8
- TÍNH TRONG SÁNG CỦA TÂM
CHUẨN
BỊ KHOẢNG TRỐNG NHỜ "KHÔNG THẤY"
Như
ta đã nói, ba điều kiện tiên quyết của sự thực hành mật
tông là từ bỏ, bồ đề tâm và chính kiến về Tính không.
Tuy nhiên điều này không có nghĩa cần phải thực chứng ba
điều ấy một cách viên mãn ta mới có thể khởi sự tu mật
tông. Một hiểu biết chính xác cũng đã đủ để khởi hành.
Ví
dụ thực chứng Tính không -bản chất tối hậu của các pháp-
là một thành tựu sâu xa. Nếu phải đợi đến khi ấy mới
có thể tu mật tông, thì bao giờ ta mới tu được? Có lẽ
không bao giờ. Nhưng may thay không phải vậy. Muốn tu tập
các loại chuyển hóa của mật tông, ta chỉ cần có khả năng
nới lỏng phần nào ngã chấp là đủ. Ta không cần phải
thực chứng toàn vẹn tính phi thực của cái tôi, song quả
thực ta cần có khả năng dành một ít khoảng trống trong
cái tâm phàm tình của ta.
Những
lạt ma Tây tạng thường nói: "Không thấy là cái thấy toàn
vẹn." Có lẽ đây là một lời nói lạ lùng, nhưng có một
ý nghĩa thâm thúy. Nó diễn đạt kinh nghiệm của thiền giả
cao thâm về thực tại khoáng đạt, phổ quát, kinh nghiệm
vượt ngoài nhị nguyên.
Trong
kinh nghiệm phàm tình, chúng ta thường bị tràn ngập bởi
vô số nhận thức và quan niệm đối đãi. Hàng ngày ta bị
lôi cuốn bởi những đối tượng ta khoái và chán ghét những
đối tượng làm ta khó chịu. Mang nặng một ý thức hẹp
hòi về bản ngã, ta để hết thì giờ chạy theo cái này,
tránh xa cái khác. Như đã nói, ta có thói quen thâm căn cố
đế là nhìn sự vật theo kiểu nhị nguyên đối đãi hoặc
xấu hoặc tốt, và tin vào sự phân biệt so đo của mình.
Thói ấy chỉ tổ đưa ta đến rối ren bất mãn không ngừng
tái diễn. Nhưng ta có thể đào luyện một lối nhìn khác
hẳn. Khi đã chán chường cuộc chạy lòng vòng hụt hơi trong
sinh tử bất tận, ta có thể luyện tập một sự tỉnh giác
sắc bén để nhìn thẳng vào cái cách hiện hữu thực thụ
của mọi sự vật.
Sự
luyện tập này tiến hành qua nhiều giai đoạn, có giai đoạn
cần nhiều phân tích và khái niệm, có giai đoạn phải kinh
nghiệm trực tiếp. Cuối cùng, khi ta đã an trú kinh nghiệm
về tính khoáng đạt, thì những tướng trước kia có vẻ
chắc thực bắt đầu tan biến. Như những đám mây tan biến
trong bầu trời mùa hạ, những cái thấy nhị nguyên của ta
chấm dứt, chỉ còn lại không gian trong sáng của bất nhị.
Trong khoảng không ấy không có những phân biệt rõ rệt đây
và kia, tâm ta cảm thấy an tịnh, vô biên, thoát ngoài mọi
giới hạn. Không còn bận tâm tới sự "thấy" chấp tướng
thường ngày, chúng ta thâm nhập vào cái thấy toàn vẹn của
kinh nghiệm bất nhị.
Đừng
tưởng tâm ta khi ấy rơi vào một trạng thái trống rỗng
như giấc ngủ, trái lại nó hoàn toàn tỉnh thức và bén nhạy-
không chối bỏ gì hay xác quyết gì, mà chấp nhận mọi sự.
