10
- DẪN NHẬP TỐI THƯỢNG DU GIÀ
THÂN
KIM CUƠNG VÀ TÂM THƯỜNG TRỤ
Theo
pháp du già cao nhất của mật tông, thì thân tâm chúng ta không
chỉ hiện hữu trên bình diện thô như ta thường quen thuộc,
mà còn trên những tầng mức vi tế mà phần đông chúng ta
hoàn toàn không biết đến. Cái thân vật lý thông thường
của chúng ta, làm bằng những yếu tố vật chất, thì phải
chịu những đau khổ không thể tránh về bệnh, già và chết:
nội một chuyện có cái thân này đã trói buộc ta vào những
nỗi khổ không ngừng tái diễn của kiếp tồn sinh. Nhưng
ở trong biên giới hay bầu khí của cái thân này, có một
thân khác vô cùng vi tế hơn, gọi là thân kim cương, "kim cương"
bao hàm ý nghĩa bất khả hoại. Cũng như hệ thần kinh lan
khắp cái thân vật lý thô sơ khả hoại, thân kim cương vi
tế cũng đầy những kinh mạch hay huyệt đạo (nadi) qua đó
những luồng khí lực (prana) và giọt tinh chất (bindu) tuôn
chảy. Đây là suối nguồn phúc lạc vô cùng quan trọng trong
pháp hành trì cao cấp của mật tông.
Cũng
như chân tâm thanh tịnh và đầy phúc lạc, thân tâm lý vi
tế bây giờ cũng đang hiện diện trong ta, và công việc của
hành giả mật tông là khám phá để xử dụng nó. Một khi
nhờ thiền quán ta bắt liên lạc được với cái thân tâm
lý bằng ánh sáng này, thì thân vật lý thô trọng của ta
không còn là một vấn đề đối với ta nữa, vì ta đã siêu
việt nó. Những giới hạn vật lý chỉ là một triệu chứng
khác của sự chấp thủ bản ngã. Khi đã hòa nhập với bản
tính thanh tịnh của mình, thì mọi sự hạn chế ấy sẽ được
vượt qua. Đến lúc ấy, sự chứng đắc cái thân sáng chói
của vị thần không còn là một mục tiêu phải được quán
tưởng, mà trở thành một thực tại.
Ở
đây không phải chỗ để bàn về kim cương thân với những
huyệt đạo, tinh chất và khí của nó, song ít nhất nên nói
qua về huỵệt đạo trung ương vì nó quan trọng đặc biệt.
Luồng huyệt đạo này chạy một đường thẳng tắp từ đỉnh
đầu xuống đến một vùng ở trước đáy cột sống của
ta, dọc theo đó có bảy huyệt gọi là luân xa hay bánh xe năng
lượng. Mỗi luân xa có một nhiệm vụ khác nhau trong pháp
hành trì mật tông. Tùy loại mật điển ta đang tu, tùy giai
đoạn tu tập, hoặc tùy đối tượng quán, mà ta xoay sự tập
trung chú ý vào một luân xa đặc biệt. Vấn đề không phải
là đoán mò nên chọn luân xa nào, những điều này được
nói chi tiết trong các bản kinh luận mật tông, sẽ được
vị thầy giải thích cho hành giả nào đủ tiêu chuẩn xứng
đáng.
Nhưng
luân xa quan trọng nhất là luân xa nằm ở tim, vì đấy là
chỗ trú của cái tâm rất vi tế của ta, kho tàng vô giá đối
với tất cả hành giả mật tông. Từ khi nhập thai ta đã
mang theo cái tâm rất vi tế này, nói đúng ra, từ vô thủy
đời kiếp, dòng tương tục tâm cùng với luồng khí lực
nâng đỡ nó vẫn theo ta không rời. Vì căn bản thức ở trung
ương trái tim ta suốt đời này, nên cái tâm rất vi tế ấy
đôi khi còn được gọi là tâm thường trú. Mặc dù tâm này
đã tuôn chảy liên tục từ đời này sang đời khác, song
nó hiếm khi có cơ hội để vận hành. Sở dĩ nó không khởi
động được, không thi hành nhiệm vụ quý báu nhất của
nó được- nghĩa là thâm nhập bản chất phổ quát (hay tính
bất nhị- DG) của thực tại- là vì quá nhiều tâm trạng
thô động của ta không ngừng sinh khởi. Những tâm thô này
giống như những khách du lịch, những kẻ tham quan liên tục
đến và đi, hoàn toàn tràn ngập, khỏa lấp cái tâm thường
trú tĩnh lặng.
Hoạt
động của tất cả loại tâm thô cũng như tế, tùy thuộc
vào những luồng khí lực nâng đỡ chúng, và tùy thuộc những
luồng khí này đang du hành ở đâu. Khi chúng chảy qua bất
cứ kinh mạch nào trong hàng ngàn kinh mạch, ngoại trừ huyệt
đạo trung ương, thì những luồng khí ấy khởi động những
tâm thô như du khách, luôn luôn làm phát sinh mê tín và rối
ren, những kinh nghiệm trong đời sống phàm tình. Nhưng khi
những khí lực này đi vào, an trú và tan vào trong huyệt đạo
trung ương - như điều xảy ra vào lúc chết chẳng hạn - thì
những tâm thô động kia lắng xuống, và cái tâm rất vi tế
của ánh sáng thuần tịnh sẽ khởi lên.
