3
- Lạc thú, Thất vọng và Thỏa mãn
MẬT
TÔNG VÀ SỰ HƯỞNG LẠC
Vai
trò của mật tông là chuyển hóa tất cả lạc thú thành kinh
nghiệm siêu việt có tỉnh giác bén nhạy sâu xa. Thay vì khuyên
ta tránh xa lạc thú thế tục như nhiều truyền thống tôn
giáo khác, mật tông nhấn mạnh rằng tốt hơn con người ta
nên cứ hưởng lạc tự nhiên, nhưng chuyển cái năng lượng
của lạc thú thành con đường nhanh chóng hiệu nghiệm đưa
đến sự toại ý và giác ngộ hoàn toàn. Đây là cách thiện
xảo nhất để xử dụng tiềm năng con người quý báu của
chúng ta.
Qua
phương pháp chuyển hóa sâu xa, mật tông chứng minh rằng con
người vốn có khả năng thưởng thức hạnh phúc vô hạn
mà đồng thời thoát khỏi những mê vọng vốn thường nhiễm
độc lạc thú. Trái với những gì một số người có thể
tưởng, vui thú khoái lạc chẳng có gì là sai quấy. Điều
sai quấy là cái cách ngu si ta bám víu lạc thú, biến nó từ
một nguồn vui trở thành nguyên nhân của khổ đau bất hạnh.
Khoái lạc tự chúng không là vấn đề, mà vấn đề chính
là sự bám víu chấp thủ vào khoái lạc. Bởi thế, nếu có
thể thoát ly thói quen bám víu, thì ta có thể tha hồ vui thú
mà không bị những rắc rối vẫn thường kèm theo sự tìm
kiếm khoái lạc.
Nếu
hiểu đúng nghĩa sự chuyển hóa, thì bất cứ gì ta làm trong
một ngày 24 giờ, đều có thể mang ta tiến gần hơn đến
mục tiêu giác ngộ. Tất cả mọi hành động của ta- đi bộ,
ăn uống, và ngay cả tiểu tiện- đều có thể đưa vào con
đường tu tập. Ngay cả giấc ngủ ta, mà thông thường chỉ
là bóng đen của vô thức hay sự hỗn mang của mộng mị,
cũng có thể được chuyển thành kinh nghiệm quang sắc của
trí giác vi tế sâu xa.
Có
lẽ những điều trên đây nghe thực vô lý. Cố nhiên những
phương pháp tiệm tu, kể cả lối tu theo kinh điển trong đạo
Phật, đều nhấn mạnh rằng những vọng tưởng như ham muốn,
ganh tị...trong đời sống hàng ngày của ta luôn luôn là xấu,
cần xem như chất độc. Chúng ta luôn được nhắc nhở về
những hậu quả nguy hiểm của chúng, và được chỉ dẫn
phải tránh ảnh hưởng chúng càng xa càng tốt. Nhưng như trên
đã nói, mật tông lại theo đường lối khác. Mặc dù cũng
nhấn mạnh tham ái chấp thủ là nguồn gốc khổ đau bất
mãn, và do thế cần được khắc phục, mật tông lại dạy
một phương pháp thiện xảo là sử dụng năng lượng của
chính những vọng tưởng ấy để đào sâu sự tỉnh thức
trong ta, thúc nhanh tiến trình tu tập. Như lương y có thể
lấy cây độc để chế thuốc, cũng vậy hành giả mật tông
thiện xảo có thể xử dụng năng lượng của tham sân một
cách có lợi. Chắc chắn điều này có thể làm được lắm.
NHỮNG
HÌNH ẢNH CỦA SỰ TOÀN VẸN
Mật
tông không những dạy ta tận dụng những kinh nghiệm khoái
lạc thường nhật, mà còn chỉ cho ta làm thế nào để khởi
động một kinh nghiệm lạc thú sâu xa nồng nàn hơn, đem lại
thỏa mãn nhiều hơn là những khoái lạc mà giác quan thông
thường có thể đem lại.
Hiện
tại mỗi khi tìm khoái lạc, chúng ta thường chỉ hướng đến
những đối tượng bên ngoài mà ta ham muốn. Khi không thể
tìm được hay không nắm giữ được đối tượng, thì ta
đâm ra bất mãn sầu khổ. Ví dụ nhiều người đang đi tìm
người yêu trong mộng tưởng của mình - một kẻ nào có thể
làm suối nguồn hạnh phúc bất tận - nhưng dù có sưu tập
nhiều bồ bịch đến đâu, họ cũng không bao giờ thực hiện
được giấc mộng về người yêu lý tưởng.