Thay vì cảm thấy bị vướng bẫy, bị hạn cuộc, bị bắt
buộc tái diễn mãi những tấn tuồng vô vị của bản ngã,
chúng ta khởi sự nếm vị giải thoát chân thực của tâm
thức không còn vướng mắc. Sự giải thoát này có thể đạt
được, chính vì cái tâm nông cạn, ước lệ, bốc đồng,
nhị nguyên không phải là bản chất thực thụ của ta. Bản
chất căn để của ta vốn sáng sạch như pha lê, không có
chỗ cho ý tưởng tự thương thân trách phận; ý tưởng này
tự động tan biến, và cùng với nó, tất cả những giới
hạn giam giữ ta cũng tan mất.
Khi
an trú trong trạng thái tâm trong sáng tự nhiên, ta sẽ có thì
giờ và khoảng trống để nhìn sự vật không mê lầm. Ta
lại còn có thể làm công việc hàng ngày của ta một cách
tốt đẹp hơn. Nhiều người ngạc nhiên về điều này, họ
bảo: "Nếu tôi để cho tâm mình trở về trạng thái tự nhiên
đơn thuần của nó, làm sao tôi có thể sống trong cuộc đời
phức tạp này? Làm sao tôi có thể đi chỗ này chỗ kia? Làm
sao tôi có thể duy trì công việc? Làm sao tôi có thể nấu
một bữa ăn? Làm sao tôi có thể làm bất cứ gì?" Nhưng lo
sợ như thế là vô lối. Vì sự thực là, tâm trạng có sáng
suốt trong lặng, ta mới có thể đặt hết chú ý vào công
việc, và làm việc một cách tốt đẹp. Rắc rối phát sinh
là khi ta không sống trong trạng thái tâm tự nhiên. Khi ấy
bất cứ đang làm gì, tâm bạn cũng hướng về một cái gì
khác. Đáng lẽ để ý vào công việc trong khi lau nhà, tâm
bạn lại nghĩ đến chuyện đi biển và ăn kem. Chính lúc ấy
bạn mới gặp rắc rối.
TÍNH
TRONG SÁNG KHÔNG HAI
Khi
quán sát dòng tâm thức trong thiền định, ta có thể có được
kinh nghiệm khoáng đạt về tính bất nhị. Theo dõi những
ý tưởng, ta sẽ thấy chúng tự động sinh khởi, ở lại
rồi biến mất. Ta không cần cưỡng bức xua đuổi ý nghĩ
ra khỏi tâm. Mỗi ý nghĩ tự nhiên sinh khởi từ bản chất
trong sáng của tâm, rồi cũng tự nhiên tan vào đấy. Khi những
ý tưởng cuối cùng tan biến, hãy tập trung không xao lãng
vào bản chất trong sáng còn lại của tâm, càng lâu càng tốt.
Ta
nên tập đừng quá chú ý vào bất cứ một ý tưởng nào
liên tục khởi lên trong tâm ta. Tâm ta như một đại dương
rộng lớn có đầy đủ không gian cho đủ loại tư tưởng
và cảm xúc bơi lội. Đừng xao lãng sự chú ý của ta vào
bất cứ một tư tưởng hay cảm xúc nào. Không hề gì nếu
một "con cá" đặc biệt nào trong đó trông đẹp đẽ hay gớm
ghiếc. Ta phải luôn tập trung vào sự trong sáng nguyên ủy
của tâm. Cho dù một cảnh tượng tráng lệ hiện ra - cảnh
mà bao lâu nay ta mong được thấy - cũng đừng chú ý. Nhưng
dĩ nhiên ta phải biết những gì đang xảy ra. Vấn đề là
đừng trở nên quá cùn nhụt tâm trí đến độ không để
ý gì nữa. Hãy theo dõi sự sinh khởi các ý tưởng, mà không
vướng vào một ý nào. Thay vì thế, ta nên để ý đến sự
trong sáng nguyên ủy, nền tảng từ đấy những ý tưởng
khởi sinh.
