165.
Năng lực của thiện và ác nghiệp, cái nào mạnh hơn?
- Thưa
đại đức! Năng lực của thiện nghiệp và năng lực của
ác nghiệp, cái nào mạnh hơn?
- Tâu,
năng lực của thiện nghiệp bao giờ cũng mạnh hơn năng lực
của ác nghiệp!
- Thưa,
trẫm không tin như vậy. Đại đức xem! Trên đời này, những
kẻ giết người, cướp của, trộm heo, trộm gà; những kẻ
tà hạnh vợ người, lường gạt, tước đoạt gia sản của
người v.v... họ bị trả báo tức thì. Pháp luật của trẫm
sẽ xử phạt những người ấy. Tùy theo mức tội nặng nhẹ
mà trẫm sẽ căng nọc ra đánh bằng gậy, giam cầm, đôi khi
cắt tay, cắt chân hoặc chém đầu nữa. Như vậy là rõ ràng
ác nghiệp sẽ trổ quả nhanh do năng lực của nó mạnh. Có
người bị trả quả tội báo ngay ngày hôm sau, có kẻ trả
quả sau một tuần, nửa tháng, một hoặc hai năm v.v..., nghĩa
là trước sau cũng sẽ trổ quả, ngay chính trên đời này!
Còn
những người làm việc thiện thì sao nhỉ? Họ bố thí, trai
tăng, làm phước, cúng dường ngày này sang ngày khác, đến
một vị tỳ khưu, hai vị, bốn vị, một trăm vị, đến một
ngàn vị...; ngoài ra, họ còn thọ trì tam quy, ngũ giới, bát
giới, hành thập thiện... mà sao không thấy ai được quả
báo trong hiện tại? Các vị tỳ kheo trong hàng ngũ của đại
đức, bao giờ cũng nói, kiếp sau, kiếp sau nữa! Như vậy,
chứng tỏ gì? Chứng tỏ năng lực của thiện nghiệp rất
yếu, không có khả năng cho quả trong hiện tại, phải đợi
đến bao nhiêu kiếp sau mới đủ sức trổ !
Đại
đức hãy chứng minh đi! Rõ là sức mạnh của nghiệp thiện
thua sức mạnh của nghiệp ác rất xa vậy!
- Hãy
từ từ, đại vương! Hãy nhẫn nại, đại vương! Không bao
giờ sức mạnh của thiện nghiệp lại thua ác nghiệp được.
Và không phải không có trường hợp người làm thiện được
quả báo ngay trên đời này!
- Xin
cho nghe!
- Nói
về người bố thí, trì ngũ giới hoặc bát quan trai giới,
được quả báo nhãn tiền, có bốn người là:
Đức
vua Sakkamandhàtu,
Đức
vua Nemi,
Đưc
vua Sàdhina,
Chàng
Tinapàla.
Đại
vương có nghe đến tên họ không?
Đức
vua Mi-la-đà lắc đầu:
- Thưa,
không biết. Hoặc giả đại đức kể tên những người thuộc
đời nảo, đời nao... ai mà biết được! Đại đức hãy
kể tên những người hồi Đức Phật tại tiền, may ra trẫm
có thể nhớ được chăng?
- Tâu,
vâng! Vậy thì thuở Phật tại thế có sáu người làm lành,
được quả báo nhãn tiền, như sau:
Thứ
nhất, người giúp việc tên là Punnakedàso;
Thứ
hai là mẹ của người chăn bò;
Thứ
ba, cận sự nữ Suppiyà;
Bốn
là bà hoàng hậu Mallikà;
Năm,
người làm tràng hoa tên là Sumana;
Thứ
sáu, người bà-la-môn tên là Ekasàtaka.
Cả
sáu người này đều được tài sản, chức tước, địa vị
ngay trên đời đó, tâu đại vương!
- Thưa,
xin đại đức cho biết rõ nhân quả của từng vụ việc như
thế nào?
- Tâu,
vâng, đại vương hãy nghe đây:
Trước
hết, chàng giúp việc Punnakedàso dâng vật thực đến cho Tôn
giả Xá-lợi-phất bèn được chức vị bá hộ giàu sang ngay
chính trong ngày ấy.
Tiếp
đến, mẹ của người chăn bò có đức tin trong sạch đối
với thiện pháp, vì nghèo khổ quá nên đã tự cắt mớ tóc
của mình, bán được tám xu tiền vàng, mua vật thực dâng
cúng đến ngài Đại-ca-chiên-diên (Mahà Kacchàyam); bèn được
đức vua Udena thương mến, kính trọng, phong cho làm hoàng hậu
ngay trong ngày ấy.
Thứ
ba, nàng cận sự nữ Suppiyà cắt lấy thịt bắp chân của
mình, nấu cháo dâng đến cho một vị tỳ khưu bị bệnh;
sáng sớm ngày hôm sau, nàng không còn tìm thấy dấu vết thương
của mình.
Thứ
tư, nàng Millikà chỉ dâng một cái bánh đậu đến Đức Phật,
được trả quả báo ngay hôm ấy là làm hoàng hậu của đức
vua Kosala.
Thứ
năm, người thợ làm tràng hoa Sumana dâng tám nắm hoa lài,
tung rãi cúng dường Đức Thế Tôn, được quả báo tức thì
do nhà vua tặng rất nhiều của cải, tài sản.
Cuối
cùng, ông bà-la-môn Ekasàtaka chỉ có một thước vải mặc,
lấy tấm vải duy nhất ấy cúng dường Đức Phật, được
phước quả hiện tiền, là tất cả đồ dùng, mỗi loại
tám cái.
Đấy
là nhân, là quả, năng lực thiện nghiệp trổ quả ngay hiện
tại, tâu đại vương!
- Chỉ
có bấy nhiêu thôi sao, đại đức?
- Vâng,
theo những gì bần tăng có thể nhớ được, chỉ có sáu người
ấy thôi!
Đức
vua Mi-lan-đà bèn nói to:
- Đại
đức dám bảo là năng lực thiện nghiệp có sức mạnh vĩ
đại hơn năng lực của ác nghiệp, mà đại đức chỉ đưa
ra được có sáu ví dụ, sáu người; trong lúc sức mạnh của
ác nghiệp, có khả năng cho quả tức thời... thì trẫm có
thể mang ra dẫn chứng nhiều không kể xiết, nào phải chỉ
có hai mươi, năm mươi, một trăm, hai trăm mà thôi đâu!
Lại
có khi sức mạnh của ác nghiệp trả quả tức khắc khi nhân
vừa gây ra. Ví dụ như quan đại thần Bhaddapàla, hô đội
quân dũng mãnh của mình chiến đấu với đội quân của vua
Cadagutta! Hai bên vừa ra quân, đao vừa vung lên, đầu bèn rụng
xuống...; và cứ thế, gươm giáo tung ngang xẻ dọc làm cho
hằng trăm hằng người bỏ mạng. Trận chém giết ấy rõ
là trả quả ngay tức khắc, chứng tỏ nghiệp ác có sức
mạnh dường bao!
Thế
là rõ! Thế là luận cứ của đại đức đã bị bẻ gãy
rồi!
- Chưa
đâu, tâu đại vương! Năng lực của ác nghiệp vẫn không
mạnh bằng năng lực của thiện nghiệp. Sở dĩ ác nghiệp
trả quả nhanh là vì quả ấy ít; còn thiện nghiệp trả quả
chậm vì quả báu rất nhiều! Ví như có một loại lúa ở
ngoài biên địa quốc độ của đại vương, lúa ấy nhẹ,
hạt nhỏ, vãi xuống trong ruộng một tháng là chín ngay, nhưng
năng suất kém. Trái lại, lúa Sàli đến năm, sáu tháng mới
chín nhưng năng suất rất lớn. Ví dụ này như thế nào thì
thiện nghiệp, ác nghiệp trổ quả ít nhiều như thế ấy,
tâu đại vương!
- Trẫm
vẫn chưa đồng ý đâu. Ác trả quả mau nhưng ít, thiện trả
quả chậm nhưng nhiều - nghe vẫn chưa thuyết phục. Cái trổ
quả nhanh chính là do năng lực lớn, mạnh. Cái trổ quả nhanh
mới là điều quan trọng. Vì sao? Ví như một chiến sĩ can
trường, mới vào trận đã xông xáo tìm bắt tên thủ lãnh.