Cái
điều ta không nhận ra là, trong mỗi con người chúng ta đều
sẵn có một suối nguồn vô biên đầy đủ năng lượng thuộc
nam tính và nữ tính. Bao nhiêu vấn đề rắc rối xảy đến
cho chúng ta chỉ vì hoặc chúng ta không biết đến, hoặc chúng
ta đè nén những gì ta sẵn có trong mình. Đàn ông cố che
giấu khía cạnh nữ tính nơi mình, còn phụ nữ thì lại sợ
bộc lộ năng lượng nam tính trong họ. Kết quả là ta luôn
luôn cảm thấy mình bị tách rời khỏi một cái gì mình rất
cần đến. Ta thấy mình không còn nguyên vẹn, và do đó ta
quay sang người khác, mong tìm những đức tính mà ta không
có, để có được cảm giác toàn vẹn. Do vậy nhiều lối
hành xử của ta bị nhiễm tính bất an, chiếm hữu. Quả thế,
tất cả vấn đề trên thế giới, từ nỗi lo sợ của một
cá nhân cho đến chiến tranh giữa các quốc gia, đều có thể
nói đã bắt nguồn từ cảm giác thiếu thốn này.
Khi
cần, những thiền gia vĩ đại có thể sống biệt lập hàng
nhiều năm mà không cảm thấy cô đơn. Vậy mà chúng ta có
thể vô cùng khó chịu nếu phải xa người bạn gái hay bạn
trai của mình dù chỉ một ngày! Tại sao có sự khác biệt
lớn lao ấy giữa chúng ta và thiền giả? Điều này có quan
hệ đến những năng lượng nam tính và nữ tính trong ta. Khi
những năng lượng này còn mất quân bình, bị phân chia manh
mún, thì chúng ta vẫn còn mãi khát khao tụ hội với người
khác, và không bao giờ được thỏa mãn. Nhưng nếu năng lượng
âm dương bên trong ta được đầy đủ, thì không bao giờ
ta cảm thấy cô đơn.
Mật
tông cung ứng nhiều phương pháp thần diệu để tiếp xúc
với tính toàn vẹn nguyên ủy trong ta. Nghệ thuật mật tông
có đầy những biểu tượng hợp nhất và toàn vẹn, diễn
tả tiềm năng của ta để đạt đến viên mãn. Những hình
ảnh chư thần giao hợp -mà một số người nghiên cứu Phật
giáo Tây tạng cho là dấu hiệu suy đồi - kỳ thực là một
biểu tượng của sự hợp nhất những năng lượng âm dương
trong mỗi con người. Ở bình diện sâu xa hơn, sự giao hợp
của họ còn biểu trưng mục đích của pháp hành trì cao nhất
trong mật tông, là phát sinh đại lạc vi tế nhất, một tâm
trạng vô cùng thích hợp để thâm nhập thực tại tuyệt
đối giải thoát ta vĩnh viễn khỏi đau khổ mê mờ. Ở bình
diện này, nam thần tượng trưng cho đại lạc và nữ thần
là trí bất nhị. Vậy sự giao hợp của họ hoàn toàn không
dính đến chuyện thỏa mãn giác quan, mà ám chỉ trạng thái
trí tuệ đầy hỉ lạc toàn vẹn, vượt ngoài ham muốn giác
quan thường tình.
Với
những người đã thuần thục, chỉ cần chiêm ngưỡng hình
tượng ấy cũng đủ giúp họ phục hồi sự liên lạc hai
năng lượng âm dương trong bản thể. Nhưng muốn tái lập
mối liên lạc ấy, điều tối cần là phải đoạn tuyệt
ảnh hưởng của cái tâm phân biệt nhị nguyên, vì chính tâm
phân biệt này đã khiến ta trở thành xa lạ với thực thể
sâu xa trong mình. Chính vì vậy mà những biểu tượng và hình
ảnh xử dụng trong mật tông có thể hữu hiệu hơn danh từ
suông, để đưa ta đi vào bản chất nguyên ủy.