Tại
sao cần phải quán tính trong sáng của tâm? Vì nguồn gốc
mọi vui khổ của ta, cội rễ nỗi đau sinh tử cũng như phúc
lạc niết bàn, đều do tâm. Và trong tâm, chính thói quen thấy
biết sai lầm của ta - ngã chấp ngu si bất ổn - đã bám lấy
ảo tưởng về một cái tôi xem như thực có. Cách đánh tan
bùa lực của ảo tưởng này là phải thấy được bản chất
huyễn ảo của các pháp, và nhận ra mọi hiện tượng chỉ
là những tướng phù du chợt hiện lên trong khoảng không gian
trong sáng của tâm thức. Như thế, càng quán tưởng tính trong
sáng ấy bao nhiêu ta càng ít bám víu và ít đau khổ bấy nhiêu.
Nhờ
ngắm những ý tưởng ta đến rồi đi như thế mà ta càng
lúc càng tiếp cận với cái nhìn đúng (chính kiến) về Tính
không. Những tướng có vẻ như thật sẽ sinh khởi, ở lại
một lúc rồi tan biến vào trong bản chất trong sáng của tâm
ta. Khi mỗi ý tưởng biến mất theo cách ấy, ta nên tập luyện
để thấy rằng sự tan biến này còn thực hơn cả cái tướng
cụ thể xuất hiện trong tâm thức. Càng luyện tập để "không
thấy", thì ta càng quen thuộc với không gian khoáng đạt trong
sáng của tâm ta. Khi ấy, cho dù những ý tưởng và cảm xúc
hết sức "phá đám" như giận dữ, ganh tị khởi lên, ta vẫn
tiếp xúc được với tính trong sáng căn để của tâm thức.
Sự thanh tịnh ấy luôn luôn ở với ta, cho dù ta có kinh quá
những mê vọng nào đi nữa, thì những kinh nghiệm ấy cũng
chỉ là những chướng ngại bên ngoài cuối cùng sẽ qua đi,
để lại chúng ta với bản tính thanh tịnh sơ nguyên của
tâm thức.
Khi
bạn ngắm nhìn tâm mình với sự tỉnh giác cao độ, gạt
ngoài mọi ý tưởng thiện ác, tự nhiên bạn được đưa
đến kinh nghiệm về tính không hai (bất nhị). Như thế nào?
Hãy nghĩ về điều này như sau: bầu trời trong xanh ví như
tâm thức, còn khói và những ô nhiễm phà vào đó là tất
cả những khái niệm thiếu tự nhiên, giả tạo mà vô minh
ngã chấp đã chế biến ra. Dù hiện tại chúng ta bảo những
chất ô nhiễm đang nhiễm độc bầu khí, song chính bầu trời
không bao giờ thực sự bị ô nhiễm bởi những thứ làm ô
nhiễm. Bầu trời và ô nhiễm, mỗi cái giữ bản chất của
riêng nó. Nói cách khác, từ căn để, bầu trời vẫn không
bị ảnh hưởng dù có bao nhiêu năng lượng độc tố đi vào
trong nó. Bằng chứng là khi điều kiện thay đổi, bầu trời
lại trở thành trong sáng như trước. Cũng vậy, cho dù những
ý tưởng do ngã chấp có gây rắc rối đến đâu, chúng cũng
không bao giờ ảnh hưởng đến bản chất sáng sạch của
tâm ta. Trên phương diện tương đối, tâm ta vẫn thanh tịnh
vì tính trong sáng của nó không bao giờ lẫn lộn với tính
rối ren mờ mịt.
Cả
trên phương diện tuyệt đối, tâm ta cũng luôn luôn trong sáng
thuần tịnh. Tính bất nhị của tâm thức không bao giờ bị
tổn hại vì những khái niệm đối đãi nhị nguyên khởi
lên trong tâm. Về phương diện này, tâm hiện tại thanh tịnh,
tâm quá khứ đã thanh tịnh, và tâm tương lai vẫn còn thanh
tịnh.
Bạn
có thể hỏi, thế thì bản chất của những tâm mê muội
như ganh tị, giận dữ cũng trong sáng luôn sao? Phải, tất
cả tâm đều có cái bản chất trong sáng phi thực như thế.