Khi
những khí lực tan vào huyệt đạo trung ương, thì cái bối
cảnh trong đó những tâm thô của ta thường vận hành tự
động biến mất, sở du lịch đóng cửa và những ý tưởng
mê tín của ta không còn có thể tiếp tục qua lại. Trong cái
yên tĩnh theo sau đó, bản tâm nguyên ủy của ta - tâm thường
trú - bừng dậy.
Toàn
thể tiến trình này tự động xảy ra trong lúc chết, nhưng
rất ít người được huấn luyện để tận dụng cái tâm
vi tế rất trong sáng này khởi lên vào thời điểm khẩn trương
ấy. Sự thực là, ngay cả chuyện nhận ra được nó cũng
khó có người. Nhưng những nam nữ hành giả mật tông thì
tu luyện không những để nhận ra được tâm thức vi tế
đầy phúc lạc này vào lúc chết, mà còn dùng thiền quán
để có thể đánh thức cái tâm trong sáng ấy ngay trong khi
sống, và nhờ vậy hoàn toàn làm chủ được nó. Nhờ đào
luyện một định lực sâu xa, tập trung vào thân kim cương
nói chung và huyệt đạo trung ương nói riêng, họ có thể
cắt đứt những tầng lớp thô của sự vận hành tâm thức
và tiếp xúc thẳng với bản tâm thanh tịnh. Họ có thể xử
dụng cái tâm tập trung mãnh liệt này để thiền quán về
tính không (hay vô tự tính) của mọi sự, thâm nhập bản
chất tối hậu của thực tại và nhờ thế tự giải thoát
mình ra khỏi mọi mê lầm vọng tưởng. Ngay lúc hoàn toàn
thể nhập vào khoảng không trong sáng của bất nhị, họ cảm
nghiệm được một sự bùng vỡ của năng lượng phúc lạc
tràn trề khôn tả. Sự hợp nhất giữa kinh nghiệm đại lạc
và chân không (mật tông gọi là mahamudra, đại ấn, hay biểu
tượng vĩ đại) là con đường nhanh nhất đưa đến toàn
giác.
CHUYỂN
LỐI NHÌN CỦA CHÚNG TA VỀ CÁI CHẾT
Sự
tan hòa luồng khí lực của kim cương thân vào huyệt đạo
trung ương là việc thiết cốt đối với hành giả mật tông
thượng thừa. Vì quá trình tan hòa này xảy ra một cách tự
nhiên vào lúc chết, nên ta cần phải làm quen càng nhiều càng
tốt với tiến trình chết ngay bây giờ.
Thế
mà phần đông chúng ta lại vô cùng miễn cưỡng khi quán xét
cái chết, ta lại còn không muốn nghĩ đến nó. Ta kinh hoảng,
và cho là toàn thể đề tài ấy thực khó ưa kinh khủng. Nhưng
điều cốt tủy đối với ta là phải biết tâm mình vận
hành thế nào không những trong ngày mà cả trong lúc ta ngủ
và vào lúc chết. Muốn thế ta cần phải tự giáo dục mình
về những vấn đề mà bấy nay ta vẫn thường né tránh. Nếu
xét kỹ những vấn đề này, ta sẽ thấy cái chết không phải
là một hố sâu đen ngòm kinh khủng đang chờ để cuốn hút
chúng ta vào trong đó mà ngốn ngấu. Trái lại đấy là một
nguồn an ủi tiềm tàng, và ngay cả hỉ lạc lớn lao.
Ta
thường nghĩ chết là tiêu cực, nhưng đấy chỉ là tưởng
tượng. Kỳ thực chết có thể vô vàn tốt hơn những kinh
nghiệm ta thường cho là lạc thú, vì những kinh nghiệm thường
tình này không thể đem lại cho ta phúc lạc bình an tuyệt
đối. Chẳng hạn một đóa hoa đẹp có thể cho ta một cái
gì thực đấy, nhưng không phải là niềm bình an phúc lạc
kỳ diệu mà sự chết có thể đem lại. Một người bạn
trai hay bạn gái có thể đem lại cho ta một ít lạc thú, nhưng
không thể giải quyết giùm ta bất cứ một vấn đề căn
bản nào, bất quá họ chỉ tạm thời giải quyết được
một vài vấn đề nông cạn thuộc cảm xúc của ta. Nhưng
vào lúc chết, tất cả những vấn đề cảm xúc và tất cả
lo âu của ta đều chấm dứt. Và tất cả những khái niệm
đối nghịch đây kia tự động tan biến vào hư không, mở
đường cho ta kinh nghiệm được tuệ giác sâu xa kỳ diệu.
Bởi thế, điều ta cần nhận chân là, cái chết không phải
một sự hủy diệt đột ngột kinh hoàng, mà là một tiến
trình tuần tự trong đó tâm ta càng lúc càng trở nên vi tế
nhỏ nhiệm. Nếu muốn thực hành mật tông thượng thừa,
hay ít nhất, muốn chuẩn bị cho điều mà tất cả chúng ta
cuối cùng đều phải chạm mặt, thì ngay bây giờ ta nên làm
quen càng nhiều càng tốt với tiến trình tuần tự ấy. Nếu
chờ tới lúc chết mới làm quen thì sẽ quá muộn.