BỐN
LOẠI MẬT ĐIỂN
Có
bốn loại hay trình độ mật điển Phật giáo : mật điển
thiên về hành động, mật điển thiên về tư duy, mật điển
du già và tối thượng du già. Mỗi hạng dành cho một loại
hành giả đặc biệt; và điều khác biệt giữa hạng này
hạng kia là mức độ năng lượng ham muốn mà hành giả có
đủ thiện xảo để hướng nó vào con đường tu tập. Theo
truyền thống, những trình độ khác nhau về năng lượng lạc
được ví dụ với mức thân mật tính dục trong quan hệ nam
nữ. Hành giả mật tông bậc hạ có thể xử dụng để chuyển
hóa năng lượng lạc khởi lên nơi một người lúc nhìn người
yêu. Ở mức độ hai, năng lượng trao nhau nụ cười có thể
được chuyển hóa. Ở mức độ ba, năng lượng cầm tay nhau
được xử dụng để chuyển hóa, trong khi hành giả thuộc
mật điển tối thượng du già thì có được cái thiện xảo
để hướng ngay cả năng lượng của sự giao hợp tính dục
vào con đường tu tập. Hình ảnh vô cùng mãnh liệt này cho
ta một khái niệm về tầm mức càng lúc càng tăng của cái
năng lượng có thể được chuyển hóa nhờ thực hành mật
tông.
Một
câu hỏi thực tế là, làm thế nào kỹ thuật chuyển hóa
mật tông được vận hành có hiệu lực cho mỗi người. Nói
rằng "mật tông xem ham muốn là con đường đến giác ngộ"
chẳng có ý nghĩa gì lắm. Điều quan trọng là, sau khi quan
sát kỹ những khả năng và kinh nghiệm của chính mình, phải
tìm cách xác định trong hiện tại, ta xử lý cái năng lượng
ham muốn của mình như thế nào. Ta phải tự hỏi mình có
thể "quản lý" bao nhiêu lạc thú giác quan mà không trở thành
điên dại. Hành trì mật tông cuối cùng có thể đánh thức
trạng thái tâm sâu xa vi tế, nguồn phúc lạc kỳ diệu, song
điều ấy không có nghĩa hiện tại ta nên lăn xả vào các
ham muốn không cần phân biệt, chỉ vì chúng cũng có thể
đưa đến một thứ lạc thú nào đó. Ta phải thành thực
nhận ra những giới hạn của mình, và phải thực tế tự
xét khả năng nếu muốn tu mật tông có chút nào kết quả.
Một
trong những chướng ngại lớn nhất cho việc tu hành là sự
kiêu căng hợm hĩnh. Mối nguy này lại đặc biệt lớn lao
trong sự thực hành mật tông. Khi nghe nói mật tông xử dụng
ngay dục vọng để tu, ta có thể tưởng mình chỉ việc tự
nhiên lăn xả vào những thèm khát bất trị, hoặc gia tăng
số lượng ham muốn có sẵn, thế là ta đã thành một hành
giả chân chính. Một số người quả có thái độ như vậy,
thực hoàn toàn sai lạc. Ta không bao giờ nên quên rằng, nếu
ngụp lặn trong dục vọng mà đồng nghĩa với hành trì mật
tông, thì tất cả chúng ta đã thành những hành giả mật
tông thượng thặng từ khuya! Mặc dù đời chúng ta đầy dẫy
những ham muốn đủ thứ không bao giờ được thỏa mãn, điều
duy nhất ta có được là sự bất mãn càng ngày càng tăng.
Tại
sao ra cơ sự ấy? Tại sao những ham muốn của ta luôn dẫn
đến bất mãn và tuyệt vọng? Nếu không hiểu được điều
này, thì tất cả cuộc nói chuyện về xử dụng ham muốn
làm con đường giác ngộ, chỉ là chuyện đùa.
DỤC
VỌNG VÀ SỰ MÉO MÓ
Khi
ham muốn một đối tượng, nhận thức của ta về đối tượng
ấy thường bị méo mó vì đam mê. Ví dụ rõ nhất là ham
muốn thuộc tính dục. Thử xét trường hợp một người đàn
ông đang say đắm một phụ nữ. Dù phụ nữ ấy được cho
là dễ coi, cũng không đến nỗi chim sa cá lặn như anh kia
vì dục vọng đã phóng đại sắc đẹp của nàng một cách
lố bịch. Càng bị ám bởi lòng ham muốn, thì trí tưởng
tượng của anh ta về cô nàng càng xa thực tế, "trông gà
hóa cuốc." Cuối cùng, hình ảnh ấy đi đến chỗ không còn
ăn nhập gì đến sự thực. Khi ấy, thay vì bị lôi cuốn
bởi bản thân người phụ nữ, anh ta lại mê say cái hình
bóng của nàng do chính anh tạo nên.