Y đã hàng động rất nhanh, nhờ nhanh tay bắt được tên thủ
lãnh nên sớm quyết định thắng, bại ở chiến trường.
Ví như một người bị rắn độc cắn được dẫn đến nhà
thầy rắn để chữa trị. Người thầy rắn chẳng chần chờ
phút giây nào, tức khắc tìm cách hút nọc rắn, nhanh tay cho
thuốc uống, thuốc đắp. Nhờ lanh lẹ như thế, người bị
rắn cắn thóat khỏi tử thần.
Còn
nữa, ví như hai người cùng đang đếm một số lượng hàng
hóa. Người nào đong lẹ, đếm nhanh người ấy chắc hẳn
được hưởng phần lương cao hơn. Mà nếu phần lương không
cao hơn thì y cũng còn được khoảng thời gian dư dã để
làm công việc khác. Ai lợi hơn ai hẳn không cần phải trả
lời.
Còn
nữa, ví như hai tay đô vật vào cuộc. Có một tên chậm chạp,
tay kia nhanh hơn, đã tìm cách quật ngã đối phương rất nhanh
nên dành được chiến thắng lớn! Vậy đó, có sức mạnh
thì bao giờ cũng nhanh. Ac có sức mạnh hơn thiện nên sẽ
trổ quả mau hơn cũng là định luật tất yếu thôi, đại
đức. Xin đại đức đừng đem chuyện nhiều và chuyện ít
vào đây, nó không tương hợp đâu!
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Tất
cả những ví dụ của đại vương nghe thì có vẻ hay nhưng
đều không áp dụng được. Vì sao? Vì tất cả những ví
dụ ấy đều không tương hợp với định luật nhân quả.
Người
chiến sĩ can trường ra tay nhanh, người thầy thuốc chữa
bệnh rắn cắn nhanh, người đong đếm nhanh, người đô vật
sức mạnh quật ngã đối thủ nhanh. Cái nhanh ấy là tốt,
tốt cho nên trổ quả nhanh mới đúng chứ, sao đại vương
nêu ra để chứng minh cho cái ác?
Có
người ăn uống nhanh bị nghẹn họng, cạo đầu nhanh bị
đứt da đầu, viết chữ nhanh khiến chữ xấu v.v... Ở đây,
cái nhanh ấy lại là xấu, ác; thế thì phải nói cái ác trả
quả nhanh sao?
Lại
nữa, những ví dụ khác của đại vương về tội cướp của,
giết người v.v... bị pháp luật của đại vương xử trị
ngay, đại vương y cứ vào đó để bảo rằng ác trổ quả
nhanh! Thế rõ là đại vương đang nắm trong tay định luật
nhân quả đó chăng? Định luật nhân quả phải xảy ra một
cách lạnh lùng, không thiên vị. Ở đây, đại vương đã
nghiêng về phía trừng trị kẻ ác rồi! Còn người làm điều
thiện trong quốc độ của đại vương thì sao nào? Đại vương
sẽ trả quả báo chậm cho họ hay sao? Hay là đại vương lý
luận, để chứng tỏ người làm thiện không được phước
báu gì hết?
Ác
thì đại vương chặt đầu, treo cổ; còn những người giữ
ngũ giới, bát giới, chẩn bần người đói khổ, cứu giúp
người hoạn nạn... đại vương đã ra luật định ban thưởng
cho họ như thế nào chăng? Không à? Chưa à? Thế ra đại vương
không phải là người nắm định luật nhân quả, chi phối
trọn vẹn vận mệnh con người ở trong quốc độ của đại
vương hay sao? Đại vương hãy trả lời đi!
Những
câu hỏi dồn dập của đại đức Na-tiên làm cho đức vua
Mi-lan-đà bối rối không ít.
Đức
vua đáp:
- Trẫm
biết trẫm sai rồi, cái nhìn của trẫm ngắn và gần quá,
chỉ ở trước mắt, hay chỉ từ những điều mà trẫm suy
nghĩ được!
- Tâu
đại vương! Cho chí các bậc thượng thủ A-la-hán như ngài
Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, cũng không có khả năng thấy
rõ sự vận hành của lý nhân quả, ngoại trừ bậc Toàn Giác.
Việc trổ quả nhanh hay chậm của thiện và ác, các bậc đại
A-la-hán cũng không thấy rõ được. Nhân quả nó xảy ra ba
đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Quá khứ là nhân, hiện
tại là quả. Hiện tại là nhân, vị lai là quả. Trong chừng
mực nào đó, chúng ta hiểu vậy - nhưng thật sự chúng ta
không dám xác quyết cái gì là nhân, cái gì là quả chắc
chắn đâu. Cái nhân bây giờ đôi khi chỉ là cái quả của
quá khứ, và quả từ quá khứ đôi khi lại là nhân từ hiện
tại. Nó trùng trùng duyên khởi, không thấy đầu, không thấy
đuôi, đại vương ạ!
Lại
nữa, bần tăng nói, năng lực thiện nghiệp có sức mạnh
hơn năng lực của ác nghiệp, điều ấy không còn hồ nghi,
tuy nhiên, ta cũng phải hiểu trong ý nghĩa tương đối. Vì
sao vậy? Vì có những kẻ làm ác, như phạm vào ngũ nghịch
đại tội [*], thì kẻ ấy có khi phải bị trả quả báo nhãn
tiền, tâu đại vương!
[*]
Giết cha, giết mẹ, chích máu Phật, giết A-la-hán, chia rẽ
Tăng.
- Vâng,
trẫm rõ rồi!
- Lại
nữa, ví như tướng cướp Angulimàla là tay khét tiếng giết
người, sau vào tu trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, chứng
ngộ đạo quả. Đáng ra, tội giết người kinh khiếp của
Angulimàla sẽ bị ác báo nặng nề! Nhưng không, Angulimàla
nhờ chứng ngộ đạo quả cao siêu, pháp xuất thế gian, là
tối thượng thiện pháp - nhờ năng lực ấy nâng đỡ nên
trả quả rất nhẹ. Thế điều này không chứng tỏ năng lực
của thiện mạnh hơn năng lực của ác sao, đại vương?
- Chính
thị! Thôi cảm ơn đại đức đã xua tan sự u tối cho trẫm.
* *
*
166.
Hồi hướng phước có hiệu quả không?
- Thưa
đại đức! Khi người cư sĩ làm được một phước sự như
trai Tăng, bố thí, cúng dường, rồi họ hồi hướng đến
cho ân nhân, cha mẹ, thân bằng quyến thuộc đã quá vãng từ
nhiều đời, không biết quả lành của sự hồi hướng đó
có kết quả gì không?
- Có
số được, có số không, tâu đại vương!
- Xin
cho biết nguyên cớ?
- Tâu,
vâng! Nếu cha mẹ, ân nhân, thân bằng quyến thuộc... sau khi
chết, sanh vào các cõi trời, đọa sanh địa ngục, sanh làm
muông thú... thì quả lành của sự hồi hướng không đến
với họ được.
Còn
nữa, các loại a-tu-la, ngạ quỷ đói, ngạ quỷ bị lửa thiêu
cháy... cũng không hưởng được phần phước. Chỉ có loại
quỷ Paradattù pajìvì - tức là loại ngạ quỷ sống nhờ vào
sự bố thí của người khác - mới thọ hưởng được quả
lành của sự hồi hướng ấy. [*]
[*]
Thật ra, có một số chư thiên, thọ thần hoan hỷ phước,
tùy hỷ phước - thì sự hồi hướng vẫn có hiệu quả (Dịch
giả).
- À,
hóa ra là vậy. Thế thì nếu cha mẹ, ân nhân, thân bằng quyến
thuộc của mình không sanh làm ngạ quỷ Paradattù pajìvì thì
sự bố thí, cúng dường, tốn tiền bạc, tốn công sức sẽ
trở nên vô ích, phải vậy không, đại đức?
- Không,
vẫn có lợi ích. Phước báu ấy sẽ không tiêu mất. Chính
người làm phước được hưởng phước báu ấy.
- Xin
đại đức giảng cho nghe.
- Tâu,
vâng! Ví như có người sửa soạn một mâm vật thực gồm
có rượu thịt cơm bánh v.v... để đãi đằng bà con quyến
thuộc của mình. Vì một lý do nào đó, những người kia không
đến, thì mâm vật thực ấy sẽ thuộc về phần ai, đại
vương?
- Hoàn
về cố chủ.
