6
MỞ RỘNG CÕI LÒNG
VÌ
MÌNH HAY VÌ NGƯỜI
Từ
trước đến nay chúng ta chỉ bàn đến con đường tu tập
để tự độ, đạt đến hạnh phúc viên mãn cho chính mình.
Khi đã nhận ra rằng thói quen chạy theo những đối tượng
ham muốn chỉ tổ làm ta vướng vào vòng bất mãn triền miên,
ta càng ngày càng muốn tác động đến một tầng sâu hơn
của bản ngã. Ta muốn cảm thụ một loại hạnh phúc vững
bền, không bị hoàn cảnh hay thời gian làm biến chất. Nhưng
sự khát khao thoát vòng lẩn quẩn "ham muốn- bất mãn" ấy
chưa đủ, vì như thế là ta chỉ quan tâm đến hạnh phúc
riêng mình. Có lẽ trước đây dục vọng của ta hạn cuộc
vào đối tượng giác quan, bây giờ tu tập từ bỏ, thì dục
vọng ấy lại hướng về mục tiêu thực chứng tiềm năng
sâu xa nhất của bản ngã. Nhưng trọng tâm vẫn là cái tôi:
"tôi muốn thế này, không muốn thế kia."
Thái
độ hẹp hòi ấy- chỉ bận tâm đến hạnh phúc và giải
thoát riêng mình- làm cho ta không thể nào trực nhận được
tiềm năng bao la của tâm thức. Lối suy tư vị kỷ như thế
chỉ chú trọng sự an lạc của một cái tôi duy nhất, không
thiết gì đến hạnh phúc của vô số người như ta, cùng
gặp những rắc rối tương tự. Quan niệm hẹp hòi cực đoan
ấy đương nhiên làm cho lòng ta khép lại. Dù không thực tình
nói ra, điều ấy không khác gì nghĩ "Tôi là con người quan
trọng nhất thế giới. Ai chết mặc ai, không dính gì đến
tôi. Chỉ có hạnh phúc mình là đáng kể."
Bao
lâu còn tập trung toàn lực vào hạnh phúc riêng mình, dù là
hạnh phúc thế tục hay siêu thế, thì ta không thể kinh nghiệm
cái bao la của một tâm hồn rộng mở. Cách duy nhất để
đạt cái thấy toàn diện của giác ngộ là giải thoát mình
ra khỏi sự hạn cuộc của ngã chấp ngã ái này. Các bậc
thánh hiền đều nói thói ích kỷ hẹp hòi chỉ làm cho tâm
hồn ngột ngạt. Nếu muốn đạt đến tiềm năng cao nhất
của mình- hay được vài thỏa mãn thường nhật cũng thế-
ta phải khắc phục thói vị kỷ và nghĩ đến hạnh phúc người
khác càng nhiều càng hay. Đây là cách duy nhất để đạt
đến một tâm hồn khoáng đạt, để có được hạnh phúc
lâu bền.
Sự
hồi hướng chỉ có nghĩa rằng, khi đã tạo được những
năng lực tốt lành trong tâm, bạn quyết định san sẻ hạnh
phúc ấy với càng nhiều người càng tốt. Theo Phật giáo,
nếu không hồi hướng (nghĩ đến mọi người) thì không bao
giờ ta được thỏa mãn hoàn toàn, mà vẫn cảm thấy chán
chường, cô độc. Panchen Lama nói trong tác phẩm Cúng dường
đạo sư: "Ích kỷ là nhân của mọi khổ đau bất mãn, nhưng
thương tất cả hữu tình hơn tự thương thân và coi họ như
mẹ ruột, là nền tảng cho mọi thực chứng và tri kiến.
Bởi thế, xin bậc thầy gia trì cho con cái năng lực chuyển
hóa thói ích kỷ trong con thành sự quan tâm đến mọi người."
Đây không phải triết lý rắc rối gì, mà rất đơn giản.
Muốn biết thói ích kỷ, tự thương thân là nguyên nhân của
mọi rối ren bất mãn, ta chỉ cần nhìn vào những kinh nghiệm
trong đời cũng đủ thấy.