Dù là tâm xấu hay tốt, không lỗi hay mê lầm, tất cả tâm
đều phản chiếu rõ rệt đối tượng riêng. Cũng như một
tấm gương phải sáng không được mờ, mới phản chiếu được
hình ảnh của cái mặt, dù cái mặt ấy xấu hay đẹp. Cũng
vậy, tâm phải trong sáng (mới có những ý tưởng thiện ác
khởi lên - DG ). Nếu một tâm không trong sáng, thì nó sẽ
không phản chiếu được bất cứ gì, dù xấu hay tốt.
Ta
có thể ví những trạng thái tâm tích cực như nước trong
lặng đứng yên, còn những trạng thái tâm mê muội như nước
sôi hay nước đục. Nếu quan sát bản chất nước sôi ta sẽ
thấy mặc dù bị quấy động, mỗi giọt nước vẫn trong
sáng. Tâm ta cũng vậy: dù nó yên tịnh hay sôi sục do những
cái thấy đối đãi rắc rối, thì bản chất căn để của
nó vẫn trong sáng, và có ý thức. Kết luận là, tất cả
chúng ta đều có khả năng di chuyển từ trạng thái tâm mê
muội ô nhiễm của ngã chấp đến trạng thái trong sáng của
tâm thanh tịnh.
Ta
không bao giờ nên nghĩ tâm mình đã quá ô nhiễm không cách
gì cứu chữa. Chuyện này vô lý. Nếu luyện tập để nhận
diện và đi vào trạng thái tự nhiên của tâm, cuối cùng
ta sẽ kinh nghiệm được sự giải thoát của tuệ giác bất
nhị.
NHỮNG
BIỂU HIỆN CỦA TÂM THỨC
Theo
quan điểm Phật giáo, tất cả những hoàn cảnh ta gặp trong
đời đều là những biểu hiện của tâm ta. Đây là tri kiến
cốt tủy của đạo Phật. Cảnh ngộ khổ đau rắc rối xuất
phát từ một tâm rắc rối khổ đau, và bất cứ hạnh phúc
nào ta nếm trải- từ lạc thú tầm thường cho đến tịnh
lạc của giác ngộ- đều có gốc rễ nơi tâm.
Khi
nhìn lại đời mình, ta có thể dễ dàng thấy nó toàn do tâm
ta điều khiển, nhất là cái tâm bám víu. Chúng ta không ngừng
nghĩ đến chuyện đi đây đi đó, có được cái này cái khác,
rồi hành động theo những ước muốn này để theo đuổi
sự thỏa mãn.
Không
những cái tâm lăng xăng của ta luôn nảy sinh những ý tưởng
mới, mà ta còn có khuynh hướng đi theo sự dẫn đạo của
chúng, bất kỳ chúng đưa ta đến đâu. Hậu quả là ta cứ
bị cám dỗ chuyển từ cảnh ngộ này đến cảnh ngộ khác
với hi vọng được hạnh phúc, thế nhưng cuối cùng ta chỉ
có rước lấy mệt mỏi thất vọng. Giải pháp không phải
là ức chế những ý tưởng và ham muốn của mình, vì điều
này không thể, chẳng khác nào đè nén cái nắp nồi nước
sôi sục để ngăn nó đừng sôi. Phương pháp có lý duy nhất
là tập quan sát những ý nghĩ của ta, nhưng không làm theo
chúng. Điều này làm cho chúng hết năng lực cưỡng bức ta,
cũng như đem nồi nước sôi ra khỏi lò lửa. Cuối cùng sự
yên tĩnh trong sáng sẽ trở lại.
Con
người chúng ta thường rất hãnh diện về khả năng suy tư
của mình, thế nhưng có lắm sự suy nghĩ của ta đã làm cho
sự thể trở nên rắc rối một cách không thể tưởng tượng.