Khuynh
hướng phóng chiếu và khuếch đại này không hạn cuộc vào
một nền văn hóa nào, đấy là một hiện tượng phổ quát
trong vũ trụ. Khi hai người nhìn nhau bằng con mắt của ham
muốn quá trớn, thì người này vẽ ra một câu chuyện thần
kỳ về người kia. "Ôi đẹp khôn tả! Từ trong ra ngoài không
chỗ nào chê được!" Họ thuần dựng lên một huyền thoại
về đối tượng mình tôn thờ. Do si mê và dục vọng, người
này trở nên mù quáng trước những điểm xấu của người
kia, còn những điểm tốt thì lại thổi phồng quá cỡ thợ
mộc. Sự quá đáng này chính là kiểu giải thích mê tín dị
đoan, sự phóng chiếu của một cái tâm bị mờ ám vì dục
vọng.
Có
thể nói trong mọi ham muốn thông thường của chúng ta đều
có ít nhiều khuynh hướng thổi phồng này. Chúng ta nói quá
đáng về giá trị của bất cứ thứ gì mình thích, và hoàn
toàn không thấy được bản chất thực của nó. Chẳng hạn,
ta quên khuấy đi rằng cái đối tượng ham mê của ta- dù
đấy là người hay vật- đang thay đổi không ngừng, cũng
như chính ta đang thay đổi. Ta làm như thể đối tượng ấy
sẽ mãi mãi đẹp đẽ đáng ưa, sẽ đem lại cho ta niềm vui
vĩnh cửu, thỏa mãn lâu dài. Một quan niệm về trường tồn
như thế dĩ nhiên hoàn toàn mất liên lạc với hiện thực,
và khi bám víu vào nó là ta chỉ có nước sẵn sàng rước
lấy thất vọng ê chề.
Tuy
nhiên, cho là trường cửu những gì mình ưa thích không phải
là điều ta nghĩ bằng ý thức. Nếu ai hỏi "Bạn có nghĩ
người bạn trai -hay bạn gái, hay chiếc xe mới, hay bất cứ
gì- của bạn sẽ trường tồn và mãi mãi đẹp như thế không?"
ngay lập tức ta sẽ trả lời "dĩ nhiên không!" Chúng ta đã
quá quen thuộc với sự đổi thay, tàn tạ, già chết nên khó
mà trả lời cách khác. Nhưng với phần đông, cái biết này
chỉ là tri thức suông. Đó là một ý tưởng ta biết bằng
óc não nhưng tim ta chưa thực chứng. Nếu kiểm soát lại thái
độ sâu xa tự tâm khảm đối với những gì mình ưa thích,
ta sẽ khám phá rằng sự bám víu vào trường tồn vẫn còn
ở lì trong đó không mảy may thay đổi, mặc dù trên bình
diện tri thức, ta có thể hiểu biết rất nhiều về tiến
trình đổi thay. Hãy nhìn cách ta hồi hộp ra sao mỗi khi vướng
vào ham muốn mãnh liệt đối với người nào hay vật gì.
Ta có bị giao động nhiều đến thế không, nếu ta không có
những mong mỏi thiếu thực tế?
Đừng
hiểu sai chỗ này. Tôi không cố khắt khe bảo rằng mọi ý
tưởng của ta đều nông cạn, hay mọi phản ứng cảm xúc
của ta đều méo mó. Tôi chỉ cố khám phá một tình trạng
mà mọi người khắp nơi đều đã thân chứng: đó là, mặc
dù những ham muốn của ta cốt yếu là để đem lại cho ta
hạnh phúc, song chúng ta vẫn mãi hoài bất mãn vì những ước
mơ không toại. Nếu ta không hiểu lý do điều này, thì bao
nhiêu hi vọng sử dụng ham muốn để đạt đến phúc lạc
viên mãn của giác ngộ, sẽ phải tiêu dên.
