4
- LẬT ĐỔ KHỐNG CHẾ CỦA NGOẠI CẢNH
VƯỢT
NGOÀI GIỚI HẠN: QUÁN MÌNH NHƯ CHƯ THIÊN
Ta
có thể thấy năng lượng ham muốn trong ta có thể tác động
theo hai cách hoàn toàn trái ngược. Nhờ phương pháp chuyển
hóa của mật tông, năng lượng này có thể biến thành ánh
sáng trí tuệ đầy phúc lạc, một sức mạnh trên đường
phát triển tâm linh. Nhưng thông thường, năng lượng ham muốn
này bị tiêu hao vào những mẫu mực chấp thủ và bám víu,
chỉ có làm giảm ý thức sáng suốt và tăng cường vô minh
bất mãn trong ta. Một trong những việc chính của hành giả
là nhận thức rõ những yếu tố nào đã khiến ta rơi vào
vòng bất mãn triền miên, rồi áp dụng phương pháp chữa
trị sự tác hại của chúng một cách hữu hiệu nhất. Chỉ
khi ấy ta mới thực sử dụng tốt năng lực chuyển hóa của
mật tông.
Theo
mật tông, thì sở dĩ chúng ta bị tóm bẫy trong vòng bất
mãn là vì lối nhìn hẹp hòi ngộp thở của chúng ta về thực
tại. Chúng ta bám lấy một quan niệm rất giới hạn về ta
là ai, và ta có thể trở thành cái gì. Hậu quả là hình ảnh
của ta về chính mình thực thấp thỏi và tiêu cực, khiến
chúng ta cảm thấy hoàn toàn bất xứng và vô vọng. Bao lâu
mà quan niệm của ta về chính mình còn thảm hại như thế,
thì cuộc đời ta vẫn còn vô nghĩa. Nhiều người nghĩ rằng
người ta không hơn gì giống khỉ, và tâm con người chỉ
là một loạt những phản xạ hóa học và xung động điện
não. Một quan niệm như thế thu gọn con người thành một
đống vật chất, và chối bỏ mọi chiều hướng cao siêu
của hiện hữu loài người. Với những người thực sự tin
vào một quan điểm hẹp hòi như thế về ý nghĩa con người,
thì mục đích sống là để làm gì? Có lẽ chỉ để hưởng
thụ càng nhiều khoái lạc càng hay, trước khi tàn tạ trở
về bản chất nguyên ủy là cát bụi. Một lối nhìn bi thảm
như thế có lẽ đã là nguyên nhân cho sự tha hóa của con
người trong xã hội hiện nay.
Mật
tông phản đối cách nhìn thấp kém phi lý ấy đối với tiềm
năng con người, bằng cách chỉ cho ta làm thế nào để tự
xem mình và người khác là đẹp một cách siêu việt- quả
thế, không khác gì những nam thần nữ thần hết trọi. Một
trong những lối hành trì thiết yếu ở mọi cấp bực mật
tông, là đánh tan những khái niệm phàm tình của ta về chính
ta, rồi từ không gian trống rỗng trong đó những khái niệm
phàm tình đã biến mất, nổi lên thân thể tràn ngập ánh
sáng của một vị trời, biểu hiện tính trong sáng nguyên
ủy, bản thể sâu xa nhất trong ta. Càng luyện tập để tự
thấy mình thành những vị trời thiền như vậy, ta càng ít
thấy mình bị trói buộc bởi những thất vọng ngang trái
trong đời. Pháp quán này đem lại cho ta năng lực kiểm soát
cuộc đời ta, tự tạo cho mình một hoàn cảnh thuần tịnh
trong đó bản chất trong sáng nhất của ta có thể hiển lộ.
Ta
không nên lẫn lộn những vị trời thiền trong mật tông với
những nam thần nữ thần đề cập trong các thần thoại tôn
giáo khác. Ở đây, vị thần (hay chư thiên) mà ta chọn làm
hình ảnh mình, chỉ là biểu tượng của những đức tính
cốt yếu của Con người Toàn giác đang tiềm ẩn trong ta.
