7
HÒA TAN NHỮNG GIỚI HẠN TỰ TẠO
GÁNH
NẶNG CỦA KIẾN CHẤP SAI LẦM
Chúng
ta đã thấy từ bỏ và tâm bồ đề, hai điều kiện tiên
quyết để tu mật tông, giúp ta khám phá bản chất tinh yếu
của mình như thế nào. Từ bỏ thì nới lỏng thói chấp thủ
khoái lạc và thói nương tựa tướng ngoài để được thỏa
mãn; bồ đề tâm thì ngược lại với ngã ái chỉ biết mong
an lạc cho mình. Bây giờ ta sẽ xét điều kiện căn bản thứ
ba, "thấy đúng".
Ở
đây thấy đúng ám chỉ trí tuệ nhận thức rõ cách thế
hiện hữu của chính ta và những hiện tượng khác. Trí tuệ
này là liều thuốc chữa những quan niệm sai lầm của ta về
bản thân và thế giới. Bao lâu còn nặng những sai lầm này
thì ta vẫn còn vướng vào thế giới do tâm ta phóng chiếu,
và lang thang mãi trong vòng bất mãn do ta tự tạo. Nhưng nếu
có thể nhổ tận gốc những quan niệm sai lầm ấy, thì ta
sẽ cảm nghiệm được hạnh phúc, sự tự do khoáng đạt
mà hiện tại ta đã đánh mất.
Thấy
đúng sự thực không phải là điều gì huyền bí. Không phải
cứ trừng mắt nhìn vào không gian để cầu được một tia
sáng về chân lý. Không phải cái thấy sai lầm là ở đây
trên mặt đất, còn chính kiến là ở đâu đó trên trời
xanh. Ta cũng chớ nên nghĩ tà kiến cư ngụ trong đô thị ô
nhiễm còn chính kiến phải tìm giữa không khí trong lành trên
núi tuyết. Hoàn toàn không phải vậy. Cái thấy đúng có thể
có ở bất cứ nơi nào, vào mọi lúc. Gương mặt đẹp của
thực tại vốn ở trong mọi hiện tượng, ngay đây và bây
giờ. Chỉ cần ta trút bỏ những lớp tưởng tượng che mờ
tri kiến thuần tịnh về thực tại. Lỗi là tại ta, và giải
pháp cũng ở ngay nơi ta.
Khi
ta có ý nghĩ cố định rằng mình hiện hữu một cách đặc
biệt nào đó, thì chính là ta đang có ảo tưởng. Mỗi khi
soi gương, ta thường có ý tưởng cố định : "Hôm nay tôi
trông thế nào? Tôi không muốn người khác thấy tôi như vậy!"
Mặc dù thực tế là ta thay đổi từng sát na, ta vẫn tưởng
mình có một thứ bản chất trường cửu bất biến nào đó.
Cái
nhìn của ta đối với thế giới bên ngoài cũng mê muội không
kém. Các giác quan ta đã quen nhận thức ngoại vật theo kiểu
nhị nguyên, nghĩa là mỗi đối tượng dường như hiện hữu
biệt lập nội tại. Ta tưởng những vật ấy nhất định
có thực, chỉ vì mình có thể thấy nghe ngửi nếm sờ. Nhưng
đấy là ảo tưởng không dính dấp gì đến sự thực.
Chúng
ta cần thời gian luyện tập và tra tầm sáng suốt mới đoạn
trừ được cái thấy sai lầm thâm căn cố đế và khám phá
cách hiện hữu thực thụ của sự vật. Nhưng để khởi sự,
ta chỉ cần một chút hoài nghi những gì xuất hiện trong tâm.
Ví dụ vừa khi nhận ra mình đang nghĩ "tôi là thế này" "tôi
phải là thế nọ"- thì ta nên nhớ lại đấy chỉ là ảo
tưởng, bịa đặt nhất thời của tâm ta. Ta cũng không nên
thụ động chấp nhận ngoại giới là hiện hữu độc lập,
như chúng có vẻ. Tốt hơn ta nên hoài nghi những gì giác quan
và khái niệm thông thường nói với ta, cũng như người đi
mua hàng khôn ngoan khi mua một chiếc xe cũ thì không dễ gì
tin ngay mọi sự mà người bán hàng quảng cáo về chiếc xe
ấy.