- Lại
nữa, ví như có người đi vào cửa trước của ngôi nhà,
tìm đến cửa sau để đi sang một chỗ khác. Cửa sau không
tìm thấy, thì người kia đi trở ra bằng lối nào hở đại
vương?
- Lối
cũ thôi!
- Cũng
tương tự thế. Phước báu gởi đi các nẻo không được,
không ai thọ nhận thì phải trở về lối cũ, trở về chủ
của nó, đại vương!
- Rõ
lắm rồi. Sàdhu!
* *
*
167.
Hồi hướng "ác" có được không?
- Thưa
đại đức! Hồi hướng thiện báo, thiện quả thì trẫm thông
rồi. Nhưng còn ác báo, ác quả thì sao? Ví như có người
tạo ngũ nghịch đại tội như giết cha, giết mẹ v.v... rồi
hồi hướng đến cho cha mẹ, ân nhân, quyến thuộc... hoặc
cho kẻ thù nghịch đã quá vãng từ nhiều đời, có được
không, đại đức? Người được hồi hướng có nhận được
ác quả, ác báo ấy chăng?
Đại
đức Na-tiên ngạc nhiên:
- Thật
là câu hỏi lạ lùng, bần tăng chỉ mới nghe lần đầu. Tuy
nhiên, bần tăng sẽ trả lời ngay: việc ác không thể hồi
hướng được, tâu đại vương!
- Tại
sao lại không được? Thiện hồi hướng được thì ác cũng
phải hồi hướng được chứ! Thiện có nơi nhận được
thì ác cũng phải có nơi nhận được chứ? Pháp vốn bình
đẳng mà!
- Câu
hỏi tại sao này, thật khó trả lời! Và có lẽ đại vương
cũng không nên đặt những câu hỏi như thế.
- Tại
sao?
- Vì
câu hỏi ấy cũng tương tự như những câu hỏi sau đây: Chanh,
tại sao mày chua? Ớt, tại sao mày cay? Những câu hỏi ấy
có thể trả lời được không, đại vương?
- Đã
trả lời không được, mà còn vô ích nữa.
- Cũng
tương tự như thế là câu hỏi của đại vương!
- Trẫm
thấy chúng chẳng có gì giống nhau cả! Thật ra, trẫm không
cố ý tìm câu hỏi hiểm hóc để bắt bí đại đức. Sở
dĩ trẫm hỏi như thế là vì thế gian sẽ có người đặt
những câu hỏi tương tự. Mục đích mà trẫm muốn nhắm
đến là lợi ích cho phần đông và lợi ích cho các thế hệ
hậu lai. Đại đức nên thông cảm.
Đại
đức Na-tiên mỉm cười:
- Bây
giờ đại vương thử trả lời những câu hỏi của bần tăng
xem sao! Rồi từ những câu hỏi ấy, chúng ta sẽ trở lại
vấn đề, được chăng?
- Thưa
vâng.
- Có
người lấy ống nước - nghĩa là bên trong có lỗ bộng -
để thổi nước đi xa; họ có làm được không, đại vương?
- Được
chứ!
- Vậy
nếu có một hòn núi - bên trong cũng có lỗ bộng -có thể
thổi nước đi xa được không, đại vương?
- Không
thể được!
- Còn
nữa, người ta thường đốt đèn bằng dầu, có người bắt
chước, lại thay dầu bằng nước, thế có đốt đèn được
không, đại vương?
- Không
được!
- Ví
như có người nông phu khai nước thông từ hồ vào ruộng,
làm được vụ mùa phát tài; có người bắt chước, dẫn
nước biển vào ruộng, thế y có thu hoạch được gì không,
đại vương?
- Lúa
chết hết còn gì!
Đến
đây, đại đức Na-tiên trầm ngâm giây lát rồi mới cao giọng
nói:
- Mỗi
loài, mỗi vật, mỗi pháp trên thế gian này đều có những
đặc tính, tính chất khác nhau, không ai có thể trả lời
tại sao chúng có hình dáng, tính chất ấy. Chanh có vị chua,
mít có vị ngọt. Chua, ngọt là đặc tính, tính chất của
chanh, của mít. Cũng tương tự thế, ống hút nước có công
dụng, chức năng của ống hút nước, cái ngọn núi bộng
kia không thể làm chức năng của ống hút nước được. Dầu
dùng để đốt vì nó có tính chất dẫn cháy, nước không
thể thay thế dầu được. Nước ngọt giúp cho việc trồng
lúa, nhưng nước mặn lại làm lúa chết! Tất cả những điểm
mà bần tăng đưa ra ở trên, nghe có đúng không, đại vương?
- Không
sai!
- Trở
lại vấn đề đầu tiên, là thiện và ác. Thiện, ác là hai
pháp, mỗi thứ có một tính chất, một đặc tính, công dụng
và chức năng khác nhau. Tương tự như mít thì ngọt mà khế
thì chua: người làm việc thiện thì tâm mát mẻ, người làm
điều ác thì tâm nóng nảy. Mát mẻ hay nóng nảy là phản
ứng tất yếu của thiện và ác; chúng không thể trao đổi
trạng thái và phản ứng cho nhau được. Pháp nào bảo tồn
và duy trì tính chất của pháp ấy! Đại vương đã nắm vững
điều này chưa?
- Trẫm
còn lờ mờ lắm đấy!
- Dầu
thì đốt được, còn nước không đốt được vì dầu mang
tính chất của vật dẫn cháy. Cũng tương tự thế, thiện
hồi hướng được, ác không hồi hướng được là do tính
chất của nó như vậy, chúng không thể làm khác tính chất
của chúng, ta cũng không thể áp đặt bảo chúng phải khác
đi!
Nói
rộng hơn tí nữa, bản chất của thiện là lan tỏa, càng
thắp càng sáng, càng hồi hướng thì càng được nhiều. Bản
chất của ác là co rút, cô đặc, không lan tỏa, người nào
làm thì người ấy chịu thôi, chẳng thể chia xẻ được
cho ai! Đại vương nghĩ thế nào?
- Thưa,
đã bắt đầu sáng ra rồi đấy.
- Thiện
có quả nhiều, ác có quả ít; đó là bản chất, tính chất
của nó, là một cái gì cố hữu, tất yếu vậy, đại vương!
- Nhiều
và ít ấy như thế nào, đại đức?
- Một
giọt nước có thể rơi thấm được mười sào đất, hai
mươi sào đất không, đại vương?
- Không
thể.
- Thế
một trận mưa to, rất lớn, rất lâu - thì sao đại vương?
- Không
những thấm nhuần cả một vùng mà còn đầy giếng, khe, suối,
sông, rạch... nữa là khác!
- Cũng
tương tự như thế! Việc thiện mà người nào đã làm thì
có thể thấm nhuần, chia sớt đến cho rất nhiều người,
vì thiện vốn có quả nhiều. Còn ác thì không thể như vậy
vì nó có quả rất ít, tâu đại vương!
- Vâng!
- Khi
làm việc lành, tốt thì tâm người ta hoan hỷ, mát mẻ, phỉ
lạc. Khi làm việc xấu thì tâm người ta nóng nảy, ăn năn,
hối hận. Cái tâm hoan hỷ, mát mẻ, phỉ lạc ấy sẽ được
lan tỏa, tươi nhuần, tuôn chảy đến nhiều người. Cái tâm
nóng nảy, ăn năn, hối hận ấy sẽ co rút, cô đặc, khô
cháy nên không thể tuôn chảy đến đâu được. Đấy là
lý do thiện quả, thiện báo thì hồi hướng được, còn ác
báo, ác quả thì không hồi hướng được, tâu đại vương!
- Thật
là kiến giải của bậc thông tuệ, trẫm xiết bao tâm phục.
* *
*
168.
Tại sao có chiêm bao?
- Thưa
đại đức, hôm nay chúng ta bàn về giấc mộng nhé! Tại sao
có người mộng lành, có người mộng dữ? Tại sao có người
chiêm bao thấy cảnh, người hay vụ việc đã có từ trước?
Có người lại chiêm bao thấy cảnh, người hay vụ việc chưa
hề có? Lại có người nằm thấy chuyện hạnh phúc, vui tươi;
có người nằm thấy chuyện sợ hãi, khiếp đảm? Lại có
người thấy một việc mình đã làm, người khác lại thấyviệc
mình chưa hề làm? Rồi lại còn mộng thấy gần, thấy xa;
có kẻ lại thấy chuyện đâu như hằng ức kiếp? Tất cả
các loại chiêm bao ấy - nguyên cớ do đâu, đại đức?