Thử nhìn chỉ một mảnh giấy gói sô cô la cũng đầy ắp
thông tin và quảng cáo. Ta cứ nghĩ là cái khả năng đẻ ra
thật nhiều tư tưởng từ một vật đơn giản duy nhất đó
là một dấu hiệu của trí thông minh, song phần lớn những
gì ta làm với trí thông minh ấy quả thực thiếu tự nhiên,
và hoàn toàn không cần thiết.
Dĩ
nhiên óc duy lý của chúng ta- cái tâm thô động vướng mắc
vào những giá trị xã hội- luôn tin tưởng mọi việc ta làm
đều quan trọng. Nhưng ta không nên khờ dại tin đấy là chân
lý. Có thể ta phải chấp nhận nhiều điều để sống hàng
ngày, nhưng không cần phải tin tưởng vào chúng. Và khi tâm
đang rối ren, ta cũng không nên tin chính mình.
Điều
ấy có nghĩa mọi sự ta làm và nghĩ đều sai chăng? Không,
vẫn có một vài sự thực nơi những gì đang xảy đến. Ví
dụ, dù bầu trời bản chất vốn sạch sẽ trong suốt, song
bầu khí ô nhiễm phảng phất trong đó cũng có thực. Điều
tôi muốn nói là ta không nên tin những ý nghĩ của mình tuyệt
đối đúng. Sự ô nhiễm không khí có thể có, song nó không
phải thực hữu biệt lập. Tương tự, những ý nghĩ của
ta có thể đúng phần nào, nhưng nếu ta tin chúng tuyệt đối
đúng, thì sai.
Vậy
ta nên tập duy trì ý thức sáng suốt đồng thời cắt đứt
thói quen chấp nhận hoặc bác bỏ. Thông thường, ta ưa có
phản ứng nhị nguyên. Chẳng hạn khi thấy ai cho bạn ta một
thỏi sô cô la, ta tự hỏi: "Tại sao cô ấy không cho tôi?
Bạn tôi thực may mắn, tôi không may." Tâm ta không ngừng nghiền
ngẫm đủ thứ tư tưởng nhị nguyên bá láp như thế, và
cuộc đời ta cũng phản ảnh sự rắc rối này. Một hậu
quả là những tương giao của ta với mọi người và vật
đều mong manh bất ổn. Mới đầu hôm ta khoái người bạn
mới, mà ngay hôm sau ta đã cho bạn ra rìa. Hôm nay ta thích
một món đồ, hôm sau ta đã chán không muốn nhìn đến nó.
Sự thay đổi không ngừng những ưa và chán ấy nơi ta cũng
là một dấu hiệu chứng tỏ thông thường cái gì ta nghĩ
là tuyệt đối hay, đúng, thực ra đều lầm, chỉ là những
phóng chiếu từ một tâm thức mê tín rối ren.
Thế
nhưng, cũng có lúc tính rắc rối nhị nguyên này lắng xuống,
khi ấy ta cảm được tính trong sáng tĩnh lặng của tâm. Sự
an bình nội tâm mà ta cảm được vào những lúc ấy thực
khôn tả, vượt xa những loại lạc phù du mà giác quan ta theo
đuổi. Nhưng có được hỉ lạc nội tâm này một hai lần
chưa đủ, nó không đưa đến thực chứng bền bỉ nào. Trái
lại, ta phải luyện tập liên tục để có thể cắt đứt
những khái niệm nhị nguyên mê muội và an trú không xao lãng
trong nền tảng trong sáng của tâm. Nếu ta theo một phương
pháp đã được thực nghiệm như phương pháp mật tông, thì
tính giác về bản tâm trong sáng của ta sẽ trở nên bất
khả hoại, và ta sẽ không còn bị những mê tín nhị nguyên
khống chế.
TÍNH
TRONG SÁNG,TÌNH YÊU VÀ AN LẠC
Tính
trong sáng an bình sâu xa của bản tâm ta vốn có bản chất
yêu thương; trong bầu không khí an tịnh ấy, thù ghét và tức
giận không còn chỗ đứng. Khi an trú trong trạng thái tỉnh
giác sâu xa này, thì ác ý không có cơ hội giao động tâm
ta. Bấy giờ ta không cần lập nguyện sống trong sạch hay
thề không giận dữ, vì từ thẳm sâu bản thể, tình yêu
và thiện tính khởi lên một cách tự nhiên không cần nỗ
lực.