Đức
Panchen lama còn khuyên ta hãy nhìn đức phật Thích ca đã làm
gì với cuộc đời ngài. Ngài đã từ bỏ mọi bám víu vào
tự ngã, hoàn toàn hiến mình cho hạnh phúc của chúng sinh,
và hậu quả là ngài đã đạt đến hạnh phúc tột đỉnh
của sự toàn giác. Rồi hãy nhìn chúng ta: chúng ta luôn bị
ám ảnh bởi cái tôi, tôi, tôi- thế nhưng điều duy nhất
ta có được chỉ là khổ đau và bất mãn không dứt. Đây
là một sự thực đơn giản, không do thẩm quyền của đức
Panchen Lama hay bất cứ ai, ta mới thấy được sự thực ấy.
Bằng chứng là cuộc đời của chính ta và của tất cả mọi
người. Xét kỹ ta sẽ thấy rõ là ích kỷ hẹp hòi luôn luôn
dẫn đến thất vọng, còn tính vị tha mở rộng lòng với
mọi người sẽ đem lại an lạc hạnh phúc.
ĐỘNG
LỰC TÂM BỒ ĐỀ
Chúng
ta đã thấy thói bám víu những đối tượng giác quan đã
ngăn cản ta không cảm nghiệm được niềm hạnh phúc thỏa
mãn mà tất cả chúng ta đều mong mỏi. Bởi thế, nếu thành
thực muốn đạt đến cái vui thù thắng nhất của con người,
thì ta cần tạo một không gian trong tâm thức bằng cách phát
triển một thái độ từ bỏ. Nghĩa là, ta cần phải bỏ thói
chạy theo khoái lạc mới có thể cảm nghiệm niềm vui chân
thực. Cũng tương tự như thế, bao lâu còn bị ám ảnh bởi
hạnh phúc riêng mình, thì ta sẽ không bao giờ nếm được
hạnh phúc tối thượng của một tâm toàn giác. Nói khác đi,
nếu ta mong đạt đến cứu cánh cao nhất thì ta phải đào
luyện cái động lực cao nhất cho con đường tu luyện tâm.
Thuật ngữ Phật giáo gọi sự khởi động lực cao nhất này
là phát tâm bồ đề. Đấy là động lực thúc đẩy ta đạt
đến toàn giác (bồ đề hay Phật quả) để có thể làm lợi
lạc tối đa cho những người khác. Chỉ nhờ quên mình để
làm việc cho hạnh phúc của tất cả hữu tình- nghĩa là đào
luyện tâm bồ đề rộng mở- thì chính chúng ta mới có thể
cảm thụ được hạnh phúc tối thượng.
Thái
độ vị tha của tâm bồ đề là năng lực mạnh mẽ để
chuyển hóa tâm ta một cách toàn triệt. Ta có thể biết sự
thực của điều này qua kinh nghiệm bản thân, đấy không
phải là một điều gì ta phải tin theo một cách mù quáng.
Khi bạn đã phát triển tâm bồ đề thì tất cả mọi điều
tốt lành trên đời tự nhiên được cuốn hút tới nơi bạn,
tuôn xuống trên bạn như mưa rào. Hiện tại, bởi vì tâm
ta đầy những ý tưởng vị kỷ, nên hầu như những gì kéo
đến nơi ta chỉ có thuần là bất hạnh. Nhưng khi có tâm
bồ đề, thì tự nhiên chúng ta lôi cuốn đến mình những
bạn tốt, thực phẩm tốt và đủ mọi thứ tốt đẹp khác.
Như
đức Dalai Lama đã từng nói, nếu bạn muốn ích kỷ, thì
ít nhất cũng hãy ích kỷ một cách khôn ngoan. Điều ngài
muốn nói là, nhìn theo một cách nào đó thì bồ đề tâm
giống như một sự ích kỷ to lớn: khi bằng tâm từ mẫn,
bạn hiến mình cho tất cả mọi người, thì bạn được trở
lại nhiều hạnh phúc vô vàn lần hơn nếu bạn làm cách gì
khác. Thông thường ta được quá ít niềm vui, mà nó lại
dễ bị mất. Bởi thế nếu muốn được hạnh phúc thực
nhiều, thì điều duy nhất cần làm là hoàn toàn hiến mình
để mưu cầu an lạc cho tất cả.
THOÁT
KHỎI NGÃ ÁI
Ta
không nên nghĩ rằng bồ đề tâm là một thái độ tôn giáo,
một điều gì ta phải tin tưởng và chấp nhận bằng đức
tin. Nhãn quan đầy thương xót cao thượng này là hậu quả
trực tiếp của tuệ giác trong sáng nhìn thấu suốt thực
chất cốt tủy của chính ta và của tất cả mọi người.