NGUỒN
GỐC CỦA BẤT MÃN
Vậy
lỗi tại chỗ nào? Ai hay cái gì phải chịu trách nhiệm về
nỗi thất bại triền miên của ta trong việc cảm thụ hạnh
phúc an bình mà ta hằng tìm kiếm một cách vô vọng? Để
trả lời câu hỏi này, ta hãy nhìn kỹ lại một lần nữa
cái kiểu vận hành của ham muốn thông thường trong ta. Vì
cảm thấy mình chưa toàn vẹn, bất an và không thỏa, ta tìm
kiếm bên ngoài để có được một người nào hay một vật
gì có thể khiến ta cảm thấy toàn vẹn, đầy đủ. Ta thường
suy nghĩ một cách hữu thức hoặc vô thức như sau: "Nếu tôi
có được điều này điều kia, thì tôi sẽ sung sướng." Được
thúc đẩy bởi tư tưởng ấy, chúng ta cố chiếm hữu bất
cứ đối tượng nào có triển vọng thỏa mãn ham muốn ta
nhất. Trong quá trình ấy ta biến đối tượng thành một thần
tượng, đánh giá quá mức những khía cạnh tốt của nó đến
nỗi nó không còn giống gì với bản chất thực sự của
nó nữa.
Trong
nỗ lực để đạt được đối tượng ham muốn mà ta đánh
giá quá mức ấy, ta có thể thành công hoặc không. Nếu sau
bao nhiêu cố gắng mà ta không thành công, đối tượng ham
muốn vẫn ở ngoài tầm tay ta, thì dĩ nhiên ta bị thất vọng;
càng ham muốn đối tượng bao nhiêu ta càng sầu khổ bấy
nhiêu vì không chiếm hữu được nó.
Nhưng
nếu ta thành công, có được điều ta mong mỏi, thì sao? Điều
ta gặp được và điều ta mong mỏi gặp được hóa ra là
hai chuyện khác xa nhau. Vì những gì ta có được không phải
là hình ảnh từ lâu ta mơ ước - giải pháp toàn vẹn vĩnh
cửu cho những vấn đề của ta - mà chỉ là một cái gì cũng
bất toàn, vô thường như chính ta. Người hay vật mà ta có
được ấy quả có đem lại cho ta một lạc thú nhất thời,
nhưng không bao giờ đáp ứng đúng những kỳ vọng ta đã
đặt vào nó. Bởi thế sớm muộn gì ta cũng cảm thấy mình
bị đánh lừa, và đâm ra não nề tuyệt vọng.
Bây
giờ, hãy trở lại câu hỏi trên kia: ta phải trách cứ ai
về nỗi bất hạnh của mình? Thông thường một cách phi lý,
ta đổ thừa cho đối tượng ham muốn: "Nếu nàng dễ coi hơn
một chút..." "Nếu anh ấy đối xử với tôi tốt hơn..." "Nếu
chiếc xe ấy chạy nhanh hơn, mới hơn..." Nếu được như thế
nọ thế kia. Ta luôn suy luận nước đôi như vậy mỗi khi
thất vọng với cái ta có trong hiện tại, và tự hỏi có
cách nào thay thế nó bằng một thứ gì sẽ bảo đảm đem
lại cho ta cái hạnh phúc mà ta ước mơ. Điều kế tiếp ta
biết được là, ta lại đang đi tìm một người vợ mới,
hay chồng mới, hay xe mới, đặt hết hi vọng vào đối tượng
mới này, nhưng rồi cũng chỉ là không tưởng như niềm hi
vọng ta đã từng đặt nơi cái đối tượng ta mới vừa gạt
ra. Với kiểu ấy ta cứ tiếp tục quay vòng tròn, đổi thứ
này lấy thứ khác mà không bao giờ tiến gần hơn chút nào
đến cái hạnh phúc ta mong mỏi.
LỐI
GIẢI QUYẾT THEO MẬT TÔNG
Mật
tông giải quyết vấn đề này một cách triệt để, đấy
là hoàn toàn chuyển lối nhìn thông thường của ta. Đây là
điểm then chốt trong phương pháp mật tông. Cái năng lượng
ham muốn đã đẩy chúng ta từ bất mãn này đến bất mãn
khác, sẽ được chuyển thành tuệ giác và phúc lạc, nhờ
phương pháp "luyện vàng" của mật tông. Hành giả tập trung
tia laser của tuệ lạc này để đâm ngay vào trái tim thực
tại, cắt đứt những cái bóng sai lạc về sự vật.
Những
tầng lớp mê mờ ngăn ta cảm nghiệm tính toàn vẹn của tiềm
năng con người, bị nhổ tận gốc bởi tính giác đầy hoan
lạc ấy. Như vậy năng lượng dục vọng thay vì làm tăng
nỗi bất mãn nơi ta, bây giờ được dùng để phá hủy chính
nguyên nhân của bất mãn, là sự ngu si cố hữu của ta về
bản chất thực tại.