Khi
cảm thức khoáng đạt này tăng dần, khi ta đã thấy đúng
tính phi thực, vô tự tính của vạn pháp, thì cảm giác "ta
và vạn vật nhất thể" sẽ khởi lên trong tâm. Thay vì cảm
thấy ngột ngạt, bị áp bức bởi hoàn cảnh xung quanh, do
thấy cái ta đối lập với chúng nó, ta cảm thấy dường
như có đủ chỗ cho mọi sự trên đời. Có khoảng trống
dành cho tất cả. Trong không gian trong suốt của bất nhị,
mọi sự tuôn chảy thoải mái trong một tiến trình đến và
đi, tăng trưởng và chết, sinh và diệt. Trong cái không gian
lớn rộng của thực tại vô tự tính, vạn pháp vận hành
tự do thoải mái không chướng ngại gì nhau. Không có mâu
thuẫn, không có rối ren, tách biệt. Thay vì cảm thấy xa lạ
với hoàn cảnh xung quanh, với người khác, với cả chính
mình, ta lại có kinh nghiệm đại đồng, hòa điệu.
Khi
trực nhận bản tính con người chúng ta vốn trong sáng thuần
tịnh, ta có thể cắt đứt mọi khái niệm cục bộ, hạn
cuộc, tự giam hãm mình. Trong không gian trong sáng của tâm
thức hoàn toàn buông thư, không có phân biệt giữa tự và
tha. Cái này không tốt hơn cũng không xấu hơn cái khác. Cuối
cùng, không có tốt và xấu, tịnh và bất tịnh. Toàn bộ
mục đích tu thiền hay cầu nguyện hay bất cứ pháp môn nào,
chính là để đi sâu vào bản chất con người, chạm đến
cốt lõi là nguyên lý toàn diện, bất nhị. Đạt đến kinh
nghiệm ấy thì không có chỗ cho khái niệm, cảm xúc, tình
cảm nặng nề. Chỉ là như vậy, sự an bình lớn lao, thỏa
mãn lớn lao.
SỰ
TRONG SÁNG, MÀU SẮC VÀ HỈ LẠC
Mật
tông đưa ra nhiều phương pháp để đánh động cái tầng
tâm thức rất vi tế ấy, và để hướng tâm thức đầy phúc
lạc này đến tri kiến sâu xa khoáng đạt về bất nhị. Nhưng
dù chưa phải hành giả thượng thừa, ta cũng có thể tiếp
xúc với trạng thái tâm trong sáng và nếm được vị giải
thoát của kinh nghiệm bất nhị. Một kỷ thuật dễ xài trong
những lúc rối ren là nhìn trời xanh. Đừng tập trung vào
một vật gì, chỉ nhìn vào khoảng không trung với sự tỉnh
giác cao độ, buông xả mọi ý nghĩ về bản thân. Bạn đang
ở đấy, khoảng không bao la đang ở đấy, không có gì khác
xuất hiện. Khi tâm ta tràn ngập tính trong sáng của không
gian, tự nhiên ta sẽ khởi sự ngắm nhìn sự trong sáng của
tâm ta.
Khi
quán tưởng ánh sáng xanh bao la ấy, tư tưởng khái niệm khởi
sự tan rã. Đấy là lý do trong nghệ thuật mật tông, màu
xanh tiêu biểu tính bất nhị, trạng thái không còn những
khái niệm đối đãi phàm tình, hoặc ta không còn bám víu
chúng xem như thực hữu. Nhiều người giải thoát được tư
tưởng phân biệt mỗi khi nhìn khoảng không bao la của trời
xanh hay biển cả. Xin bạn đừng cho là tôi đang nói về một
khái niệm triết học phức tạp nào, hay về một cái gì bạn
phải chấp nhận bằng đức tin. Tôi chỉ nói đến một kinh
nghiệm thực mà nhiều người đã có, và bạn cũng có thể
gặp.
