2
- HAM MUỐN VÀ HẠNH PHÚC
DỤC
VỌNG, BẤT MÃN VÀ TỰ CHẾ
Chúng
ta sống trong cõi dục nghĩa là thế giới của những ham muốn.
Từ khi thức dậy cho đến lúc đi ngủ, và cả trong những
giấc mơ, chúng ta đều bị dục vọng lôi kéo. Mỗi giác quan
ta khao khát món ăn riêng của nó: Mắt ta ham nhìn những dáng
màu hấp dẫn, tai ta ham nghe những âm thanh dễ chịu; mũi ta
hăng hái đánh hơi những mùi thơm và vội vàng quay đi trước
những mùi khó chịu; lưỡi ta tìm kiếm những vị ngon mới
lạ, và xúc giác ta thì luôn luôn khát khao gặp gỡ những
loại xúc khác nhau. Lòng ham muốn đối với sự kích thích
giác quan ấy đã ăn sâu gốc rễ trong ta đến nỗi nếu bị
cô lập khỏi sắc thanh hương vị xúc trong một thời gian
dài, ta sẽ khởi sự có những ảo giác về chúng.
Nhưng
ham muốn không chỉ cuộc vào những gì ta có thể thấy, nghe,
ngửi, nếm, sờ. Tâm ta cũng theo đuổi tư tưởng một cách
hăm hở không kém lưỡi chạy theo vị ngon. Những thứ trừu
tượng như tri thức, danh tiếng, sự an ninh bảo đảm, sự
hài lòng... cũng được theo đuổi một cách nồng nhiệt như
thể đấy là những vật có thể cầm nắm trong tay hay thấy
được bằng con mắt. Quả thế, dục vọng lan tràn khắp nơi,
đến nỗi ta không chắc có một thứ gì ta làm mà lại không
bị điều động bởi dục vọng. Bất kể ta hoạt động trong
lãnh vực nào- thương mại, thể thao hay tâm linh- chính lòng
ham muốn dưới một hình thức này hay khác, đã thúc đẩy
ta thành công trong lãnh vực ấy. Lòng ham muốn là một phần
bất khả phân trong đời sống, đến nỗi người ta coi cuộc
đời mà không có ham muốn thì chẳng khác gì một cái chết
đang sống.
Đằng
sau tất cả ham muốn của chúng ta là sự mong mỏi được
hạnh phúc. Về phương diện này, quả thực mọi người đều
bình đẳng, vì tất cả chúng ta đều muốn được hạnh phúc,
mặc dù có thể mỗi người định nghĩa hạnh phúc một cách.
Không ai trong chúng ta lại mong muốn dù một chút xíu khổ
đau hay thất vọng. Nếu xét kỹ, ta có thể thấy rằng mọi
hành vi của ta đều được khởi động bởi lòng ham muốn
có được kinh nghiệm dễ chịu, hoặc muốn tránh những sự
khó chịu.
Nhưng
mặc dù ta chỉ mong muốn thuần hạnh phúc, cuộc đời ta lại
dẫy đầy khổ đau bất mãn. Những sở hữu ta yêu quý và
làm lụng nhọc nhằn để có được, bỗng tan vỡ, mất mát
hoặc bị trộm mang đi. Hoặc nếu có còn, thì nó cũng hết
đem lại cho ta niềm lạc thú. Người chồng hay vợ yêu quý
chẳng bao lâu lại hóa thành kẻ thù số một của ta, hoặc
bỗng lăn ra chết giữa lúc hương lửa đang nồng, để ta
ở lại bơ vơ trơ trọi. Chúng ta khao khát có được một
việc làm, nhưng khi tìm được việc thì nó trở thành một
gánh nặng đốt cháy hết thì giờ và năng lực của ta. Danh
tiếng ta bị bôi nhọ, làn da óng ả của ta bắt đầu có
nếp nhăn, trí thông minh của ta bắt đầu tàn lụn. Bằng
những kiểu cách như thế, cái hạnh phúc mà ta khao khát vuột
khỏi tầm tay ta. Đôi khi dường như thể rằng, càng cố được
hạnh phúc bao nhiêu, ta lại càng đâm ra khổ sở bấy nhiêu.