Theo thuật ngữ tâm lý học, vị thần trong mật tông là một
mẫu người lý tưởng trong ta, tầng tâm thức vi tế nhất
của ta. Trong pháp tu mật tông, ta tập trung chú ý vào một
hình ảnh như vậy, đồng hóa mình với nó, để đánh thức
những khía cạnh sâu xa nhất của bản thể mình và biến
chúng thành hiện thực. Một sự thực đơn giản là, nếu
ta tự xem mình bản chất vốn trong sạch, mạnh mẽ, có khả
năng, thì ta sẽ thực thụ phát triển được những đức
tính ấy. Nhưng nếu ta cứ tiếp tục nghĩ mình là u mê, rồ
dại, thì cuối cùng ta sẽ trở thành như thế thực.
Để
lấy một ví dụ về sự chuyển hóa của mật tông, ta có
thể quán mình là đức Văn thù, một vị thần màu vàng hơi
đỏ, tay phải cầm gươm bén của phân biệt trí, tay trái
cầm quyển kinh Bát nhã. Dù nam hay nữ đều có thể quán hình
ảnh này, vì pháp quán mật tông hoàn toàn siêu việt nhận
thức thông thường về nam nữ. Nhưng một hình ảnh được
quán tưởng như vậy thì kỳ thực không phải là Văn thù.
Chính cái trí tuệ trong một tâm thức không bị che mờ, đã
triển khai toàn vẹn tiềm năng của nó, mới đích thực là
Văn thù. Và mục đích sự quán mình thành vị thần ấy là
để mau chóng phát triển được cái tuệ giác sẵn có trong
ta. Cái gươm hai lưỡi của đức Văn thù chẳng hạn, tượng
trưng khả năng của trí giác có thể phân biệt chính tà bằng
cách cắt đứt mọi ngộ nhận và dị đoan mê tín. Càng đồng
hóa mình với vị thần ấy và quen thuộc với những đức
tính mà ngài tiêu biểu, thì ta càng kích động tâm ta một
cách sâu xa để tăng trưởng những đức tính như ngài.
Lúc
đầu, sự quán tưởng mình thành một vị thần chỉ có tính
chất giả tạo. Nhưng càng kiên trì trong pháp quán tưởng
chư thần, ta có thể thấy được vị thần một cách rõ rệt
khác xa hình ảnh ta tạo tác. Tâm ta sẽ thực sự trở thành
tâm của vị thần, và những kinh nghiệm giác quan thông thường
của ta - thấy nghe ngửi nếm vân vân- sẽ được chuyển hóa
thành những phúc lạc của chư thiên. Đây không phải là huyền
thoại, mà những chuyển hóa như vậy đã là kinh nghiệm thân
chứng của vô số thiền giả mật tông trong quá khứ. Và
không lý do gì ta lại không có được những kết quả siêu
việt như thế, nếu ta nỗ lực đúng mức.
NHỮNG
THẮC MẮC
Bạn
có thể đặt câu hỏi: "Nhưng tại sao tôi phải quán mình
là Văn thù hay bất cứ vị thần nào khác? Quán mình thành
một người nam hay nữ nào, đối với tôi cũng đã đủ khó.
Vậy tại sao tôi phải thay hình đổi dạng mà khoác vào một
cái lốt khác, lốt của Văn thù?"
Điều
cần nhớ là, quán Văn thù không phải để có ra một tướng
nào khác với ta hiện tại. Ngay giờ phút này, chúng ta đã
sẵn có trong mình những đức tính sâu xa của một hiện thân
thánh thiện như thế. Quán mình là thiên thần cốt để nhận
chân và đào luyện những đức tính đến chỗ viên mãn, thay
vì tự giam hãm mình một cách khốn khổ trong mặc cảm tự
ti: "Tôi thực xấu xí, ngu đần, yếu hèn, vô giá trị."
Có
thể bạn vẫn tự hỏi: "Nhưng tại sao Văn thù hay bất cứ
vị thần nào của mật tông, lại có thể là tinh hoa của
bản thể tôi chứ? Tôi trông không giống gì với bất cứ
vị thần nào trong đó cả. Tôi không phải màu cam, màu xanh
hay màu lục; tôi cũng không có nhiều mặt và quá nhiều tay
như những vị thần ấy." Dĩ nhiên sẽ có những phản đối
như vậy khởi lên, nhưng để an tâm, trước hết ta hãy xét
kỹ xem thực sự ta nghĩ mình là ai.
