
họ sẽ không bao giờ tìm thấy bản ngã hoặc những gì đưa
đến tự ngã. Và họ sẽ tìm một lời giải thích nào đó
mà họ có thể hiểu được trong khung kiến thức của họ.
Từ đó, vì lời dạy của Ðức Phật hoàn toàn khác hẳn
những gì mà các người phương Tây đã từng quen thuộc, họ
sẽ tìm cách biến cải Phật Pháp để lồng vào trong khung
kiến thức của họ.
Thật
ra, điều họ cần phải học tập là không biến cải Phật
Pháp để thích nghi với cái nhìn chủ quan của họ, mà ngược
lại, họ phải biến cải cái nhìn của mình để thích nghi
với Phật Pháp. Ðây là Tín hạnh, Saddha – lòng tin, có nghĩa
là đưa mình vào Phật Pháp mặc dù Phật Pháp có thể trái
ngược lại những định kiến của mình về bản thể của
sự vật. Ðiều này có nghĩa là chúng ta, thay vì tìm lời
giải đáp, chúng ta cần phải tự hỏi tại sao ta lại có
nhu cầu để đặt các câu hỏi đó. Ðây là những gì Ðức
Phật đã dạy, chúng ta phải cần phải khám nghiệm tự thân.
Khi
chúng ta thấy được nhu cầu để đặt câu hỏi, chúng ta
phải tìm cho ra cội rễ của nhu cầu đó và những động
lực nào để khởi sinh nhu cầu đó. Khi chúng ta chú tâm vào
câu hỏi thay vì vào câu giải đáp, chúng ta thật sự hành
trì lời Phật dạy.
Hỏi:
Về thuyết Vô Ngã, thuyết nầy hầu như đã được nhiều
triết gia và khoa học gia chấp nhận, ở phương Ðông lẫn
phương Tây, rằng không có một cái gì có thể trường tồn
vĩnh viễn, không thay đổi trong cõi đời nầy. Tất cả đều
là những con xoáy của năng lượng. Các nhà vật lý học cho
rằng nguyên tử được cấu tạo bởi những hạt proton, electron,
neutron, positron, rồi tối hậu, họ cho rằng đó chỉ là tập
hợp các lượn sóng. Một cách triết lý, những nhà khoa học
nổi danh như các ông Newton hoặc Einstein đều công nhận rằng
tất cả mọi sự vật đều đang thay đổi. Thế nhưng, khi
trở về bình diện luân lý và đạo đức của đạo Phật,
đây là một vấn đề rất quan trọng trong những lời dạy
của Đức Phật, tại sao con người lúc nào cũng khư khư bám
thủ vào sự vật? Những người Phật tử thông thường đều
biết vạn vật là vô thường, nhưng họ lại không áp dụng
được điều đó vào trong đời sống gia đình và trong xã
hội. Xin Ðại đức cho biết nguyên do tại sao như thế?
Ðáp:
Dĩ nhiên họ tưởng rằng các sự vật đó sẽ tồn tại mãi
mãi! Nếu ông nhìn vào lối sống của họ, ông sẽ thấy tư
tưởng đó nằm sâu trong tâm thức của họ. Thế nhưng, khi
bảo họ rằng mọi sự vật không thể tồn tại mãi mãi,
chắc chắn là họ không thể phủ nhận được. Chỉ cần
nhìn chung quanh, họ sẽ thấy ngay sự đổi thay của vạn vật.
Có những sự vật thay đổi nhanh chóng, có những sự vật
thay đổi từ từ chậm chạp, nhưng không chóng thì chày, mọi
vật đều thay đổi. Con người sinh ra, lớn lên, trưởng thành,
rồi già yếu. Ngay cả mặt đất này cũng đang thay đổi.
Những nạn nhân của các trận động đất, bão lụt, đất
lở, v.v. đều thấy được điều đó. Cho nên, chúng ta không
nên đặt niềm tin vào sự tồn tại trường cửu của bất
cứ một sự vật nào.
Ngày
nay, nhiều nhà khoa học cố gắng tìm hiểu giáo thuyết nầy,
học thuyết nọ, và họ cho rằng thuyết nầy hay thuyết kia
có những điểm tương đồng với đạo Phật. Họ nói rằng:
"Vâng, chúng tôi không thể tìm được một cái gì có thể
gọi là linh hồn, bằng cách này hay cách khác." Thế nhưng,
họ lại không chịu quan sát ngay chính họ. Họ đang tìm kiếm
các câu trả lời, nhưng họ không chịu nhìn thẳng vào câu
hỏi! Lý do họ không tìm ra được một cái gì để gọi là
"bản ngã", không phải là vì họ không nghiên cứu tường
tận, mà là vì họ không chịu thực hành thiền quán, họ
không chịu quay nhìn vào bên trong. Bây giờ, nếu họ cố gắng
nhìn vào bên trong, họ sẽ không tìm ra được một cái gì
có thể gọi là "bản ngã", nhưng sự thông hiểu nầy đòi
hỏi một thái độ hoàn toàn khác hẳn, một cái nhìn khác
hẳn, để thực hiện công tác nghiên cứu, khảo sát đó.
Ðể
làm được điều trên, chúng ta cần phải biết rõ nhu cầu
tại sao chúng phải tìm kiếm một cái "ngã". Ðó không phải
chỉ là một câu hỏi lý luận, "Có hoặc không có một cái
gì gọi là Ngã?", nhưng thật ra, chúng ta phải tự hỏi rằng
tại sao người ta thấy có nhu cầu để đặt ra câu hỏi đó,
để đặt ra một danh xưng, dù cho đó là Thượng đế, là
linh hồn, là bản ngã, là một tên gọi nào đó, để rồi
nếu họ không tìm ra được cái đó, chẳng những họ không
thỏa mãn với câu trả lời phủ định, mà trong thâm tâm,
họ cũng cảm thấy bất an! Họ có thể che giấu nỗi bất
an đó bằng nhiều phương cách giải trí, chẳng hạn như xem
hát, nghe nhạc, xem ti-vi, hoặc đi ngủ, hoặc một cách nào
khác. Nhưng rồi, họ vẫn cảm thấy chán nản, căng thẳng,
và lo sợ. Ðây là một trong những vấn nạn nghiêm trọng
trong xã hội tân tiến ngày nay, và cũng đã từng được đem
ra thảo luận rất thường xuyên trong các xã hội cổ xưa.
Con người lúc nào cũng cảm thấy căng thẳng, lo âu, thiếu
thốn, bởi vì họ lúc nào cũng hoài công tìm kiếm một cách
vô vọng.
Hỏi:
Bạch Sư, ngài vừa nói là có nhiều căng thẳng và lo âu trong
xã hội ngày nay. Con người sống bận rộn, vội vàng, vì
đời sống bây giờ đang biến chuyển với một tốc độ
cực nhanh. Nhìn quanh, chúng ta thấy các xáo trộn, thay đổi
nghiêm trọng đang xảy ra từng giờ phút, và con người không
có đủ nghị lực và sức mạnh tâm linh để đương đầu
với các sự thay đổi nầy. Có người cho rằng trong thời
Ðức Phật còn tại thế, đời sống bình an và định tĩnh
hơn. Sư nghĩ như thế nào?
Ðáp:
Không hẳn như thế đâu! Theo tôi, chúng ta không thể
kết án thời đại của chúng ta hiện nay là xấu tệ hơn
những thời đại ngày xưa. Ðọc lại các tài liệu lịch
sử thì chúng ta sẽ thấy được điều nầy. Ngày xưa, triết
gia Plato của phương Tây đã từng than thở là thời đại
của ông không còn biết kính trọng người già và nhiều tệ
đoan hơn các thế hệ trước. Nếu chúng ta đọc lại những
sự kiện ghi trong tạng Luật của hệ Pāli, chúng ta thấy
ngay trong thời Đức Phật cũng có các thầy tỳ khưu và cư
sĩ có những hành động rất đáng chê, đáng trách. Cho nên,
con người trong thời nào cũng như vậy cả, vấn đề thiếu
nghị lực và đạo đức tinh thần không phải chỉ đặc biệt
có riêng trong thời đại của chúng ta.
Thời
đại nào cũng thế, bây giờ cũng như ngày xưa, xã hội có
nhiều cám dỗ và con người thường tìm kiếm những gì có
thể thụ hưởng ngay tức khắc mà không chịu làm những gì
để tạo ra một hậu quả vững bền. Họ chọn lối sống
để làm thỏa mãn các giác quan, các cảm tính nhất thời,
và họ không thích làm những điều khó để tạo an định
trong tâm thức, để thanh lọc tâm ý, để thoát ra mọi ràng
buộc của tham dục. Bởi vì, cần phải có một nỗ lực lớn
để làm được như thế, còn chạy theo nhục dục ngũ trần
và làm thỏa mãn chúng thì dễ dàng và nhanh chóng hơn. Họ
lúc nào cũng muốn có một đời sống dễ dãi, lười biếng,
hưởng thụ.
Hỏi:
Tuy nhiên, sự thật hiển nhiên là khác với thời của Ðức
Phật, đời sống ngày nay đang chuyển biến một cách nhanh
chóng, thay đổi rất nhanh. Các thay đổi về công nghệ và
kỹ thuật đang có một tác động rất mạnh vào đời sống
của con người, và do đó, họ cảm thấy rất khó giữ được
một sự an bình trong tâm thức. Sư có nghĩ rằng hành thiền
có thể sẽ giúp những người nầy gìn giữ sự thăng bằng
và bình thản trong tâm được không?
Ðáp:
Trong Tương ưng bộ, Ðức Phật dạy rằng: "Tâm ý nầy sinh
trong một dạng và diệt trong một dạng khác". Có nghĩa là
ngay trong thời đó, Ngài đã tuyên bố rằng tâm ý chúng ta
thay đổi cực nhanh, ngày xưa cũng như ngày nay. Cảnh vật
ngoại vi không thay đổi nhanh như thế! Tuy nhiên đó không
phải là vấn đề, bởi vì thật ra, con người không quan tâm
đến sự thay đổi. Ðôi khi, chúng ta còn muốn có thay đổi
xảy ra cho nhanh, nhất là khi ta phải đối đầu với những
cảnh khó chịu, bực dọc, ta lại muốn nó biến mất đi,
càng nhanh càng tốt.
Ðiều
làm ta lo ngại, bực dọc là sự bất định của đổi thay,
rằng sự vật có thể thay đổi bất lợi cho ta trong bất
cứ lúc nào. Ðiều đó làm cho ta lo sợ và căng thẳng! Cho
dù sự vật thay đổi nhanh hoặc chậm, chúng ta đều lo sợ
rằng nó sẽ thay đổi thành mức độ xấu tệ hơn, bất lợi
cho ta hơn. Ðó là vì lòng tham thủ, và từ đó sinh ra sự
sợ hãi, bất an. Ðối với vị A-la-hán, các vị đã nhập
dòng Thánh giải thoát, các vị đó cũng phải đối đầu với
những thay đổi trong cuộc đời. Tuy nhiên, vì các vị ấy
không còn lòng tham thủ, các vị không còn lo âu, sợ sệt
nữa, và từ đó không còn khổ não.
