LỜI
BẠT
Mặc
dù bệnh suy tim của Ngài đã đến tình trạng nguy hiểm, thầy
Yeshe cho đến cuối đời, vẫn tỏ bày sự quan tâm đến mọi
người hơn là đến chính mình. Trong thời gian phải được
săn sóc đặc biệt tại bệnh viện, ngài vẫn còn hỏi thăm
sức khỏe và sự an bình của những người khác, vẫn thường
phá lên cười, và nói đùa với các cô y tá. Thầy Zopa kể
lại: "Không lâu trước khi viên tịch, lúc người ta định
làm phẫu thuật tim ngài, ngài đã bảo tôi: Dù phẫu thuật
có thành công hay không, cũng không sao cả, vì tôi đã đem
hết thân tâm phục vụ người khác. Tôi hoàn toàn thỏa mãn
với những gì đã làm, nên cái chết không làm tôi dao động."
Cuối cùng, vào đầu năm âm lịch, thầy Yeshe qua đời. Ngài
trút hơi thở cuối cùng vào lúc bình minh, giờ mà nhiều hành
giả vĩ đại đã viên tịch.
Những
từ ngữ như "qua đời", "viên tịch", thường được xử dụng
một cách văn vẻ để làm dịu bớt tính chất tuyệt vọng
đáng buồn của cái chết. Nhưng ở đây những từ ấy có
một ý nghĩa đặc biệt, vì theo giáo lý mật tông, cái chết
không phải là sự hủy diệt hoàn toàn như người ta thường
lo sợ. Đấy là một giai đoạn trong tiến trình tuần tự
thăng hoa của tâm thức vẫn tiếp diễn cho đến khi đạt
đến tầng vi tế nhất, sau đó tâm mới lìa khỏi xác. Trong
khi xác thân khởi sự tan rã, thì tâm thức vẫn tiếp tục
để cuối cùng gặp đủ điều kiện thích hợp cho sự nhập
xác mới, gọi là tái sinh.
Như
thầy Yeshe đã giải thích, một người nếu chưa chuẩn bị
đầy đủ, thì sự di chuyển từ đời này sang đời khác
xảy ra ngoài tầm kiểm soát hoặc lựa chọn của họ. Họ
chết và tái sinh mà vẫn giữ nguyên tình trạng sân si chấp
thủ như trước. Nhưng đối với một bồ tát thì trái lại.
Với một tâm sáng suốt, tỉnh giác, người có nguyện lợi
tha như thế thường tận dụng sự tỉnh giác sáng suốt đầy
hỷ lạc vào lúc chết, để chọn một tái sinh thích hợp
giúp họ có thể tiếp tục phục vụ tha nhân.
Đây
là trường hợp cái chết của thầy Yeshe. Không những ngài
đã giữ được tư thái an bình vui vẻ trong cơn trọng bệnh,
mà ngài còn có thể duy trì sự tỉnh giác và hoàn toàn kiểm
soát được toàn thể tiến trình chết và sau đó nữa.
Khoảng
một giờ trước khi chết vào ngày 3 tháng 3 năm 1984, thầy
Yeshe đã yêu cầu thầy Zopa thị giả thường trực của Ngài,
cùng Ngài thực hành pháp quán thần Heruka. Rồi trước lúc
bình minh, tim Ngài ngưng đập, và Ngài được xem như đã chết
trên phương diện lâm sàng. Nhưng tâm của ngài vẫn chưa rời
thân xác, ngài vẫn tiếp tục thiền quán không tán loạn,
trong lúc bác sĩ phụ trách nỗ lực suốt hai tiếng đồng
hồ để phục hồi tim ngài.
Cuối
cùng ngài được chuyển đến một phòng khác trong bệnh viện,
ở đó ngài vẫn tiếp tục trạng thái thiền định vi tế
nhất suốt ngày hôm đó, cùng với nhiều đệ tử hiện diện.
Vào khoảng 5 giờ chiều, một người bỗng để ý cái đầu
của ngài hơi di động, nhưng cứ tưởng mình bị ảo giác.
Nhưng ngay khi đó, thầy Zopa quay lại bảo : "Bây giờ, ngài
đã chấm dứt thời thiền quán." Lúc ấy tâm của thầy Yeshe
cuối cùng đã lìa khỏi thân xác.
Vào
ngày 12 tháng 2 năm 1985, một bé trai được sinh vào một gia
đình người Tây Ban Nha. Lúc sinh tiền thầy Yeshe đã từng
nói Ngài có nhiều nhân duyên với gia đình này; đôi vợ chồng
trẻ sống và làm việc tại trung tâm nhập thất Osel Ling,
do ngài thành lập ở Tây Ban Nha, gần Granada. Hài nhi ấy tên
là Osel có nghĩa "Ánh Sáng Trong Suốt." Khi được 14 tháng tuổi,
em bé đã được thầy Zopa đệ tử thầy Yeshe công nhận là
tái sinh của thầy mình, và sự công nhận ấy đã được
đức Dalai lama xác chứng. Trong buổi lễ chính thức công nhận,
đức Dalai lama tuyên bố khi bé Osel nói sõi, em sẽ cho biết
chắc chắn mình là tái sinh của thầy Yeshe. Kể từ đấy,
nhiều người từ khắp thế giới đã có dịp đến thăm hài
nhi tu sĩ Osel. Mặc dù còn bé, em đã cho thấy những dấu hiệu
lạ lùng, ngay cả đối với những người hết sức hoài nghi
về tái sinh. Chẳng hạn chú bé có thể nhận ra những người
và nơi chốn trong đời trước của mình. Thầy Osel được
đăng vị tại Dharamsala, Ấn độ, vào ngày 17 tháng 3 năm 1987,
có nhiều đại diện các đài truyền hình, truyền thanh tham
dự.
Khi
nhanh chóng trở lại đời này để đáp ứng yêu cầu tha thiết
của các đệ tử, thầy Yeshe đã giữ trọn lời hứa tiếp
tục hạnh lợi tha. Không những thế, cái cách ngài chết và
tái sinh đã chứng minh một cách hùng hồn, giá trị và năng
lực của những giáo lý được trình bày trong cuốn sách dẫn
nhập này. Cầu mong cho những người hữu duyên sẽ tìm được
lợi ích và niềm vui trong giáo lý về sự chuyển hóa của
mật tông. Cầu mong thầy Osel sẽ có một đời sống phong
phú trường thọ để có thể lợi lạc nhiều người, đem
lại nguồn cảm hứng cho đa số. Cầu mong cho tất cả hữu
tình được hạnh phúc.