- Tâu
đại vương! Tất cả các loại chiêm bao ấy đều do từ những
lý do sau đây:
Thứ
nhất, do chất gió (phong đại) trong cơ thể dấy động.
Thứ
hai, do mật tác động.
Thứ
ba, do đàm tác động.
Thứ
tư, do bệnh, nóng (sốt) hay lạnh (hàn) tác động.
Thứ
năm, do chư thiên, quỷ hay ma tác động.
Thứ
sáu, những chủng tử có sẵn trong tâm do mình đã tạo tác
từ quá khứ.
Trong
sáu nguyên nhân kể trên, chỉ có nguyên nhân thứ sáu là thật.
Chiêm bao do nhân thứ sáu này tác động là chiêm bao có thật.
Còn ngoài ra, các giấc chiêm bao do những nguyên nhân khác đều
không thật.
- Ý
đại đức muốn nói, chiêm bao có thật này do cảnh, vật,
người hay vụ việc mình đã tạo trữ từ trước hiện tồn
trong dòng tâm hữu phần (Bhavangacitta) hay sao?
- Tâu,
đúng thế! Đúng là nó được tàng trữ trong hữu phần tâm.
Tuy nhiên, nói tâm tạo ra nó là không đúng, mà nói nó tự
hiện ra cũng không phải.
- Thưa
đại đức! Đã bắt đầu khó hiểu rồi đây!
- Không
khó đâu, ví dụ là đại vương hiểu ngay. Ví như cái hình
và bóng ở trong gương, nói cái gương tạo ra bóng là không
được mà nói bóng tự hiện ra cũng không được. Tuy nhiên,
muốn có bóng thì phải có hình, hình soi vào gương mới có
bóng. Trước đây, chúng ta làm một việc gì đó (hình), việc
đó lưu bóng ở trong tâm (gương). Chiêm bao chính là thấy
lại cái bóng ấy ở trong gương (bhavangacitta). Đơn giản chỉ
có vậy.
- Vâng,
trẫm hiểu rồi! Nhưng có khi nào người nằm mộng thấy chiêm
bao này là tốt, chiêm bao kia là xấu không, đại đức?
- Người
chiêm bao không thể biết chiêm bao ấy xấu hay tốt. Có thể
kể lại chiêm bao ấy cho những người đoán mộng nghe, họ
có thể biết được. Nó ví như những nốt ruồi đen hay đỏ
ở trong cơ thể, chúng ta không thể biết được chúng mọc
ở chỗ nào là tốt, chỗ nào là xấu, chỗ nào có tiền tài,
chỗ nào nghèo khổ, chỗ nào họa hại, chỗ nào may mắn.
Chỉ có những ông thầy tướng pháp mới có thể biết được
điều đó, tâu đại vương!
- Thế
thì lúc chiêm bao, người ấy ngủ hay thức?
- Ngủ
hay thức đều không thể chiêm bao. Nói rõ hơn, ngủ say quá
hoặc tỉnh táo quá đều không thể chiêm bao được; chỉ
khi nào nửa tỉnh, nửa mê, nghĩa là ngủ mà không say đắm,
tỉnh nhưng mà mơ mơ màng màng; chính ở giữa trạng thái
ấy, chiêm bao mới xuất hiện.
- Vâng!
- Nói
có tính giáo nghĩa, kinh điển, thì khi ngủ say, ngủ thật
ngon, tất cả lục căn (mắt, tai, mũi lưỡi, thân, ý) đều
đóng cửa, hoàn toàn không hay biết gì về lục trần (sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp) bên ngoài. Lúc ấy chỉ còn duy
trì sự sống qua sự trôi chảy của hữu phần tâm (bhavangacitta).
Ý thức (ý), lúc ấy cũng chìm vào hữu phần tâm này, nên
hoàn toàn không hay biết gì cả. Lúc này không thể chiêm bao!
Còn
khi ngủ mà giấc ngủ chưa sâu, chưa ngon - thì ý thức lúc
ấy chưa chìm vào hữu phần tâm - nên nửa tỉnh, nửa mê!
Ngũ căn lúc ấy, nếu bị thế giới ngũ trần tác động mạnh,
họ có thể tỉnh lại, hoặc có thể nhận biết! Chính đấy
là thế giới mà chiêm bao hiện hữu.
- Đại
đức có thể nêu ví dụ chăng?
- Tâu,
vâng. Trở lại cái gương soi hồi nãy. Nếu cái gương để
ở chỗ tối thì có thể thấy bóng một cách dễ dàng không?
- Không
thể.
- Khi
ý thức chìm vào dòng hữu phần tâm,như chìm hoàn toàn vào
bóng tối, thì ta không thấy bóng; chiêm bao cũng y như thế.
- Vâng!
- Cũng
y như có phần đất trên quả địa cầu này, mặt trời không
rọi đến được, giấc ngủ sâu không hay biết gì, không
thấy gì - là thế!
- Những
ai có được giấc ngủ sâu này, đại đức?
- Người
vô tâm, vô tư, người mà thế giới ý thức ít làm việc...
thường có được giấc ngủ sâu này. Ngoài ra, những người
có thiền định, các bậc thánh nhân thường có giấc ngủ
ngon lành như thế!
- Còn
trạng thái tâm nửa tỉnh nửa mê, nghĩa là đang còn mơ mơ
màng màng - tại sao chiêm bao lại xuất hiện?
- Tâu,
khi đó, người ấy không còn ghi nhận rõ những hình ảnh
thực của ngoại trần; nói cách khác, nó hiện ra nửa thực,
nửa hư, mà đa phần hư nhiều hơn thực. Chính trong lúc ấy,
những điều được lưu giữ trong ký ức tiền kiếp hoặc
được lưu giữ từ quá khứ lại hiện ra, cọng với hình
ảnh hư hư thực thực trong hiện tại, chúng tương tác, trộn
lẫn... mà làm nên giấc chiêm bao.
- Vâng,
thế sao họ lại chiêm bao?
- Giấc
chiêm bao có nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng đa phần phản
ảnh ước mơ thầm kín của chủ nhân. Trong đời sống thường
nhật, họ có những nguyện vọng, những ước mơ, những mong
muốn không thể thực hiện được. Chính bởi những ràng
buộc áo cơm, sự cấm đoán của luân lý, đạo đức xã hội,
những thực tế khó khăn không đáp ứng được trong đời
sống... mà chúng được tái hiện trong giấc mơ, tâu đại
vương!
- Hay
lắm, giấc ngủ sâu quá thì không biết gì, tỉnh quá thì
giao tiếp với thế giới thường nhật rồi. Vậy chiêm bao
chỉ xảy ra ở khoảng giữa hai tình trạng ấy, điều này
rất đúng!
- Đại
vương đã lãnh hội rất tốt.
- Vâng.
Nói tóm lại, khi thức, tâm ý lăng xăng chuyện này chuyện
kia nên chiêm bao không thể đến được.
- Đúng
vậy. Ví như một tỳ khưu phá hủy chánh mạng thanh tịnh
giới, không nuôi mạng chơn chánh, sống thân cận với bạn
ác, chuyên hành trược hạnh, rời khỏi sự tinh cần; lười
biếng, ham ăn, mê ngủ - thì pháp trợ bồ đề sẽ không bao
giờ đến được với họ. Tương tợ như thế, người có
làm việc ác hoặc tâm ý lăng xăng, nghĩ ngợi lung tung, hoặc
thế giới óc não làm việc nhiều, hoặc lo toan, hoặc mưu
tính - thì đêm đêm thường khó ngủ, cứ chiêm bao mộng mị
- thật khó khăn để có được giấc ngủ ngon, giấc ngủ
sâu, đóng trọn vẹn sáu cửa để cho ý thức được chìm
vào hữu phần tâm, tâu đại vương!
- Rất
rõ vậy. Và dường như đại đức cố ý phân chia giấc ngủ
ra làm ba giai đoạn: đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối?
- Đúng
thế!
- Đại
đức có thể giảng giãi rõ ràng chăng?
- Vâng.
Đoạn đầu là lúc chuyển từ giai đoạn đang thức sang giấc
ngủ. Đấy là tâm trạng lờ đờ, mệt mỏi, ngáp, cơ thể
mệt nhừ, muốn nằm và muốn ngủ.