Hỏi:
Trở lại vấn đề hành thiền. Ngày nay, pháp hành thiền của
Ðạo Phật đã được nhiều người biết đến và có nhiều
chú tâm, nhất là ở các nước Âu Mỹ. Có lẽ đó là vì
con người đang có nhiều căng thẳng trong đời sống hiện
đại và bị nhiều ảnh hưởng của các phương tiện truyền
thông đại chúng. Chúng ta thường xuyên bị cám dỗ bởi các
quảng cáo thương mại, những kích động ngũ dục qua truyền
hình, truyền thanh, sách báo, hình ảnh, v.v. Những điều nầy
không xảy ra trong thời Ðức Phật, 2.500 năm trước. Vì bị
kích động như thế, tâm thức con người ngày nay bị xáo
trộn quá nhiều, rất khó mà tập trung, lắng đọng, và an
dịu. Hành thiền có giúp được gì không?
Ðáp:
Ngày nay, con người có rất nhiều phương tiện để
giúp chạy trốn thực tại hơn ngày xưa, và vì thế, họ đã
quen lối chạy trốn những sự kiện thực tế hiện hữu trong
chính họ. Khi họ thử quay về nhìn lại thực tại, họ cảm
thấy không được nhiều lợi lạc như thời xưa. Con người
thời xưa không có nhiều phương tiện giải trí để giúp
họ chạy trốn sự thật, cho nên họ không còn chọn lựa
nào khác ngoài cách phải duy trì một sự tỉnh giác để nhìn
vào sự hiện hữu của chính họ.
Tương
tự như vậy, nếu như họ tìm đến pháp hành thiền, họ
có thể sẽ cảm thấy thất vọng vì nó không có vẻ gì hấp
dẫn hay kích thích. Hành thiền có một ý nghĩa đơn giản
là tập nỗ lực trực diện với sự hiện hữu của chính
mình, sống trong hiện tại, không để mình bị cám dỗ bởi
ngoại cảnh, và giúp mình nhìn sự vật như thật, thay vì
nhìn qua các ánh đèn màu rực rỡ, giả tạo. Một người
nếu đã quen với những gì hấp dẫn rực rỡ thì ắt hẳn
sẽ không chấp nhận điều đó! Cũng như khi chúng ta đi xuống
phố, nhìn qua khung kính cửa tiệm trưng bày hàng hóa, chúng
ta thấy người bán hàng thường trang trí thêm các loại giấy
bóng, giấy màu óng ánh để tạo sự chú ý của người xem.
Tuy nhiên, đối với một người đã có chủ tâm, đã bị
lôi cuốn vào một món hàng nào đó, người bán không cần
phải trang trí thêm các giấy màu rực rỡ, bởi vì sự rực
rỡ đó đã có sẵn trong mắt của anh ta, anh ta nhìn cái gì
cũng thấy rực rỡ cả!
Hành
thiền và phát triển Chánh Niệm là để giúp ta thoát khỏi
ràng buộc của cái rực rỡ đó, để giúp ta buông xả, không
dính mắc. Phải hiểu như thế thì pháp hành thiền của đạo
Phật mới mang lại lợi lạc và hạnh phúc thật sự cho chúng
ta.
Phóng
viên: Chúng tôi kính tri ân Ðại đức đã dành thì giờ quý
báu để tham dự buổi nói chuyện hôm nay. Chúng tôi xin cầu
chúc Ðại đức đạt nhiều kết quả tốt đẹp trong sự
tu học và trong công tác hoằng dương Phật Pháp.
-14-
Người
dịch kinh Phật
Phỏng
vấn Tỳ khưu Bodhi
*
Tỳ
khưu Bodhi (Bhikkhu Bodhi) là một tu sĩ người Mỹ và là một
dịch giả nổi tiếng về kinh điển Pāli nguyên thủy. Các
bản dịch Anh ngữ của ngài về Trung bộ (Majjhima Nikāya) và
Tương ưng bộ (Samyutta Nikā-ya) đã trở thành những quyển
sách tham chiếu căn bản của giới Phật học ở phương Tây.
Vào đầu năm 2006, chuyên san Phật giáo "Inquiring Mind" thực
hiện một cuộc phỏng vấn được ghi lại dưới đây.
*
Hỏi:
Do duyên cớ gì Sư chú tâm vào việc dịch kinh?
Tỳ
khưu Bodhi: Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở
thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một
tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong
thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng
trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo,
bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông
hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến Sri Lanka và thọ giới tỳ khưu
trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) vào năm
1972, tôi tích cực học tiếng Pāli để có thể trực tiếp
đọc và hiểu được những bài kinh nguyên thủy của Đức
Phật. Tôi quyết định theo học với Hòa thượng Balangoda
Ananda Maitreya, vì lúc ấy ngài là một trong các vị học giả
giỏi nhất ở Sri Lanka. Ngài cũng rất thông thạo tiếng Anh,
và là một người rất hiền hòa và từ bi.
Vào
năm 1974, tôi có dịp làm việc chung với vị sư người Đức,
Hòa thượng Nyanaponika, chủ nhiệm và chủ bút của Hội Xuất
bản Phật giáo (Buddhist Publication Society), thành phố Kandy.
Trong thời gian đó, tôi sử dụng cuốn sổ tay của Hòa thượng,
do ngài ghi chép từ thập niên 1950, để tăng cường sự hiểu
biết về tiếng Pāli chú giải. Cuối năm 1975, tôi đến Kandy
và sống với ngài Nyanaponika. Ngài xem qua vài bài dịch riêng
của tôi và khuyên tôi nên dịch bài kinh Phạm Võng (Brahmajala
Sutta, bài kinh đầu tiên trong Trường bộ), cùng với những
chú giải và phụ chú giải. Bản dịch đó được xuất bản
trong tập sách Chú giải kinh Phạm Võng (The Discourse on the All-Embracing
Net of View) vào năm 1978, đánh dấu khởi điểm cho "sự nghiệp"
dịch thuật của tôi.
Hỏi:
Sư có những nhận xét gì về vai trò của kinh điển đối
với các người phương Tây theo học Phật Pháp? Và lý do gì
đã thúc đẩy Sư phổ biến những bản dịch Anh ngữ đến
với họ?
Tỳ
khưu Bodhi: Khoảng năm 1972, trước khi tôi rời Hoa Kỳ
đi sang châu Á để thọ giới tỳ khưu, quan tâm về đạo
Phật của giới trẻ Hoa Kỳ có khuynh hướng phản trí thức
(anti-intellectual) – nghĩa là ít chú ý đến việc nghiên cứu
kinh sách. Lúc đó, trong khi đa số những người Tây phương
đi tu học và hành thiền tại các tự viện Phật giáo Nguyên
thủy trong vùng rừng núi ở Thái Lan hoặc tại các trung tâm
thiền tập ở Miến Điện; duyên nghiệp lại đưa đẩy tôi
đến Sri Lanka, đến với những vị thầy có hiểu biết thâm
sâu về kinh điển và sẵn sàng hết lòng dạy tôi.
Khi
tôi bắt đầu tìm đọc các bài kinh bằng tiếng Pāli, tôi
rất hồ hởi bởi tính chất rõ ràng, lý luận sâu sắc, vẻ
đẹp tế nhị và tình cảm tinh tế, nằm ngay bên dưới bề
mặt trầm lặng của chúng. Tôi bắt đầu phiên dịch những
bài kinh và các đoạn chú giải với mục đích duy nhất là
để giúp cho mình thông hiểu, chứ không có ý định xuất
bản. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận thấy rằng người
học Phật phương Tây có một khoảng trống rất lớn: đó
là thiếu một sự hiểu biết rõ ràng về những lời dạy
của Đức Phật. Do đó, tôi nghĩ rằng, điều cực kỳ quan
trọng là làm sao dịch những bài kinh này ra một thứ ngôn
ngữ hiện đại, trong sáng, kèm theo với những chú thích để
trình bày những nghĩa lý thâm sâu và giá trị thực tiễn.
Đó là sự nghiệp của tôi cho đến ngày hôm nay.
Hỏi:
Sự uyên bác và công việc nghiên cứu kinh điển đã giúp
ích được gì trong sự hành trì và phát triển tâm linh của
Sư?
Tỳ
khưu Bodhi: Nhiều Phật tử phương Tây thường cho rằng
hành trì đồng một nghĩa với thiền tập, và rồi họ tách
biệt, phân chia giữa hai lãnh vực học hỏi và thực hành.
Họ cho rằng, khi một vị tu sĩ chuyên tâm nghiên cứu Phật
học, vị ấy không thể nào là một hành giả nghiêm túc;
như thể công việc học Phật là đối chọi lại với công
phu hành trì chân thật. Tôi phải công nhận rằng sự hành
thiền của tôi cũng chưa hoàn toàn như ý mong muốn, nhưng
đó là vì điều kiện sức khoẻ của tôi (đây là trở ngại
do nghiệp quả mà tôi phải trực diện); chứ hoàn toàn không
phải vì tôi chú tâm quá nhiều cho việc nghiên cứu và phiên
dịch kinh điển.
Chúng
ta nên nhớ rằng, ở các quốc gia Phật giáo tại châu Á,
từ nhiều thế kỷ và hầu như trong mọi tông phái, công tác
chính yếu của Tăng đoàn là gìn giữ và quảng bá Phật pháp,
bằng cách nghiên cứu, học hỏi và truyền bá giáo lý và
kinh điển. Công việc ấy đã dựng nên một nền móng vững
chắc, từ đó, những thành đạt cao hơn trong việc tu tập
được xây đắp; như thể bộ xương nâng đở bắp thịt
và các cơ quan khác trong thân thể Phật pháp. Mặc dù trong
mọi truyền thống đều có những tích truyện về những vị
thiền giả tuy ít học mà vẫn đạt được những thực chứng
thâm sâu, nhưng nổi bật nhất vẫn là những vị có thể
phối hợp được cả hai pháp học và pháp hành. Ta cũng có
thể nghi ngờ những câu chuyện tiểu sử các bậc hiền triết
ít học, như là những phóng đại do tôn sùng quá đáng.
Mối
tương quan giữa sự học Phật uyên bác và sự thực hành,
theo tôi, là một vấn đề rất phức tạp, mà ta không thể
nào tìm được một câu trả lời duy nhất có thể thích hợp
cho tất cả mọi người. Mỗi người có một khuynh hướng
tự nhiên thiên về một phía nào đó. Có một điều ta có
thể nói dứt khoát rằng, kiến thức uyên bác mà không có
áp dụng thực tế sẽ trở thành cằn cỗi, và hành thiền
tinh tấn nhưng thiếu sự hướng dẫn để hiểu rõ các nguyên
tắc sẽ trở thành vô hiệu quả. Tôi e rằng nếu không có
hiểu biết sâu sắc về kinh điển, chỉ trong vòng vài thế
hệ nữa, truyền thống tu tập của chúng ta sẽ bị pha loãng,
lấn áp, và nuốt trọn bởi nền văn hóa vây quanh, nhất là
khi nền văn hóa ấy có tính duy thần hay có khuynh hướng chuộng
vật chất.
