9
- BẬC THẦY VÀ NGUỒN CẢM HỨNG
NGUỒN
CẢM HỨNG THIẾT YẾU ĐỂ TU TẬP
Trước
khi bước lên kim cương thừa, cỗ xe tối thượng, nên biết
vì sao ta phải từ bỏ lối nhìn hạn hẹp phàm tình của ta
về chính mình, và làm phát sinh tự tính giác ngộ của một
con người đã hoàn toàn tiến hóa. Ta phải thấy chính vì
nghĩ mình thấp thỏi mà ta tiếp tục bị giam giữ trong vòng
bất mãn triền miên. Chu kỳ đau khổ bất toại ấy là do
ta không biết đến bản chất thuần tịnh cốt yếu của mình.
Khi đã có ba yếu tố tiên quyết - từ bỏ, bồ đề tâm,
thấy đúng - và an trú tâm trong sáng nguyên ủy, là ta tạo
được khoảng trống cho sự chuyển hóa tự thân.
Tuy
nhiên hiểu biết như thế chưa đủ, ta phải phát sinh sức
mạnh và niềm tin để đi theo pháp môn mãnh liệt đưa đến
toàn giác. Nói cách khác ta cần một nguồn cảm hứng. Giác
ngộ không chỉ là một khả tính trên lý thuyết, mà là một
điều có thể chứng đạt và đã được chứng bởi những
con người như chúng ta. Trong truyền thống mật tông, nguồn
cảm hứng này là bậc thầy, hướng đạo tâm linh của ta.
Trọng tâm của mật tông là hợp nhất mình với nguồn cảm
hứng ấy nhờ pháp đạo sư du già.
Hiện
tại chúng ta không thể nào giải quyết những vấn đề mà
tâm chấp ngã của ta đã gây ra. Đức Phật Thích ca mâu ni
đã dạy những phương pháp để giúp ta thoát khỏi ngục tù
bản ngã và tự đồng hóa với những thực thể giác ngộ
của quá khứ, hiện tại và tương lai. Những thực thể giác
ngộ ấy đã kiện toàn một trạng thái trong đó không có
sự tách rời, phân biệt giữa cao và thấp; chỉ có sự bình
đẳng hoàn toàn của kinh nghiệm giác ngộ. Pháp hành trì đạo
sư du già chuẩn bị cho ta đi vào kinh nghiệm hợp nhất với
sự thành tựu viên mãn. Nhờ xem mình với thầy là một, ta
trừ được tâm tự bỉ như "Chư phật quá cao xa, tôi không
sao sánh được." Thay vì thế, ta tập đồng nhất bản tâm
mình với tâm bậc thầy, được xem như một vị phật toàn
giác.
Nhờ
hành trì pháp đạo sư du già mà trí tuệ hạn cuộc của ta
đi đến viên mãn. Năng lượng đại từ bi đại trí tuệ
và đại phương tiện của bậc thầy gieo hạt giống trong
tâm ta để ta cũng thể hiện được những đức tính tốt
lành vô hạn ấy. Chính chúng ta trở thành bậc thầy, và như
vậy ta cũng có thể đem lại sự giúp đỡ vô lượng và bất
tận cho tất cả chúng sinh. Nếu ta không phát sinh những đức
tính của một bậc thầy chân chính trong ta, thì làm sao ta
có thể đem lại lợi ích rốt ráo cho bất cứ người nào
? Ta lại còn không thể tự giúp mình cho thích đáng nữa.
BẬC
THẦY NỘI TÂM VÀ BẬC THẦY BÊN NGOÀI
Những
kinh điển mật tông thường nói rằng tất cả thực chứng
đều phát sinh từ bậc thầy. Điều này đúng, nhưng ta phải
hiểu rằng "thầy" có hai mức độ ý nghĩa khác nhau. Bậc
thầy khách quan tương đối là người chỉ cho ta bằng nhiều
cách, làm thế nào để khám phá sự toàn vẹn của chính mình.
Nhưng trên phương diện sâu xa hơn, bậc thầy chính là trí
tuệ, tính trong sáng căn để của tâm ta.
Cùng
một lời dạy, cùng một bậc thầy, mà phản ứng người
nghe không ai giống ai. Có người không hiểu giáo lý ngay cả
trên bình diện tri thức; có người hiểu được nhưng không
thể đi sâu vào ý nghĩa. Nhưng cũng có người vượt ngoài
danh từ khái niệm, hoàn toàn hòa nhập với bi và trí của
bậc thầy. Những phản ứng ấy đều do mỗi người đạt
một trình độ khác nhau về tiến hóa tri thức và tâm linh.
Càng giao cảm với bậc thầy nội tâm, người học càng thâm
hiểu giáo lý sâu sắc.