Trên
phương diện mật tông, mỗi khi tâm ta và các giác quan ta mở
ra trước ngoại giới, thì nhận thức của ta luôn luôn liên
hệ đến một màu sắc đặc biệt, và mỗi màu sắc ta thấy
được, - chẳng hạn xanh, đỏ, hay lục - có liên quan trực
tiếp đến những gì xảy ra trong thế giới nội tâm ta. Đấy
là lý do trong mật tông, với các phép quán chư thần, màu
sắc và ánh sáng chiếm vai trò quan trọng.
Để
bạn có một ý niệm về điều tôi muốn nói, ta hãy xét màu
xanh. Như tôi đã nói, tính đặc biệt nội tại của ánh sáng
xanh là thoát khỏi những phóng chiếu tưởng tượng. Nếu
những phóng chiếu ấy rất mãnh liệt- chẳng hạn khi ngã
chấp quá nặng đến nỗi suy sụp tinh thần- thì ngay cả lúc
đẹp trời ta cũng không thấy được màu xanh của bầu trời.
Ta chỉ có thấy thuần một màu xám. Điều này dĩ nhiên có
xảy ra, cũng như cái kinh nghiệm thấy màu đỏ lúc tức giận
và màu lục lúc ghen tuông, chứng tỏ mối quan hệ mật thiết
giữa màu sắc và trạng thái nội tâm.
Trở
lại vấn đề, ta có thể tạm giải thoát khỏi tư duy phân
biệt khi nhìn tia nắng sớm hay nhìn mặt hồ lặng. Ta chỉ
việc ngắm nhìn đừng phân biệt gì cả thì vào một lúc,
tâm ta chỉ còn một kinh nghiệm duy nhất là tính trong sáng
của chính nó. Nếu ta lợi dụng những dịp thực nghiệm tính
trong sáng bên ngoài rồi hòa nhập nó vào tâm thức, thì đấy
là một cách trực tiếp và hữu hiệu để cắt đứt tâm
trạng rối ren và có được niềm an tĩnh.
Khi
ngắm sự trong sáng của tâm thức, ngoài cảm giác bình an,
ta còn thấy hỉ lạc. Thông thường, tâm nhị nguyên của ta
với những lải nhải rối ren không ngừng phê phán của nó
làm cho ta chán mệt. Bởi vậy ta thực nhẹ nhõm khi những
tư tưởng cảm xúc chống nhau khởi sự dịu bớt và cuối
cùng biến mất. Ta cảm được sự trong sáng an bình hỉ lạc
và vô cùng sảng khoái. Nhưng khác với những khoái lạc giác
quan thông thường, hỉ lạc này đem lại thỏa mãn thực thụ.
Trong khi khoái lạc giác quan làm ta động tâm, niềm hỉ lạc
này lại làm định lực ta thêm mãnh liệt.
LẠC
TRÚ TRONG CHÂN CẢNH
Ai
đã nỗ lực thiền định đều biết một trong những chướng
ngại lớn nhất cho sự tập trung là tư tưởng tán loạn,
chuyển hướng sự chú ý của ta. Ta cố tập trung vào đối
tượng quán, nhưng chẳng bao lâu đã thấy tâm phiêu lưu một
chỗ nào khác. Mức tập trung của tâm ta như đứa trẻ khó
mà đi sâu vào vấn đề gì. Kết quả ta thấy mình không thể
nào đạt ngộ. Do đâu có sự lang thang này của tâm thức?
Đó là vì tâm ta luôn ngập tràn một cảm giác chưa thỏa
lòng. Chúng ta mãi tìm kiếm một cái gì để thỏa mãn nỗi
niềm khát khao không tên tuổi, nhưng sự tìm kiếm ấy không
bao giờ thành công. Ngay cả khi ta tìm được một điều gì
khả lạc, thì niềm thỏa mãn nó đem lại cũng rất chóng
tàn, chẳng mấy chốc ta đã mong ngóng một cái gì khác. Tính
lăng xăng không ngừng ấy là một đặc điểm của cái tâm
nhị nguyên, nó càng rõ rệt khi ta cố ngồi xuống để tập
trung thiền định.