Hỏi:
Xin Sư cho biết ý kiến về giá trị của việc học kinh điển
trong sự tu tập của Phật tử Âu Mỹ ngày nay.
Tỳ
khưu Bodhi: Trước khi giải thích về giá trị của việc
học kinh điển trong sự tu tập của mình, ta nên đặt câu
hỏi: Thế nào là tu tập? Tu tập có nghĩa là gì? Nếu ta không
nhấn mạnh về những câu hỏi này, ta có khuynh hướng mang
những giả thuyết không được xem xét rõ ràng vào mục đích
của sự tu tập. Từ đó, sự tu tập của ta sẽ dễ dàng
trở nên tùy tiện cho những ý đồ riêng tư, hoặc là những
thiên kiến văn hóa, thay vì là một phương tiện đưa đến
mục tiêu giải thoát mà Đức Phật đã đề ra. Theo tôi thấy,
đó là điều đang xảy ra cho Phật giáo phương Tây, và đó
cũng giải thích được lý do vì sao Phật giáo Âu Mỹ đã
thay đổi truyền thống, và có người xem rằng đó như thể
đã thỏa hiệp với ngành tâm lý học hiện đại hay với
chủ nghĩa nhân bản thế tục.
Học
Phật Pháp không phải là việc khuân vác một mớ văn hóa
từ một xứ Ấn Độ cổ xưa đem về đổ xuống sau vườn
nhà mình. Nó phải được xem xét, phân tích cẩn thận. Nếu
thực hiện nghiêm túc, nghiên cứu Phật học là phương cách
để ta học hỏi và hấp thu cơ cấu của Phật Pháp. Đây
là cách để ta có được một sự thông hiểu tường tận
về các nguyên lý nền tảng của giáo pháp. Quan trọng hơn
nữa, đây là cách để ta nuôi dưỡng những hạt giống tuệ
giác trong tâm mình.
Công
việc đầu tiên ta cần làm khi đi theo con đường của Đức
Phật là phải có Chánh Kiến, chi đầu tiên của Bát Chánh
Đạo, đó là kim chỉ nam cho suốt hành trình tâm linh của
ta. Chánh kiến được bắt đầu bằng "văn", gồm có đọc
kinh điển, nghe và học hỏi từ những vị thầy có khả năng.
Kế đến là "tư", nghĩa là suy tư, quán chiếu về thực chất
của giáo lý, liên quan đến cuộc sống của chính mình. Khi
quan kiến của ta được sáng tỏ và sâu sắc, niềm tin nơi
Đức Phật trở nên kiên cố. Lúc đó, dựa trên chánh kiến
và lòng tín thành này, công phu hành thiền của ta, "tu", sẽ
tiến đến đúng mục tiêu.
Trí
tuệ chân thật chỉ xuất hiện khi ta thẩm sát những gì thiện
và những gì bất thiện, nghĩa là những gì đưa ta đến bình
an hạnh phúc và đem an vui đến cho người khác, và những
gì gây tai hại và đau khổ cho ta và cho người khác. Điều
này phát nguồn từ việc học kinh điển nghiêm túc, và đó
chỉ là một phần nhỏ những gì ta tìm được trong nguồn
kinh điển. Ta cần phải thẩm tra những gì ta học được,
suy tư và hấp thu vào nội tâm, và xuyên suốt qua tuệ quán.
Hỏi:
Bằng cách nào chúng ta có thể kết hợp việc nghiên cứu
các bài kinh với sự tu tập của mình?
Tỳ
khưu Bodhi: Trước hết, ta cần phải biết bắt đầu
từ đâu. Cho người mới bắt đầu học kinh, tôi đề nghị
tìm đọc tập sách trích lục kinh điển của Hòa thượng
Nyanatiloka, "Phật ngôn" (The Word of the Buddha). Hoặc tìm đọc
theo hệ thống các bài kinh căn bản trình bày tại trang web
"Truy cập Tuệ quán" (Access to Insight, www.accesstoinsight.org);
và tôi cũng đề nghị đọc bài "Làm bạn với kinh điển"
("Befriending the Suttas") của ông John Bullitt, chủ biên trang web.
Kế đến, bạn có thể đọc cuốn "Những Lời Dạy của Đức
Phật" (In the Buddha’s Words), do tôi trích lục từ Kinh tạng.
Sau đó, cho những ai muốn đọc đầy đủ hơn, tôi đề nghị
tìm đọc Trung Bộ (Majjhi-ma Nikāya). Trang web của Tu viện Bodhi
(Bodhi Monastery, www.bodhimonastery.net) có lưu trữ các bài giảng
kinh Trung bộ của tôi, thu âm trong suốt ba năm thuyết giảng,
có thể tải xuống để nghe. Như thế, sẽ giúp người nào
muốn tìm hiểu nghiêm túc chi tiết các kinh văn này.
Phương
pháp học tập: Tôi đề nghị là trong lần đầu, ta gắng
đọc lướt qua toàn bài kinh để làm quen với mạch văn. Sau
đó, đọc lại lần thứ nhì cẩn thận hơn và ghi chú các
chi tiết. Khi đã quen với nhiều bài kinh, liệt kê một số
các đề tài có vẻ vượt trội và các chủ đề trùng lặp,
và dùng chúng như là các đề mục cho việc học kinh trong
tương lai. Khi ta tiếp tục đọc kinh, nên lấy ghi chú và sắp
xếp chúng theo từng chủ đề, tạo thêm chủ đề mới nếu
cần thiết; nhưng luôn luôn ghi rõ xuất xứ các đoạn kinh.
Dần dần – sau một năm hay vài năm – ta sẽ có được một
cái nhìn tổng thể về Phật Pháp; cuối cùng, ta sẽ thấy
các bài pháp ấy kết hợp với nhau thành một khối đồng
nhất, như thể các mảnh hình nhỏ được kết nối lại trong
trò chơi ráp hình.
Tôi
cũng muốn nhấn mạnh ở đây là các bản kinh Pāli bắt nguồn
từ thời kỳ cổ xưa nhất của lịch sử kinh văn Phật giáo
và vì thế, là một di sản chung cho mọi truyền thống Phật
giáo. Vì vậy, học tập các bản kinh này không phải là công
việc dành riêng cho Phật tử Nam tông hay những hành giả thiền
Minh sát; đó là công việc, và cũng là nhiệm vụ, của mọi
Phật tử thuộc tất cả các tông phái, nếu họ thật tâm
muốn thông hiểu cội rể của Đạo Phật.
Hỏi:
Có những cạm bẫy hay nguy cơ nào trong việc sử dụng kinh
điển không?
Tỳ
khưu Bodhi: Có một điều nguy hiểm trong việc sử dụng
kinh điển đã được Đức Phật chỉ ra rất rõ ràng trong
bài kinh Xà dụ (kinh "Người bắt rắn", Trung bộ, 22). Đức
Phật nói về những người học kinh điển, thay vì đem ra
thực hành các lời giảng dạy, lại sử dụng những kiến
thức ấy để phê phán kẻ khác, hoặc để khoe tài năng của
mình khi tranh luận với kẻ khác. Đức Phật ví dụ họ như
người bắt rắn nhưng nắm ở đằng đuôi, họ sẽ bị con
rắn quay đầu lại cắn, gây đau đớn trầm trọng hoặc mất
mạng. Tôi thấy nhiều Phật tử Tây phương đã rơi vào cạm
bẫy này, nhiều lúc có cả chính tôi. Mặc dù ta bắt đầu
với ý định tốt nhất, nhưng ta lại nắm bắt Phật Pháp
bằng thái độ giáo điều cố chấp, dùng học thức của
mình để tranh cãi với kẻ khác, và rồi, dính mắc vào "trận
chiến diễn dịch" với những ai có sự giải thích kinh văn
khác với mình.
Một
nguy hiểm khác là ta buông bỏ khả năng suy xét của mình và
hoàn toàn tin vào bất cứ những gì ghi lại trong kinh. Thật
ra, cũng có những điều trong kinh không còn đúng và thích
hợp nữa, qua kiến thức khoa học hiện đại. Ta không thể
phê bình những người tin theo thuyết sáng tạo của Ky-tô
giáo để rồi mình cũng bị chấp dính vào những thái độ
tương tự.
Hỏi:
Có những đoạn kinh nào mà Sư ưa thích nhất?
Tỳ
khưu Bodhi: Khi tôi mới bắt đầu đọc kinh điển Phật
giáo, lúc còn học đại học, tôi cảm thấy rất hứng khởi
với những lời dạy của Đức Phật về lý nhân duyên, ngũ
uẩn, vô ngã, v.v., vì chúng đưa ta thẳng vào trọng tâm của
Pháp. Nhưng một trong những bài kinh gây ấn tượng nhất cho
tôi lại không phải là những bài kinh giảng thâm sâu về
hành thiền hoặc về thực chứng giải thoát. Khi đọc những
bài kinh giảng về lý duyên khởi và vô ngã, tôi nghĩ: Đức
Phật quả là một bậc giác ngộ, nhưng có lẽ cũng chưa toàn
vẹn lắm. Nhưng khi tôi đọc đến bài kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt
(Sigalovāda Sutta, Trường bộ, 31), những nghi ngờ của tôi
hoàn toàn tan biến. Khi tôi đọc bài kinh này, đặc biệt là
đoạn kinh giảng về "cách lễ lạy sáu phương", tôi nhận
thấy rằng mặc dù đã thấu đạt những chân lý sâu xa nhất
về sự hiện hữu, Đức Phật vẫn có thể giảng dạy rất
chi tiết cho bậc cha mẹ về cách dạy con cái, cho vợ chồng
về cách thương yêu tương kính, cho người chủ về cách chăm
sóc người làm của mình, v.v.; khi ấy, tôi chợt hiểu rằng,
vị Thầy này quả là một bậc giác ngộ hoàn toàn. Trong tâm
tôi, bài kinh này chứng minh rằng, Đức Phật không những
đã đạt được một "trí tuệ siêu thế" cao quý nhất, mà
Ngài còn có cả " trí tuệ hiệp thế" với lòng từ bi bao
trùm khắp thế gian, mang sự hiểu biết của mình hòa nhập
với trình độ của thế tục, để dạy dỗ và hướng dẫn
mọi người bằng những phương cách phù hợp với căn cơ
của họ.