Đoạn
thứ hai, tuy nằm ngủ mà vẫn còn nhận biết thế giới xung
quanh, nghĩa là có ngủ nhưng vẫn còn chút thức, ngủ mà ý
thức chưa hoàn toàn đóng cửa.
Giai
đoạn cuối là lúc ngủ ngon, ngủ sâu, ý thức chìm hẳn vào
dòng Bhavanga!
- Cảm
ơn đại đức! Thế trạng thái ngủ chút chút ấy, nói cụ
thể là như giấc ngủ của con khỉ, nó làm cho phát sanh chiêm
bao. Và rõ ràng sự kiện chiêm bao ấy là không tốt. Vậy
người tu hành - ý nói bậc chân tu có tinh cần, có giới hạnh
- sẽ đối trị với nó ra sao?
- Câu
hỏi hay lắm! Muốn đối trị với nó, cần thiết phải trang
bị những thứ khí giới sau đây: tỉnh thức, chánh niệm,
kiên trú trong pháp. Khi làm được thế, hành giả không bị
chi phối bởi ngoại cảnh bên ngoài và những tư tưởng, ý
niệm khởi động bên trong, tâm được an chỉ. Tuy nhiên, từ
an chỉ dễ đưa đến nhất hành (ekagggatà) - nhất hành này
tương tự như nhập vào dòng bhavanga - vị ấy không nhập
vào nhất hành mà quán chiếu để thấy rõ vô thường, khổ
não, vô ngã để đắc Thánh quả! Như thế, rõ ràng vị ấy
không phải ngủ mà cũng chẳng phải thức, cũng chẳng phải
ngủ như giấc ngủ con khỉ , tâu đại vương!
- Khi
chánh niệm, tỉnh thức, kiên trú trong pháp, rõ ràng vị ấy
đang còn thức mà!
- Tâu,
thức, nhưng không như cái thức của phàm nhân là bị chi phối
bởi mọi cái ồn ào, phức nhiễu ở xung quanh, nên không thể
gọi là thức bình thường được!
- Nếu
vị ấy không nhập vào bhavanga, tức là còn đang ở giai đoạn
thứ hai - nghĩa là ngủ chút chút như con khỉ - thì rõ là
vị ấy sẽ chiêm bao!
- Tuy
không nhập vào dòng bhavanga nhưng vị ấy không mơ mơ màng
màng, không ngủ chút chút như con khỉ, vì ý thức đã yên
lặng, tâm đã an lạc. Do vậy, vị ấy không có chiêm bao,
tâu đại vương!
- Thế
còn giai đoạn cuối, các vị ấy ngủ ngon, ngủ sâu chứ?
- Dĩ
nhiên rồi. Các ngài chánh niệm, tỉnh thức ở giai đoạn
một; an lạc, vắng lặng ở giai đoạn hai nên đi vào giấc
ngủ ở giai đoạn ba rất dễ dàng!
- Thế
có khác giấc ngủ ngon của phàm nhân không?
- Không
khác. Nhưng phàm nhân lâu lâu mới có được giấc ngủ ngon
như thế, vì họ còn mộng mị, chiêm bao; còn các bậc Thánh
nhân bao giờ cũng ngủ ngon và không bao giờ còn chiêm bao nữa!
- Hay
thật! Khi thức không phải thức, khi ngủ không phải ngủ,
ở chỗ chiêm bao mà không phải chiêm bao; bao giờ cũng an lạc,
vắng lặng, ngủ lúc nào cũng ngon - thì thật là hạnh phúc
tuyệt vời trên cõi trần này, thưa đại đức!
- Chí
phải!
* *
*
169.
Chết đúng thời và chết không đúng thời
- Thưa
đại đức! Sinh ra trên đời ai cũng phải chết. Nhưng có
người lại chết trẻ, có người lại chết già, tại sao
như thế?
- Tâu,
vì có người chết đúng thời và có người chết không đúng
thời!
- Xin
đại
đức giảng cho.
- Vâng,
ví như xoài ra hoa rồi kết trái. Đúng lý ra, đúng thời,
đúng tiết, đúng độ thì xoài chín vàng mới rụng. Nhưng
đại vương không từng thấy có trái đang non đã rụng, trái
còn xanh đã rụng, trái mới hườm hườm đã rụng, hay sao?
- Trẫm
có thấy.
- Xoài
rụng khi chưa đúng thời có nhiều lý do khác nhau. Có trái
do sâu đục, trái do chim mổ, trái do gió thổi mạnh. Gẫm
con người sinh ra ở đời cũng như thế nào có khác gì?
- Ý
đại đức muốn nói đến các sự chết, nhiều cách chết
của con người khi chưa đến tuổi thọ phải không?
- Đúng
thế. Con người sống cho đến già, có bệnh, bệnh nhẹ hoặc
vô bệnh mà chết, ấy gọi là chết đúng thời. Còn những
người do hành trình của nghiệp, tác động của nghiệp, do
phản ứng đoạn lìa của nghiệp - mà chết khi chưa hết tuổi
thọ - đều gọi là chết phi thời, tâu đại vương!
- Điều
ấy nghe thì có lý - nhưng lấy đâu làm mốc, làm căn cứ
để biết tuổi thọ của mỗi người là bao nhiêu? Giả dụ
đứa bé đang còn trong bụng mẹ mà chết, có thể nói rằng,
tuổi thọ của nó chỉ chừng đó thì sao? Tương tự thế,
năm tuổi, mười tuổi, hai mươi tuổi mà chết - thì phải
được hiểu tuổi thọ ngang chừng đó, nên gọi là chết
đúng thời, không được sao? Suy từ luận cứ đó, tất cả
mọi người chết ở độ tuổi nào cũng đúng thời cả, chứ
không thể có cái gọi là chết phi thời, thưa đại đức!
Đại
đức Na tiên mỉm cười:
- Đại
vương, những người mà năm tuổi, mười tuổi, hai mươi tuổi...
chết... là những người chết thọ nhỉ?
- Không,
họ chết yểu!
- Thế
những người tám mươi, chín mươi mới chết thì gọi là
chết sao nhỉ?
- Gọi
là chết thọ!
- Thế
là đại vương đã tự xác nhận cái mốc "chết thọ" của
đời người là bảy mươi, tám mươi, chín mươi v.v... Vậy
chúng ta có thể hiểu rằng, chết đúng thời là chết thọ.
Còn tất cả những ai chưa đến tuổi thọ, chết đang còn
thanh niên, còn ấu thơ, chết bằng cách này hay cách khác -
thì đều gọi là chết phi thời cả, tâu đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà cười:
- Không
sai được. Thế đại đức có thể tóm lược cho nghe có bao
nhiêu cách chết phi thời ấy, ví như trái xoài rụng do sâu
đục, do chim mổ, do gió thổi?
Đại
đức Na tiên lắc đầu:
- Nhiều
lắm, tâu đại vương! Thật là không thể kể hết tất cả
những cách, những kiểu, những trường hợp chết vào loại
phi thời này. Nó thiên hình vạn trạng. Tuy nhiên, hằng trăm
hằng ngàn cách chết phi thời - đều có thể quy về một
chữ, đó là nghiệp. Do nhân quả, báo ứng của Nghiệp mà
tạo nên phi thời tử, tâu đại vương!
- Vâng,
thế đại đức có thể kể cho nghe một số trường hợp
tượng trưng được chăng?
- Tâu,
có thể được! Bần tăng xin nêu ra đây một số cách chết
không đúng thời:
Chết
do đói,
Chết
do khát,
Chết
do rắn cắn,
Chết
bởi độc dược,
Chết
cháy,
Chết
nước,
Chết
bởi khí giới v.v...
Ở
đây đa phần là nghiệp dữ, nghiệp nặng...! Ngoai trừ chết
đói, chết khát xẩy ra từ từ, còn năm cách chết sau, đều
là chết dữ tợn, chết có đổ máu, chết bị hành thân hoại
thể, chết tức khắc - nên người đời thường gọi là chết
bất đắc kỳ tử đó, tâu đại vương!
- Vâng,
cũng đều là nghiệp nhưng do tội báo quá nặng, phải chăng?
Đại đức trình bày đại lược cho nghe một vài ví dụ liên
hệ về nhân và quả của các cách chết ấy?