CHẾT,
TRUNG ẤM VÀ TÁI SINH
Giáo
lý trong kinh điển và mật điển chẩn đoán những vấn đề
của vòng sinh tử luân hồi theo nhiều cách, và cũng đưa ra
những lối giải quyết khác nhau. Theo kinh điển, gốc rễ
của khổ luân hồi là sự chấp thủ bản ngã, cái tà kiến
bám giữ niềm tin có một "cái tôi" tự hữu biệt lập còn
gọi là ngã kiến. Liều thuốc chữa trị quan niệm ngu si này
là đào luyện một cái nhìn hoàn toàn ngược lại. Thay vì
dại dột biểu đồng tình với niềm tin bản năng của ta
vào sự tự tồn của bản ngã, kinh giáo dạy ta nên phát sinh
một tri kiến về chân không, sự phủ nhận hoàn toàn tất
cả những quan niệm về thực hữu độc lập của các pháp.
Như vậy kinh giáo nhấn mạnh nhiều đến việc tẩy trừ tà
kiến (thấy sai) và thay vào đó bằng chính kiến (thấy đúng).
Con
đường chớp nhoáng của mật tông không phủ nhận những
gì kinh nói, nhưng lại đưa ra một phương pháp quyết liệt
hơn để giải quyết những vấn đề của cuộc đời. Theo
giáo lý cao cấp này, mọi khó khăn đều do không kiểm soát
được những kinh nghiệm trong lúc chết và những gì xảy
ra sau khi chết. Vì không kiểm soát được tiến trình chết,
ta bắt buộc phải đi vào một trạng thái trung gian (bardo hay
trung ấm thân) cũng không được kiểm soát, và từ đấy ta
lại kinh quá một sự tái sinh không được kiểm soát, để
lại đưa đến một sự sống chết không được kiểm soát
khác nữa. Cứ thế bánh xe tiếp tục lăn, lôi chúng ta từ
một hiện hữu bất toại ý này đến một hiện hữu bất
toại ý khác.
Cần
nhấn mạnh lần nữa rằng cái chết tuyệt nhiên không phải
là một vấn đề, mà là một cơ hội quý báu. Đối với
người đã chuẩn bị tốt, thì tiến trình chết đem lại
cơ hội ngàn năm một thuở để kinh nghiệm cái điều từ
lâu họ luôn tìm kiếm, đó là tâm trong sáng đầy phúc lạc.
Mặc dù tâm ấy tự động khởi lên khi chết, phần đông
chúng ta không thể lợi dụng nó được chút nào. Cái chết
của chúng ta, cũng như sự sống của chúng ta, trôi qua không
được sự kiểm soát của cái tâm sáng suốt có ý thức,
cho nên cái đáng lẽ là cửa ngõ giải thoát thì lại trở
thành lối vào một đời sống mê muội khác.
Cách
chữa trị vô minh tái diễn ngoài tầm kiểm soát như thế
là một loại thiền quán trong đó ta chuyển hóa những kinh
nghiệm thông thường về chết, trung ấm và tái sinh thành
ra kinh nghiệm giác ngộ của một vị Phật. Phương pháp của
Mật tông bởi thế không tương phản với vấn đề - như
trí tuệ Tính không tương phản với vô minh chấp ngã - mà
tương tự với vấn đề. Vì thuốc giống bệnh, nên những
năng lực thường đưa đến rối ren đau khổ có thể được
xử dụng để đem lại ánh sáng và thành tựu bản thân. Đây
là một trong những lý do khiến mật tông là một pháp tu thần
tốc, nhưng nếu hành sai thì lại là một con đường nguy hiểm.
BA
KHÍA CẠNH CỦA PHẬT QUẢ
Để
hiểu cách mật tông xử lý các vấn đề chết, trung ấm và
tái sinh như thế nào, ta cần biết qua ý nghĩa ba thân Phật.
Khi tất cả những tấm màn vô minh che lấp tâm ta đã được
cởi bỏ, khi tất cả tiềm năng tốt đẹp trong ta đã được
phát triển đến cùng, thì có sự thành tựu đồng thời ba
thân Phật là pháp thân, báo thân và ứng hóa thân. Pháp thân
là tâm vô hạn, vô chướng ngại của một đấng giác ngộ,
còn hai thân kia là hai tầng mức biểu hiện của pháp thân
ấy để lợi lạc cho người khác. Pháp thân được xem là
thân tự thọ dụng, biểu trưng sự thành đạt cho mình nhờ
chứng đắc các thần thông, còn báo ứng thân là thân tha
thọ dụng - biểu trưng sự thành đạt cho người, do hóa thân
của một vị Phật để đem lại lợi ích cho chúng sinh chưa
giác ngộ.
Sự
chứng đắc ba thân là kinh nghiệm của toàn giác. Vì chưa
giác ngộ chúng ta chưa có được kinh nghiệm này, nhưng ta
có thể có cái gì tương tự với nó. Không những ta có thể
có ba thân, mà theo con đường quả thừa của mật tông, ta
nên có ngay ba thân ấy! Một thái độ tham lam như thế rất
hợp thời trang; người ngày nay muốn "được cái tốt nhất,
và được liền tức thì !" Chỉ khác là thường ta theo đuổi
vật chất, còn khi hành mật tông, ta cố đem kinh nghiệm hỉ
lạc của ý thức thắp sáng mọi khía cạnh đời sống, để
đưa vào thực chứng.
TẬN
DỤNG THÂN NGƯỜI
Chuyển
kinh nghiệm chết, trung ấm và tái sinh thành con đường giác
ngộ không phải là chuyện huyền hoặc. Nhờ cái thân hiện
tại mà ta có thể hoàn thành được mục đích lớn lao này.
Theo Kinh giáo, thân xác vật lý của ta là một chướng ngại.