Về phương diện này, cuộc đời dường như là một cuộc
chạy đua vô nghĩa; những nỗ lực của ta để tìm hạnh phúc
chỉ có đưa chúng ta đi lòng vòng cho đến cuối cùng ta phải
kiệt sức, tuyệt vọng.
Nhiều
triết gia và đạo sư đã mô tả cái vòng lẩn quẩn của
sự bất mãn triền miên ấy, và đưa ra những khuyến cáo
làm cách nào để thoát ly khỏi nó, hay ít nhất làm cách nào
để chịu đựng nổi nó. Đức Thích Ca Mâu Ni chẳng hạn,
gọi tình trạng bất mãn triền miên này là samsara, một từ
Phạn ngữ có nghĩa là quay vòng tròn, và đưa ra nhiều phương
pháp thoát ly. Trong giáo lý nổi tiếng nhất của ngài, ngài
dạy nguồn gốc mọi rắc rối và tuyệt vọng chính là ham
muốn do ngu si thúc đẩy. Giải thoát hay niết bàn được thành
đạt nhờ nhổ tận gốc rễ tất cả những ham muốn như
vậy từ trong tâm ta.
Vì
mắt tai mũi lưỡi chúng ta chính là những cửa ngõ của ham
muốn, nên những ai mong giải thoát khỏi vòng đau khổ, cần
nhất đừng tin cậy vào năm giác quan. Chúng phải được xem
là đang kềm chế tâm thức ta một cách thiếu lành mạnh,
và ta phải đối xử với chúng hết sức thận trọng. Bởi
thế, người nào theo đường lối tu tập này để tự giải
thoát, thì đặc biệt chế ngự năm giác quan. Hành giả canh
chừng cẩn mật cửa ngõ năm giác quan, và triệt để hoài
nghi bất cứ gì muốn xâm nhập chúng. Chẳng hạn, khi một
nhan sắc khả ái xuất hiện - như hình dáng một người nam
hay nữ - thì hành giả phải bén nhạy xem chừng mối nguy hiểm
có thể xảy ra là bị nó hớp hồn. Trong khi tu theo lối này,
chúng ta phải phấn đấu với cái khuynh hướng mù quáng đâm
đầu theo những đối tượng hấp dẫn, để từ đó trở
thành nạn nhân của khổ đau tuyệt vọng - phấn đấu bằng
cách luyện mình tập trung vào những khía cạnh xấu nơi đối
tượng, để giảm bớt lòng ham muốn của ta đối với nó.
Ví dụ, ta có thể hóa giải lòng đam mê đối với một người
đẹp bằng cách tập trung vào những bộ phận dơ uế nơi
người ấy. Mục đích của cách tu tập này là để làm cho
dục vọng khỏi quấy động tâm ta, kết quả nhắm đến là
đạt được sự thanh bình an tĩnh không bị giao động trước
những thăng trầm của cuộc sống.
Lối
tu thận trọng này được xem là thua xa con đường mật tông,
một pháp tu sử dụng chính năng lượng của dục vọng. Nhưng
nói thế không có nghĩa rằng pháp tu nói trên không có giá
trị gì. Ngược lại, điều thiết cốt là phải biết thời
điểm thích nghi để rút sự chú ý ra khỏi những đối tượng
quấy nhiễu tâm mình. Nhưng nếu chúng ta chỉ có biết một
cách đối phó duy nhất là tránh né những đối tượng gợi
ham muốn, thì ta sẽ bị giới hạn gắt gao, không tiến xa
mấy trên đường tu tâm luyện tính.