- Tâu
vâng! Kiếp này có người chưa đến tuổi thọ mà chết, do
đói, nguyên nhân là bởi một quá khứ lâu xa đã bắt bỏ
đói một chúng sanh nào đó, hoặc do cướp giật thực phẩm,
hoặc do phá hoại mùa màng, nương rẫy của kẻ khác, hoặc
do thù oán mà đốt lương thực, thực phẩm v.v... - Do nhân
như vậy nên người kia đã bị chết đói nhiều trăm năm,
nhiều ngàn năm trong bốn đường ác. Nghiệp còn dư sót, tuy
được sanh làm người nhưng quả báo vẫn còn chạy theo! Nếu
quả nghiệp theo kịp lúc thiếu niên thì bị chết đói lúc
thiếu niên. Quả nghiệp theo kịp lúc trung niên thì bị chết
đói lúc trung niên. Nhân quả vận hành một cách chính xác,
không thiên vị, thiên lệch bao giờ!
Tương
tự như thế, do nhân từng làm cho chúng sanh bị chết, chết
do độc dược, do đốt cháy, do dìm nước, do đâm chém giết
hại v.v... nên sau khi bị quả báo đau khổ trong bốn ác đạo,
sanh làm người, vẫn bị trả quả báo dữ, bị đoạn lìa
sanh mạng khi chưa đến tuổi thọ!
Phi
thời tử là vậy, tâu đại vương!
- Chung
quy là do nghiệp ác nặng, trẫm đã hiểu. Nhưng nếu chết
do bệnh thì sao? Có người bệnh lương ương cả đời không
chết? Có người bạo bệnh chết. Có người bệnh nặng, chạy
thầy chạy thuốc hết cả gia sản mới lành. Có người bệnh
sơ sơ, dưỡng vài ngày là khỏi. Tất cả những bệnh ấy,
chết và không chết có phải là do nghiệp không?
- Có
cái do nghiệp, có cái không do nghiệp. Tâu đại vương!
- Tại
sao?
- Tâu,
nghiệp phải được hiểu là do hành động đã làm, đã tạo
tác từ kiếp trước gọi là nghiệp nhân, kiếp này bị trả
quả gọi là nghiệp quả. Định luật báo ứng nhân quả ấy
gọi là nghiệp. Vậy những người chết do nhân quá khứ đã
làm gọi là chết bởi nghiệp. Ngoài ra, còn có rất nhiều
trường hợp do tạo nhân từ kiếp này mà chết - nên không
được gọi là bởi nghiệp, tâu đại vương!
- Xin
đại đức cho thí dụ.
- Vâng,
ví dụ như có một người không biết giữ gìn cơ thể đối
với thời tiết bất thường xảy ra ở xung quanh. Đại loại
như trời nóng quá, trời lạnh quá, gió nhiều quá; hay nói
cách khác, phong đại, thủy đại, hỏa đại... ở bên ngoài
thịnh quá, tác động vào tứ đại của con người mà sinh
bệnh... Cái ấy không bởi nghiệp quá khứ mà do nhân hiện
tại, tâu đại vương!
- À,
trẫm hiểu rồi.
- Ví
dụ như có người làm việc quá độ, do thức ngủ quá độ,
do lười biếng quá độ... làm cho tứ oai nghi: đi, đứng,
ngồi, nằm... không điều hòa, mà sinh bệnh; ấy cũng là do
nhân hiện tại, tâu đại vương!
- Vâng!
- Ví
dụ có người ăn uống bất thường, hoặc dùng thứ này nhiều,
thứ kia không có, hoặc quá ít mà sinh bệnh tiêu chảy, táo
bón, ung thư - hoặc mật nhiều, đàm nhiều, hoặc thiếu máu
hoặc dư máu... đều là bệnh mà mình tự tạo trong kiếp
này - nên không thể gọi là nghiệp, tâu đại vương!
Cơ
thể con người sinh bệnh còn do nguồn nước uống, không khí
để thở, các định luật tự nhiên xung quanh tác động, ảnh
hưởng nữa; đều là nhân của kiếp này cả, tâu đại vương!
- Thế
là quá rõ. Đối với những bệnh không chết thì không nói.
Còn tất cả bệnh mà chết, dù nhân quá khứ hay nhân hiện
tại cũng đều gọi là phi thời tử cả sao?
- Đúng
thế. Đúng tuổi thọ mới chết gọi là đúng thời, chưa
đến tuổi thọ mà chết, do nhân thế nào đều gọi là chết
không đúng thời cả!
- Những
điều này có ví dụ cụ thể không nhỉ? Đại đức!
- Có
chứ. Ví như đốt một đống củi khô, bổi khô, lá khô...
Khi lửa cháy hết đống củi khô, bổi khô, lá khô ấy, lửa
tự động tắt - ấy gọi là lửa tắt đúng thời, tâu đại
vương!
- Đây
chỉ cho trường hợp những người sống hết tuổi thọ của
mình mới chết, là chết đúng thời!
- Vâng.
Còn đống củi khô, bổi khô, lá khô ấy... đang cháy nửa
chừng, bị một trận mưa ập xuống làm tắt lửa; ấy gọi
là lửa tắt không đúng thời, tâu đại vương!
- Đây
chỉ trường hợp những người bị nghiệp nặng hay bệnh
nặng đến phải chết khi họ sống chưa hết tuổi thọ của
mình, gọi là phi thời tử đây?
- Đúng
vậy.
- Nghiệp
nặng hoặc bệnh nặng giống như mưa đổ ập xuống làm tắt
lửa, dứt sanh mạng; còn trường hợp mưa ấy bị gió thổi
tan đi, hoặc mưa sơ sơ không đủ tắt lửa thì sao, đại
đức?
- Những
người sống hết tuổi thọ mà vô bệnh hoặc bệnh nhẹ thì
như trời quang mây tạnh, không có mưa! Những người cũng
sống hết tuổi thọ nhưng bệnh nặng rồi lành, hoặc bệnh
liên miên - như trời có mưa, nhưng gió thổi tan mưa đi, hoặc
có mưa nhỏ không đủ tắt lửa. Những người nghiệp nhẹ
hoặc có bệnh nhưng không chấm dứt tuổi thọ đều y như
thế!
- Vâng!
- Những
người bị rắn cắn, chất độc mạnh, bị hành thân xác,
nhưng thầy rắn chữa lành, không đoạn mạng sống được,
cũng y như thế.
- Vâng!
- Ví
như tên lìa khỏi giây cung, không bị chướng ngại cản trở
sẽ đến được mục tiêu, nếu bị chướng ngại cản trở
sẽ không đến được mục tiêu. Mũi tên đến được mục
tiêu là đúng thời, mũi tên bị cản trở, rớt giữa chừng,
gọi là phi thời, tâu đại vương!
- Nghe
rõ!
- Ví
như một người đánh trống đồng, âm vang đi rất xa - là
đúng thời; nhưng vừa đánh lên, có kẻ đưa hai tay bịt mặt
trống, ngăn lại, âm thanh ngưng dứt, không vang đi được
- ấy gọi là không đúng thời, tâu đại vương!
- Trẫm
đã hiểu rồi!
- Những
người không bị nghiệp nặng đoạn lìa sanh mạng, nhưg bị
bệnh do thời tiết tác động, do ăn quá độ, do làm việc
quá độ, do ảnh hưởng nước và không khí ở xung quanh...
thuốc thang không chữa được...đều phải được hiểu là
phi thời tử y như thế, không khác.
- Vâng!
- Lúa
cấy trong đám ruộng mưa thuận gió hòa, chăm sóc chu đáo,
đến mùa gặt hái được dồi dào lương thực. Nhưng nếu
đám ruộng ấy bị trời nắng hạn, thiếu nước, thiếu phân,
chắc hẳn lúa sẽ khô chết hoặc thâu hái chẳng được bao
nhiêu hạt, phải thế không đại vương.
- Vâng.
- Lúa
khô chết ấy là đúng thời hay phi thời?
- Tất
là phi thời!
- Nếu
do hạn hán mà chết, do sâu đục thân, do chuột cắn nát,
do châu chấu tàn hại... thì có phi thời chăng?
- Dĩ
nhiên là phi thời.
- Đám
ruộng phân nước đầy đủ, sâu không ăn, chuột không phá,
châu chấu không làm hại, nhưng nếu bị một trận mưa đá
dập xuống thì sao?
- Cũng
tiêu luôn. Cũng là phi thời!