Nó đang tàn tạ từng sát na, dễ đau ốm và lôi cuốn khổ
như nam châm hút sắt. Quả vậy, diệu đế đầu tiên được
định nghĩa ngắn gọn như sau: Khổ chính là thân này. Nhưng
theo cái nhìn mật giáo thì ngược lại. Hoàn toàn không phải
chướng ngại, thân người được xem như báu vật quý nhất
vì nó chứa đựng tất cả sự trang bị cần thiết cho việc
đạt giác ngộ ngay trong một đời người. Thân này làm bằng
bốn đại đất nước lửa gió và những năng lượng (khí,
prana) liên hệ. Và vì nó sinh từ bào thai, nên có chứa những
tinh chất đỏ và trắng hấp thụ của cha mẹ; đây là yếu
tố cần thiết để khơi dậy năng lượng phúc lạc của kinh
nghiệm kundalini.
Chúng
ta thật may phước có được loại thân này, bởi thế không
nên phí phạm cơ hội quý báu nó đem lại để thực hiện
tiềm năng toàn vẹn của ta. Đừng như những người không
biết xử dụng tài nguyên thiên nhiên của mình cho đúng cách.
Chẳng hạn tôi nghe nói những trại chủ ở Nepal chặt hết
những cây xoài để làm củi. Một cây xoài cần biết bao
nhiêu năm để lớn và sinh quả ngon ngọt, thế mà người
Nepal dường như không biết thưởng thức. Thay vì tận dụng
những gì mình có, họ lại chặt phá hết những cây quý nên
đất bị xoáy mòn, rốt cuộc không còn gì cả. Nếu không
xử dụng năng lượng quý báu của thân mình để đạt giác
ngộ, mà lãng phí nó vào những theo đuổi vô nghĩa của đời
này, thì ta lại còn ngu ngốc hơn các trại chủ kia. Ta nên
làm như những khoa học gia biết rút năng lượng từ mọi
thứ - ánh sáng mặt trời, thủy triều, gió v.v..- và lại
còn biết cách xử dụng năng lượng này cho những mục tiêu
xây dựng. Nói cách khác, ta phải thiện xảo, và sự thiện
xảo cao nhất là chuyển cái thân hiện tại của ta, vốn là
gốc khổ, thành một con đường hỉ lạc đưa đến hạnh
phúc vô biên cho mình và người. Đây là mục đích tối hậu
của mọi phương pháp mật tông.
TIẾN
TRÌNH CHẾT
Khi
đạt toàn giác, ba thân phật (Pháp thân, báo thân, ứng thân)
đồng thời thành tựu. Nhưng theo pháp hành mật tông, ba thân
ấy tuần tự hình thành theo một tiến trình mô phỏng tiến
trình tự nhiên diễn ra lúc chết, lúc ở trạng thái trung
ấm và lúc tái sinh. Bởi vậy như đã nói, trước hết ta
cần biết tiến trình ấy thường xẩy ra như thế nào, rồi
mới có thể hiểu cách chuyển ba giai đoạn ấy thành ba thân
giác ngộ.
Chết
là tâm tách lìa khỏi xác. Quá trình tách lìa có thể xảy
ra nhiều giờ, nhiều ngày, như cái chết tự nhiên do già bệnh;
hoặc xảy đến đột ngột như do tử nạn. Nhưng ở cả hai
trường hợp, cái chết đều có những bước tiến nhất định.
Thân xác không phải đột ngột mất ngay khả năng duy trì
tâm thức, mà nó mất từ từ, mỗi đại trong 4 đại (địa,
thủy, hỏa, phong) tuần tự mất khả năng nâng đỡ thân xác.
Kinh
điển mật tông mô tả 4 giai đoạn đầu của sự chết bằng
những từ ngữ sống động. Trước hết địa đại chìm hay
tan vào thủy đại, rồi thủy đại tan vào hỏa đại, hỏa
đại tan vào phong đại, phong đại tan vào thức đại. Một
sự mô tả như thế giúp ích cho thiền quán, nhưng ta không
nên hiểu theo danh từ. Ví dụ nói địa đại "chìm" vào thủy
đại có nghĩa là những phần rắn chắc của cơ thể dần
dần mất khả năng vận hành của chúng, không còn liên lạc
mật thiết với tâm thức người chết như trước; trong khi
ấy thủy đại (hay chất lỏng) có vẻ thắng thế và rõ rệt
hơn.
Khi
những yếu tố vật lý nói trên tuần tự thắng lướt nhau
như vậy, thì người sắp chết cảm nghiệm một vài dấu
hiệu hay triệu chứng bên ngoài (trên cơ thể) và bên trong
(tâm lý) liên hệ đến từng giai đoạn của tiến trình tan
rã. Những triệu chứng này được nói rõ trong nhiều sách,
nên ở đây miễn bàn. Tuy nhiên cũng sẽ ích lợi để nêu
vài hình ảnh điển hình thường xảy đến.
Khi
chết, thường người ta mất hết sự tự chủ. Vì đã không
tu tập khi còn sống, họ bị cái chết tràn ngập, họ choáng
váng khi các "đại" hay yếu tố của thân xác bị mất quân
bình, không còn hoạt động điều hòa nữa. Họ cảm như đang
bị nạn động đất dữ dội, không thể giữ bình tĩnh trước
những gì xảy đến. Cái chết diễn ra với họ như một loạt
ảo tượng kinh hoàng, một cơn ác mộng tàn phá. Nhưng với
một người đã chuẩn bị, thì chính những cảnh gợi khủng
khiếp ấy có thể đem lại niềm bình an kỳ diệu. Và với
những hành giả thượng thừa, những người đã luyện tâm
thuần thục, thì mỗi giai đoạn của tiến trình tan rã đem
lại cho họ một sự sáng suốt và tuệ giác càng lúc càng
tăng.