MỘNG
VÀ SỰ TRỐNG RỖNG
Muốn
rõ tưởng tượng thường đánh lạc hướng ta như thế nào,
và làm sao để thoát khỏi ảnh hưởng chúng, ta nên nghĩ đến
những kinh nghiệm trong mộng. Khi thức giấc, còn đâu những
người ta thấy trong chiêm bao? Họ từ đâu đến? Họ đã
đi đâu? Họ có thực hay không? Dĩ nhiên là không. Tất cả
những người và kinh nghiệm trong mộng đều là những tướng
hiện ra trong tâm mê ngủ. Chúng chỉ có thực trong lúc ta còn
mộng, nhưng khi tỉnh dậy, chúng chỉ là một hồi ức phi
thực. Khi ta đang ngủ, dường như chúng có thực, một hiện
hữu cụ thể biệt lập. Nhưng khi tỉnh dậy ta mới thấy
đó chỉ là những phóng chiếu từ cái tâm mộng mị của
mình. Mặc dù những người trong giấc mộng có vẻ rất thực,
song kỳ thực họ hoàn toàn trống rỗng, không một hiện hữu
khách quan.
Cũng
thế, mọi kinh nghiệm của ta lúc tỉnh táo, kể cả ý thức
mạnh mẽ về cái tôi, là hoàn toàn phi thực. Mặc dù các
hiện tượng rõ ràng có đấy, kỳ thực chúng không có thực
tính nội tại. Chỉ khi tâm phàm tình của ta được bật lên,
vận hành, thì những hiện tượng tương đối ấy mới hiện
hữu với ta. Nếu tâm phàm tình ấy được tắt đi, thì những
hiện tượng ấy không còn hiện trong tâm ta nữa.
Điều
muốn nói là, những người và vật làm nên thế giới giác
quan ta cảm nhận, kỳ thực không hiện hữu một cách cố
định, khách quan như ta thấy. Những tướng trạng ấy chỉ
là biểu hiện của tâm phàm tình, do tâm mê tín thấy rồi
đặt tên. Tuy nhiên, cũng không hề gì nếu mọi sự có vẻ
như thực, mà tai hại là ở chỗ ta chấp nhận các tướng
xem như thực.
Thói
quen tin tưởng và chấp nhận thực có các pháp, là một thói
quen ta đeo đẳng từ vô thủy, không phải một quan điểm
triết học ta mới học, nên không dễ gì từ bỏ. Nhưng ta
có thể khởi sự nhổ gốc rễ tập quán lầm lạc ấy nhờ
nhận ra sự mê muội trong cách thông thường ta nhận thức
thực tại. Bản năng tin thực có mọi sự, chỉ là một khái
niệm vô giá trị không liên can gì đến sự tồn tại đích
thực của chúng. Chỉ cần hiểu chừng ấy cũng đủ khởi
sự giải thoát ta khỏi những thói quen mê tín. Khi ấy ta bắt
đầu thức tỉnh.
NGÃ
CHẤP VÀ BẤT AN
Không
những mọi sự bên ngoài không có thực tính khách quan như
ta tưởng, mà ngay cả ý thức về cái ngã bên trong cũng vậy.
Theo bản năng, ta có cảm giác mình thực sự hiện hữu, rõ
ràng có chất lượng lắm. Ta không hoài nghi gì về cái tôi
sờ sờ này cả, và dường như thực phi lý nếu xem nó cũng
chỉ là một ảo tưởng. Tuy nhiên nếu chịu khó tìm cho ra
cái tôi thực thụ, ta sẽ thấy không thể nói nó ở đâu.