- Nói
tóm lại, những ai vô bệnh, thiểu bệnh, bệnh nặng mà chữa
lành; nghiệp nặng mà do phước bảo trợ được vượt qua,
nhiều tai nạn nhưng may mắn thoát chết - sống hết tuổi
thọ của mình mới lìa đời - gọi là hợp thời tử! Những
ai bị bắt đắc kỳ tử, bị ác nghiệp quá khứ còn dư sót,
bị nhân quá khứ hoặc nhân hiện tại tác động mà sinh bệnh,
đoạn lìa mạng sống khi còn non trẻ, trung niên v.v... Tất
cả đều được gọi là phi thời tử, tâu đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà tán thán:
- Thật
thiện xảo, phong phú thay là những ví dụ của đại đức;
sự giải đáp nhiều mặt của đại đức, trên thế gian này,
ai mà không hiểu được, quả là cô phụ tấm lòng của bậc
đại trí vậy.
* *
*
170.
Tại sao nhập Niết bàn lại có hiện tượng phi thường?
- Thưa
đại đức! Tất cả các vị A-la-hán khi Niết bàn, thi thể
hỏa táng của các ngài đều có hiện tượng phi thường xảy
ra phải chăng?
- Có
vị có thần thông phép lạ xuất hiện, có vị không có gì
cả, tâu đại vương!
- Tại
sao lại như thế, đại đức?
- Tâu
đại vương! Thần thông phép lạ hay là hiện tượng phi thường
xảy ra nơi thi thể hỏa táng của các bậc A-la-hán Niết bàn,
là do một trong ba điều kiện sau đây:
Thứ
nhất, có vị A-la-hán sắp Niết bàn, vì muốn đem đến lợi
ích cho những người đến lễ bái, cúng dường; nên chú nguyện
rằng: "Xin cho thi thể này hiện ra những năng lực phi thường."
Nguyện như thế xong, Niết bàn, thi thể hỏa táng của vị
ấy sẽ xảy ra thần thông phép lạ.
Thứ
hai, một số chư thiên có thần thông biết rằng, lễ bái,
cúng dường thi thể hỏa táng của các bậc A-la-hán được
rất nhiều phước báu cao thượng. Các vị chư thiên ấy muốn
làm cho chư thiên trong các cõi và nhân loại phát sanh tín tâm
trong sạch; nên họ đến nơi hỏa đài phát lời chú nguyện:
"Xin cho thi thể hỏa táng của bậc A-la-hán này hiện ra những
năng lực phi thường để tăng trưởng đức tin cho phần đông."
Chư thiên nguyện thế xong, sau đó, thần thông phép lạ sẽ
xảy ra ngay nơi chỗ hỏa táng ấy.
Thứ
ba, có những nam, nữ cư sĩ là bậc trí thức, có trí tuệ,
giàu đức tin... họ cúng dường vật thơm, tràng hoa hay vải
vóc đến lễ đài hỏa thiêu rồi phát nguyện: "Mong cho thi
thể hỏa táng của bậc A-la-hán này phát sanh năng lực mầu
nhiệm vì lợi ích cho chư thiên và loài người."
Lời
cầu nguyện ấy sẽ được ứng nghiệm.
Nghe
xong đức vua Mi-lan-đà hỏi:
- Nếu
không có ba trường hợp chú nguyện ấy thì sẽ không có phép
lạ sao, đại đức?
- Tâu,
vâng!
- Đến
các vị đại A-la-hán thuần thục lục thông, nếu không chú
nguyện cũng không có hiện tượng phép lạ xuất hiện sao?
- Tâu,
vâng.
- Như
vậy rõ ràng là trường hợp nào cũng vì lợi ích cho chư
thiên và loài người cả. Đáng ngưỡng mộ làm sao!
* *
*
171.
Chúng sanh nào có khả năng đắc đạo?
- Thưa
đại đức! Tất cả chúng sanh bất cứ cõi nào, nếu có đức
tin trong sạch, có sự thực hành chơn chánh và tinh cần - thì
thảy đều có thể đắc thánh quả cả chứ?
- Có
loài, có loại đắc, có loài, có loại không thể đắc, tâu
đại vương!
- Những
chúng sanh nào không thể đắc, xin đại đức kể cho nghe.
- Tâu
đại vương, có mười lăm loài, loại chúng sanh không thể
đắc đạo quả cao siêu được, đó là:
Súc
vật, cầm thú;
Loài
khẩn-na-la (Kinnara) - chúng sanh phi cầm, có đầu giống người;
Các
loài rồng;
Ngạ
quỷ;
Người
tà kiến;
Trẻ
chưa đủ bảy tuổi;
Người
phạm tội giết cha;
Người
phạm tội giết mẹ;
Người
phạm tội giết A-la-hán ;
Kẻ
chích máu Phật ;
Người
chia rẽ Tăng;
Người
phạm giới trộm mạo Tăng tướng hoặc tỳ khưu hành theo
ngoại đạo;
Kẻ
hãm hiếp tỳ khưu ni hoặc tỳ khưu phạm Tăng tàn mà không
thọ lãnh hình phạt;
Người
bán nam bán nữ;
Người
có hai sanh thực khí.
Mười
lăm hạng chúng sanh này dù đức tin trong sạch, thực hành
chơn chánh, tiến tu chỉ tịnh, quán minh cũng không thể vào
dòng Thánh chủng được.
Đức
vua Mi-lan-đà gật đầu:
- Trẫm
không hề nghi ngờ về điều ấy, chỉ thắc mắc một điểm
nhỏ thôi!
- Đại
vương cứ tự nhiên hỏi.
- Vâng!
Ở nơi điểm thứ sáu, trẻ dưới bảy tuổi, không thể đắc
quả, trẫm rất nghi ngờ. Tại sao vậy? Vì trẻ dưới bảy
tuổi, tâm hồn rất trong trắng, chẳng ngã chấp, tà kiến,
chẳng tư duy về ái dục, chẳng độc ác, sân hận, chẳng
đố kỵ, kiêu căng, chẳng buông lung, phiền não. Với nhân
tố tốt đẹp như vậy, nếu chăm chuyên thực hành chánh pháp,
tại sao lại không đạt đạo?
- Đại
vương! Với sức mạnh bình thường của con người, có thể
bưng được núi Tu di không?
- Hẳn
nhiên là không thể.
- Tại
sao thế?
- Tại
núi Tu di quá to mà sức người thì có hạn!
- Cũng
như thế đó, tâu đại vương! Đạo quả là pháp xuất thế
gian, nó quá vĩ đại, quá cao siêu so với trí tuệ bình thường
của con người. Trẻ dưới bảy tuổi, thể xác non yếu, kiến
thức và tư duy đều chưa được chín chắn, đức tin chưa
vững mạnh, trí tuệ còn quá non nớt - thì làm thế nào đủ
điều kiện, năng lực để thực hành và thâm ngộ đạo lớn
được hở đại vương!
- Ồ!
Có thể là vậy lắm.
- Ví
như một giọt nước nhỏ có thể thấm ướt cả quả đất
được chăng, đại vương?
- Dĩ
nhiên là không thể rồi!
- Tại
sao như thế?
- Vì
quả đất lớn quá.
- Cũng
như thế đó, đại vương hãy hiểu cho, mảnh đất của đạo
quả cũng rộng lớn mênh mông; tất cả hiểu biết, đức
tin, trí tuệ của trẻ dưới bảy tuổi đều nhỏ nhít, tí
tẹo thì làm sao có thể thâm nhập cảnh giới của Thánh nhân
được hở đại vương?
- Thưa
vâng!
- Lại
nữa, ví như có người lấy cây đèn nhỏ mà muốn rọi sáng
cho thấy cả quốc độ, y có thể làm thế được không, đại
vương?
- Thật
không thể.
- Tại
sao?
- Vì
vùng chiếu sáng của ngọn đèn chỉ trong một giới hạn nhỏ,
còn quốc độ thì to lớn quá.
- Cũng
như thế đó là trí tuệ non nớt của trẻ dưới bảy tuổi
so với thế giới giác ngộ của bậc Thánh nhân.
- Vâng!
- Ví
như có loại sâu Kini chuyên đục thân lúa Sàlì, con sâu ấy
có thể nào ăn một con voi cao bốn thước không, đại vương?
- Chẳng
thể nào!
- Vì
sao?
- Vì
khả năng con sâu không thể làm việc ấy.
- Cũng
như thế đó là tổng cộng mọi năng lực của trẻ dưới
bảy tuổi, nó không có khả năng thành tựu được Thánh đạo
đâu, đại vương!