Một
trong những đặc điểm của kinh điển mà tôi có ấn tượng
nhất, ngay từ khi bắt đầu học kinh và mãi cho đến bây
giờ, là các ví dụ so sánh. Dường như Đức Phật có thể
đem bất cứ một hiện tượng thiên nhiên nào, hay là bất
cứ một việc gì trong đời sống hằng ngày, biến thành một
ví dụ sâu sắc để làm sáng tỏ một điểm quan trọng nào
đó trong bài giảng. Mặt trời, trăng sao, hoa lá, cỏ cây,
sông núi, biển hồ; bốn mùa thay đổi; sư tử, khỉ, voi,
ngựa; vua, quan và chiến sĩ; nghệ nhân, y sĩ và đạo tặc
– danh sách về những đề tài ví dụ của Đức Phật hầu
như nhiều vô tận. Đôi khi chúng ta đọc một loạt những
bài kinh có vẻ rất khô khan, rồi đột nhiên ta gặp một
ví dụ rất tươi mới và sáng rõ, và hình ảnh ấy không
bao giờ phai nhạt trong tâm ta, ngay cả sau nhiều thập niên.
Hỏi:
Khi dịch kinh điển, Sư gặp những khó khăn đặc biệt nào?
Tỳ
khưu Bodhi: Tôi nghĩ rằng bất cứ ngôn ngữ nào cũng
có một cấu trúc nhận thức cơ bản của mỗi nền văn hóa,
chứa đựng những ẩn dụ để tạo dựng từ ngữ, và bao
gồm các ý nghĩa phụ thuộc và sắc thái riêng của từ ngữ.
Vi thế, khi chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác,
lúc nào ta cũng gặp vấn đề không hòa hợp giữa hai cấu
trúc nhận thức đó. Điều này dẫn đến các xung đột mà
thông thường chỉ giải quyết được bằng cách hy sinh những
liên hệ quan trọng về khái niệm trong ngữ văn gốc để
chuyển dịch sao cho suông sẻ và dễ hiểu. Vấn đề này trở
nên trầm trọng hơn khi ta phải chuyển dịch từ một cổ
ngữ, với những ẩn dụ cổ xưa, sang ngôn ngữ hiện đại
với một nền văn hóa rất khác biệt.
Ta
có thể thấy vấn đề này ngay ở những từ Pāli đơn giản.
Thí dụ như từ "samādhi" (định), tiếng Anh dịch là: concentration
- tập trung; composure - an tĩnh; collectedness - tự chủ, mental
unification - hợp nhất tâm, v.v. nhưng các từ này không chuyển
tải được ý nghĩa của samādhi để chỉ một trạng thái
luyện tâm đặc biệt, hay một hệ thống các trạng thái luyện
tâm, trong hệ thống huân tập tâm ý của đạo Phật (và trong
các đạo giáo Ấn Độ).
Ngay
cả từ "sati" (niệm), tiếng Anh thường dịch là "mindfulness",
cũng không phải là không có vấn đề. Từ này phát nguồn
từ động từ "sarati", nghĩa là "ghi nhớ", và đôi khi trong
ngữ văn Pāli, sati vẫn được hiểu như có liên quan đến
ý nghĩa về sự ghi nhớ. Nhưng khi từ ngữ đó được dùng
trong các pháp hành thiền, chúng ta không có chữ tiếng Anh
nào để dịch cho chính xác. Một dịch giả nào đó đã tạo
ra chữ "mindfulness", lúc đó chưa xuất hiện trong cuốn tự
điển của tôi. Chữ dịch này cũng khá hay, nhưng tự nó không
bảo tồn được ý nghĩa về sự ghi nhớ, đôi khi rất cần
thiết để thông hiểu một đoạn kinh.
Từ
"satipatthāna" thường được dịch là "founda-tion of mindfulness"
(niệm xứ, nền tảng của niệm), nghe có vẻ thanh lịch; nhưng
nếu ta hiểu Pāli, ta có thể nghi ngờ, hợp từ ấy không
bắt nguồn từ sati + patthāna (từ đó, dịch là niệm xứ),
mà là sati + upatthāna, nghĩa là "establishment of mindfulness" (sự
thiết lập niệm). Rồi, nếu ta hiểu kinh văn gốc, ta sẽ
thấy có rất nhiều câu, trong đó, sati được dùng với những
từ có liên hệ đến upatthāna, như upatthitas-sati (người có
niệm được thiết lập), mà không có câu nào kết hợp sati
với các từ có liên hệ đến patthāna. Điều này xác minh
cho việc chúng ta nên dịch sati-patthāna là "sự thiết lập
niệm - establishment of mindfulness", hơn là dịch "nền tảng của
niệm, niệm xứ". Cho dù từ "niệm xứ - foundation of mindfulness"
nghe có vẻ thanh lịch, điểm quan trọng ở đây là tiến trình
nội tâm để thiết lập chánh niệm, chứ không phải là về
đối tượng của quán niệm.
Hỏi:
Khi Sư thấy truyền thống Phật giáo Nguyên thủy đang được
các vị giáo thọ Tây phương biến đổi để thích nghi trong
thời đại mới, những điều nào Sư nghĩ là có ích lợi
và những điều nào không có ích lợi?
Tỳ
khưu Bodhi: Tôi rất ngần ngại khi phê bình về việc
làm của các vị thầy khác, nhưng tôi chỉ xin đề cập đến
một vấn đề quan trọng đang xảy ra trong việc giảng dạy
thiền quán Vipassana, mà có thể ta không chú ý đến. Tôi có
cảm tưởng rằng mục đích của thiền quán niệm, đang được
dạy ở Tây phương, đã bị biến đổi rất nhiều, khác xa
chức năng truyền thống của nó. Có lẽ là vì đa số các
vị giáo thọ Âu Mỹ giảng dạy ra ngoài khuôn khổ của giáo
lý Phật giáo cổ điển. Ngày nay, dường như pháp thiền quán
niệm được dạy như là một cách thức để làm tăng trưởng
kinh nghiệm của ta trong giây phút hiện tại. Mục đích của
pháp hành là để giúp ta chấp nhận tất cả những gì xảy
đến cho mình mà không phân biệt. Qua sự nâng cao chánh niệm
trong giây phút hiện tại, ta học cách chấp nhận mọi việc
như tự bản chất chúng là tốt đẹp, nhìn thấy mọi vấn
đề như đáng để học hỏi, thể nghiệm mọi sự như đáng
ân thưởng. Vì vậy mà ta chỉ cần an trú trong hiện tại,
sẵn sàng tiếp nhận bất cứ việc gì xảy ra, hoàn toàn cởi
mở đón nhận dòng chảy của các sự kiện luôn tươi mới
và luôn bất định.
Ở
một cấp độ nào đó, đường lối giảng dạy ấy cho ta
nhiều bài học giá trị. Đương nhiên, chấp nhận bất cứ
những gì xảy đến cho ta bao giờ cũng tốt hơn là sống mà
cứ náo nức đeo đuổi lạc thú và sợ sệt trốn tránh khổ
đau. Càng khôn ngoan hơn nếu ta thấy được các bài học tích
cực trong những nỗi đau, mất mát và đổi thay, thay vì than
van, trách móc cho số phận. Thế nhưng, theo quan kiến của
tôi, nếu chỉ trình bày những điều này như là điểm chính
của lời Phật dạy, thì đó là một sự suy diễn sai lầm
về Pháp. Lời dạy của Đức Phật, ghi lại trong các bài
kinh, có những luận cứ khác biệt. Mục đích tối hậu của
giáo pháp không phải là để chấp nhận cuộc đời, nhưng
là để giúp ta vượt qua giới hạn của kinh nghiệm hữu vi,
để thăng hoa cuộc đời, đạt đến trạng thái không có
già, không có chết, nghĩa là chấm dứt mọi khổ đau. Nếu
ta chỉ đơn giản duy trì nhận thức trong hiện tại để có
một sự chấp nhận không ràng buộc về hiện tại, nó có
thể gián tiếp đưa ta đến sự thỏa hiệp với cõi Ta-bà
luân hồi (samsara), nghĩa là sẽ lại dính mắc vào Ta-bà, chứ
không giải thoát khỏi nó.
Trong
giáo pháp truyền thống, qua chú tâm tỉnh giác trong hiện tại,
ta tập trung quán sát tiến trình sinh và diệt của mọi hiện
tượng để phát triển tuệ giác về đặc tính vô thường
của chúng. Nhưng nếu chúng ta dừng lại ở tính vô thường
của mọi vật, thì đó không phải là cách để ta chấm dứt
khổ đau. Tuệ giác về vô thường (anicca), phải là cửa ngõ
đưa đến tuệ giác về khổ (dukkha), đặc tính bất chu toàn
của mọi pháp hữu vi, và về tính vô ngã (anatta) của mọi
pháp. Với tuệ giác về ba đặc tính này, ta nhàm chán về
mọi pháp hữu vi. Do nhàm chán, xả ly phát sinh. Do xả ly, giải
thoát phát sinh, đưa đến thực chứng Niết-bàn tại đây
và ngay bây giờ.
Cốt
lõi của Phật pháp không phải chỉ là luận thuyết cho rằng
tháo gỡ được sự dính mắc sẽ giúp ta sống một cuộc
đời không có lo sợ và đau buồn. Thật ra, luận thuyết đó
chỉ là một phần về sự liên hệ của hai Diệu Đế đầu
– Khổ Đế và Tập Đế, nhưng chưa đủ sâu sắc. Phân tích
thâm sâu hơn về Tứ Diệu Đế là phải thấy rõ rằng dính
mắc của năm uẩn là ý nghĩa chính của Khổ Đế; phải thấy
rõ rằng hoạn khổ bắt nguồn từ sự thèm khát khoái lạc
của các giác quan và sự thèm khát vào một sự hiện hữu
tiếp nối; và phải thấy rõ rằng hoạn khổ – đau khổ
của dính mắc vào vòng sinh tử luân hồi – chỉ chấm dứt
khi nào sự thèm khát hoàn toàn tàn diệt. Nếu không thấy
được như thế, giảng dạy về Tứ Diệu Đến, trọng tâm
của Phật Pháp, sẽ không đầy đủ.
Dĩ
nhiên, mỗi vị giáo thọ phải tự quyết định lúc nào là
thích hợp để trình bày đầy đủ giáo thuyết ấy. Đức
Phật ngày xưa, chỉ giảng dạy Tứ Diệu Đế khi nào Ngài
biết thính chúng có khả năng để lĩnh hội. Nhưng nếu ta
muốn Phật Pháp được hưng thịnh, ít ra, ta phải chấp nhận
ý nghĩa chân chính của các lời dạy trên; cho dù chúng ta
quyết định rằng bây giờ cần phải chuẩn bị trước với
những phương cách khác, thích nghi hơn, của con đường đưa
đến giải thoát.
Hỏi:
Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy trong kinh điển, Đức Phật
không bao giờ đề nghị người nào đi theo con đường Bồ-tát
của Ngài để đắc quả vị Phật, nhưng Ngài chỉ dạy về
đạo quả A-la-hán như là mục đích chính. Theo Sư, tại sao
như thế?