Theo
tâm lý học Phật giáo, một đối tượng có đem lại sự
thỏa ý hay không, tùy thuộc vào quyết định mà tâm ta đã
có từ trước. Trước khi trông thấy một điều gì hay một
vật gì, tâm bạn đã quyết định : "Điều này sẽ làm cho
tôi sung sướng." Rồi khi thực sự tiếp xúc với vật ấy
bằng mắt, bạn mới nghĩ : "Ồ, thật tuyệt !" Đối với
một phản ứng xấu cũng vậy. Nếu tâm bạn đã có thành
kiến hay quyết định bạn không thích người nào, thì khi
thực sự gặp người ấy bạn chỉ thấy họ khó ưa. Nói
cách khác, tất cả mọi sự có vẻ tốt, làm ta ưa, và có
vẻ xấu làm ta ghét, kỳ thực chỉ là những tạo tác của
chính tâm ta.
Tất
cả điều này dính dấp gì đến kinh nghiệm chết chóc của
chúng ta ? Đạo phật dạy rằng cái cách để trải qua một
đời sống hạnh phúc và một cái chết hạnh phúc, là hãy
nhận chân sự việc xảy ra một cách như thật, không bị
đánh lạc hướng, làm cho tâm rối bời vì những tướng bên
ngoài. Trong đời chúng ta gặp hết nỗi bất mãn này đến
bất mãn khác, chỉ vì ta lầm tin rằng cái gì ta thấy tốt
là thực sự tốt, cái gì ta cho xấu là thực sự xấu; do
vậy ta dành trọn cuộc đời và năng lực của mình để chạy
theo cái này, tránh xa cái nọ. Vì suốt đời ta đã tích lũy
một thói quen mạnh mẽ nhìn mọi sự việc bằng thái độ
hoặc tham đắm hoặc sợ hãi như thế, nên vào lúc chết,
khi mọi sự dường như tan tành theo mây khói, đương nhiên
tâm ta sẽ rơi vào một trạng thái hỗn loạn tơi bời.
Giải
pháp là, cần phải tập nhìn mọi sự chỉ là do tâm ta biến
hiện, không có một chút xíu nào hiện hữu biệt lập. Ta
cần hiểu, vì do tâm biến ra nên mọi sự chỉ như huyễn
ảo. Tri kiến ấy cũng phải được áp dụng khi ta thấy những
cảnh tượng lũ lượt hiện ra vào lúc tâm ta trải qua tiến
trình chết. Ta nên làm quen với những gì ta sẽ gặp vào lúc
chết, để có thể đối phó với những ảo cảnh này thay
vì bị chúng tràn ngập và làm cho tâm ta hoảng hốt rối ren.
Then chốt của vấn đề, lúc sống cũng như lúc chết, chính
là nhận rõ ảo tưởng là ảo tưởng, tưởng tượng là tưởng
tượng, huyễn hóa là huyễn hóa. Với cách ấy ta sẽ được
giải thoát.
CHẾT
VÀ PHÁP THÂN
Trước
hết ta hãy xét những gì xảy đến nếu ta phải chết trong
một tâm trạng lo lắng kinh hoàng tột độ, lúc ta không chuẩn
bị, và cũng chưa từng tu tập. Khi bám víu vào cái "tôi" mà
ta tưởng là vững chắc, để được an ninh bảo đảm, thì
ta sẽ kinh hoàng khi thân xác nền tảng của cái "tôi" ấy,
khởi sự phân tán. Khi địa đại suy thoái, thủy đại thắng
lướt, tâm ta đầy những ảo tượng lung linh màu xanh bạc.
Ta cảm như bị vướng bẫy, bị ngột ngạt, thân xác bị
chôn dưới đất hay bị vùi lấp dưới cơn đá lở. Rồi
khi thủy đại tan vào hỏa đại, ảo tượng khói xuất hiện.
Khi điều này xảy đến, ta thấy như bị chết đuối, bị
nước lũ cuốn trôi. Kế tiếp, hỏa đại tan rã, thân xác
ta dần giá lạnh; ta thấy ảo tượng là một đống lửa giữa
trời đêm với những tia lửa nhảy múa. Trong lúc tiến trình
này xảy đến, nhiều người sắp chết gào lên vì tưởng
thân mình đang bị những ngọn lửa thiêu rụi. Cuối cùng
khi phong đại phân tán, hơi thở hào hển, ta cảm thấy mình
bị thổi tung như lá vàng trước cơn gió lốc. Đồng thời,
tâm ta "thấy" một ngọn lửa loé sáng lên rồi tắt như ở
trong một phòng tối mịt; cũng như khi ngọn nến sắp tắt,
bỗng sáng rực lên đột ngột như thể bùng vỡ đợt năng
lượng cuối cùng. Hơi thở ta đang dồn dập hào hển, bỗng
ngừng hẳn lại. Đối với mọi người, lúc ấy dường như
ta đã chết (và đây là triệu chứng làm cho những người
thân tụ họp xung quanh khởi sự khóc òa).