Trên
thực tế, vị thầy tương đối bên ngoài dù nỗ lực bao
nhiêu cũng không bảo đảm cho ta đạt thực chứng. Nhưng bậc
thầy bên trong, trí tuệ sáng suốt của chính ta, thì có thể
hoàn thành tất cả mọi sự. Bởi thế, pháp hành trì đạo
sư du già cốt yếu là một phương pháp để học cách lắng
nghe tiếng nói của bậc thầy nội tâm ấy.
Thông
thường, mặc dù ta có tiếng nói nội tâm của trí tuệ, nhưng
ta không lắng nghe nó nói. Ta lại còn không biết đến tiếng
nói ấy, vì ta luôn luôn bận nghe tiếng lải nhải của những
tâm lý nhị nguyên thô trọng trong ta. Ta đã quá quen thuộc
với tiếng nói này tới nỗi khi trí tuệ trực giác phát sinh,
ta thường chối bỏ nó. Nhờ thực hành đạo sư du già, ta
có thể đoạn tuyệt quan hệ thô thiển với thế gian để
tiếp xúc với trí tuệ bẩm sinh. Khi ấy, ta còn có thể tương
quan mật thiết sâu xa với bậc thầy bên ngoài. Nhưng khi mất
liên lạc với bậc thầy nội tâm, thì dù giáo lý bậc thầy
bên ngoài có sâu sắc đến đâu, ta cũng không bao giờ hội
nhập được.
Nhưng
nói thế không có nghĩa là vị thầy bên ngoài không quan trọng.
Trái lại, vị ấy hết sức cần thiết. Mặc dù sự thực
là giáo lý mật tông của đức Thích ca mâu ni đã hiện hữu
trên 2500 năm, song đối với ta giáo lý ấy kể như không nếu
ta không gặp được một bậc thầy mật tông đủ tư cách.
Khi ấy thì giáo lý mật tông có thực đối với ta hay không?
Dù chư tổ Naropa, Marpa và Tsongkapa có những lối giải thích
phong phú đến đâu, ta có thể biến mật tông thành chân lý
dành cho ta không, nếu ta chưa được bậc thầy nào khai thị?
Dĩ nhiên là không. Về kinh giáo cũng vậy, sự kiện đức
Phật giảng giáo lý Tứ đế rất lâu xa về trước cũng không
làm cho giáo lý ấy là thực hữu đối với ta. Giáo lý ấy
chỉ trở thành hiện thực đối với ta khi ta đã thực chứng
giáo lý, nhờ gặp được một vị thầy có thể khai thị
một cách sáng sủa cho ta hiểu. Nếu không có tấm gương sống
động và cảm hứng từ bậc thầy bên ngoài, thì trí tuệ
nội tâm ta vẫn yếu ớt, không phát triển được.
BẬC
ĐẠO SƯ VÀ GƯƠNG MẪU
Giáo
lý giác ngộ đến với chúng ta, gây được ấn tượng trên
tâm thức ta, là nhờ một hệ truyền thừa không gián đoạn
giữa thầy và đệ tử tiếp nối. Bậc thầy, một thành phần
của hệ truyền thừa ấy, làm cho giáo lý Tứ diệu đế trở
thành sinh động đối với ta nhờ nguồn cảm hứng hay sự
gia trì của ngài. Nhờ biết rõ tính tình, khả năng ta, nên
bậc thầy có thể làm cho chân lý trở nên sáng sủa đối
với ta, làm tâm ta trở thành con đường của thực chứng.
Ý nghĩa của cảm hứng hay sự gia trì chỉ có thế. Và pháp
hành trì đạo sư du già hay thờ kính thầy, chỉ là để cho
chúng ta mở lòng ra mà đón nhận nguồn cảm hứng này.
Hơn
nữa, ta cần một người dẫn đạo có kinh nghiệm để chỉ
cho ta cách áp dụng những giáo lý vào thực hành. Ta sẽ không
đi tới đâu nếu chỉ học từ trong sách, tự mò mẫm mà
hi vọng tìm ra mọi sự. Có thể những thông tin vẫn đầy
đủ trong sách, nhưng hầu hết các mật điển đều có tính
mơ hồ, chỉ rõ ý nghĩa khi được giải thích. Chỉ một điều
trang bị thông tin ấy như thế nào, cũng không dễ gì biết
được. Ta cần một người chỉ dạy, cho ta một chứng minh
thực tiễn. Người ấy là bậc thầy.
Trong
mật tông, một bậc thầy có kinh nghiệm rất cần thiết,
vì pháp tu này nặng về kỹ thuật nội tâm. Chúng ta cần
được chỉ dẫn mọi sự ăn khớp với nhau như thế nào trước
khi ta thực sự thân chứng điều ấy. Nếu không có sự hướng
dẫn thích đáng thì ta sẽ rối ren không khác gì một người
thay vì được một chiếc xe hơi lại chỉ nhận được một
đống bộ phận rời rạc và một quyển sách dẫn. Nếu không
phải là một thợ máy chuyên môn, thì người ấy sẽ hoàn
toàn mù tịt.