Tỳ
khưu Bodhi: Đây là câu hỏi mà tôi đã từng suy tư
rất nhiều, nhưng vẫn chưa tìm được câu trả lời tối
hậu. Có nhiều ý tưởng về quả vị Phật tìm thấy trong
kinh điển nguyên thủy hướng đến giáo thuyết ban sơ về
con đường Bồ-tát trong thời Đức Phật còn tại thế. Trong
thời đó, có lẽ cũng có những người hứng khởi về tấm
gương của Ngài như là một Bậc Giải thoát Từ bi, và họ,
thay vì nhắm đến quả vị A-la-hán, ước nguyện đắc quả
vị Chánh Đẳng Giác trong một tương lai nào đó. Cũng có
thể họ có đến gặp Đức Phật để xin Ngài hướng dẫn
để đạt mục tiêu ấy, và Ngài đã giảng dạy cho họ.
Tuy
nhiên, trong trường hợp đó, sẽ phát sinh câu hỏi sau đây:
-"Tại sao trong các bài kinh, chúng ta không tìm thấy các lời
giảng rõ ràng về con đường tiến đến quả vị Phật? Tại
sao các lời giảng ấy chỉ được ghi trong kinh văn hậu tác
như là Chuyện Tiền thân (Jatakas), Sử tích (Apadānas), và các
bộ kinh Đại thừa phát triển về sau?"
Tôi
không có câu trả lời chính xác về câu hỏi khó khăn nhưng
thích thú này, nhưng tôi có thể tạm thời đưa ra hai giả
thuyết trái ngược, mặc dù tôi cũng chưa hài lòng với giả
thuyết nào. Đó là: (i) Trong thời kỳ nguyên khai, Đức Phật
được xem như là vị A-la-hán đầu tiên, vượt trội hơn
các vị A-la-hán khác về tài năng giảng dạy và uy tín cá
nhân của Ngài. Phản biện: Nếu như thế, giả thuyết này
ngầm hiểu rằng hầu như tất cả những gì ghi lại trong
các bài kinh về các uy lực của Đức Phật, các tuệ giác
cao quý và phẩm hạnh cao thượng của Ngài đều được ghi
thêm vào sau này, như thế là gián tiếp làm suy giảm giá trị
khả tín của các bài kinh. (ii) Các kỳ Kết tập Kinh điển
đầu tiên là do các vị tu sĩ có khuynh hướng đi theo con đường
A-la-hán tổ chức trùng tuyên; vì thế, các vị ấy đã gạt
bỏ những đoạn kinh không liên quan đến con đường của
mình, kể cả các bài kinh về con đường Bồ-tát. Phản biện:
Giả thuyết nầy không có cơ sở, vì trong kinh tạng nguyên
thủy lưu truyền đến ngày nay, có bao gồm nhiều bài giảng
của Đức Phật cho hàng cư sĩ tại gia, các bà nội trợ cũng
như các vua quan, để chu toàn nhiệm vụ thường ngày của
họ, mà không liên quan gì đến sự hành trì của hàng tu sĩ;
và như thế, nếu có các bài giảng khác cho những ai ước
nguyện theo con đường Bồ-tát thì ắt hẳn chúng cũng được
trùng tuyên.
Cho
nên, hai giả thuyết trên đều không đứng vững. Câu trả
lời dễ nhất mà tôi nghĩ ra – mặc dù không phải là lời
giải đáp mà tôi hoàn toàn ưng ý – qua đức hạnh của Ngài,
Đức Phật là một tấm gương cho những người muốn theo
đường Bồ-tát, nhưng bởi vì giáo pháp tối hậu của Ngài
là đưa đến giải thoát, Ngài không thể dạy những khái
niệm tranh đua nhau để tiến đến mục tiêu cuối cùng. Ở
đây, lời giảng của Ngài là phải đề cao những vị đã
thực chứng được mục tiêu tối hậu, đó là các vị A-la-hán,
và mô tả con đường đưa đến quả vị đó. Dù trong bất
cứ trường hợp nào, con đường A-la-hán như đã mô tả trong
kinh tạng nguyên thủy vẫn là nền tảng cho con đường Bồ-tát
phát triển về sau trong thời kỳ Phật giáo Bộ phái và Phật
giáo Đại thừa; cho nên, con đường sau không thể có được
nếu không có con đường trước.
Hỏi:
Vài người nhận định rằng các bản chú giải, nhất là
các chú giải của Luận sư Phật Âm (Buddha-ghosa), trình bày
một quan kiến khác với các bài kinh – như là một sự diễn
dịch hạn hẹp hơn về sự hành trì Pháp. Sư nghĩ thế nào
về sự thông hiểu căn bản về pháp nghĩa của các bài kinh,
so với các giải thích trong chú giải? Chúng giống nhau hay
khác nhau như thế nào?
Tỳ
khưu Bodhi: Sự liên hệ giữa các bản kinh và các bản
chú giải cực kỳ phức tạp và đây là một điều nguy hiểm
nếu ta có những phê phán tổng quát cho sự liên hệ đó.
Các chú giải thật ra không phải là các tác phẩm nguyên gốc
của ngài Phật Âm, mà là các phiên bản biên tập của các
chú giải cổ xưa đã được gìn giữ ở Sri Lanka. Nguồn gốc
lịch sử của chúng không rõ ràng, nhưng chắc là bắt nguồn
từ chính các bản kinh; nghĩa là có những bản kinh mang ý
nghĩa chú giải cho các bản kinh khác (thí dụ: Trung bộ 141,
Tương ưng 12:31; Tương ưng 22:3,4). Trong thời kỳ ban đầu
của sự truyền khẩu, các vị trưởng lão Phật giáo ắt
hẳn có triển khai một tập hợp chú giải đi kèm với bản
văn gốc, và ắt hẳn các chú giải này đã tích tụ qua nhiều
thế hệ, như thể trái banh tuyết lăn tròn và lớn rộng ra
với nhiều lớp tuyết dính vào.
Các
cổ bản chú giải Sri Lanka – không còn hiện hữu – mà ngài
Phật Âm dựa vào đó để biên soạn, có lẽ là một kho tàng
các tư liệu tích lũy qua nhiều thế kỷ, và có lẽ bắt nguồn
từ các vị đại đệ tử của Đức Phật. Ngay cả trong các
bản chú giải mà chúng ta thừa hưởng hôm nay, có những tầng
lớp dường như đã hiện hữu trước cả thời kỳ phân chia
Tăng đoàn thành các bộ phái, vì chúng có những tư liệu
dùng chung cho các bản luận giải của nhiều tông phái khác
nhau. Những tư liệu mới hơn thì bắt nguồn các vị thầy
tổ của tông phái Theravāda (Trưởng lão bộ) sau khi tông phái
nầy thành hình, và vì thế, phản ánh những phương cách diễn
dịch riêng biệt. Ngoài ra, còn có một khuynh hướng trao đổi
tư liệu diễn giải giữa các tông phái; tuy nhiên, nhờ tính
bảo thủ, các vị tu sĩ Theravāda đã nghiêm ngặt tách rời
các tư liệu mới nầy ra khỏi phần kinh văn ghi lời Đức
Phật giảng.
Để
hiểu tác động của các chú giải ở cấp độ giáo thuyết,
chúng ta nên nhớ rằng các bài kinh thật ra không phải chỉ
là kinh văn của tông phái Theravāda. Đây là sự truyền tải
của các tu sĩ Theravāda về một hạng kinh điển chung cho các
tông phái Phật giáo trong thời kỳ nguyên khai, mỗi tông phái
ắt hẳn có phương cách diễn dịch riêng. Những bản chú
giải mà chúng ta có được từ Luận sư Phật Âm (và nhiều
vị khác) tiếp tục nhiệm vụ diễn giải các kinh điển này
qua quan kiến của tông phái Theravāda. Vì thế, quan kiến của
các vị ấy dĩ nhiên là phải hạn hẹp hơn là các kinh văn
vì cần phải có tính đặc thù: họ nhìn thế giới tâm ý
của các bản kinh qua lăng kính của các phương pháp bình luận
thánh thư do các vị thầy tổ Theravāda triển khai, dùng những
phương pháp nầy để giải thích chi tiết về các bài giảng
của Đức Phật.
Nếu
ta so sánh ví dụ các bản kinh như là một vùng lãnh thổ đất
đai rộng lớn, quan sát từ trên cao để thấy các điểm chính
của địa hình nhưng chi tiết lại rất sơ sài; lúc đó, các
chú giải có thể ví như một báo cáo chi tiết về phương
hướng, vị trí của lãnh thổ đó. Câu hỏi ở đây là: Các
chú giải này chỉ đi đến để mô tả phong cảnh với nhiều
chi tiết, hay chúng mang theo các toán thợ xây dựng và các
dự án xây nhà, xây thương xá và xa lộ trên vùng đất hoang
sơ? Câu trả lời, theo tôi, là kết hợp cả hai.
Tóm
lại, có hai thái độ cực đoan khi chúng ta đánh giá các chú
giải. Một cực đoan, thường được các nhà Theravāda chính
thống chấp nhận, là xem chúng có giá trị hầu như ngang hàng
với các bản kinh. Một cực đoan khác là hoàn toàn gạt bỏ
chúng, và cho rằng chúng đại diện cho sự diễn dịch khác
với Phật Pháp. Tôi nghĩ rằng thái độ cẩn thận trung dung
là chúng ta tham khảo các bản chú giải và sử dụng chúng,
nhưng không chấp dính vào chúng. Các diễn giải thường giúp
làm sáng tỏ kinh văn, nhưng ta cũng nên ghi nhận rằng chúng
chỉ đại diện cho một sự hệ thống hóa đặc thù của
các bài kinh giảng nguyên sơ. Đôi khi, các bài kinh nầy không
cần có thêm các chú giải, và có vài điểm, các chú giải
có vẻ không tương thích với bài kinh giảng.
Hỏi:
Rất nhiều bài kinh khi kết thúc có ghi rằng những người
khi nghe các lời dạy của Đức Phật, thông hiểu, rất hoan
hỷ, và đôi khi được giác ngộ chỉ nhờ nghe và hiểu. Điều
này quả thật rất kỳ lạ, rất khó suy ngẫm!
Tỳ
khưu Bodhi: Chính các bản kinh cũng không giải thích
rõ, chỉ nói rằng trong khi Đức Phật giảng dạy, tâm của
người nghe trở nên "sẵn sàng, tiếp nhận, không còn những
chướng ngại, hoan hỷ và tự tin." Nhưng thông thường, kinh
cũng ghi rằng, Đức Phật giảng bài kinh đặc biệt cho một
người hay một nhóm người nào đó trong thính chúng, cho nên
có thể Đức Phật đã biết trước người ấy hay nhóm người
ấy có khả năng thấu đạt chân lý. Theo tôi, sự nhanh nhẹn
thấu đạt Chân Pháp của họ là do ba yếu tố.
Thứ
nhất, họ đã tích lũy được đầy đủ các hạnh ba-la-mật
(paramis), hay các phẩm hạnh cao quý, trong nhiều kiếp trước.