Nhưng
ta chưa chết hẳn. Bốn đại thô phù và những tâm phân biệt
tương ưng với chúng đã ngưng hoạt động, nhưng tầng tâm
thức vi tế vẫn còn vận hành bên trong. Điều này xảy đến
khi giọt vi tế trắng hấp thụ của cha vào lúc nhập thai
và trụ ở đỉnh đầu ta lúc sống, cùng giọt đỏ nhận
của mẹ nằm ở rốn, tiến về gặp nhau ở tim. Khi giọt
trắng đi xuống, hình ảnh trong tâm ta là không gian trống
rỗng trắng xóa; khi giọt đỏ đi lên, ta thấy khống gian
màu đỏ. Khi cuối cùng 2 giọt gặp nhau làm nên một hình
cầu bao bọc căn bản thức vô cùng vi tế cùng với luồng
khí tương ứng ở tim; thì ta kinh quá màu đen của một căn
phòng tối mịt. Màu đen này càng lúc càng đậm đặc cho đến
khi cuối cùng ta rơi vào trạng thái hoàn toàn bất tỉnh.
Nhưng
ta cũng vẫn chưa chết. Trong hình cầu giữa trái tim, an trú
cái bản tâm rất vi tế của ta và khí lực vi tế tương ứng.
Sau một thời gian - có thể 3 ngày hay hơn, với người không
tu luyện - trái cầu này mở ra, và tâm thức ta được soi
sáng. Cái bản tâm rất vi tế bừng tỉnh dậy và nó chỉ
thấy một không gian trống rỗng, trong suốt và sáng ngời.
Tâm trong sáng này là tâm cuối cùng và vi tế nhất trong những
loại tâm mà ta kinh nghiệm trong suốt cuộc đời này.
Đối
với một người phàm, tất cả những kinh nghiệm này - từ
khi ảo tưởng hiện ra cho đến khi xuất hiện ánh sáng trong
suốt - đều không được kiểm soát, chúng lần lượt xảy
đến song chúng ta hoàn toàn không biết, vì tâm ta quá tán
loạn rối ren. Nhưng những người đã khéo tu luyện từ trước
thì giữ được ý thức sáng suốt về mọi sự xảy đến
trong suốt tiến trình này. Họ biết ảo ảnh nào sắp diễn
ra kế tiếp, và hiểu rằng mọi cảnh tượng chỉ là tướng
trạng diễn ra trước cái tâm đang chết của mình, chúng hoàn
toàn không có thực tính khách quan ngoài tâm. Vì hiểu như
vậy, họ không bị kinh hãi bởi những điều trông thấy.
Thay vì thế, khi tâm họ càng trở nên vi tế thì họ càng
ý thức về tính phi thực một cách sâu xa. Cuối cùng, khi
ánh sáng trong suốt khởi lên, thì cái tâm vô cùng vi tế hòa
nhập với Tính không trong một kinh nghiệm phúc lạc tràn trề
khôn tả. Đối với một người như vậy, cái chết đã trở
thành cơ hội quý báu để kiện toàn trí bất nhị. Nhờ trí
giác trong suốt vô chướng ngại này mà một hành giả khéo
tu luyện chuyển hóa được tiến trình chết thông thường
thành ra kinh nghiệm của pháp thân giác ngộ.
Kinh
nghiệm pháp thân về tính bất nhị này vượt ngoài ngôn từ
khái niệm mô tả. Bởi thế, khi người nào nói về kinh nghiệm
này, họ luôn dễ bị hiểu lầm. Vậy bạn không nên tin lời
tôi nói, đấy chỉ là những vọng ngôn do sự mê tín của
tôi thôi. Dù nói khéo đến đâu, ngôn từ cũng chỉ phát xuất
từ cái tâm phân biệt có giới hạn, và cũng chỉ được
thấu hiểu bằng cái tâm hạn cuộc. Điều cần thiết là
phải tiếp xúc được với chính kinh nghiệm, vượt ngoài
danh ngôn dùng để diễn đạt kinh nghiệm ấy. Đó là lý do
khiến mật tông đặt nặng hành động hơn lý thuyết.
Mặc
dù cũng nên nghiên cứu kinh luận và phân tích phê phán, song
có những lúc phương pháp phân tích chỉ có hại. Một bậc
thầy về thiền quán có lần bảo tôi :"Vào một lúc nào đó,
ông cần phải từ bỏ lối hiểu mọi sự theo kiểu triết
lý. Ông phải vượt ngoài tranh biện, luận lý." Điều ấy
làm tôi kinh ngạc. Hồi đó tôi còn là một sinh viên trẻ,
hăng hái, thích phân tích phê phán mọi sự mà tôi nghe được.
Nhưng cuối cùng tôi hiểu ngài muốn nói gì : nếu cứ vướng
vào thành kiến tri thức, ta không thể đi vào những kinh nghiệm
thiền quán sâu xa. Vậy thực quan trọng để biết lúc nào
nên buông xả, thư dãn để cho tâm an trú trong trạng thái
trong sáng tự nhiên của nó.