Lý
do ngày nay tôn giáo đã suy đồi tận gốc ở phương đông
cũng như phương tây chính là vì hiếm có được những tấm
gương sáng về tâm linh. Nếu chưa bao giờ gặp được những
bậc thầy chứng ngộ thì người ta không cách nào biết đến
những khả năng vô hạn của tâm thức mình. Đọc sách nói
về hành vi và sự nghiệp những bậc thầy quá khứ chưa đủ
gợi nguồn cảm hứng cho ta. Kỳ thực, lắm lúc những tiểu
sử ấy càng làm ta cảm thấy mình cách xa trời vực. Ta nghĩ
"Phật và Chúa đã sống mấy ngàn năm trước, sự trong sáng
của các ngài thuộc về một thời đại khác. Một người
như tôi sống vào thế kỷ 20 suy đồi này thực vô phương
đạt đến bất cứ mức độ thanh tịnh nào giống như thế."
Hoặc ta có thể hoàn toàn phủ nhận những chuyện kể về
các bậc thầy quá khứ, xem như chuyện thần tiên chỉ thích
hợp với trẻ nhỏ dễ tin. Cách duy nhất ta có thể dập tắt
những cảm giác hoài nghi, vô năng và châm biếm ấy là, phải
tiếp xúc với một người đã khơi dậy được tiềm năng
cao thượng nhất nơi chính họ. Chỉ khi đó ta mới có được
một tấm gương về sự thanh tịnh và tiến hóa tâm linh mà
chúng ta có thể trông thấy tận mắt, để nghĩ lại chính
mình.
Bởi
thế bậc thầy bên ngoài thật vô cùng quan trọng. Ta cần
một điển hình về một người cũng là con người như chúng
ta, nhưng đã phát triển vượt ngoài giới hạn những gì ta
xem là có thể. Khi ta thấy một người đã vượt ngoài ngã
chấp, một người không còn những bận tâm nhỏ nhen về cuộc
đời này mặc dù vẫn sống trên đời, một người nói và
làm bằng trí trực giác và thực sự hiến mình cho sự an
lạc của tất cả, thì khi ấy ta có thể tin chắc rằng ta
cũng có thể đạt đến những thực chứng ấy. Nếu không,
khi ta chỉ toàn thấy những điển hình của tham lam thù hận,
thì tầm nhìn của ta về ta là gì và có thể trở thành gì,
sẽ bị hạn cuộc một cách thê thảm.
Một
tấm gương sáng là điều quan trọng, không riêng chỉ đối
với người đang theo một con đường tu tập. Nhu yếu khẩn
thiết nhất trong thế giới ngày nay là hòa bình và hòa điệu,
tất cả chúng ta đều cảm thấy nhu cầu này, dù có tôn giáo
hay không. Nhưng hòa bình không thể được mang lại chỉ nhờ
danh từ, và đương nhiên không thể nhờ sức mạnh mà có
hòa bình được. Ngược lại ta cần tấm gương của những
người mà trọng tâm của đời sống họ là hòa bình, hòa
hợp. Chỉ có tấm gương của những người sống một cuộc
đời vừa hùng lực vừa trong sáng như vậy, mới có thể
thuyết phục được cái thế gian đang vỡ mộng, và chứng
minh cho họ thấy rằng hòa bình nội tâm và ngoại giới là
điều có thể thực hiện ngay bây giờ và tại đây.
TRUYỀN
ĐẠT BẰNG SỰ GIA TRÌ
Muốn
tiến trên con đường mật tông để đạt đến sự viên mãn
cho tự thân, cần có sự gặp gỡ giữa bậc thầy bên trong
và bậc thầy bên ngoài. Khả năng giác ngộ của chúng ta phải
được thêm sức, phải được cảm hứng nhờ tiếp xúc với
một người nào đã phát triển tiềm năng ấy đến chỗ viên
mãn. Mỗi pháp tu Mật tông tập trung vào một vị trời thiền
biểu trưng cho một khía cạnh đặc biệt của cái tâm toàn
giác. Và cũng như cái tâm chấp ngã phàm tình đã tạo ra hoàn
cảnh giới hạn của riêng nó, tâm hoàn toàn giác ngộ của
một vị thần sẽ tạo ra hoàn cảnh đã được chuyển hóa
trong đó tâm ấy vận hành để lợi lạc cho người khác.
Sự phối hợp giữa vị thần và hoàn cảnh đã được chuyển
hóa ấy, gọi là một Mandala, và nếu muốn thể hiện một
vị thần nào đó trong tâm mình, trước hết ta phải được
giới thiệu vào Mandala của vị ấy nhờ một bậc thầy mật
tông đủ tư cách. Chỉ khi ấy những tu tập về chuyển hóa
bản thân mới có thể thành đạt.