Khi ta cứ khăng khăng chỉ quan tâm đến mình, thì những rắc
rối dường như không thể nào vượt nổi. Bận tâm đến
những ý nghĩ về cái tôi, tâm ta đầy những lo âu xao xuyến
như "Có lẽ tôi trông không bảnh bao lắm," "Chắc người ta
sẽ không ưa tôi," "Không biết tôi có thành công không," vân
vân. Mọi sự liên hệ đến cái tôi đều trở thành một
vấn đề, một nỗi lo ngại, một đe dọa cho hạnh phúc an
lạc của ta.
Cách
duy nhất để bứt ra khỏi sự ám ảnh điên đầu ấy về
chính mình, là mở lòng ra với những người khác. Khi thực
tình quan tâm đến hạnh phúc của một người nào, tự nhiên
ta không còn nghĩ đến bản thân, ít nhất trong một giai đoạn.
Khi sự thương xót người khác thay chỗ cho tự thương thân,
thì ta sẽ khám phá được những kho tàng năng lực và trí
tuệ ẩn nấp trong ta. Có thể bảo rằng chỉ cần có được
tâm xót thương ấy cũng đã là một thứ kinh nghiệm về giác
ngộ. Khi đã tạo được cái không gian mở rộng ấy trong
tâm thức, ta trở nên rộng rãi bao la hơn nhiều. Thay vì giam
hãm trong thực tại nhỏ bé của bản ngã, ta di chuyển vào
một phạm vi lớn rộng hơn, quan tâm đến tất cả mọi người.
Điều này tự nhiên sẽ giải thoát ta ra khỏi phần lớn những
vấn đề của bản ngã.
Trong
đời, quá nhiều lúc chúng ta gây náo động về những chuyện
nhỏ nhặt không đáng gì, đến nỗi làm cho "cái sảy nảy
cái ung", những trục trặc nhỏ biến thành những vấn đề
trọng đại. Nhưng khi ta đã phát tâm bồ đề quảng đại,
thì những chuyện vặt trở thành không quan trọng, không còn
quấy rầy ta được. Khi gánh nặng ngã chấp đã rơi khỏi
đôi vai, ta sẽ nếm được một hương vị nhỏ của tự do
giải thoát vốn thường đi kèm với giác ngộ. Những kinh
nghiệm như thế thực khích lệ, cho ta thấy một cách hùng
hồn giá trị thực tiễn của việc chuyển hóa tự tâm.
NHỮNG
HIỂU SAI VỀ TÂM BỒ ĐỀ
Khi
mới nghe qua về bồ đề tâm, nhiều người lầm lẫn nó với
một tâm trạng ướt át cảm xúc, kiểu như "Ôi tôi mong mỏi
xiết bao cho mọi người được sung sướng! Nghĩ đến sự
đau khổ của họ tôi không chịu nổi." Họ cảm thấy quá
thương tâm trước sự thiếu thốn cùng khổ của người khác
đến nỗi họ đâm ra buồn nản. Bồ đề tâm hoàn toàn không
phải thế, nó không dính dấp gì đến thái độ cuống cuồng
tê liệt của tâm hồn. Trái lại, bồ đề tâm thì trong sáng
thoải mái, vừa có một trí tuệ bình thản mà vừa có tâm
thương xót sâu xa. Đấy là thái độ mở rộng lòng, trải
tâm quảng đại ra càng nhiều càng tốt.
Lại
còn một ý tưởng sai lầm khác người ta thường có khi mới
nghe giáo lý về tâm bồ đề. Khi nghe nói cần phát triển
toàn vẹn tiềm năng nội tâm thì việc lợi tha mới hoàn hảo,
ta tưởng hiện tại mình không thể làm gì được để giúp
ích, mà phải chờ đến khi thành phật. "Trước hết tôi phải
rán học nhiều năm, rồi khởi sự tu tập. Sau một thời gian
tôi sẽ phát tâm từ bỏ và tâm bồ đề, rồi sau một thời
gian dài khi đạt giác ngộ, tôi sẽ khởi sự giúp đỡ người
khác." Thái độ suy nghĩ ấy hoàn toàn sai lạc, như thế là
ta chỉ có rước lấy gánh nặng của một quan niệm chặt
cứng về đường lối tu tập. Đó cũng là một cái tròng
khác, một ảo tưởng khác. Nếu ta cương quyết tin vào một
chương trình cố định như thế cho cuộc đời mình, thì có
thể rằng chưa gì cái chết đã tới, trong khi ta chưa cất
được bước nào!