Trước
hết cái mặt hiện tại của bạn không phải là bạn, xương
thịt không phải là bạn. Máu huyết, bắp thịt hay bất cứ
phần tử nào trong cơ thể bạn cũng đều không phải là phần
cốt yếu để cho biết bạn là ai. Có thể nói thân thể bạn
giống như một con người máy vì tự nó, nó không có khả
năng vận hành, mà phải được điều động bởi một cái
gì khác. Hệt như chương trình máy vi tính điều khiển người
máy, làm cho nó hoạt động, cũng vậy chính cái tâm bạn-
hay ý, hay linh hồn, v.v.- đã đem lại đời sống cho thân xác.
Bởi thế, muốn tìm thực chất mình là cái gì, muốn biết
cái gì chịu trách nhiệm về lối sống của mình, thì bạn
phải nhìn vào tâm của bạn.
Điều
kế tiếp cần nhận thức là, từ sơ sinh cho đến bây giờ,
bạn đã hiện thân nhiều cách khác nhau. Không có ai trong chúng
ta là cố định không thay đổi. Ví dụ khi nổi giận thì
bạn trông như một ác quỷ, trong khi vào những lúc khác, khi
tâm tràn ngập yêu thương, bạn không khác gì một thiên thần.
Những hiện tướng này -lúc giận lúc vui, lúc ganh ghét, lúc
tử tế, khi xót thương, lúc ngu đần, khi khôn khéo- không
có tướng nào sinh khởi chính yếu từ cái thân vật lý của
bạn cả; chúng đều sinh khởi từ năng lực tâm lý. Tâm có
khả năng sản sinh ra hàng ngàn cảm xúc và thái độ khác
nhau, còn thân thể thì chỉ có đi theo sự dẫn đạo của
tâm, không có sự chọn lựa nào. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn
thường tự cho mình là thân hơn là tâm. Chúng ta cứ nghĩ
chủ tể là thân chứ không phải tâm, và hầu như trở thành
những tên nô lệ cho thân xác mình. Hãy bật truyền hình lên
xem, để thấy rõ nền văn hóa hiện đại dành biết bao nhiêu
năng lượng để phục vụ thân xác, mà quá ít năng lượng
để đào luyện tâm linh. Thảo nào thế giới không hỗn loạn.
Chú
trọng thân xác hơn tâm hồn không phải là sai lầm duy nhất
của chúng ta. Ta lại còn không nhận thức được rằng cái
thân vật lý thô phù này không phải là cái thân thể duy nhất
mà ta sở hữu. Điều này sẽ đề cập nhiều hơn trong chương
10, ở đây chỉ cần nói vắn tắt. Trong hình dạng vật lý
thường ngày của ta, còn có một thân vi tế hơn, gọi là
thân tâm lý vì nó tương quan mật thiết với những tầng
tâm thức sâu xa. Chính từ nơi những tầng tâm thức vi tế
này, phát sinh cái năng lượng của trí tuệ đầy phúc lạc,
một thứ năng lượng có khả năng chuyển hóa cuộc đời
ta một cách triệt để. Chư thần mật tông biểu trưng cho
sự phát triển toàn vẹn của năng lượng trí tuệ đầy phúc
lạc ấy, và bởi thế ta có thể nói rằng, dù có bao nhiêu
mặt và màu sắc gì đi nữa, một vị thần như vậy đều
tiêu biểu tinh túy và tiềm năng của ta. Bởi vậy, pháp thiền
quán chư thiên không phải là việc tưởng tượng cái điều
bất khả, mà là một phương pháp hết sức thực tiễn. Nó
giúp ta sống đúng theo khả tính cao nhất của mình, nhờ tập
luyện có phương pháp để chuyển hóa tâm thức một cách
sâu xa.