Mỗi
vị thần mật tông có một hệ truyền thừa không gián đoạn
gồm những hành giả thuộc hệ phái ấy. Một hệ phái chân
thực đáng tin cậy thì phải bắt nguồn từ kinh nghiệm giác
ngộ của vị thầy chân chính. Hơn nữa kinh nghiệm này cần
phải được truyền thừa đến chúng ta qua một chuỗi không
gián đoạn gồm những hành giả uyên thâm, mỗi người đều
đã thực chứng nhờ viên mãn những pháp hành trì về vị
thần liên hệ. Sức mạnh của mật tông - tantra có nghĩa đen
là sự tương tục - nằm trong sự duy trì và truyền đạt
kinh nghiệm giác ngộ qua một hệ phái hành giả liên tục
không gián đoạn. Bởi thế điều cần thiết là phải thiết
lập được liên lạc với hệ truyền thừa sinh động ấy
nếu muốn tự chuyển hóa mình. Cách thức để làm cuộc tiếp
xúc ấy là qua một lễ nhập môn (hay quán đảnh, hay gia trì.)
Thụ
pháp quán đảnh hay gia trì là cốt để đánh thức một loại
năng lượng đặc biệt trong tâm ta. Nhờ thiết lập một tương
quan mật thiết với bậc thầy, sự tiếp xúc ấy đánh động
cái tiềm năng trong tâm ta để đi con đường mật tông đến
chỗ viên mãn. Nhập môn là một hành vi thiền định mà thầy
trò cùng san sẻ; chứ không phải chuyện một ông thầy cổ
quái nào từ Tây tạng sang làm pháp thuật để ban cho bạn
những quyền năng ghê gớm như hàng phục rắn và bò cạp
! Đừng nên hiểu nghĩa gia trì theo kiểu ấy. Chúng ta cũng
không bận tâm đến những khía cạnh hình thức của cuộc
lễ như cầu nguyện đọc tụng, rung chuông v.v...Điều cần
hiểu là sự gia trì có thâm ý lớn lao.
Câu
chuyện kỳ diệu về hành giả tu chứng rất cao ở Ấn vào
thế kỷ thứ 10 tên Tilopa và môn đệ Naropa của ông chứng
minh được bản chất cốt yếu của sự gia trì trong mật
tông. Đã nhiều năm, Naropa mong muốn thọ pháp gia trì từ
bậc thầy Tilopa, và thường lặp lại lời thỉnh cầu. Vốn
là một bậc thầy hành tung quái dị khó dò, Tilopa không bao
giờ đáp ứng lời cầu xin ấy. Lúc thì ông giả vờ không
nghe, lúc lại đánh trống lấp bằng cách nói những câu hoàn
toàn vô nghĩa. Nhưng Naropa vẫn kiên trì.
Một
ngày kia sau 12 năm chung sống- trong thời gian đó Tilopa đã
đặt môn đệ vào vô số tình huống thử thách đầy hiểm
nguy- khi hai thầy trò đang đi bộ qua một sa mạc nóng cháy,
Tilopa đột ngột tuyên bố: "Bây giờ đúng là lúc nên làm
lễ nhập môn. Hãy đem cho ta một mandala!" Trong câu này thì
Mandala có nghĩa là một phẩm vật hiến dâng tượng trưng
cho toàn thể vũ trụ, và theo truyền thống, khi đệ tử dâng
thầy một mandala để xin được nhập môn, mandala ấy phải
gồm những vật quý giá và bày biện đẹp đẽ. Nhưng giữa
sa mạc mênh mông chẳng có thứ gì ngoài đất cát, Naropa bèn
tiểu tiện xuống đấy để có thể nắn một hình mandala
thô sơ. Tilopa nhận món lễ vật quái dị ấy và ban phép "gia
trì" bằng cách ném nó vào đầu đệ tử cho vỡ nát! Tâm
của Naropa lúc ấy bị cuốn hút bởi lối gia trì bất thường
kia một cách sâu xa đến độ ông ta nhập ngay vào một định
chứng đầy phúc lạc. Rất lâu, khi cuối cùng ông xuất khỏi
định chứng sâu xa ấy, thầy ông đã biến mất. Nhưng Naropa
đã nhận được cái mà ông đã bao năm chờ đợi, đó là
sự trao truyền tuệ giác thực thụ.
Câu
chuyện này kể ra cốt để nhấn mạnh rằng một phép gia
trì không phải đơn giản chỉ là nghi lễ. Hoàn toàn không
phải thế. Đấy là một loại truyền thông đặt biệt giữa
thầy và môn đệ; và bởi thế nó tùy thuộc rất nhiều vào
sự mở lòng ra của môn đệ và trình độ tu tập của ông
ta cũng như vào sự thực chứng của bậc thầy. Mối truyền
thông mật thiết ấy khởi động bản chất sâu xa của chúng
ta đến độ ta được thêm năng lực để thực hành không
gián đoạn và viên mãn tất cả những thực chứng trên đường
tu tập.