Niềm
hỉ lạc khởi lên khi ta ngắm nhìn sự trong sáng của tâm
thức là một liều thuốc công hiệu để chữa trị nỗi bất
an giao động ấy. Nó có khả năng đem lại một niềm thỏa
mãn sâu xa tĩnh lặng mà những lạc thú phàm tình không sánh
nổi. Khi cảm nghiệm hỉ lạc này, bạn cảm thấy thỏa mãn
đến độ tâm không còn muốn lang thang chỗ nào khác nữa,
và năng lực tập trung tăng trưởng không cần nỗ lực.
Ai
trong chúng ta cũng đều có kinh nghiệm về trạng thái tâm
quá đăm chiêu vào một điều gì đến độ quên bẵng những
việc mà thường ngày có thể quấy rầy ta, làm ta giao động.
Tương tự, nếu ngắm nhìn liên tục sự trong sáng vô hình
dạng của tâm, ta sẽ không thấy nữa những đối tượng
sắc, thanh, ... đi vào qua cửa ngõ giác quan. Khi những kinh
nghiệm giác quan và ý tưởng phân biệt thô thiển trong ta
đã lắng xuống, thì cửa ngõ dẫn đến mê tín phải đóng
lại. Ta bỗng thấy từ bên trong bừng dậy một nguồn năng
lượng đầy hạnh phúc xuất thần. Nguồn phúc lạc ấy xảy
đến một cách tự nhiên, ta không phải chế biến nó bằng
bất cứ cách nào cả. Càng kinh nghiệm trạng thái hỉ lạc
nội tâm ấy chừng nào, ta càng chìm sâu vào trong đó chừng
ấy. Điều này mở lối cho ta cảm nghiệm những tâm trạng
tự do khoáng đạt bao trùm tất cả, mà hiện tại ta không
biết đến.
LÀM
CHÍN MÙI KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ
Cái
tâm trạng trong sáng thuần tịnh mà chúng ta đã mô tả, vốn
có mặt trong tất cả chúng ta ngay bây giờ. Tuy nhiên sự kiện
ấy không có nghĩa rằng chúng ta đã giác ngộ. Khi chưa từ
bỏ tham lam giận dữ ganh tị và những triệu chứng khác của
ngã chấp sai lầm che phủ tâm ta, thì dĩ nhiên chúng ta vẫn
chưa giác ngộ. Không có chuyện một vị phật còn mê. Nhưng
bên dưới những tầng lớp thô phù ở đấy những mê vọng
đang vận hành, vẫn còn có một bản chất căn để vi tế
hơn. Và chính khía cạnh cốt tủy này của tâm thức con người
mới có tiềm năng trở thành tỉnh thức trọn vẹn và phúc
lạc vĩnh cửu.
Như
thế, vấn đề là: Làm sao ta có thể liên lạc với tiềm
năng giác ngộ sẵn có trong bản chất mình, để thực hiện
viên mãn tiềm năng ấy? Những lối hành trì của mật tông
đặc biệt cốt để tựu thành sự chuyển hóa kỳ diệu này
càng nhanh càng tốt. Nhưng, như đã nói, chúng ta không thể
nhảy bổ vào những pháp tu tập này mà không chuẩn bị. Nói
cách khác, ta cần làm cho mình thuần thục nhờ những phương
pháp chuẩn bị. Ba khía cạnh chính của đạo lộ mà chúng
ta đã bàn- từ bỏ, bồ đề tâm và chính kiến về Tính không-
là những chuẩn bị thông thường cho mật tông. Ngoài ra, cần
phải tu những pháp môn chuẩn bị như thọ pháp nhập môn
thích hợp, giữ những lời nguyện trong pháp ấy, tịnh hóa
các chướng ngại, tích lũy công đức và thọ pháp đạo sư
du già để có được nguồn cảm hứng vi diệu, như sẽ đề
cập trong chương kế tiếp.