Đầu, tay, chân hay bất cứ thân phần nào khác của ta đều
không thực là ta. Về tâm ta cũng thế: không một ý tưởng
hay cảm xúc nào trong vô số ý tưởng cảm xúc liên tục khởi
lên và biến mất trong ta, thực sự là cái ta. Và dĩ nhiên
không thể tìm cái ý thức chắc chắn về bản ngã này ở
đâu khác ngoài cái hợp thể thân tâm này. Mặc dù không thể
tìm đâu ở trong hay ngoài thân tâm này, một cái ngã độc
lập tự hữu, thế mà ta vẫn bám lấy cái ngã một cách chặt
chẽ thâm căn cố đế, như thể nó là một cái gì rất thực.
Niềm tin bẩm sinh này vào một cái không có thực, nguồn gốc
căn để của mọi rắc rối, có thể gọi là sự "chấp thủ
bản ngã". Cái tín ngưỡng sai lầm này không do ai dạy, nó
đã sinh ra cùng với ta từ thuở ta mới lọt lòng. Quả thế,
đầu tiên cũng chính sự chấp thủ bản ngã này đã thúc
đẩy ta tái sinh.
Ngã
chấp bám lấy quan niệm sai lầm của nó như thế nào? Ta có
thể có một khái niệm về điều này khi nhìn vào những ý
tưởng mình một lúc: "Tâm tôi đang giải thích thực tại
như thế nào ? Nó nghĩ tôi là ai?" Nếu tra tầm sắc bén, ta
sẽ khám phá ta mang theo mình một thứ quan niệm có sẵn, cụ
thể về chính mình, "Đây đích thực là tôi" và quan niệm
ấy không liên can gì đến thực tại.
Vì
quan niệm có cái tôi, ta nghĩ "Chắc chắn tôi phải hiện hữu
ở đâu đó, tôi có thực." Không bao giờ ta chịu xét cái
mà ta cho thực là cái tôi, chỉ là hậu quả của sự đặt
tên, gán nhãn hiệu cho một nhóm thành phần tâm vật lý luôn
luôn thay đổi. Ngã chấp nơi ta nhất định không công nhận
cái tôi chỉ là một giả danh, một tên gọi, vì nó cố thiết
lập và duy trì ý thức cố định bảo đảm về một tự
ngã đồng nhất. Nó cả quyết "tôi thực hữu một cách độc
lập nội tại. Tôi không phải là một cái gì do mê tín hô
triệu lên." Nhưng sự xác quyết này hoàn toàn sai. Đấy gọi
là tà kiến, căn để mọi rắc rối của chúng ta.
Chúng
ta quá quen thuộc với những tướng cụ thể bề ngoài, đến
nỗi thực không dễ gì bỗng chốc chuyển thành một lối
nhìn buông lỏng hơn, thoải mái hơn. Bản ngã ta- đúng ra,
sự chấp ngã nơi ta - vô cùng mãnh liệt, nó chống lại bất
cứ quan điểm nào đe dọa sự an ninh của nó. Nó bị giao
động sâu xa khi nghe nói cái tôi cũng như bất cứ gì khác,
chỉ là do tâm phân biệt khéo vẽ vời. Bởi vậy ta phải
chờ đợi gặp nhiều kháng cự khi thiền quán về tính phi
thực của cái ngã. Đây là chuyện tự nhiên; chính ngã chấp
thâm căn cố đế trong ta đang chống lại sự hủy diệt.
NHẬN
RA KẺ THÙ BÊN TRONG
Khi
ngã chấp còn tiếp tục lối nhìn thô thiển hạn cuộc của
nó, thì ta không thể nào có được kinh nghiệm khoáng đạt
về cái toàn thể mà tự thâm tâm, ai cũng khát khao. Bởi thế,
muốn ra khỏi những khái niệm và tưởng tượng sai lầm,
trước hết ta phải loại trừ ý nghĩ sai lạc về chính mình.
Ta cần biết rõ cách suy nghĩ hiện tại của ta về chính mình,
cách ta bám lấy ý thức sai lầm về tự ngã. Vì không thể
nào có được cái thấy đúng nếu ta chưa hiểu rõ cái thấy
sai thông thường của ta ra sao.