Sự
thực là, trong khi luyện tâm từ, tâm bi, trí tuệ và những
tri kiến khác đưa đến giác ngộ, là ta đang liên tục giúp
đỡ người khác. Trước hết, chỉ cần sống một đời giản
dị, tâm nguyện luôn khắc phục thói ngã ái, là chúng ta đã
làm lợi lạc người khác một cách tự nhiên. Thứ nữa, mỗi
giai đoạn trong quá trình tu tập từ đầu chí cuối đều
có năng lực và hiệu lực riêng, tu ngang chặng nào ta đều
có thể giúp đỡ người khác theo chặng ấy. Một cách thực
tiễn là ta nên giúp đỡ người khác theo giới hạn hiện
tại của khả năng mình. Cái ý nghĩ rằng ta không làm được
gì nếu chưa giác ngộ, kỳ thực chỉ là một ý tưởng ích
kỷ, vô minh, chứng tỏ hoàn toàn không hiểu tu nghĩa là gì.
Sự
hiểu lầm này có liên quan đến một thái độ ta vẫn có
suốt đời. Chẳng hạn khi còn đi học, ta nghĩ; "Tôi phải
học những môn đáng chán này để thi đậu, lãnh bằng cấp,
kiếm được việc làm tốt, được nhiều tiền, rồi tôi
sẽ sung sướng." Những sự nhấn mạnh về tương lai kiểu
như "Khi nào tôi có nhiều tiền" "khi nào tôi có nhà riêng"
"Khi nào tôi về hưu"...dễ dàng chuyển qua lĩnh vực tu hành:
"Chờ khi nào tôi tu xong" "Chờ khi nào tôi giác ngộ"... Nhưng
suy nghĩ kiểu ấy thực hoàn toàn là vọng tưởng. Giấc mơ
thiếu thực tế về một tương lai không tưởng ấy làm cho
những hành vi hiện tại của ta cũng không thực tế chút nào.
Sự
tu hành chân chính là việc mà ta luôn làm ngày này qua ngày
khác. Hãy làm bất cứ gì có thể, với mức độ tri thức
hiện tại, và cống hiến tất cả cho mọi người. Ta chỉ
cần sống đời mình một cách giản dị, làm hết khả năng.
Điều này sẽ vô cùng lợi lạc cho người khác; ta không cần
phải đợi đến khi thành phật mới có thể khởi sự hành
động.
TU
TẬP TÂM XẢ: NỀN TẢNG C-A LÒNG THƯƠNG XÓT BAO LA
Nếu
bạn có được một cái thấy trong sáng giản dị về bồ
đề tâm, và cố thực hành theo đó trong cuộc sống hàng ngày,
thực nghiệm bồ đề tâm bằng cách mở lòng ra với người
khác trong tất cả mọi hành vi, thì cũng đã là tu tâm luyện
tính. Dĩ nhiên sự phát tâm bồ đề đích thực- xem người
khác hơn chính bản thân- là một thực chứng sâu xa còn lâu
ta mới đạt được. Phát tâm bồ đề quảng đại không phải
chỉ cần mong muốn là được, mà còn phải theo một tiến
trình tu hành tuần tự.
Theo
tôi, đạo Phật hay ở chỗ đưa ra một đường lối tu tâm
thực tiễn. Giáo lý không nói "Bồ đề tâm thực tuyệt vì
Phật đã dạy thế." Trái lại, giáo lý cho ta những phương
pháp phát triển tâm bồ đề, rồi ta sẽ tự mình thấy được
nó có hiệu nghiệm không, có kỳ diệu hay không.
Theo
phương pháp ấy, trước tiên ta cần một cái tâm quân bình.