Những
bậc chân sư thuộc mọi truyền thống luôn nhấn mạnh rằng
có những lúc bạn không nên làm một hoạt động tri thức
phân tích nào cả. Ví dụ, sẽ là một lỗi lầm lớn nếu
vướng vào ý tưởng phân tích trong khi bước vào giai đoạn
tu tập cao cấp của giai đoạn "Thành tựu", là giai đoạn
tối thượng du già ( sẽ bàn sau). Tại vì khi xử dụng tri
thức thì tự nhiên đủ mọi thứ quan niệm mê tín sẽ khởi
lên. Tâm bạn trở nên quá bận bịu và rung động theo năng
lượng cục bộ của những khái niệm ấy. Rồi vì mỗi trạng
thái tâm đều tương ưng với khí lực của nó, nên hệ thần
kinh vi tế của bạn cũng rung động vì những luồng khí lực
chống nhau. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến công việc
của bạn - kiểm soát hệ thần kinh trong pháp hành ở giai
đoạn Thành tựu - mà còn có thể dẫn đến một tình trạng
đau đớn mà người Tây tạng gọi là "lung" nghĩa là năng
lượng bị ứ nghẽn ở tim. Như với mọi giai đoạn của
con đường tu tập, có lúc ta phải xử dụng tri thức, mà
cũng có một lúc phải gạt tri thức qua một bên.
TRẠNG
THÁI BARDO VÀ BÁO THÂN
Với
người phàm tục, khi ánh sáng trong suốt chấm dứt, tâm họ
kinh quá những ảo cảnh của kinh nghiệm pháp thân vừa mô
tả, nhưng theo trật tự ngược lại, từ bóng tối vô thức
đến diễn biến của ảo tượng. Khi tiến trình lộn ngược
này bắt đầu, tâm ta lìa khỏi xác và cái chết mới thực
sự xảy ra. Liền sau đó chúng ta đi vào trạng thái trung gian
gọi là bardo, thân trung ấm, và ở đây cũng thế, tâm ta hoàn
toàn ở ngoài tầm kiểm soát. Với tốc độ đi nhanh của
tâm ý, ta bị đẩy từ cảnh này sang cảnh khác, như trong
một giấc mộng. Nhưng mộng này thường là ác mộng. Khi thì
do dấu ấn của ác nghiệp và vọng tưởng của ta trong quá
khứ, những cảnh tượng kinh hoàng hiện ra làm cho ta cuống
cuồng trốn chạy. Khi thì những hình ảnh quyến rũ khởi
lên làm cho ta khát khao nồng nhiệt chỉ để thất vọng ê
chề. Chung quy đấy là những gì đã từng xảy đến lúc ta
còn sống và sở hữu một thân xác vật lý phàm tình: cuộc
đời ta luôn luôn đi tìm an ổn, chạy trốn cái này, chạy
theo cái khác. Nhưng bây giờ ta lâm vào trạng huống càng kinh
khủng hơn. Vì cái thân trung ấm vô hình của ta chỉ làm bằng
luồng khí lực vi tế nên nó có thể xuyên qua vật chất không
bị chướng ngại, do vậy ta nhanh chóng nhập vào bất cứ
trạng huống nào mà cái tâm sợ hãi tham đắm ném ta đến.
Đấy
là kinh nghiệm thân trung ấm thông thường, nhưng ở đây cũng
vậy, với hành giả có tu luyện, họ có thể chuyển kinh nghiệm
ấy thành con đường đưa đến giác ngộ. Vì đã thuần thục
trong pháp quán "thân huyễn như ráng cầu vồng", nên khi ánh
sáng trong suốt của sự chết vừa tắt, hành giả liền mang
một thân trong suốt bằng quang sắc [ánh sáng do tâm tạo]
thay vì cái thân trung ấm mê muội. Với cách ấy, họ chuyển
hóa kinh nghiệm trung ấm phàm tình thành kinh nghiệm báo thân
giác ngộ, hay thân phúc lạc.
TÁI
SINH VÀ THÂN ỨNG HÓA
Hệt
như tiến trình chết và trạng thái trung ấm đều bị thúc
bách bởi năng lực vô minh chấp thủ, sự tái sinh của ta
cũng vậy, ta không chủ động được. Cuối cùng ta bị những
ngọn gió nghiệp thổi giạt đến nơi mà cha mẹ tương lai
của mình đang giao hợp. Vừa ham muốn lại vừa ghê tởm,
ta ngất xỉu và liền nhập vào thai mẹ. Từ khởi điểm bất
tịnh ấy, một đời sống ô nhiễm đau khổ tiếp theo. Cái
thân phối hợp từ tinh cha huyết mẹ phải chịu khổ sinh
già bệnh chết, trong khi tâm ta tiếp tục dòng thức tâm đời
trước, do tham sân si thúc đẩy, cứ tiếp tục tạo thêm nhân
tố khổ đau và bất mãn.
Một
hành giả tu cao có thể chuyển hóa kinh nghiệm tái sinh này,
như đã chuyển hóa cái chết và trạng thái trung ấm. Thay
vì bị hôn mê, bị chuyển từ trung ấm đến tái sinh do nỗi
bám víu sợ hãi thúc bách, hành giả mật tông thiện xảo
có thể chọn tái sinh một cách đầy ý thức. Nhờ đã tu
luyện để vượt qua các tướng phàm tình, họ có thể xem
cha mẹ tương lai như thần nam thần nữ, và chính mình cũng
là một vị thần con. Tùy theo mức độ làm chủ và loại
pháp mà họ tu luyện, họ còn có thể tái sinh vào một tịnh
cảnh, cảnh giới trong đó mọi sự đều giúp cho việc chứng
đắc giác ngộ. Ngay dù sinh vào địa cầu này, họ cũng có
thể chọn hoàn cảnh thích hợp để tiếp tục tu hành cho
đến khi đạt toàn giác. Với tâm hoàn toàn tỉnh giác, được
kiểm soát, thì tái sinh thông thường có thể được chuyển
hóa thành kinh nghiệm giác ngộ của thân ứng hóa, 1 trong 3
thân Phật.