Những
bậc thầy đã nhấn mạnh cần phải nhận ra một cách chính
xác sự vô nghĩa của tâm phân biệt trong ta. Nếu chỉ biết
tà kiến về ngã một cách mơ hồ, lý thuyết, thì dù có áp
dụng thiền quán mãnh liệt cũng không ăn thua gì, không trừ
diệt nó được. Ta phải nhận diện căn nguyên vấn đề mình
bằng cách quán tâm để tìm những ngộ nhận đặc biệt của
nó. Chỉ khi ấy ta mới có thể tấn công vấn đề từ căn
để; nếu không thì giống như kẻ thù đang tiến tới từ
bên đông mà ta lại huơ kiếm ở bên tây.
Điểm
này đáng nhấn mạnh: một trong những lý do ta phải chịu
đủ khổ đau trong vòng sinh tử, hết cảnh bất toại ý này
đến cảnh bất toại ý khác, chính vì ta không nhận ra được
vấn đề đến từ phía nào. Ngay cả khi không còn lầm tưởng
rắc rối là do ngoại cảnh, ta vẫn không nhận diện chính
xác được kẻ thù bên trong. Chẳng hạn ta có thể cho nguồn
gốc nỗi bất mãn éo le là do ta đã giữ một quan điểm tri
thức nào đó, bây giờ ta chỉ việc điều chỉnh tình huống
bằng cách theo một lập trường triết lý cao siêu khả kính
hơn. Nhưng một phương pháp nông cạn như thế không bao giờ
đánh trúng gốc rễ vấn đề.
Vấn
đề căn bản của chúng ta không thuộc tri thức. Có thể lúc
đầu ta theo một lối phân tích đặc biệt nào đó về ta
là ai, là gì, rồi sau ta đổi ý, theo một quan điểm hoàn
toàn ngược lại. Sự đổi thay ấy có thể làm tri thức ta
thỏa mãn, nhưng không giải quyết được vấn đề căn bản
của ta về ngã. Quả thế, ta có thể kiêu hãnh về trình độ
tri thức mới mẻ của mình, nhưng ta chỉ có làm mỗi một
chuyện là thay loại mê tín này bằng loại mê tín khác. Thay
vì làm suy yếu ngã chấp, ta chỉ có thay hình đổi dạng kiểu
bám víu.
NỚI
LỎNG KỀM TỎA CỦA TÀ KIẾN
Điều
nên nhớ là ngã chấp của ta không dễ gì loại trừ ngay được.
Ta cần nhiều thời gian để khắc phục hoàn toàn sự chấp
tướng. Nhưng hiện tại ta có thể đả phá những tầng thô
của tà kiến bằng cách nới lỏng sự chấp thủ những gì
ta cho là thực. Khi ấy dù tướng ngoài của sự vật vẫn
còn đó, ta không dễ bị chúng dụ dẫn cho lạc đường.
Kinh
điển thường lấy ví dụ nhà ảo thuật và khán giả. Nhờ
đọc thần chú trên những mảnh đá hay gỗ, một nhà ảo
thuật thiện xảo có thể khiến khán giả trông thành những
con ngựa chẳng hạn. Những người bị mãnh lực bùa chú xem
những con vật ấy là có thực. Nhà ảo thuật cũng thấy ngựa,
nhưng dĩ nhiên không cho là thực, vì chính ông đã biến hóa
ra chúng. Trong khi khán giả có thể chóa mắt vì bùa phép,
nhà ảo thuật vẫn bất động, không bị ảnh hưởng gì.
Thông
thường, chúng ta giống như khán giả. Ta tin vào mọi sự vật
do khái niệm nhị nguyên của ta đặt ra. Thấy cái gì có vẻ
hấp dẫn, ta chạy theo vì bị tướng ngoài của nó thu hút.
Nếu nó hóa ra là một cái gì không còn hấp dẫn lắm, ta
liền muốn chạy cho xa, không buồn dừng lại để thấy những
đổi thay ấy chỉ là cái bóng của tâm mình, không dính gì
đến sự vật. Kết quả là ta cứ bị dẫn từ bất mãn này
đến bất mãn khác, tìm kiếm trong vô vọng một điểm tựa
cho cái ngã hão huyền bằng cách theo đuổi hay trốn chạy
những đối tượng huyễn hóa. Cứ thế đời ta trở thành
một tấn tuồng vô nghĩa đầy những xung đột, éo le và thất
vọng.