Lúc
đầu pháp thiền quán này có thể dường như xa lạ không
thực tiễn, nhưng hiệu lực của những kỹ thuật tương tự
đã chứng tỏ nó có giá trị như thế nào, ngay cả dưới
mắt người đa nghi. Chẳng hạn, nhiều tài liệu cho biết
có những người mắc bệnh ung thư và các chứng nan y, đã
tự chữa lành chỉ nhờ quán tưởng. Thay vì bám lấy quan
niệm "thân thể tôi bị ung thư, tôi đang chết" những người
này quán mình hoàn toàn lành mạnh. Họ xua đuổi hình ảnh
bệnh hoạn ra khỏi tâm trí, thay bằng hình ảnh tràn trề
ánh sáng và sinh lực. Trong nhiều trường hợp, phương pháp
này đã chứng tỏ có hiệu quả sau khi các y sĩ đã bó tay.
Sức
khỏe thân tâm cốt yếu là một vấn đề của hình ảnh do
ta tự tạo. Những người chuyên có ý nghĩ đen tối về bản
thân, bất cứ vì lý do gì, sẽ ở mãi trong tình trạng khốn
khổ, trong khi những người nhận chân được tài nguyên nội
tâm phong phú của mình, có thể vượt qua những tình huống
khó khăn nhất. Pháp thiền quán chư thiên là một trong những
phương pháp hiệu nghiệm nhất để nâng cao hình ảnh ta tự
tạo về chính mình. Bởi thế mật tông mới là một phương
pháp thần tốc để đạt đến sự thể hiện tiềm năng hùng
mãnh nhất trong ta.
Chấp
tướng là chướng ngại lớn nhất khiến ta không thể chuyển
hóa mình thành một vị trời. Bao lâu ta còn duy trì cái thấy
thông thường về bản thân, thì không còn chỗ nào cho việc
nhìn mình dưới hình ảnh một thực thể giác ngộ. Chúng
ta không thể nào thực sự thấy mình có một thân thể bằng
ánh sáng thuần tịnh như chư thiên, nếu ta cứ tiếp tục
tự đồng hóa với cái hình tướng vật lý thô kệch. Và
ta cũng sẽ không bao giờ tiếp xúc được với bản thể thanh
tịnh của mình, nếu cứ tưởng bản tính mình chỉ là những
vọng tưởng và khái niệm thô thiển đi qua tâm thức.
Bởi
thế, muốn đạt đến niềm phúc lạc của sự thành tựu
bản thân, ta phải tìm cách giải thoát khỏi sự khống chế
của tướng và quan niệm thông thường. Chúng ta phải cảm
thấy tự tâm khảm rằng, thực vô cùng tai hại cho ta nếu
cứ tiếp tục có lối nhìn thô thiển hạn cuộc như hiện
tại đối với thân tâm mình và hình ảnh của chính mình.
Sự chấp tướng ngây ngô như vậy chỉ làm cho ta càng ngày
càng mờ mịt, bất an, bất mãn.
Bất
cứ khuynh hướng bất định, lo sợ nào mà ta có, đều là
triệu chứng của tâm lý nhị nguyên, cái tâm luôn luôn phân
vân với trăm tư tưởng trái ngược như: "Tôi hi vọng tôi
trông bảnh bao, nhưng tôi e sợ rằng tôi trông thật tồi."
Điều này cũng chứng tỏ thông thường chúng ta làm những
phán đoán thực nông cạn như thế nào về bản thân mình.
Chung quy, tướng ngoài không thực là thước đo giá trị con
người nam hay nữ. Vậy mà những khuyết điểm nhỏ nhặt
nhất về thân, có thực hay tưởng tượng, cũng đủ làm cho
ta vô cùng lo lắng. Có nhiều người tự thấy mình xấu xí,
vô giá trị, tự khinh ghét mình đến nỗi nhịn ăn mà chết.
Đây là một điển hình cực đoan, song tôi nghĩ hầu hết
chúng ta, vì một lý do này hay khác, đều tự hạ giá và tự
làm cho mình khốn khổ.