Phương
pháp mật tông khác hẳn. Thay vì xem lạc thú và ham muốn như
thể là chuyện mà ta cần né tránh bằng mọi giá, mật tông
nhận chân rằng cái năng lượng hùng mãnh trong ta, được
dục vọng đánh thức, chính là một nguồn năng lượng thiết
yếu trên đường tu tập. Chính vì mục đích duy nhất là
thực chứng tiềm năng cao nhất nơi con người chúng ta, mà
mật tông tìm cách chuyển hóa tất cả mọi kinh nghiệm - kể
cả kinh nghiệm không có vẻ gì là tôn giáo - biến nó thành
con đường thành tựu đạo quả. Chính vì cuộc đời hiện
tại của chúng ta gắn liền một cách mật thiết với dục
vọng, mà ta cần phải xử dụng năng lượng hùng mãnh của
ham muốn, nếu ta mong chuyển hóa đời mình thành một cái
gì siêu việt.
Như
vậy cái lý của mật tông kỳ thực rất đơn giản: kinh nghiệm
lạc thú thông thường của ta có thể được xử dụng làm
tài nguyên để đạt đến cái kinh nghiệm hỉ lạc tuyệt
đối về tính toàn vẹn, hay giác ngộ. Điều tự nhiên là
: những tính chất của tâm thức khi được đào luyện, sẽ
sản sinh ra một cái gì tương tự, chứ không chống trái với
nó. Điều này đúng cho những tâm trạng tốt cũng như xấu.
Như bất mãn không bao giờ có thể trở thành thỏa mãn, khổ
đau cũng vậy, không thể tự nhiên mà chuyển thành an vui hạnh
phúc. Theo mật tông, ta không hi vọng đạt đến mục tiêu
là hạnh phúc viên mãn phổ quát trong khi tự làm cho mình càng
ngày càng khổ sở một cách có bài bản, hệ thống. Điều
này trái với lối vận hành tự nhiên của mọi sự trong thực
tế. Chỉ nhờ trong hiện tại, ta đào luyện những kinh nghiệm
nhỏ về an tịnh và toại ý, mà ta có thể thành tựu mục
tiêu bình an thanh tịnh trong tương lai. Tương tự như thế,
nhờ khéo sử dụng năng lượng của ham muốn và nhờ tích
lũy thói quen thưởng thức cái mà ta có thể gọi là lạc
thú chân thực, ta mới hi vọng đạt thành niềm phúc lạc
vĩnh cửu của toàn giác.
TÔN
GIÁO VÀ SỰ CHỐI BỎ LẠC THÚ
Thế
nhưng dường như có một trái ngược lớn lao giữa sự thưởng
thức khoái lạc và sự theo đuổi một đường lối tu hành.
Quả thế, với nhiều người, tôn giáo chỉ có nghĩa là từ
bỏ những tiết mục vui thú của cuộc đời. Tôn giáo được
người ta xem như là lắc đầu trước dục vọng, từ chối
tính tự nhiên, không được tự do phát biểu. Thảo nào mà
tổ chức tôn giáo thường bị mang tiếng không tốt. Thay vì
là một phương pháp giúp ta vượt qua những giới hạn của
mình, tôn giáo lại được xem như hình thái đàn áp nặng
nề nhất. Tôn giáo mà như thế thì chẳng khác gì một kiểu
mê tín dị đoan cần được bác bỏ nếu ta thực sự muốn
giải thoát, tự do. Một điều bất hạnh là, nhiều xã hội
đã dùng tôn giáo làm phương tiện đàn áp và kiểm soát về
mặt chính trị, nên lối phê phán khắt khe này thành ra có
lý.