Nhưng
ta có thể buông hết những niềm tin mê muội ấy. Như nhà
ảo thuật, dù những huyễn tướng hiện ra đủ kiểu, ta không
cần phải bị chúng lung lạc. Cuối cùng, khi tâm ta sạch hết
cái thấy cong quẹo, thì những tướng đối đãi cũng chấm
dứt. Nhưng không đợi đến khi ấy ta mới giải thoát những
cảm xúc mâu thuẫn. Lúc nào ta khởi sự nới lỏng cố chấp,
là ngay lúc đó ta nếm được mùi vị giải thoát tự do.
ĐÀO
LUYỆN TRUNG ĐẠO
Khi
nghe nói cái "tôi" không thực và mọi hiện tượng đều huyễn
hóa, ta có thể vội kết luận rằng bản thân ta, mọi người,
thế giới và sự giác ngộ ... toàn là không thực. Một kết
luận như vậy gọi là chấp không, quá cực đoan. Các hiện
tượng có hiện hữu, nhưng cái cách ta xem chúng độc lập
tự tồn, mới là lầm lạc, đáng từ bỏ.
Lấy
ví dụ ráng cầu vồng. Dĩ nhiên nó hiện hữu, nhưng chỉ
do tác dụng hỗ tương giữa những giọt nước trong bầu trời,
ánh mặt trời và vị trí quan sát của ta. Vậy, ráng cầu
vồng là một hiện tượng duyên sinh, và nếu tra tầm kỹ
ta có thể khám phá ra yếu tố chính (nhân) và yếu tố phụ
(duyên) của nó. Nhưng khi ngắm ráng cầu vồng, ta có thể
vì quá xúc động trước vẻ đẹp của nó mà cố đưa tay
ra sờ. Nhưng ta càng tiến tới thì ráng cầu vồng như càng
lùi xa. Dù chạy nhanh và xa bao nhiêu, ta cũng không bao giờ
đuổi kịp nó. Một ráng cầu vồng tự bản chất đã không
thể sờ chạm, nên ta phải nhận thức rằng hiện tượng
đẹp đẽ kia chỉ là một bóng hình ta không thể cầm nắm
trong tay hay chiếm làm sở hữu.
Cũng
thế, mọi hiện hữu chỉ là những tướng có ra do tác động
của nhiều nhân và duyên. Chúng sinh khởi, tồn tại rồi biến
mất, và suốt thời gian ấy lại thay đổi không ngừng. Ngay
bản thân chúng ta cũng vậy. Dù bản năng chấp ngã của ta
tin là có, ta vẫn không tìm thấy một cái "tôi" cố định
nào ở trong hay ngoài những hợp thể tâm-vật lý luôn biến
đổi này "của ta." Chúng ta và mọi hiện tượng khác đều
trống rỗng, không một mảy may tính thực hữu, tự tồn.
Và chính cái "chân không" này mới là bản chất tối hậu
của mọi hiện hữu.
Bản
kinh trong đó đức phật Thích Ca giảng giáo lý sâu xa nhất
của ngài về Chân không là kinh Bát nhã ba la mật (bản kinh
được cầm tượng trưng trong tay trái đức Văn Thù, hiện
thân của trí đại giác.) Và vị luận sư Ấn độ đã giảng
giải và truyền bá giáo lý này là Long Thụ (Nagarjuna), ngài
vừa là một luận sư sâu sắc và hành giả mật tông vĩ đại.
Hệ
thống phân tích triết học của Long Thụ có tên là Trung đạo,
vì nó tránh hai cực đoan như hữu và phi hữu, thường và
đoạn, tôn sùng và phỉ báng. Theo Long thụ, tất cả quan niệm
thông thường của chúng ta về điều này điều nọ đều
sai lầm, vì chúng ta quen gán lên đối tượng giác quan những
tính chất cụ thể, biệt lập và tự hữu, mà kỳ thực chúng
không có. Nói cách khác, quan niệm ngu mê phàm tình của chúng
ta về thực tại - cái tôi và các pháp - đều là mê tín,
vì có đối đãi nhị nguyên.