Theo
truyền thống mật tông Tây tạng, sự chuyển hóa năng lượng
ham muốn được ví dụ như sau. Có vài loại côn trùng từ
bọng cây sinh ra, chu kỳ sống của nó khởi sự từ lúc nó
ấp trứng trong ruột thân cây. Khi lớn lên, chúng lấy thân
cây làm thực phẩm, ăn thứ gỗ từ đấy nó đã sinh ra. Phép
chuyển hóa của mật tông cũng vậy: dục vọng bất mãn làm
phát sinh tuệ giác sâu xa, rồi tuệ giác này lại đốt cháy
tất cả những phiền não che mờ tâm thức, kể cả những
dục vọng đã làm phát sinh ra tuệ giác.
Vậy
ta có thể thấy rằng dục vọng có hai nhiệm vụ trái ngược
hẳn nhau, một mê mờ một giác ngộ. Trong mật tông, kinh nghiệm
hoan lạc do dục vọng phát sinh mở rộng tâm ta đến độ
nó giúp ta vượt qua mọi giới hạn của mình; trong khi thông
thường lạc thú phát sinh do sự tiếp xúc của giác quan với
đối tượng ham muốn thì lại thu hẹp tầm chú ý của ta,
và dẫn đến tâm hạn cuộc vì bị ám ảnh bởi ý muốn có
thêm lạc thú. Bị mê mẩn trong những cảm giác hoan lạc,
ta thường mất ý thức về toàn thể, và rơi vào trạng thái
u mê ám chướng. Tâm trí ta thu hẹp lại quanh đối tượng,
và càng bám víu đối tượng để được thêm thỏa mãn, ta
càng xa rời thực tại. Có thể bảo rằng, khi đã ở dưới
bùa lực của ham muốn mãnh liệt, thì ta gần như bị hôn
mê bất tỉnh. Khi bừng tỉnh, ta mới thấy rằng lạc thú
mà ta dù có nếm được cũng đã biến mất, chỉ còn lại
một nỗi chán chường bất mãn nguyên xi như lúc ban đầu.
Nói
cách khác, thông thường khoái lạc của chúng ta bị đen tối
vì vô minh vây phủ. Mặc dù có vài hứng khởi thoáng qua,
cũng không có ý thức minh mẫn, không có ánh sáng. Thực hành
mật tông là cốt để hợp nhất kinh nghiệm lạc thú với
ánh sáng. Sự hợp nhất này như đã nói, được biểu trưng
bằng hình ảnh nam nữ thần giao hợp, ám chỉ sự hợp nhất
giữa năng lượng dương tính là phúc lạc và âm tính là trí
tuệ bất nhị sâu xa. Hai thứ này cuối cùng phải hợp nhất
thì ta mới đạt đến tự tính chân thực sâu xa nhất của
mình. Nhưng hiện tại ta không có được sự hợp nhất giữa
hoan lạc và trí tuệ như thế, nên ta phải nỗ lực khá nhiều
để đào luyện cái kinh nghiệm toàn vẹn ấy.
MỘT
CHÚT DÈ DẶT
Chính
vì thói quen thâm căn cố đế của chúng ta là, mỗi khi bám
víu một lạc thú nào, ta lại rơi ngay vào trạng thái u mê
đần độn, cho nên thực phi lý nếu nghĩ rằng ta có thể
chuyển hóa ngay tức khắc năng lượng ham muốn nồng nhiệt
của mình thành tâm sáng suốt thanh tịnh và khoáng đạt. Mặc
dù mật tông là con đường nhanh nhất để thành tựu kinh
nghiệm giác ngộ, ta vẫn phải tiến tuần tự qua các giai
đoạn tùy khả năng mình, nếu không ta sẽ vướng vào một
gánh nặng mà ta không đủ sức mang. Ta sẽ bị nguy khốn như
tình trạng những nước nghèo vì nôn nóng canh tân đã vội
vã rước vào mình quá nhiều, nên hậu quả bất hạnh là
đời sống giản dị tương đối quân bình của họ bị xáo
trộn. Như thế, mặc dù kỹ nghệ hóa là cốt đem lại phúc
lợi, hậu quả thực sự lại là xáo trộn bất mãn còn nhiều
hơn trước. Cũng vậy, nếu cứ tưởng mình chuyển hóa được
những năng lượng lạc thú, rồi thực hành mật tông khi chưa
đủ khả năng chuyển hóa, thì chỉ tổ đưa đến tình trạng
rối ren hơn.