Tôi tin hoàn toàn vào nguyên lý tái sinh, và tôi tin rằng sự
giác ngộ là kết quả của công phu tu tập qua nhiều kiếp
sống, kiện toàn những phẩm hạnh như bố thí, trì giới,
nhẫn nại, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, từ bi, xả ly,
cương quyết, v.v. Vì thế, mặc dù những vị này có thể
chưa hành trì Chánh Pháp trong đời này trước khi họ gặp
Đức Phật, nhưng họ đã chu toàn các hạnh ba-la-mật với
nhiều vị Phật trong quá khứ.
Thứ
hai là một sự khát khao sâu xa trong tiềm thức, mong đạt
được sự thanh tịnh và thấu đạt chân lý. Sự khát khao
này có thể không hiển lộ trên bề mặt của tâm – có thể
họ đang sống như các thương gia bận rộn, các bà nội trợ
khiêm tốn, những người đầy tớ bình dị – nhưng vào những
giây phút tĩnh lặng, một sự thúc đẩy nào đó hướng về
chân lý, về sự toàn thiện và hoàn mỹ tinh thần đã choáng
ngợp tâm các vị ấy, tạo nên một cảm giác bất an sâu
đậm trong lòng, một nỗi bức rức chỉ được dập tắt
khi họ gặp Đức Phật và nghe Ngài giảng dạy.
Thứ
ba, trong vài trường hợp, có thể các vị ấy đã trực diện
với một khổ đau khắc nghiệt, thô tháo hay vi tế, và khổ
đau ấy đã xé toang được tấm màn vô minh trước mắt và
thúc đẩy họ đi tìm một con đường giải thoát tối hậu.
Khi
hai hoặc ba yếu tố này được trọn vẹn, các vị ấy như
những đóa hoa sen trên mặt hồ, chờ mặt trời mọc để
bừng nở. Sự xuất hiện của Đức Phật là mặt trời mọc
lên, và Giáo Pháp của Ngài là những tia nắng sáng chói khai
mở các đóa hoa sen trong tâm thức để tiếp nhận chân lý
tối hậu.
Bình
Anson dịch
Tây
Úc, tháng 7-2006
-15-
Tu
sĩ ẩn lâm
Phỏng
vấn Ajahn Brahmavamso
*
Thiền
sư Ajahn Brahmavamso là vị trụ trì tu viện Bodhinyana (Giác Minh),
bang Tây Úc, Australia. Ngài cũng là vị cố vấn tinh thần của
Hội Phật giáo Tây Úc. Ngài đã từng tu học tại Thái Lan,
trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, dưới sự hướng
dẫn của ngài Thiền sư Ajahn Chah. Sau đây là vài đoạn trích
dịch từ một bài phỏng vấn của bà Rachael Kohn, phóng viên
đài phát thanh Úc châu, vào tháng 3-2003.
*
Rachael
Kohn (RK): Tìm sự an bình trong một thế giới vui chơi ồn ào
quả thật là một điều hiếm có đối với một chàng trai
trẻ. Sinh ra tại thủ đô London của Anh quốc, tốt nghiệp
thạc sĩ ngành Vật lý Lý thuyết tại Đại học Cambridge,
Ajahn Brahma-vamso trở thành một tu sĩ Phật giáo trong truyền
thống Ẩn lâm của Thiền sư Ajahn Chah tại Thái Lan. Ngày nay,
ngài là vị trụ trì Tu viện Bodhinyana, huyện Serpentine, bang
Tây Úc, và là một giảng sư được nhiều nơi thỉnh mời,
và nổi tiếng về tài kể các mẫu chuyện ngắn rất ý nghĩa.
Mặc
dù sống đơn giản là căn bản của đời sống tu sĩ, nhất
là trong khung cảnh núi rừng ở huyện Serpentine, nhưng có lẽ
điểm chính yếu của tuệ quán Phật giáo là tìm thấy sự
an bình trong thế giới loạn động. Và đó cũng tương tự
với sự kiện lần đầu tiên khi tôi gặp Sư Brahmavamso tại
Trung tâm Thiền Phật giáo Bodhikusuma tọa lạc trong khu nội
thị ồn ào của thành phố Sydney, với các đoàn xe tải di
chuyển rầm rộ ngay trước cửa.
Bạch
Sư, ngài là tu sĩ từ nhiều năm qua, hình như ngài đi tu lúc
23 tuổi?
Ajahn
Bramavamso (AB): Vâng, năm tôi 23 tuổi, tôi thấy đời
sống thế tục không có gì hấp dẫn, và quyết định trở
thành tu sĩ. Trước đó, tôi đi dạy, sau khi tốt nghiệp đại
học. Trong thời gian làm giáo viên, tôi cảm thấy trong tâm
có một cảm xúc rất mạnh mẽ về đời sống tu sĩ, hay một
sự thôi thúc tâm linh nào đó. Hơn nữa, trong truyền thống
Phật giáo Thái Lan, người ta có thông lệ xuất gia tu gieo
duyên, nghĩa là đi tu chỉ trong một thời gian ngắn.
Vì
thế, tôi quyết định xin nghỉ việc tạm thời trong vài năm,
du hành sang Thái Lan, xuất gia đi tu, để thỏa mãn sự thôi
thúc trong tâm, rồi sau đó, sẽ trở về đời sống thế tục.
Nhưng một khi tôi trở thành tu sĩ, có cái gì đó đã xảy
ra rất nhanh chóng làm cho tôi nhận thức được rằng đây
chính là điều tôi hằng mong ước, và tôi cảm thấy rất
thoải mái trong vai trò của một tu sĩ.
RK:
Xin Sư nói rõ hơn, về lý do thật sự đã làm cho Sư có một
quyết định thay đổi cuộc sống như thế?
AB:
Điều làm tôi có một quyết định rốt ráo như thế là vì
tôi nhận thức được rằng đối với tôi lúc ấy, có một
cái gì đó trong đời sống thật sự quan trọng hơn là chỉ
đi làm việc hay dính mắc vào tình cảm yêu đương. Có lẽ
một trong những kinh nghiệm rung cảm nhất trong đời tôi là
kinh nghiệm có được khi tôi tham dự các khóa thiền khi còn
là cư sĩ. Tôi đạt được một mức độ an định rất tốt,
với nhiều hỷ lạc. Cảm giác đó không bao giờ rời khỏi
tôi, và tôi muốn tìm hiểu ý nghĩa thật sự của nó, và
vai trò của nó trong thế gian này. Sự an định trong thiền
là những gì làm thay đổi cái nhìn của tôi về ý nghĩa của
đời sống, và tôi muốn tìm hiểu sâu xa hơn về ý nghĩa
đó. Điều này chỉ thực hiện được trong đời sống xuất
gia.
RK:
Thế nhưng qua những gì Sư đã từng kể cho biết, đời sống
tu hành của Sư cũng không thoải mái lắm. Ý tôi muốn nói
là Sư đã bỏ nhiều công sức xây dựng chùa chiền trong suốt
20 năm, trong hoàn cảnh rất khó khăn...
AB:
Xây dựng tự viện quả thật rất cực nhọc, nhưng
cũng đầy thú vị nếu chúng ta làm việc trong niềm hoan hỷ.
Một trong những câu chuyện tôi thường kể là khi chúng tôi
xây dựng chánh điện tại tu viện của thầy tôi, ngài thiền
sư Ajahn Chah, ở Thái Lan. Một ngày nọ, ngài Ajahn Chah bảo
chúng tôi phải dời một đống đất lớn từ nơi này sang
một nơi khác, vì ngài cho rằng nếu để ở đây thì không
đẹp mắt.
Chúng
tôi làm việc cực khổ suốt 3 ngày, từ 9 giờ sáng đến
10 giờ đêm, không ngừng nghỉ, ngoại trừ lúc ăn. Mỗi ngày,
chúng tôi chỉ ăn một bữa cơm, và chúng tôi làm việc trong
thời tiết nóng bức của vùng nhiệt đới. Sau khi hoàn tất,
chúng tôi rất vui mừng, nhưng lúc đó, ngài Ajahn Chah lại
đi viếng một tu viện khác. Sáng hôm sau, vị sư phó trụ
trì đến gặp chúng tôi, bảo rằng chúng tôi đã đổ đống
đất đó nhầm chỗ và chúng tôi phải dời đống đất đi
nơi khác. Thế là chúng tôi phải làm việc thêm 3 ngày nữa,
và dĩ nhiên tôi rất vui sướng khi hoàn tất công việc ấy.
Tuy
nhiên, ngày hôm sau, Ajahn Chah trở về, ngài gọi chúng tôi
đến và bảo: "Tại sao các sư lại đem đổ đống đất ở
chỗ đó? Tôi đã dặn các sư phải đổ đất tại chỗ này
mà?!" Thế là chúng tôi lại phải ra sức lao động di dời
đống đất thêm 3 ngày nữa. Dĩ nhiên là tôi phát cáu, nổi
sân. Là người Tây phương duy nhất trong một tu viện châu
Á, tôi có thể lầm bầm, càu nhàu bằng tiếng Anh, không sợ
người khác biết. Nhưng các vị sư khác vẫn hiểu được,
vì họ có thể đoán qua cử chỉ của tôi.
Và
một sự kiện xảy ra làm tôi luôn luôn ghi nhớ. Một vị
sư đến gần tôi và dịu dàng nói: "Đẩy xe cút kít rất
dễ, nhưng càng suy nghĩ về nó lại càng tạo thêm khó khăn!"
Chỉ một câu nói đó đã thay đổi cái nhìn của tôi về
công việc tôi đang làm. Ngay khi tôi chấm dứt càu nhàu, than
phiền, công việc đẩy xe cút kít đổ đất trở nên dễ
dàng và nhẹ nhàng hơn. Đây là tôi đã học được một trong
những bí quyết của đời sống tu sĩ. Cho dù ta đang làm bất
cứ việc gì, ngồi hành thiền giờ này sang giờ khác trong
tịnh thất hay phải lao động xây cất chùa chiền, chính sự
đắn đo than trách làm cho công việc trở nên khó khăn, cực
nhọc hơn.
RK:
À, như thế có vẻ như một trong các bí quyết của đời
sống tu sĩ là phải biết tuân lệnh. Phải chăng đó là một
hình thức tra tấn, khổ nhục? Tuân lệnh làm một việc nầy,
rồi đảo ngược lại, rồi làm lại như trước?
AB:
Không hẳn thế. Cùng một sự kiện qua một góc nhìn
này, ta thấy thế này, nhưng qua một góc nhìn kia, ta lại thấy
khác. Ta có thể thấy việc gì cũng là một cực hình khổ
sở, việc ăn uống có thể là một cực hình, bị phỏng vấn
như thế này cũng là một cực hình, v.v. nhưng thái độ của
ta đối với các công việc ấy như thế nào mới là điều
quan trọng. Và một trong những bài học quý giá có được
trong đời sống tu sĩ là cách thức ta xử lý một vấn đề
nào đó. Thông thường ta có được sự lựa chọn. Nếu ta
tiếp tục tuân theo đường lối ngu xuẩn quen thuộc để nhìn
cuộc đời, ta sẽ bị khổ não. Nhưng nếu ta thật sự thay
đổi cách nhìn của mình về đời sống, hay nói cách khác,
khi ta có thêm trí tuệ, ta sẽ thấy vấn đề đó không còn
khó khăn, khổ sở nữa.