Không
những các nhà chỉ trích tổ chức tôn giáo cho rằng tôn giáo
đàn áp hay hạn chế bản chất căn để của con người, mà
chính những người thực hành tôn giáo cũng có quan niệm như
thế. Không thiếu gì người cho rằng cái cách thích đáng
để tuân giữ giới luật là phải từ khước bản chất con
người giản đơn của mình. Họ đâm ra hoài nghi về lạc
thú đến nỗi nghĩ rằng đau khổ thực sự có giá trị: "Vì
là người có tôn giáo, tôi không được phép hưởng lạc
thú." Mặc dù mục đích họ là đạt đến một hình thức
an bình hạnh phúc vĩnh cửu nào đó, họ nhất quyết từ khước
không cho phép mình thưởng thức những lạc thú trong cuộc
sống hàng ngày. Họ xem lạc thú là chướng ngại cho sự tu
hành, và nếu tình cờ cảm thấy chút thú vui, họ đâm ra
vô cùng áy náy. Thậm chí họ không thể thưởng thức một
thỏi sô cô la mà không nghĩ mình thực tội lỗi, tham ăn.
Thay vì chấp nhận và thưởng thức cái gì đang xảy đến
đúng như thực trạng, họ lại tự tạo ra gút mắc của mặc
cảm phạm tội và tự thống trách: "Trong khi bao nhiêu người
trên thế giới đang chết đói, khổ sở, sao ta dám buông thả
mình!"
Tất
cả những thái độ ấy thực hoàn toàn sai lạc. Không có
lý do gì để cảm thấy phạm tội về khoái lạc; điều ấy
cũng lầm không kém sự bám lấy những lạc thú thoáng qua
và mong chúng đem lại thỏa mãn tuyệt đối. Kỳ thực đấy
cũng là một dạng chấp thủ khác, một kiểu giam hãm mình
vào quan điểm hạn cuộc về tự ngã, không biết đến tiềm
năng vô hạn của mình. Mặc cảm phạm tội ấy chỉ là một
quái thai của đời sống tâm linh, tuyệt đối không phải
là thái độ tâm linh đích thực. Nếu ta thực sự hài lòng
với hoàn cảnh - vẫn an nhiên tự tại cho dù gặp khổ hay
vui - thì thực hành khổ hạnh có thể có lý phần nào. Khổ
hạnh có thể lợi lạc khi ta sử dụng nó để thêm ý thức
về giải thoát, hoặc để hiểu được cái gì là thực sự
quan trọng trong đời. Nhưng hiếm khi ta từ khước một điều
gì vì những lý do chính đáng. Chúng ta ép mình vào một trạng
huống đau khổ vì tưởng rằng khổ đau tự nó đã đáng
đồng tiền bát gạo. Nhưng thực sự không phải thế. Nếu
cứ ngụp lặn trong khổ đau thì hậu quả duy nhất là, chúng
ta càng thêm đau khổ. Mặt khác, nếu biết cách nếm trải
hạnh phúc mà không có bám víu và mặc cảm phạm tội, thì
ta có thể đào luyện những mức độ kinh nghiệm ngày càng
sâu xa, và cuối cùng đạt đến tiềm năng toàn vẹn của
mình, nguồn hạnh phúc không thể tưởng.
Nếu
phương pháp sợ hãi, ức chế mà tôi đã chỉ trích trên kia
là sai lầm, thì cái gì mới là đường lối thiện xảo của
một người quả tình mong thực chứng tiềm năng cao cả nhất?
Nói đơn giản, đó là: giữ tâm liên tục trong trạng thái
càng an vui hạnh phúc càng tốt. Thay vì sống bám víu, bất
mãn, rối ren, khổ sở với mặc cảm phạm tội, ta nên cố
cải tiến tâm mình bằng cách phát triển những mức độ
hiểu biết ngày càng sâu xa, khéo kiểm soát những năng lượng
tâm vật lý trong mình, để đạt đến một đời sống cao
đẹp với những hình thái phúc lạc càng ngày càng cao. Một
phương pháp như thế có ý nghĩa vô vàn hơn là cố tình từ
khước những kinh nghiệm lạc thú hàng ngày. Đấy là cái
lý của mật tông.