Trên
đây chỉ là mô tả ngắn gọn cách những hành giả mật tông
chuyển hóa cái chết, trạng thái trung ấm và tái sinh thành
ra ba thân của giác ngộ, nhưng cũng đủ cho ta một ý niệm
rõ ràng về những gì nằm trong tầm của pháp hành trì mật
tông tối thượng. Từ trước đến nay chúng ta đã bị tràn
ngập bởi những năng lực vô minh, nghiệp và vọng tưởng
mà hậu quả là ta phải luân chuyển mãi hoài trong vòng sinh,
chết rồi tái sinh không được chọn lựa, không được kiểm
soát. Khi ta chưa thay thế vô minh bằng trí tuệ để chuyển
hóa ba sự cố tái diễn không ngừng này thành kinh nghiệm
giác ngộ của một vị phật, thì ta vẫn phải tiếp tục
xoay vần trong vòng lẩn quẩn ấy mãi mãi, đi tìm hạnh phúc
mà chỉ có rước lấy tuyệt vọng khổ đau.
CẮT
ĐỨT TÁI SINH
Không
khó gì để hiểu rằng sự chết, trạng thái trung ấm và
tái sinh là những kinh nghiệm đau đớn, căn nguyên mọi rắc
rối của chúng ta. Vì sống, chết rồi tái sinh bằng một
thân tâm không được kiểm soát, nên ta phải trải qua nhiều
nỗi khổ vật lý và tâm lý trong đời sống thường ngày.
Nói đơn giản, nếu trước hết ta đừng sinh ra đời, thì
đâu có những rắc rối ấy ! Nhờ thực hành pháp mật tông
thượng thừa, chúng ta có thể hoàn toàn tránh được sự
sinh ra kiểu đó, cùng với tất cả mọi vấn đề do nó gây
nên.
Nhiều
người đâm ra thắc mắc khi nghe nói tu mật tông có thể cắt
đứt tái sinh. Họ nghĩ : "Điều ấy có nghĩa lý gì ? Tại
sao tôi phải từ bỏ cơ hội trở lại trần gian này? Có phải
con đường tu tập ấy đưa tới chỗ hoàn toàn hủy diệt?
Nếu thế thì tôi chả cần."
Để
khỏi thắc mắc, ta nên nhận chân rằng "cắt đứt luân hồi"
có một ý nghĩa đặc biệt là giải thoát khỏi sự tái sinh
không được kiểm soát. Ta có thể tu mật tông một cách thành
công, mà vẫn trở lại cuộc đời này. Quả thật, với bồ
đề tâm đầy bi mẫn, ta không thể nghĩ đến chuyện bỏ
mặc mọi người. Bồ đề tâm giục ta phải trở lại để
làm lợi ích cho họ. Chính đức Thích Ca Mâu Ni đã làm thế,
cho nên sự sinh ra của ngài tuyệt nhiên không là vấn đề,
mà lại là một nguồn lợi lạc vô biên. Trong khi đó, sự
tái sinh của chúng ta lại xảy ra ngoài kiểm soát của mình,
và chỉ có làm cho chu kỳ khổ đau tiếp tục mãi mãi. Chính
chu kỳ đau khổ này mới cần cắt đứt. Về sự chết và
thân trung ấm cũng vậy; chính cái kinh nghiệm không được
kiểm soát về những tiến trình này mới cần trừ khử, cần
chuyển hóa.
Cuộc
đời không tự chủ của ta, bị tham sân si làm chủ, đương
nhiên đưa đến cái chết không được kiểm soát. Trong tiến
trình mê muội này, cũng những vọng tưởng tham sân ấy làm
phát sinh những hỗn mang rắc rối lớn hơn. Tâm ta bị tràn
ngập bởi những ảo cảnh liên hệ đến sự tan rã của từng
yếu tố thân xác, và ta đi vào trạng thái trung ấm với nỗi
hãi hùng, khát khao kinh khủng. Tại đấy, vì ta có một "thân
do ý sinh" chứ không phải thân vật lý, nên những mê tín
của ta càng có một ảnh hưởng lớn đối với ta hơn nữa.
Cứ mỗi vọng tưởng nổi lên trong tâm là ta liền bị ném
ngay vào hoàn cảnh mê vọng tương ứng. Điều này thật kinh
hoàng, và khi cuối cùng ta thấy hình ảnh cha mẹ tương lai,
thì khát vọng được an ổn thúc đẩy ta nhập thai để tái
sinh, và thế là chu kỳ đau khổ bắt đầu trở lại. Ta không
tìm được ở đâu một chốn an nghỉ thanh bình. Niềm an lạc
hạnh phúc mà ta ao ước luôn luôn tuột khỏi tầm tay. Đây
là triệu chứng của cuộc tồn sinh trong cõi luân hồi sinh
tử .
Mục
đích hành trì mật tông là giải thoát ta khỏi những rắc
rối không ngừng tái diễn ấy bằng cách giúp ta rứt ra khỏi
vòng lẩn quẩn. Nhờ luyện tâm vượt qua sự khống chế của
các giả tướng mê muội thông thường, và nhờ chuẩn bị
trước những gì mà cuối cùng ta sẽ phải gặp khi đời sống
này kết thúc đời khác bắt đầu, ta có thể kinh nghiệm
ba thân tỉnh giác thay vào ba trạng thái mê muội thường tình
về chết, trung ấm và tái sinh.