Cũng như đất bằng là nền tảng để xây nhà, tâm xả -
thái độ xem mọi người bình đẳng - là nền tảng để đào
luyện bồ đề tâm. Những hành giả quá khứ đã kinh nghiệm
rằng, khi có được tâm bình đẳng ấy, ta có thể phát triển
tâm bồ đề một cách dễ dàng. Nhưng vì đã quen phân biệt
quá rạch ròi giữa bạn, thù và dửng dưng, ta không dễ gì
đạt đến tâm bình đẳng. Do thói ham muốn chấp thủ mãnh
liệt, ta ràng buộc với người thân, tẩy chay kẻ thù, còn
với vô số người mà ta cho là vô thưởng vô phạt, thì ta
tảng lờ coi như không có. Khi còn bị thói thương ghét ấy
chi phối, ta sẽ không bao giờ đào luyện được tâm bồ đề
tôn quý trong tim ta.
Tâm
xả không phải là một khái niệm tri thức, một ý tưởng
để nghiền ngẫm, mà là một tâm thái đặc biệt ta đạt
được nhờ thường xuyên làm quen với nó. Muốn được tâm
xả, cần phải nỗ lực lớn lao. Nói cách khác, phải luyện
tâm, chuyển hóa thái độ cố hữu ta thường có đối với
người khác. Ví dụ, khi gặp một nhóm người mới tại khóa
thiền, tôi coi người nào cũng như người nào không phân biệt.
Trước đây tôi chưa từng gặp họ - họ như những tai nấm
mới mọc lên - nên cũng chưa có thì giờ để sinh sự thương
ai ghét ai, tôi coi tất cả như nhau. Nếu đem tâm bình đẳng
này đối xử với thân hữu, kẻ thù và những phê bình gia
tôi không ưa, thì tôi có thể phát triển tâm xả đối với
tất cả mọi người.
Có
một kỷ thuật thiền rất chi tiết để đào luyện một tâm
quân bình như vậy. Vắn tắt, hãy tưởng tượng ba người
: bạn thân nhất, kẻ thù ta ghét nhất, và người lạ. Có
thể tưởng tượng bạn sau lưng, kẻ thù và người lạ trước
mặt, xung quanh là tất cả hữu tình mang thân người. Khi đã
vây quanh mình bằng những hình ảnh ấy, ta cẩn thận xem xét
những cảm tưởng của mình đối với mỗi hạng người nói
trên, và phân tích tại sao ta phân loại theo kiểu ấy.
Khi
tự hỏi tại sao trong số ấy, mình chỉ cảm thấy gần gũi
một người, còn những người khác thì không, ta sẽ khám
phá lý do thật nông nổi, chỉ căn cứ một vài sự tình cờ.
Chẳng hạn ta gọi người đầu là "bạn" vì mỗi khi nghĩ
đến họ, ta nhớ lại sự tử tế của họ đối với mình.
Người thứ hai có vẻ là "thù" vì ta nhớ lại vài việc khả
ố y đã làm hay đã nói với ta. Còn người thứ ba sở dĩ
ta cho "xa lạ" chỉ vì ta không nhớ y đã từng giúp hay hại
gì mình.
Những
lý do để có ba phản ứng khác nhau ấy thực ra rất vô lối.
Nếu thành thực moi tìm trong trí nhớ, chắc chắn ta sẽ lôi
ra được nhiều sự vụ khiến cho sự phân loại thành ba hạng
của ta không ăn khớp cho lắm. Ta rất có thể nhớ lại kẻ
thù ta chúa ghét đã từng xử tốt với ta, người ta thương
yêu rất mực đã từng làm ta tức giận, còn người ta xem
dửng dưng cũng đã từng là người rất thân thiết. Nghĩ
kỹ, ta không thể nào tiếp tục lối nhìn thiên vị hiện
tại. Và khi nghĩ mỗi hữu tình từ những đời quá khứ xa
xưa đều đã có lúc tốt lúc xấu với ta hệt như những
thân hữu và kẻ thù trong đời này, thì ta sẽ thấy tất
cả đều giống nhau, ai cũng từng là bạn là kẻ thù và xa
lạ, nhiều lần tái diễn.
Khi
luyện tâm theo cách ấy, những cảm giác thương bạn, ghét
thù và dửng dưng với người lạ bắt đầu lắng dịu. Đây
là dấu hiệu ta có được một mức độ xả nào đó. Hãy
bám sát cảm giác ấy, nhờ thực tập, cuối cùng nó sẽ nhập
tâm.
Quán
tâm xả là cách tốt nhất để phát sinh sức khỏe tâm thần.