RK:
Phải chăng lúc nào Sư cũng quan tâm đến thái độ của Sư
đối với mọi sự việc? Tôi có ý nói là dường như Sư
lúc nào cũng là một người tìm sự toàn bích, tìm kiếm cái
hạnh phúc tuyệt đối... Bởi vì đối với tôi, khi nghỉ
đến hạnh phúc, tôi thường thấy thỏa mãn với những cái
hạnh phúc và không hạnh phúc, vì đó là tổng hợp của những
gì mà đời sống thường đem đến cho chúng ta. Nhưng Sư,
hình như Sư lại nỗ lực tìm kiếm một giải pháp huyền
diệu nào đó để thấy được hạnh phúc trong mọi sự việc.
AB:
Vâng, đúng thế. Tôi luôn luôn nghĩ rằng việc tầm
cầu hạnh phúc là động lực chính của cuộc sống. Trong
cuộc sống, bất cứ việc gì chúng ta làm trên thế gian này,
luôn luôn là để tầm cầu một hạnh phúc nào đó. Riêng
tôi, một trong những kinh nghiệm ban đầu về niềm hỷ lạc
thâm sâu trong thiền định đã cho tôi thấy thế nào là hạnh
phúc xuất thế. Và khi ta thưởng thức được điều đó,
ta càng nỗ lực để tìm hiểu sâu xa hơn nữa về ý nghĩa
đích thực của hạnh phúc.
Ý
nghĩa của hạnh phúc là ý nghĩa của đời sống. Đó không
phải chỉ đơn thuần là ý nghĩa hạnh phúc trong thiền định,
mà còn là ý nghĩa hạnh phúc của bất cứ công việc nào
ta đang thực hiện. Ngay cả khi thân thể của ta ra lệnh cho
ta: "Bây giờ bạn phải đi ngủ", hay "Bây giờ bạn phải bị
bệnh", hay "Bạn không thể làm được điều bạn mong muốn".
Không có vấn đề chi, nếu có sự việc nào đó trong đời
sống ngăn cản, không cho chúng ta làm những gì chúng ta muốn
làm. Cũng như thể đó là các mệnh lệnh của đời sống,
lúc ấy, ta có cơ hội để buông xả, không bám víu vào đó,
khi ta không thể làm gì khác hơn, và ta nên có thái độ thỏa
lòng với hoàn cảnh hiện tại. Và đó là một trong những
điều kỳ diệu mà tôi đã tìm thấy khi thực hành Phật pháp.
Ta có thể an vui, hạnh phúc, trong bất cứ hoàn cảnh nào.
RK:
Tôi còn nhớ Sư đã từng kể một câu chuyện khi Sư đến
thăm viếng trại tù và thuyết giảng cho các tù nhân. Khi Sư
nói cho họ biết về đời sống tu sĩ, hình như họ rất ngạc
nhiên, và họ nói: "Trời! Thế là khổ quá! Quý Sư hãy đến
đây sống với chúng tôi, đời sống ở đây dễ chịu hơn
là đời sống tu sĩ!" Đó là một trong những câu chuyện Sư
thường kể để chuyển tải một thông điệp nào đó…
AB:
Ta hiểu rõ đời sống qua các câu chuyện, hơn là qua
các ý tưởng. Các ý tưởng tựa hồ như thể một bản báo
cáo xưa cũ về những gì thật sự xảy ra trong cuộc sống.
Nếu chúng ta kể các mẫu chuyện về đời sống chung quanh
ta và lồng trong đó các ý nghĩa mà ta muốn truyền tải, người
nghe sẽ dễ thông hiểu và hấp thu. Vì thế, tôi thích kể
các câu chuyện ý nhị đó.
Trở
lại câu chuyện Bà vừa nêu ra, đó là khi chúng tôi đến
viếng một trại tù gần tu viện, và một vị tu sĩ trong đoàn
thuyết pháp cho các trại viên. Sau thời pháp, một tù nhân
có hỏi về đời sống của một tu viện Phật giáo ở phương
Tây. Chúng tôi cho ông ấy biết là tại tu viện, chúng tôi
thức dậy rất sớm, khoảng 4 giờ sáng, rồi cùng nhau tụ
tập tại ngôi chánh điện lạnh lẽo, ngồi xếp chân trên
mặt đất, hành thiền, và sau đó, tụng kinh công phu sáng.
Đến khoảng 6.30 sáng, chúng tôi uống trà hoặc cà phê, rồi
làm các công việc lao động bảo quản chùa, thường rất
nặng nhọc trong 3-4 giờ, trước khi ăn trưa. Bữa ăn trưa
cũng không được chọn lựa, có chi ăn nấy, do sự cúng dường
của các cư sĩ, và các loại thức ăn được trộn lẫn lộn
với nhau trong một bình bát của mỗi tu sĩ. Như thế, hương
vị thức ăn cũng không có gì hấp dẫn. Sau khi nghỉ trưa,
chúng tôi lại phải chấp tác lao động nữa, vì lúc đó,
tu viện có nhiều công trình xây dựng. Chúng tôi không xem
ti-vi, vì chùa không có máy ti-vi mà cũng không có máy radio,
nên không ai xem thể thao, không ai được phép chơi thể thao,
không được phép đánh đàn hay nghe nhạc, v.v. Vào buổi chiều,
chúng tôi không có xi nê phim ảnh giải trí, mà cũng không
được ăn buổi chiều. Chúng tôi lại tụ tập nơi chánh điện,
ngồi xếp chân hành thiền hằng giờ trên nền đất buốt
lạnh, và sau buổi thiền, mỗi tu sĩ trở về liêu cốc riêng,
sống một mình, và nằm ngủ trên nền đất lạnh lẽo.
Khi
nghe chúng tôi trình bày như thế, các trại viên rất sửng
sốt, ngạc nhiên, vì họ không ngờ chúng tôi lại có một
đời sống như thế. Cho nên, một trại viên, có lẽ ông ta
đã quên rằng ông đang sống trong tù, phát biểu: "Ghê quá!
Đời sống như thế là quá khắc khổ! Tại sao các Sư không
vào đây mà sống với chúng tôi, trong trại này, sung sướng
hơn?!" Thật là điên rồ và khôi hài, vì ông ta đã quên rằng
ông đang bị giam trong tù! Điểm quan trọng trong câu chuyện
này là: lý do chính mà các vị tu sĩ và các vị cư sĩ thiền
sinh khi đến viếng tu viện đều muốn ở lại đó, vì họ
cảm thấy an lạc, thỏa mãn. Họ không xem tu viện như là
tù giam, bởi vì họ tự nguyện, thật lòng muốn đến tu học
tại đó, cho dù cuộc sống có phần khắc khổ. Trong khi ấy,
các trại viên tội nhân bị chính quyền giam vào một nơi
mà họ không muốn ở, cho nên đối với họ, nơi đó là một
nhà tù.
RK:
Bạch Sư, như thế, đó là sự tự do, phải không? Đó là
quan kiến của chúng ta về sự tự do, về những gì tạo ra
tự do. Tôi có ý muốn nói về những gì tạo ra sự tự do
là sự lựa chọn, không gò bó, không trói buộc. Còn ý của
ngài thì sao?
AB:
Thật ra, chúng ta có hai loại tự do: tự do ham muốn
và tự do khỏi ham muốn. Đa số người ta trên thế gian này
chỉ biết đến loại tự do của ham muốn, tự do của chọn
lựa. Trong đạo Phật, nhất là trong hành thiền, chúng tôi
nhắm đến loại tự do thứ hai, đó là tự do khi thoát khỏi
sự ham muốn, tự do khi thoát khỏi sự chọn lựa.
Cho
nên, khi ta bằng lòng ngay trong hiện tại, khi tâm ta an bình,
các sự ham muốn sẽ không xảy ra. Ta được tự do, thoát
khỏi áp lực của những sự ham muốn vốn có khuynh hướng
áp đảo chúng ta và sai khiến ta phải làm theo mệnh lệnh
của chúng. Đó là những mệnh lệnh trong nội tâm của mỗi
người chúng ta, ra lệnh chúng ta phải làm sao cho vượt trội
hơn người khác, phải làm sao để xua đuổi cơn đau, phải
làm sao để đạt được một mục đích nào đó, cho dù chúng
ta cũng không biết tại sao cần phải làm như thế, … Khi
hành thiền, dần dần chúng ta sẽ đạt được sự tự do
thoát khỏi các mệnh lệnh đó.
RK:
Có phải chăng Sư lúc nào cũng biết được lý do để đạt
mục đích là trở thành một tu sĩ Phật giáo, và một vị
trụ trì tu viện?
AB:
Không hẳn thế. Trở thành vị trụ trì chỉ là vì
hoàn cảnh đưa đẩy. Còn trở thành một tu sĩ Phật giáo
là điều tôi mơ ước từ khi còn trẻ. Lúc ấy, chung quanh
tôi, tôi thấy có nhiều người có rất nhiều của cải tài
sản và danh vọng. Hình như họ có cơ hội để sống với
ước mơ của họ, nhưng sự mong muốn của họ không bao giờ
ngưng. Họ không bao giờ thoát khỏi lòng mong muốn, lúc nào
cũng nỗ lực để thoả mãn sự mong muốn, thèm khát điều
này, rồi lại điều kia, như là những người đói khát, thật
là khổ tâm. Đôi khi chúng ta cũng thế, chúng ta muốn chấm
dứt cảm giác đói khát trong nội tâm, muốn được thỏa
mãn vĩnh viễn, nhưng hình như điều đó không bao giờ đạt
được… Có rất nhiều người giàu có và thành công trên
đời này, được nhiều người ca tụng và bắt chước, nhưng
nếu ta hỏi họ: "Ông Bà có thật sự tự do không?" Nếu họ
thành thật, có lẽ ta sẽ nhận được các câu trả lời rất
lý thú!
Rồi
tôi gặp được vài vị tu sĩ Phật giáo, và họ là những
người an lạc nhất mà tôi đã từng thấy trên đời này.
Mặc dù sống trong tu viện với nhiều giới luật nghiêm khắc,
trong một đời sống rất đạm bạc và đơn giản, nhưng ta
có thể cảm nhận được sự an lạc, thảnh thơi, tự do của
các vị tu sĩ đó. Từ đó, ta mới hiểu được sự khác biệt
của hai loại tự do: tự do của ham muốn và tự do thoát khỏi
ham muốn. Trong thế giới ngày nay, chúng ta có quá nhiều phương
tiện để theo đuổi và thỏa mãn các ham muốn của chúng
ta, hầu như ta có thể làm được những gì ta muốn. Nhưng
có mấy ai thật sự cảm thấy tự do?