TÂM
HƯỚNG NGOẠI
Đôi
khi dường như rằng tâm ta cùng lúc chạy khắp mọi hướng,
nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác trong một cuộc tìm
kiếm vô vọng, mà không biết tìm cái gì. Chúng ta đang tìm
một cái không tên, một cái gì sẽ làm thỏa mãn niềm khát
khao được ổn định, an ninh bảo đảm. Ta đi từ đối tượng
này sang đối tượng khác với hi vọng cái kinh nghiệm kế
tiếp sẽ chứa đựng điều ta đang mong mỏi. Kết quả là
tâm thức ta luôn luôn bị phân tán. Thực khó mà tập trung
tất cả chú ý vào công việc đang làm, vì một phần tâm
ta đã bất mãn và bắt đầu đi tìm một cái gì khác. Ngay
cả khi đang làm một việc mình thích, ta cũng dễ dàng đánh
mất sự tập trung. Do vậy, không những ta không thể khám
phá được ý nghĩa và mục đích nào cao cả hơn cho cuộc
đời mình, mà ta còn không thành công cả trong những việc
vặt hiện tại.
Hậu
quả tất yếu của cái thấy hẹp hòi do chấp tướng ấy
là khuynh hướng đi tìm giải đáp ở ngoài tâm (hướng ngoại
tìm cầu). Vì đã quen tự xem mình là bất toàn, thiếu thốn
một cái gì thực cần thiết, nên ta không bao giờ nghĩ đến
chuyện hướng vào tài nguyên và năng lực nội tâm để tìm
giải đáp cho những rắc rối của mình. Ngược lại, ta nghĩ
rằng nếu ta làm cách nào có được một cái gì đó ở bên
ngoài, thì ta sẽ thỏa mãn ước mơ. Nhưng cách suy nghĩ như
vậy thực rõ ràng là vô lối. Có con người nào hay vật gì
ta mơ ước mà ta có thể chiếm hữu hoàn toàn làm của mình,
để tâm hồn ta thực sự được nghỉ ngơi trên đường kiếm
tìm an ổn hay không? Dù là người đàn ông hay đàn bà đẹp
nhất thế giới, hay bộ y phục thời trang nhất, viên ngọc
quý nhất, hay tư tưởng hay ho mới lạ nhất ... cũng đều
không có khả năng dập tắt những khát khao của ta, bao lâu
nội tâm ta vẫn còn thiếu thốn bất toàn. Bao lâu ta còn nghĩ
rằng ta có thể nhờ cái gì bên ngoài để lẩn trốn những
rắc rối cuộc đời, thì ta vẫn còn vô phương đạt đến
niềm an lạc nội tâm chân thực. Sự sở hữu tài sản hay
quyền lực chắc chắn không phải là giải pháp. Hãy nhìn
tỉ lệ cao về nghiện ngập, li dị và tự sát ở những quốc
gia giàu có trên thế giới, để thấy rằng sở hữu vật
chất mà thôi không đủ làm cho con người hết bất an được.
Cho
dù ta tìm giải đáp bằng cách quay lưng với vật chất để
hướng đến một thực tại tâm linh cao cả, thì quan niệm
hẹp hòi về bản ngã của ta cũng làm cho những lợi ích mà
ta có thể đạt đến, đều trở nên hạn cuộc một cách
trầm trọng. Điều khá thông thường đối với những hành
giả tâm linh, là thấy có một hố ngăn không thể nào lấp
được giữa chính mình đang ngụp lặn trong sình lầy, với
một thực thể cao siêu nào đó ở trên trời. Càng nghĩ mình
kém cỏi, vô năng bao nhiêu, ta càng có những lời cầu xin
thảm não bấy nhiêu. Chẳng hạn ta kêu réo: "Lạy Chúa cứu
con! Xin Phật giúp con!" Nhưng bao lâu ta còn tự giam hãm mình
trong sự thương thân trách phận, thì e rằng ta sẽ không có
được lợi lạc bao nhiêu.