Nhiều
người phương đông cũng như phương tây có những ý tưởng
nhầm lẫn về lễ nhập môn hay gia trì của mật tông. Họ
tưởng chỉ có việc tham gia cuộc lễ, bậc thầy sẽ làm
tất cả mọi sự. "Ngài sẽ cho một điều gì đặc biệt,
và tôi sẽ nhận được, miễn tôi có mặt." Nhưng thế là
quá thụ động. Sự gia trì đích thực chỉ xảy đến khi
có sự tham dự tích cực của cả thầy lẫn đệ tử. Đấy
là khi hai tâm hồn cùng san sẻ một kinh nghiệm. Chỉ khi điều
này xảy đến ta mới có thể nói pháp gia trì đã thực sự
diễn ra.
THỌ
PHÁP GIA TRÌ
Thọ
pháp cần nhiều điều hơn là chỉ có tham dự bằng thân xác,
như đi đến một nơi nào đó vào một lúc nào đó để nhận
một cái gì đó mà một người nào đó sẽ trao vào tay bạn.
Thọ pháp gia trì còn là sự tham gia trực tiếp bằng cả tâm
hồn. Chúng ta cần có khả năng buông xả để cho kinh nghiệm
tự xảy đến, hơn là có thái độ căng thẳng, bị ám ảnh.
Bởi vì sự quán đảnh - bao gồm tất cả những pháp thiền
quán trong đó - là một phương pháp để dẫn ta đi vào một
kinh nghiệm về sự toàn vẹn, và sự toàn vẹn này là một
liều thuốc chữa trị cái tâm nhị nguyên của chúng ta đầy
thói cục bộ bất mãn và cuồng tín. Qua kinh nghiệm nội tâm
về pháp gia trì chân chính, mọi chướng ngại cho việc thực
chứng cái Toàn vẹn đều bị loại trừ, không phải nhờ
ta nghe được hay học thêm được điều gì, mà nhờ thực
chứng bằng bản thân.
Thế
thì tại sao chúng ta gọi đây là một phép nhập môn hay quán
đảnh? Bởi vì đấy là khởi đầu của kinh nghiệm thiền,
khởi sự tác động lên việc tập trung thiền quán của ta,
và thâm nhập vào thực tại của mọi sự. Qua năng lực của
một pháp gia trì như thế, ta xử dụng được trí tuệ, phương
tiện và từ bi mà ta đã có. Đây là sự bừng dậy của những
gì có sẵn.
Điều
quan trọng là nhận ra mình có sẵn những đức tính trí tuệ,
phương tiện thiện xảo và từ bi. Thực sai lầm khi nghĩ có
người nào thiếu những đức tính ấy, nghĩ nhờ pháp gia
trì họ mới nhận được những đức tính họ không sẵn
có trong tận cùng bản thể. Giáo lý Phật nói chung và Mật
tông nói riêng, thường nhấn mạnh rằng có một tài nguyên
vô hạn về tuệ giác sâu xa và từ bi rộng lớn đã nằm
sẵn trong mỗi người chúng ta. Điều cần thiết là bây giờ
chúng ta phải động đến tài nguyên ấy, "cho chạy" cái năng
lượng giác ngộ tiềm tàng ấy.
Để
sự gia trì có kết quả, cả thầy lẫn trò đều phải tham
dự trong việc tạo nên không khí thích hợp. Vị thầy có
bổn phận hướng dẫn lễ gia trì sao cho nó thực thụ đánh
động tâm đệ tử, và phải đủ thiện xảo và mềm dẻo
để uốn nắn sự gia trì cho hợp khả năng đệ tử. Những
đệ tử thì phải biết làm phát sinh một thái độ khoáng
đạt, và để tâm mình trong trạng thái sẵn sàng đón nhận.
Nếu quá bám vào sự vật giác quan, hoặc vướng sâu ngã ái,
hoặc chấp chặt tướng ngoài của sự vật, xem chúng là thực
hữu, thì sẽ không có chỗ cho thực chứng len vào tâm thức.
Nhưng khi đã luyện tập đầy đủ Bồ đề tâm và chính kiến
về tính không, thì đệ tử sẽ dễ dàng cởi bỏ những thành
kiến để mở lòng đón nhận sự trao truyền tuệ giác.
Khi
cả thầy lẫn trò đều đủ tư cách thích hợp, thì sự gia
trì thấm nhuần tuệ lạc lớn lao. Thay vì tạo điều kiện
để đi vào mật tông, sự gia trì trong trường hợp ấy đã
giúp đệ tử ngộ đạo, thực chứng kinh nghiệm hỉ lạc
siêu việt. Quả thế trong quá khứ, đã có nhiều môn đệ
đạt giác ngộ ngay trong lúc thọ phép nhập môn.