ĐỨC
PHẬT VÀ CON ĐƯỜNG HƯỞNG LẠC
Trong
cuộc đời đức phật Thích ca Mâu ni, có những giai đoạn
chứng minh sự thù thắng của phương pháp sử dụng ham muốn,
hơn là phương pháp ép xác, đè nén dục vọng. Lúc từ bỏ
đời sống đam mê khoái lạc và khởi sự đi tìm phương pháp
diệt khổ vào năm 29 tuổi, thái tử Tất đạt đa đã tu ép
xác khổ hạnh gắt gao. Như nhiều người ở Ấn nay vẫn còn
làm, thái tử đã tìm cách nhổ tận gốc rễ những nguyên
nhân của khổ đau bất mãn bằng cách hành hạ các giác quan
mình, nhiếp phục chúng. Ngài nhịn ăn, từ bỏ các tiện nghi
đến nỗi cuối cùng thân thể ngài chỉ còn là một bộ xương.
Sau sáu năm khổ hạnh, ngài thấy phương pháp ấy vô hiệu.
Thay vì đưa ngài tiến gần mục tiêu giải thoát, nó chỉ
làm ngài kiệt sức, không thể sáng suốt suy nghĩ và thiền
định. Ngài quyết định từ bỏ phương pháp ấy và theo một
phương pháp tu tâm thích hợp hơn. Theo truyền thuyết, ngài
đã chấm dứt tuyệt thực và nhận một bát cháo do tín nữ
Sujata dâng cúng. Thực phẩm này đã đem lại một hiệu quả
thần tình cho cơ thể và tâm trí, khiến ngài ngập tràn dũng
mãnh, sáng suốt và phúc lạc. Sự bừng dậy của năng lực
tâm vật lý không những giúp ngài thêm cương quyết mà còn
gia tăng khả năng đạt đến toàn giác, mục tiêu chính yếu
của ngài. Sự kiện ngài chỉ ngồi thiền có một đêm dưới
cội Bồ đề rồi đạt toàn giác, chứng tỏ đã đúng lúc
Ngài nên từ bỏ lối tu khổ hạnh. Theo lối nhìn của mật
tông, những sự cố này cho thấy rằng biết xử dụng lạc
thú là một phương pháp sâu xa và hiệu quả hơn ép xác khổ
hạnh rất nhiều.
Về
sau, khi Phật đã nổi tiếng là một bậc đạo sư có thể
hướng dẫn nhiều hạng người đạt đến giác ngộ, có lần
một ông vua đã xin ngài chỉ dạy một phương pháp tu hành
thích hợp cho một người bận nhiều phận sự đa đoan. Vua
nói: "Con có phận sự chăm lo cho thần dân, con thực không
nên bỏ bê quần chúng. Con không thể làm như ngài, từ bỏ
mọi sự để vào rừng tu khổ hạnh. Con cần biết cách làm
sao có thể dùng ngay sinh hoạt của một vương gia làm đường
lối tu hành. Bởi thế, xin đức Thế tôn dạy cho con cách
chuyển hóa những hành vi thường nhật của một vị vua thành
pháp tu." Đức Phật trả lời quả thực ngài có một phương
pháp như vậy, đó là pháp thực hành mật tông. "Với phương
pháp này nhà vua có thể tiếp tục thi hành phận sự của
mình, mà lại không cần phải từ bỏ một thứ lạc thú vương
giả nào hết trọi." Phật còn nói với vua rằng quả thế,
vua có thể vui thú hết ga mà đồng thời vẫn tiến dần đến
giác ngộ.
Giáo
lý mà Phật dạy cho ông vua ấy chính là Mật điển Bánh xe
Thời gian (Kalachakra, Thời luân), và hệ truyền thừa của
phái này cùng tất cả giáo lý mật tông khác cho đến ngày
nay vẫn tồn tại đầy năng lực, chưa bao giờ gián đoạn.
Vô số người Ấn và Tây tạng đã đạt ngộ nhờ theo những
phương pháp này, bởi thế không lý do gì người ngày nay lại
không được lợi lạc nhờ áp dụng pháp tu ấy.