Thay vì trả một trăm Mỹ kim mỗi giờ cho y sĩ tâm bệnh,
bạn hãy quán tâm xả! Nhắm mắt lại, gạt ra ngoài mọi cảm
giác vật lý. Từ bỏ năm nhận thức giác quan, để tâm chìm
sâu vào ý thức nồng nàn về kinh nghiệm xả. Bạn chắc chắn
sẽ trở nên quân bình hơn, cởi mở và thanh thản hơn. Dù
chỉ thiền quán như thế mười phút, khi xuất thiền bạn
cũng gặp một thế giới khác hẳn.
Người
ta thường hiểu lầm về sự tu xả. Nhiều người tưởng
nó có nghĩa là trở nên dửng dưng với tất cả mọi người.
Họ sợ rằng nếu bớt ràng buộc với thân quyến bạn bè,
thì tình yêu mến của họ sẽ biến mất. Nhưng khỏi cần
lo điều ấy. Khi có tâm xả chân thực, thì không thể nào
ta đóng cửa lòng mình lại với bất cứ một ai.
Càng
tập xem mọi người bình đẳng, không phân loại bạn, thù
và dửng dưng, thì tim ta càng mở rộng, khả năng yêu thương
của ta càng tăng. Nhờ thoát khỏi những thành kiến, ta có
thể thấy mọi người đều mong được hạnh phúc, đều tối
kị khổ đau. Từ căn bản bình đẳng này, ta có thể đào
luyện từ (sự tử tế) và bi (xót thương) bao quát, để cuối
cùng thực chứng trọn vẹn tâm bồ đề, cái tâm rộng mở
hoàn toàn phụng hiến cho lợi lạc chúng sinh.
TU
MẬT TÔNG CẦN TÂM BỒ ĐỀ
Phát
tâm bồ đề là điều kiện tiên quyết để tu mật tông có
kết quả. Theo các bậc thầy, muốn đủ tư cách tu mật tông,
ta phải có động lực bồ đề tâm rất mạnh. Những hành
giả mật tông chân chính mong mỏi đi con đường nhanh nhất
đến giác ngộ không phải vì mong mau giải thoát, mà vì mang
nặng tâm thương xót chúng sinh. Họ thấy mình càng lâu giác
ngộ thì chúng sinh càng phải đợi chờ. Cỗ xe mật thừa
chớp nhoáng như vậy cốt dành cho những người hết lòng
muốn giúp đỡ người khác càng nhiều càng tốt, càng nhanh
chóng càng hay.
Mặc
dù bồ đề tâm là điều kiện tiên quyết để thực hành
mật tông, song ngược lại, tu mật tông cũng là để tăng
cường tâm bồ đề.
Có
rất nhiều thần mật tông, như Quán tự tại, Văn thù, Tara...
ta được làm phép để tu quán. Nhưng mục tiêu sự tu tập
ấy không gì khác hơn là để phát triển, nới rộng tâm nguyện
bồ đề. Chư thần mật tông không có lý do tồn tại nào
khác. Tất cả pháp quán mật tông đều vì mục tiêu duy nhất
là phát triển tâm bồ đề cực mạnh.
Lấy
ví dụ quán đức Quán tự tại với ngàn cánh tay. Tất cả
lý do ta muốn thành một thực thể ánh sáng ngàn tay, cốt
là để cứu giúp cả ngàn chúng sinh đau khổ. Chứ còn lý
do nào khác để mong có nhiều tay đến thế? Nhưng nếu không
thấy thoải mái khi quán mình ra như vậy, bạn có thể quán
tưởng theo nền văn hóa của mình, thể hiện bản chất nội
tại của mình dưới dạng Jesus, thánh Francis, Quan âm hay bất
cứ vị thánh nào khác. Quan âm hay Jesus không khác gì nhau,
bản chất tinh túy của các ngài là sự quên mình để phụng
sự chúng sinh. Bởi vậy khi ta cố được như các ngài, nhờ
thực hành mật tông, cầu nguyện hay bất cứ phương pháp
nào khác, là để có thể phụng sự người khác một cách
vô ngã. Sự quên mình vì người là ý nghĩa đích thực của
tâm bồ đề, đấy là lý do bồ đề tâm không chỉ là điều
kiện tiên quyết, mà còn là kết quả quan trọng nhất của
mật tông.