Và
điều quan trọng cần nhớ là, một hành giả nghiêm túc không
chỉ thọ quán đảnh một lần duy nhất. Người ta có thông
lệ thọ pháp quán đảnh để đi vào một pháp hành trì mật
tông đặc biệt, mỗi lần như thế họ lại có thể nhận
được những mức độ kinh nghiệm thực chứng càng ngày càng
sâu. Bởi thế ta không nên thất vọng nếu lúc đầu thiền
quán của ta chỉ dừng lại ở mức độ tưởng tượng thay
vì kinh nghiệm thực thụ. Điều này cũng đã khá tốt, đừng
tưởng nó không ăn thua gì. Chỉ tưởng tượng mà thôi cũng
gieo được những hạt giống vào trong ruộng thức bao la của
ta, và cuối cùng những hạt giống ấy sẽ phát triển thành
kinh nghiệm thực thụ. Đây là một tiến trình rất tự nhiên.
Bởi thế bạn phải luôn luôn cỡi mở buông thư, và hài lòng
với bất cứ gì xảy đến.
PHÁP
HÀNH ĐẠO SƯ DU GIÀ
Khi
đã thọ pháp nhập môn để hành trì một pháp quán đặc
biệt về vị thần nào đó, ta có thể khởi tu quán hàng ngày
về "sadhana" của vị thần ấy. Một trong những pháp thiền
đầu tiên của "sadhana" (những chỉ dẫn từng bước để
thực hành pháp thiền quán liên hệ đến một vị thần mật
tông) là Đạo sư Du già, vắn tắt như sau. Quán tưởng trước
mặt hoặc trên đỉnh đầu mình, vị thần thiền chính yếu
của mật điển mà ta đang thực hành, hình ảnh vị ấy được
vây quanh bởi những bậc thầy trong hệ phái. Những bậc thầy
hệ phái này là những người đã truyền thừa giáo lý và
thực chứng pháp quán ta hành trì, gồm từ sơ tổ cho đến
vị thầy hiện tại, vị thầy mà ta đã thọ pháp nhập môn.
Sau
đó ta khẩn cầu những thành phần trong hội chúng ấy ban
cho ta niềm cảm hứng và ân phước. Đáp ứng lời thỉnh
cầu này, những vị ấy tan hòa thành ánh sáng nhập vào trong
ta xuyên qua đỉnh đầu đi xuống huyệt đạo trung ương (xem
chương 10) và tan vào trong tim ta. Khi điều này xảy đến thì
mọi danh tướng nhị nguyên phàm tình đều tan vào khoảng
không trong sáng của tính không. Khi ấy ta thiền quán cái cảm
giác rằng bậc thầy, vị thần, và bản tâm ta, cả ba đã
trở thành một thực thể bất khả phân.
Tinh
túy bậc thầy là trí tuệ, trạng thái tâm hoàn toàn trong
sáng trong đó lạc và tuệ -sự thực chứng Tính Không- chỉ
là một. Bởi thế khi quán tưởng vị thầy tan vào trong tim
mình, ta phải có cảm giác một dấu ấn bất khả hoại của
trí tuệ ấy đang ấn sâu vào đáy tim ta. Từ giây phút ấy
về sau, ta phải thường xuyên nhớ lại kinh nghiệm nội tâm
này về đại lạc và trí bất nhị, dù có gặp hoàn cảnh
nào đi nữa. Nếu chính niệm về kinh nghiệm nội tâm này
suy giảm, ta sẽ dễ dàng rơi vào ảnh hưởng của kinh nghiệm
giác quan thô động, và hỉ lạc nội tâm về trí bất nhị
cuối cùng sẽ hoàn toàn tan biến.
Khi
quán tưởng bậc thầy mình như vị thần thiền, ta nên đặc
biệt nghĩ đến lòng tử tế và sự quan tâm của thầy đối
với ta. Nói đơn giản, mặc dù vị thầy như trời thần ấy
không phải là cha, mẹ, hay người thân của tôi, vị ấy đã
lo cho tôi không khác gì những người thân ấy. Dường như
thầy chỉ hiện hữu vì tôi, cho tôi có thể phát triển một
thân tâm lành mạnh thù thắng. Đấy là cách ta nên nghĩ về
vị thầy như trời thần khi thiền quán.
Nhờ
quán tưởng theo cách trên, nghĩ đến sự tử tế của thầy
đối với ta, mà một giây liên hệ mãnh liệt được thiết
lập. Thay vì quán một hình ảnh mơ hồ không có tính người,
ta quán bản chất vị thần không khác gì bậc thầy từ bi
vô lượng của ta. Bằng cách ấy một cảm giác thân thiết
vô cùng sẽ phát sinh. Do cảm giác mật thiết này, và cũng
vì vị thần được quán thành một thực thể ánh sáng tuyệt
đẹp, mà cảm hứng có thể đến với bạn rất nhanh. Sự
quán tưởng của bạn như nam châm cuốn hút cảm hứng và
phúc lạc, nhờ vậy bạn có thể khai triển những thực chứng.