Như
đã nói, ta luôn phóng chiếu một hình ảnh sai lạc lên đối
tượng, rồi tin tưởng rằng hình ảnh ấy thực là đối
tượng. Khi đã có vài khái niệm về thói thấy sai của mình,
ta có thể có phản ứng quá trớn là phủ nhận hiện hữu
của tất cả mọi sự. Đấy là cực đoan chấp không, không
những sai lạc mà còn rất nguy hiểm. Điều cần hiểu là,
sự vật quả có hiện hữu, nhưng không hiện hữu theo cách
ta tưởng. Cái khó trong việc đào luyện chính kiến về trung
đạo là không chấp nhận tính thực hữu độc lập của các
pháp, nhưng cũng không phủ nhận sự hiện hữu duyên sinh của
chúng.
Khi
ta cố áp dụng luận lý để chứng minh một pháp nào đó
là trống rỗng, không thực hữu nội tại, thì lắm lúc có
vẻ hơi căng. "Cái này trống rỗng vì lý do này...hay lý do
kia, lý do nọ." Đôi khi việc ấy dường như khó chịu. Điều
này chắc chắn xảy đến; quá nhiều lý luận thường có
hại cho tuệ giác hơn là có ích. Những lúc như vậy, ta nên
nới lỏng sức ép của lý luận, chỉ quan sát cách vận hành
của cái vật ta đang tìm kiếm, nó từ đâu đến, hoạt động
như thế nào, vân vân. Ví dụ khi khảo sát một vật để
khám phá nó có tự tính hay không, ta có thể nhớ lại : "Món
này được thợ lắp ráp trong xưởng, chuyên chở bằng tàu
đến chợ bán; rồi tôi mua về dùng." Khi được nhìn cách
ấy, bản chất phi tự hữu của vật ấy trở nên sáng sủa
hơn. Ta thấy nó do duyên sinh, lệ thuộc nhiều điều kiện
mới tồn tại được, vận hành như vậy như kia. Cách thấy
ấy giảm bớt cảm giác ta có về các pháp là hiện hữu biệt
lập, tự tồn, chắc thực. Đấy là một cách hiểu trực
tiếp tiện lợi về duyên sinh, phi tự tính hay tính không.
Khi đã quen lối nhìn ấy, ta dễ dàng thấy tại sao các bậc
thầy quá khứ công bố duyên sinh là vua của luận lý, là
cách tốt nhất để hiểu thực trạng của mọi sự vật.
Theo
quan điểm Long Thụ, tất cả pháp đều không thực tính độc
lập, kể cả Tâm và Phật. Ta không thể nói một vật vô
giá trị như thùng rác là trống rỗng không thực tính, còn
một đối tượng vô cùng tôn quý như đức Thích ca mâu ni
là thực có tự tính. Không phải vậy. Trên phương diện Tính
không hay bất nhị, thì thực tại tối hậu của Phật và
thực tại tối hậu của thùng rác đều giống nhau.
Kết
luận thực tiễn về tất cả điều này là, tránh chấp nhận
mọi hiện tướng nhị nguyên - tự tha, tốt xấu...- xem như
tuyệt đối có thực, nhưng cũng không hoàn toàn chối bỏ
chúng. Thay vì thế, ta nên giữ thái độ hơi buông lỏng, hơi
hoài nghi. Ta nên ý thức chính vì sự vật đối với ta có
vẻ rõ ràng là thế này thế nọ, nên mới có năng lực dẫn
ta đến mâu thuẫn rối ren. Khi ý thức rõ điều này, ta sẽ
không tự cho phép mình rơi vào bùa lực chúng một cách dễ
dàng như trước. Và nếu ta tập luyện để quán tính trong
sáng nguyên ủy của tâm trong đó các tướng này sinh khởi,
thì ta có thể đi vào cái kinh nghiệm về bất nhị trong đó
mọi xung đột rối ren cuối cùng đều lắng xuống.