RK:
Tất cả đều tùy thuộc chúng ta mong muốn gì từ cuộc sống.
Tôi biết thông điệp của Sư thông thường là về sự hạnh
phúc, như thể để chuyển tải câu: "Đừng lo âu. Hãy an vui",
liên quan đến việc thay đổi thái độ của chúng ta, chứ
không phải để thay đổi thế gian. Thế nhưng, chắc Sư cũng
biết, thái độ đó cũng có thể phát sinh một thái độ thờ
ơ đối với cuộc đời?
AB:
Không hẳn thế đâu. Tôi không nghĩ điều đó có liên hệ
gì đến sự thờ ơ lãnh đạm, bởi vì khi có nhiều người
thay đổi thái độ sống thì thế gian sẽ thay đổi theo.
Tuy
nhiên, chúng ta cũng nên ghi nhận rằng ngày nay, thay vì phải
giải quyết các vấn đề trong đời sống với một thái độ
an vui, người ta giải quyết chúng với một tâm sân hận,
giống như thái độ của một chuyên viên diệt trừ sâu bọ.
Thay vì cố gắng tìm hiểu và chung sống hòa hợp với thiên
nhiên, ta lúc nào cũng muốn khống chế và tiêu diệt tất
cả những gì đã và đang tạo ra vấn đề khó khăn cho chúng
ta, và những thứ đó có thể bao gồm cả những người thân
hoặc một loại thù địch nào đó mà ta xem như là sâu bọ.
Nhưng ắt hẳn chúng ta cũng biết rằng ta không thể nào diệt
trừ tất cả các loài sâu bọ trên thế giới, mà ta cũng
không thể diệt trừ tất cả các sâu bọ trong thân thể của
chính mình, như ung thư và các loại bệnh tật khác. Đôi khi,
chúng ta phải dành thì giờ để học cách sống an bình và
hài hòa với thiên nhiên.
RK:
Đạo Phật có dạy chúng ta phải đối kháng những điều
nguy hiểm, xấu ác, quỷ quyệt không?
AB:
Vâng. Chúng tôi giảng dạy về sự đối kháng tâm sân hận,
về sự đối kháng tâm đố kỵ, về sự đối kháng tâm ngu
si. Đó là những điều chúng ta phải thật sự đối kháng,
đó là những gì liên quan đến lòng sân hận và cảm giác
muốn trả thù, liên quan đến sự đau đớn buồn khổ trong
tâm, sự ưu sầu, cảm giác tội lỗi, v.v, tất cả những
cảm tính tiêu cực của đời sống. Đó là những gì chúng
ta muốn đối kháng, muốn hiểu rõ, để vượt qua, bằng cách
buông xả. Khi ấy, chúng không còn hiện hữu nữa.
RK:
Tôi thích câu chuyện Sư thường kể về một vị giảng viên
vào trong lớp học và mang theo một lọ chứa đầy các viên
sỏi… Ngài có thể kể ra đây không?
AB:
Vâng. Thật ra, đó là một câu chuyện tôi học được từ
một vị Phật tử, có quảng bá trên Internet. Cho nên, có lẽ
nhiều thính giả của đài phát thanh đã từng biết qua, nhưng
đó là một câu chuyện hay.
Một
ngày nọ, một vị giảng viên đại học đến lớp giảng,
thay vì đọc và dạy những gì ghi trong sách như thường lệ,
ông ấy mang theo một lọ thủy tinh to, và đặt nó trên bàn
viết. Trong khi các sinh viên thắc mắc không biết ông ấy
có ý định gì, ông bắt đầu mở một cái túi và lấy ra
các viên sỏi to và bỏ từng viên vào lọ cho đến khi không
còn bỏ thêm được viên nào nữa. Ông hỏi cả lớp: "Lọ
này đã đầy chưa?", và mọi người trả lời: "Vâng, đầy
rồi".
Ông
mỉm cười, rồi lấy ra một túi khác, chứa các viên sỏi
nhỏ, và bỏ từng viên sỏi nhỏ vào lọ, vào trong các khe
giữa các viên sỏi lớn, đến khi không còn bỏ thêm được
viên nào. Rồi ông hỏi: "Đầy lọ chưa?". Bây giờ, có lẽ
đoán được ý ông, cả lớp lắc đầu và trả lời: "Dạ,
chưa đầy". Họ cười vang, thích thú theo dõi các động tác
của ông. Ông mỉm cười, lấy ra một túi khác chứa đầy
cát mịn, từ từ đổ cát vào lọ, vừa đổ vừa lắc lọ
để các hạt cát mịn chảy vào các khe trống trong lọ, cho
đến khi không còn đổ cát thêm được nữa. Rồi ông lại
hỏi: "Đã đầy chưa?" và cả lớp trả lời: "Dạ chưa". Lần
này, ông nhờ sinh viên mang đến một chai nước và từ từ
đổ nước vào lọ cho đến khi đầy tràn. Rồi ông hỏi cả
lớp: "Những gì tôi làm hôm nay có ý nghĩa gì?"
Đây
là lớp học về quản lý kinh doanh, cho nên, một sinh viên
nhanh nhẩu đưa tay đứng lên phát biểu: "Thưa Thầy, việc
này có ý nghĩa là cho dù chúng ta có bận rộn như thế nào,
chúng ta vẫn có thể thu xếp để đảm nhận thêm vài việc
khác nữa". Cả lớp vỗ tay thưởng. Nhưng vị giáo viên nói:
"Không hẳn thế. Đấy không phải là ý nghĩa điều tôi muốn
diễn tả. Điều mà tôi muốn trình bày ở đây là nếu các
em muốn bỏ vào lọ các viên sỏi to thì các em phải bỏ chúng
vào trước tiên. Đừng đợi đến lúc cuối, vì như thế,
các em sẽ không bao giờ bỏ chúng vào trong lọ được." Đây
là một câu chuyện về thứ tự ưu tiên, về những gì ta
phải dành ưu tiên trong lịch làm việc của mình, của cuộc
đời mình.
Cũng
vậy, có những sự việc chúng ta đều biết chúng quý giá
như những viên đá quý, những viên sỏi to của cuộc đời,
như gia đình ta, như sự liên hệ giữa ta và những người
thân thương, như sự an bình trong tâm thức, v.v., nhưng nhiều
khi, ta lại xếp chúng sang một bên, xếp vào thứ bậc cuối
cùng của lịch làm việc trong ngày, trong tuần, trong cuộc
đời của ta, để rồi sẽ không bao giờ có được cơ hội
thực hiện những điều ấy. Đó là một trong những lý do
khiến chúng ta không tìm được hạnh phúc. Chúng ta không đặt
đúng thứ tự ưu tiên những gì cần phải thực hiện cho
cuộc đời mình. Chúng ta phải luôn luôn nhớ đến câu chuyện
bỏ đá vào lọ của vị giảng viên đại học kia, và thu
xếp thực hiện những việc thật sự quan trọng nhất trong
cuộc đời chúng ta. Chúng ta vẫn luôn luôn có cơ hội để
làm thêm các việc khác, kém quan trọng hơn, về sau này.
RJ:
Bạch Sư, có còn những gì khác mà Sư muốn đặt thêm vào
lọ của Sư không?
AB:
Bỏ vào lọ của tôi? Đó là sự an bình và hạnh phúc cho
tôi và cho người khác. Rốt cuộc, điều quan trọng nhất
trong đời tôi là làm thế nào để mang lại hạnh phúc cho
tôi và cho người khác. Tuy nhiên, sau nhiều năm trong đời
tu sĩ, tôi thấy không thể nào tách rời hạnh phúc của riêng
tôi và hạnh phúc của người khác. Vì thế, tôi sẵn sàng
đi đây đi đó để phục vụ mọi người, càng nhiều càng
tốt, thuyết giảng, và kể nhiều câu chuyện vui nhưng có
ý nghĩa, để mọi người vui vẻ đón nhận và thông hiểu.
RK:
Bạch Sư, chúng ta đang ngồi đây, bên cạnh một bàn thờ
rất truyền thống, trên đó có một tượng Phật và chung
quanh có các đóa hoa sen. Câu hỏi cuối cùng của buổi phỏng
vấn hôm nay là: các biểu tượng này có ý nghĩa như thế
nào?
AB:
Vâng. Chúng ta nhìn vào bàn thờ, bắt đầu từ vị trí cao
nhất, tượng Đức Phật trong tư thế hành thiền, mắt khép
lại, miệng mỉm cười, rõ ràng đó là biểu tượng của
sự an bình. Khi ta nhìn những hình ảnh như thế, lòng ta cảm
thấy thanh thản, nhẹ nhàng, từ bi. Hai bên tượng Phật là
các cây nến, đó là biểu tượng của trí tuệ, vì ta thắp
nến là để mang ánh sáng, xua tan sự tối tăm, mê ám. Qua
nhiều thế kỷ trong lịch sử, đó là biểu tượng cho sự
giác ngộ. Trí tuệ hiện hữu, không ai thật sự sở hữu
trí tuệ, nhưng chúng ta cần có cây nến để thắp sáng, để
tự mình thấy rõ ràng mọi sự việc.
Rồi
ta thấy các đóa hoa sen trên bàn thờ. Hoa sen là một biểu
tượng quan trọng trong đạo Phật. Hoa sen có nhiều lá, và
nhiều cánh hoa, hằng ngàn cánh hoa, và đây là một trong những
đề mục hành thiền mà tôi ưa thích nhất. Trong thiên nhiên,
muốn mở các cánh hoa sen, mặt trời phải duy trì đầy đủ
các tia nắng ấm liên tục trên ngàn cánh hoa, từ cánh hoa
thứ nhất ở ngoài cùng cho đến cánh hoa thứ một ngàn nằm
sâu bên trong.
Phần
trong cùng của hoa sen là phần thơm ngát nhất, tế nhị nhất
và mỹ lệ nhất. Nếu ta may mắn, và nếu mặt trời vẫn
duy trì được các tia nắng ấm trong suốt thời gian nở hoa,
lúc ấy, nụ sen sẽ mở ra, và ta sẽ thấy được phần quan
trọng nhất, được gọi là viên ngọc của hoa sen. Đây là
biểu tượng của hành thiền, vì chúng ta phải duy trì chánh
niệm liên tục, không ngừng nghỉ, không gián đoạn trong suốt
thời gian lâu dài, để mở ra cánh sen thứ một ngàn nằm
sâu bên trong, như thế, ta mới thấy được thật sự những
gì ở bên trong, viên ngọc ở trong tâm chúng ta.
RK:
Ngài Thiền sư Ajahn Brahm, chúng tôi kính tri ân Ngài đã tham
dự buổi phỏng vấn hôm nay.
AB:
Không có chi. Xin cám ơn Bà.
Bình
Anson trích dịch,
Tây
Úc, tháng 9-2007