Chung quy đây là toàn thể mục đích của pháp hành trì đạo
sư du già. Mục đích của sự nhìn thấy bậc thầy dưới
hình dạng cao siêu thù thắng hoàn toàn không cốt để làm
lợi cho bậc thầy- một bậc thầy chân chính không cần gì
đến sự tôn vinh ấy- mà chỉ cốt để thúc nhanh sự tiến
bộ tâm linh của ta.
LIÊN
TỤC NHẬN RA TÍNH NHẤT THỂ
Thấy
bậc thầy, vị thần và bản tâm ta là một thực thể duy
nhất, không phải là điều chỉ cần làm trong thời thiền
quán. Ta phải thực hành đạo sư du già- tự đồng hóa với
Phật tính cốt tủy của bậc thầy- trong mọi lúc của đời
ta. Thay vì nghĩ đến cái tâm bất mãn khốn khổ của mình,
ta nên nhận chân Nhất thể giữa bản tâm ta với bậc thầy
bên trong. Khi tâm chấp ngã khởi lên, thì thay vì thêm nhiên
liệu cho nó bằng cách lao mình vào tâm trạng mê muội, ta
nên cố nhận ra tâm ấy có bản chất Thầy-Phật, đó là
pháp thân (xem chương 10). Khi ấy năng lượng của tâm mê được
xử dụng để chuyển thành trí tuệ. Đây là giáo lý nổi
bật của mật tông.
Nhưng
muốn thành tựu sự chuyển hóa sâu xa này, ta phải liên tục
thực hành đạo sư du già. Phải thân thiết với lối nhìn
bậc thầy, vị thần và bản tâm mình cốt lõi chỉ là một.
Tác phẩm Cúng dường đạo sư nói: "Ngài là bậc thầy, là
thần nam, thần nữ, thần hộ pháp." Để giải thích điều
này ta có thể mượn hình ảnh Kitô giáo, một truyền thống
tâm linh dựa trên hiện hữu của một thượng đế duy nhất,
một thực tại tuyệt đối. Mặc dù thượng đế thể hiện
dưới ba phương diện Cha, con và thánh thần, tinh túy thượng
đế chỉ là một, đó là nguyên lý Toàn thể. Tương tự,
mật điển nói đến nhiều vị thần khác nhau, nam thần, nữ
thần, thần hộ pháp..., nhưng có lúc tất cả những thực
thể này phải được xem như một tổng thể duy nhất. Khi
đã thực chứng toàn thể tiềm năng nội tâm, thì chính bạn
trở thành một vị Phật. Đấy là mục đích tối hậu của
đạo sư du già.
ĐỘNG
ĐẾN TIM NHỜ CẢM HỨNG
Vấn
đề của chúng ta là thông thường, sự hiểu biết tôn giáo
chỉ nằm trong đầu óc, không phải trong tim ta. Chúng ta hãnh
diện đã nghiên cứu, nắm vững triết lý và thực hành của
nhiều tôn giáo hoàn cầu, nhưng thâm tâm ta vẫn mê muội,
không được điều phục. Những người Tây tạng thường
nói: "Bơ là để thuộc da, nhưng cái bình da đựng bơ vẫn
cứng trơ không nao núng." Tri kiến tâm linh là cốt để giảm
bớt thành kiến hạn cuộc, khắc phục mê muội. Thế nhưng
người ta có thể hiểu biết nhiều về tôn giáo mà vẫn không
thay đổi chút nào nhờ hiểu biết ấy. Nghiên cứu vấn đề
tâm linh bằng tri thức thì trái tim ta vẫn bất động, không
ảnh hưởng gì.
Chúng
ta thiếu một nguồn cảm hứng hay sự gia trì cho tâm ta. Ta
cần được thuyết phục bằng kinh nghiệm sống động về
một thực tại tâm linh mãnh liệt cùng hiệu lực của nó,
trong ta và ngoài ta. Nếu không, con mắt tuệ của ta vẫn khép
lại, không thể thấy được thực tại sâu xa dù có nghiên
cứu bao nhiêu sách vở.
Như
chúng ta đã nói, chính bậc thầy là người cung cấp nguồn
cảm hứng cần thiết ấy, cung cấp mối liên lạc giữa tâm
ta và kinh nghiệm tâm linh thực thụ. Trong lối hành xử của
bậc thầy, ta có thể trông thấy tận mắt những hiệu quả
tốt lành của sự luyện tâm theo từ bi và trí tuệ. Nhờ
nghĩ đến cuộc đời tận tụy của thầy ta đối với mọi
người, không chút ngã ái, cũng như nghĩ đến nhiều đức
tính khác nơi thầy, rồi nhờ tan hòa hệ phái của thầy vào
tim ta, mà ta có thể thấm nhuần những đức tính giác ngộ.