SỰ
TU TẬP MẬT TÔNG NGÀY NAY
Mật
tông đặc biệt thích hợp với tinh thần thời nay, vì đấy
là con đường nhanh nhất, dễ lôi cuốn những người vốn
khoái có hiệu lực tức thì. Hơn nữa, cốt tủy đường lối
mật tông là phương pháp chuyển hóa, mà nguyên lý chuyển
hóa năng lượng- ít nhất trên bình diện vật chất- ngày
nay đã khá quen thuộc. Cuối cùng, trong khi sự bùng nổ lớn
của sức mạnh ham muốn trong thế kỷ này được xem như một
chướng ngại trầm trọng cho phần lớn các tôn giáo, thì
nó lại rất tốt cho sự thực hành mật tông, vì tông này
xem ham muốn là chất liệu thúc đẩy ta tiến đến mục đích
cao nhất. Chỉ có một con đường duy nhất là mật tông- một
phương pháp chú trọng kinh nghiệm trực tiếp hơn lòng tin
mù quáng- mới có thể đánh thức chúng ta tỉnh dậy từ những
kiểu sống tự hủy diệt, và đem lại cho ta cơ hội thành
tựu bản thân một cách viên mãn.
Tuy
nhiên, muốn được lợi lạc thực thụ trong lối tu hành này,
chúng ta cần ý thức rõ vài điểm quan trọng. Trước hết
là động lực thúc đẩy ta tu mật tông phải thực trong sáng.
Điều này sẽ nói rõ hơn ở chương 6, ở đây chỉ cần nói
rằng, chúng ta không thể nào gặt hái lợi lạc vô biên từ
pháp tu này nếu động lực tu hành của ta chỉ tập trung vào
an lạc cho tự ngã. Hạng người duy nhất tu mật tông có hiệu
quả là người quan tâm trước hết đến lợi ích cho người
khác, và thấy con đường mật tông là lối tu nhanh nhất,
hữu hiệu nhất để thành đạt mục tiêu vị tha ấy.
Thứ
đến, ta phải có đủ kiên trì và kỷ luật tự giác để
khởi sự tu hành có thứ lớp. Nhiều người nghĩ: "Mật tông
là lối tu cao nhất, nên tôi không cần quan tâm đến những
tập luyện dẫn nhập" rồi họ nhảy bổ vào những giáo lý
cao cấp; việc ấy vừa điên rồ vừa ngạo mạn, và lại
khá nguy hiểm. Kẻ nào có thái độ nóng nảy thiếu thực
tế như vậy thì hoàn toàn không đủ tư cách thụ giáo mật
tông.
Cuối
cùng, thực vô cùng quan trọng để phân biệt tinh yếu của
mật tông với những sắc thái văn hóa của mật tông hiện
thời. Điều tôi muốn nói là, không ích gì cho một người
xứ khác phải giống người Tây tạng, hay bất cứ người
đông phương nào. Ví dụ, tập tụng kinh bằng một ngôn ngữ
không phải tiếng mẹ đẻ, thì không phải là cách để ta
đạt đến tiềm năng cao nhất của mình. Không có gì siêu
việt khi thay thế những quy ước của một nền văn hóa này
với một nền văn hóa khác. Những người tu kiểu hời hợt
này cuối cùng chỉ rước lấy hoang mang lẫn lộn không biết
mình là ai, hay mình phải làm gì. Dĩ nhiên trong giai đoạn
chuyển tiếp của mật giáo từ đông sang tây, sẽ rất lợi
ích nếu người ta học được Tạng ngữ vân vân. Nhưng ta
nên nhớ mật tông là cái gì còn sâu xa hơn vô vàn. Cái điều
mà mật tông dạy cho ta là một phương pháp để thoát ly tất
cả những giới hạn ràng buộc tri kiến của ta về ta là
ai, ta có thể trở thành gì. Nếu đến với mật tông bằng
một tâm trí minh mẫn và quyết tâm rút được tinh hoa của
giáo lý, thì chắc chắn ta có thể mang lại cho đời mình
sự toàn vẹn và hạnh phúc tâm linh mà tất cả chúng ta đang
tìm kiếm.