THỬ
THÁCH CỦA CUỘC THÁM HIỂM NỘI TÂM
Phương
pháp mật tông quán mình là một vị trời, thì trái ngược
hẳn với thái độ tự thương hại như trên. Càng có khả
năng quán mình là một thân tâm bằng ánh sáng thuần tịnh,
ta càng tự mở lòng ra để đón nhận những năng lực tốt
lành hiện hữu bên trong và bên ngoài ta. Chúng ta đã đề
cập sự kiện nhờ phép quán tưởng có tính sáng tạo, mà
ta có thể đánh thức những năng lực bẩm sinh để tự chữa
lành ngay cả những chứng bệnh ghê gớm nhất. Ví dụ này
chứng tỏ thân và tâm có tương quan mật thiết, và trong hai
cái đó thì tâm mới là yếu tố chủ chốt hình thành cuộc
đời ta. Nếu ta có hình ảnh tốt lành về chính mình, thì
tự nhiên hành vi của ta đầy tự tin, và sẽ gây cho người
khác những ấn tượng về năng lực và sinh động. Ngược
lại, nếu ta có ý tưởng thấp kém về bản thân, thì ta trông
có vẻ yếu đuối vô năng, sẽ rước lấy nhiều rắc rối
và dễ dàng gặp nạn tai tật bệnh.
Đã
nhiều lần kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng, đời ta thành
công hay thất bại, khỏe mạnh hay đau yếu, đẹp hay xấu,
vui hay buồn, cốt yếu là do thái độ tinh thần của ta. Thế
mà mỗi khi gặp rắc rối trong đời, ta lại có thói quen tìm
giải pháp ở bên ngoài. Thay vì nhìn thẳng vào nội tâm để
phát triển một thái độ khả dĩ chuyển hóa đời mình theo
chiều hướng tốt, thì chúng ta lại theo một phương sách
nông cạn, là cố sửa đổi những hoàn cảnh bên ngoài để
giải quyết những vấn đề bên trong. Nhưng điều này không
bao giờ đem lại cho ta thỏa mãn lâu bền. Dù có thay đổi
lối sống bên ngoài đủ cách, mà không kèm theo một chuyển
hóa sâu xa ở nội tâm, thì cũng chỉ thành công một giai đoạn.
Sớm muộn gì những rắc rối cũng sẽ trở lại, và ta sẽ
vẫn khó chịu bất mãn như trước.
Mặc
dù tất cả chúng ta đều có bản tính trong sáng nguyên ủy,
song ta không dễ gì bắt liên lạc được với nó. Bởi vì
cái cách vận hành thô tháo của tâm ta thường làm chìm nghỉm
sự rung động vi tế của bản tính ấy, đến nỗi ta không
còn ý thức gì đến hiện hữu của nó. Nếu thực sự muốn
liên lạc với bản chất sâu xa của mình, ta phải chấm dứt
mọi xao lãng tâm trí và nới lỏng kềm tỏa của những danh
tướng vẫn trói buộc ta. Nói cách khác, ta cần tạo ra một
không gian trong đó bản chất thuần tịnh nguyên ủy của ta
có thể vận hành không gián đoạn. Khi ấy thì không phải
ta hợm hĩnh gì khi dùng phương pháp mật tông để quán mình
thành một vị trời; mà đúng hơn, ta đang làm hiển lộ những
đức tính thánh thiện vốn luôn luôn hiện hữu trong thẳm
sâu bản thể.
Những
cách chuẩn bị khác nhau trước khi thực hành mật tông chính
là những phương pháp để tạo ra không gian cần thiết ấy.
Nếu ta cố xử dụng những năng lực chuyển hóa cực kỳ
mãnh liệt của mật tông, mà không luyện tập theo những chuẩn
bị tiên quyết này, thì sự tu luyện không thể nào thành
công được. Một chiếc phi cơ phản lực có thể là cách
nhanh nhất để di chuyển, nhưng nếu đưa một người chưa
được huấn luyện ngồi vào ghế phi công thì chỉ có rước
lấy hậu quả khốc hại. Cũng thế, mặc dù mật tông là
cỗ xe nhanh nhất để đạt toàn giác, song nếu áp dụng những
phương pháp mật tông trong khi thân tâm chưa được chuẩn
bị thì thật là liều lĩnh, và hoàn toàn không hiểu gì về
mục đích của mật tông.