Nhiều thế hệ bậc thầy đã kinh nghiệm rằng thực hành
những pháp quán ấy, đồng thời buông bỏ ngã chấp, sẽ
có hiệu quả sâu xa, chuyển hóa được tri thức khô khan thành
tuệ giác.
Khi
thực hành đạo sư du già, cần phải kiên nhẫn tiến hành
tuần tự, không nên miễn cưỡng làm cho xong việc. Nhất là
việc xem thầy như vị thần trong thiền quán. Trong thực tế
ta không thể đồng nhất như vậy, nếu chưa phát triển được
phần nào những đức tính của vị thần trong chính tâm ta.
Bởi thế không nên gắng gượng. Nếu sự tu tập những kỷ
thuật mật tông sâu xa này mà phải thoái hóa thành một lễ
tục bắt buộc, thì thật là điều quá tệ, không khác nào
chỉ đi nhà thờ vì tục lệ xã hội bắt buộc. Để tránh
điều này, ta phải làm cho việc tu tập phát triển từ từ.
Cuối cùng khi đã quen thuộc với bản chất của tâm, với
những đức tính của bậc thầy, với hiệu nghiệm của việc
quán tưởng vị thần bằng ánh sáng, ta sẽ bắt đầu cảm
thụ được sự thâm thúy của Đạo sư du già.
BỎ
THÓI QUEN CHẤP TƯỚNG
Những
pháp hành mật tông chẳng những giúp ta hết lệ thuộc khoái
lạc giác quan, mà còn khỏi thói chấp tướng và các khái
niệm phàm tình. Từ vô thủy đến nay, ta đã bị "tẩy não"
để tin cái thế giới thuộc cảm quan là tuyệt đối có thực.
Bây giờ tu mật tông là ta cố phá hủy thói quen thâm căn
cố đế này. Việc ấy không phải dễ; trí chân không còn
ấu trĩ nơi ta rất dễ dàng bị sự áp đảo của cái biết
thô thiển thuộc giác quan. Cũng như nhà khoa học đã biết
cái bàn chỉ là một tập hợp tạm thời của những năng
lượng không ngừng chuyển động, nhưng trên thực tế ông
lại thấy nó là vật thể tĩnh và đặc. Bởi thế ta cần
thường xuyên thực hành quán chiếu để đánh tan quan niệm
sai lầm về tính thực hữu của các pháp, tăng cường chính
kiến về bất nhị.
Một
khó khăn lớn là ta dễ chấp nhận thực tại thuộc kinh nghiệm
giác quan hơn là thực tại do quán tưởng. Ta thường nghĩ:
"Tôi có thể quán thân mình thành ánh sáng, song đây chỉ là
một trò chơi của tâm tôi. Nó không có thực, trong khi thân
vật lý của tôi thì có thực; tôi có thể sờ chạm nó, thấy
nó trong gương."
Ta
cần tập coi những kinh nghiệm do tưởng tượng không khác
gì những kinh nghiệm giác quan. Cả hai chỉ hiện hữu với
cái tâm đang kinh nghiệm chúng, không có thực tại tối hậu,
tự tồn. Nhưng chỗ khác nhau là : kinh nghiệm giác quan phàm
tình tiếp tục trói buộc ta vào chu kỳ khổ đau bất mãn,
còn kinh nghiệm do thiền quán đưa chúng ta đi sâu vào tầng
vi tế của bản thể. Với tâm rất vi tế bằng ánh sáng trong
suốt này, ta có thể phá vỡ ngục tù khái niệm phàm tình,
và kinh nghiệm được hạnh phúc bất tận của toàn giác.
Nếu
chưa từng nếm vị phúc lạc của bản tâm và chưa từng thấy
tận mắt làm thế nào để đạt đến trạng thái tỉnh giác
và khoáng đạt sâu xa vượt ngoài cảm nghĩ, thì dĩ nhiên
bạn rất hoài nghi. Có lẽ bạn nghĩ rằng niềm vui bạn có
khi được ăn kem chẳng hạn là có thực, còn bất cứ hỷ
lạc nào bạn có thể cảm nghiệm trong thiền định chỉ là
ảo tưởng. Cách duy nhất để vượt qua hoài nghi này là tập
quen thuộc với thực tại nội tâm của mình cho đến khi nó
thành một thực tại không thể chối cãi. Và nhờ thực hành
đạo sư du già và những phương pháp chuyển hóa kế tiếp,
ta có thể quen thuộc với tính phúc lạc sâu xa của tâm ta.