- Cảm
ơn đại đức đã ân cần giảng giải.
* *
*
172.
Niết bàn có xen lẫn khổ?
- Thưa
đại đức! Niết bàn là duy nhất an lạc hay có lẫn sự khổ?
- Sao
lại khổ được, đại vương hỏi chi lạ lùng!
- Thưa,
không lạ lùng mà là sự thật. Đại đức không thấy sao?
Những người tu hành để tìm kiếm Niết bàn như đại đức,
không biết bao nhiêu là khổ thân và khổ tâm. Này nhé! Thứ
nhất là hành thân cho khổ. Đi đứng nằm ngồi đều phải
tỉnh thức, chánh niệm. Nói cách khác, đi cũng rán giữ đề
mục thiền, đứng cũng không dám lơ là đề mục thiền, ngồi
cũng phải chăm chăm đề mục thiền, nằm cũng không dám quên
đề mục thiền. Thế không khổ thân là gì?
Thứ
hai, nói rộng ra một tí - là ăn cũng phải quán tưởng từ
miếng một, uống nước cũng phải quán tưởng từng hớp.
Thế nhưng, có dám ăn no đâu, sợ Phật quở. Ngủ cũng thế,
ngủ chỉ được chút ít thôi, chẳng no mắt. Mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý đều được xiềng xích cột chặt, không cho
sờ đụng sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp! Cái ấy gọi
là sống à? Có chút vui nào đâu hay chỉ là khổ thôi? Rồi
còn bỏ cha me, thân quyến, bạn bè; đi xin ăn chỗ này, chỗ
kia, mặc y vải bó tử thi, vào rừng, vào nghĩa địa hoang
vắng để sống cô độc hiu quạnh một mình. Thế chưa đủ
gọi là khổ sao?
Đại
đức Na tiên trầm tĩnh nói:
- Đại
vương cứ tiếp tục cho.
- Vâng!
Những người trên thế gian này họ đâu dại gì mà chịu
khổ như thế, họ sống vui thích, sướng khoái là khác. Đại
đức hãy nghe đây:
Thứ
nhất, họ ở nhà cao cửa rộng, trang trí vật dụng bằng
vàng, bằng bạc, tất cả tiện nghi thứ gì cũng thích mắt.
Họ chọn vợ đẹp, nàng hầu xinh xắn, mủm mỉm dễ thương.
Họ sống khoái lạc, thỏa mãn trong thế giới sắc tướng
đầy quyến rủ ấy.
Thứ
hai, họ đắm chìm, mê man trong thế giới đàn ca xướng hát,
âm thanh trầm bỗng, dìu dặt mê ly như đưa hồn người vào
cõi hoan lạc của thiên đường.
Thứ
ba, họ ướp trầm, xông hương, trăm loại hoa hương tỏa ngát
đêm ngày, những hương liệu nồng nàn được tỏa ra từ
các loại chiên đàn, già la; từ mái tóc, áo quần, từ da
thịt nõn nà; từ bột hương, nhụy hương, từ khăn thơm,
chăn màn, gối, đệm v.v... Đâu đâu cũng thơm mê ly như đưa
con người vào cõi hương bồng bềnh, vi diệu.
Thứ
tư, họ còn thụ hưởng bao nhiêu thứ ngon vật lạ, sơn hào
hải vị, của cây cỏ, sông hồ! Biết bao nhiêu là vị béo
bùi, bỗ dưỡng, ngọt thanh cao, cay dễ chịu, nồng váng vất
say, ngon trôi vào cổ họng v.v...
Thứ
năm, họ thụ hưởng biết bao nhiêu là xúc chạm vừa lòng,
êm ái từ thân thể nữ nhân; từ gối, nệm, từ chỗ ngồi,
chỗ nằm, từ kiệu xe nhún nhẩy, mịn màng, mượt như tơ,
láng như ngọc chuốt v.v...
Tất
cả năm loại dục ấy họ đều thỏa mãn no đủ, khoái lạc.
Còn ý dục của họ luôn nghĩ đến năm loại thỏa thích sung
sướng kia! Ồ! Sống như vậy mới sống chứ?
Còn
các ngài thì sao nhỉ? Các ngài muốn Niết bàn đâu phải dễ
dàng gì. Cả sáu loại dục ở trên các ngài thèm lắm, muốn
lắm - nhưng vì tu hành là cao thượng nên các ngài cắn răng,
bịt mắt giả vờ không ngó tới. Nhưng nội tâm của các
ngài thì sao nhỉ? Tâm các ngài như lửa đốt, lòng các ngài
bứt rứt, khó chịu! Vậy cũng đúng thôi. Các ngài tự rào
bít mình lại, tự làm cho khô héo sự sống, tự cắt đi mạch
tiến hóa tự nhiên của trời đất, của chúng sanh có thức
giác hữu tình! Ôi thật đúng làm sao khi kẻ ngoại đạo tên
là Màgandiya đã chê trách Đức Bổn Sư và giáo hội rằng:"Đấy
là một tôn giáo không thỏa hiệp với sự sống, cắt đứt
dòng tiến hóa."
Lời
phê phán ấy quả là không ngoa, thưa đại đức! Niết bàn
của quí ngài không thấy an lạc đâu mà chỉ thấy đi ngược
dòng đời, đâm đầu vào sự khổ, xa lìa các niềm vui trên
trần thế!
Sau
câu hỏi ấy mọi người đều im lặng. Đại đức Na tiên
tự nghĩ: "Đức vua minh triết này, có lẽ vì lợi ích cho
phần đông, vì muốn lợi lạc cho các thế hệ học Phật
mai sau - mới đặt những câu hỏi ngớ ngẩn cùng với những
lý lẽ sặc mùi tục lụy như thế! Bản thân của đức vua
vốn biết sự nguy hiểm của ngũ dục, ở đó vui ít khổ
nhiều, tối tăm, uế trược, chỉ để dành cho hạng chúng
sanh ngu si, thiểu trí, hạ liệt! Âu ta cũng vì phương tiện,
vì tấm lòng bao la như trời biển của đức vua mà thuyết
giảng cho rành rẽ ngọn ngành vậy!"
Nghĩ
thế xong, đại đức Na-tiên bèn nói:
- Tâu
đại vương! Những điều mà đại vương nói, ví như nói
rằng: Đạo giác ngộ đi ngược dòng đời, sống phải thu
thúc lục căn, chánh niệm trong từng bước đi, hơi thở, quán
tưởng tứ vật dụng; đi đứng ngồi nằm đều chú tâm vào
đề mục thiền; ít ngủ, ít ăn, sống hạnh khất thực, ở
nghĩa địa cội cây, rừng v..v... đều hoàn toàn đúng với
sự thật. Tuy nhiên, Niết bàn là một cái gì đó ở ngoài,
ở xa dự niệm phác tưởng của đại vương! Nói Niết bàn
là an lạc chỉ là cách nói cho người trần thế dễ lãnh
hội, chứ nó đâu có phải là thế. Sự tìm kiếm Niết bàn
cũng phải trải qua công phu hành trì, tinh cần, nỗ lực ngày
đêm... Dĩ nhiên phải gian lao, vất vả; quả thật là khổ
vậy. Đại vương nói không sai. Tuy nhiên, tầm cầu là khác,
lên đường là khác - nhưng chứng đạt Niết bàn, an trú Niết
bàn lại hoàn toàn khác nữa, tâu đại vương!
- Xin
đại đức giảng cho nghe.
- Tâu,
vâng! Chỉ lấy đại vương làm thí dụ thôi. Hiện tại, đại
vương đang làm vua, ngôi vị ấy có đem đến an vui, hạnh
phúc cho đại vương chăng?
- Phải
nói là hạnh phúc tuyệt vời!
- Chắc
có lẫn sự khổ chứ?
- Vâng,
có khổ là khi quân thù đem quân xâm lược, chém giết dân
chúng, đốt phá xóm làng, cướp bóc của cải, tài sản của
mọi người ở vùng biên địa. Thế là phải kêu gọi thanh
niên trai tráng đầu quân, bỏ vợ, bỏ con lên đường tòng
chinh chiến đấu.
Chiến
tranh thì có khi thắng, khi bại; nhưng thắng hay bại đều
hao binh tổn tướng, máu xương phơi đầy núi, đầy sông.
Ồ! Khổ thì quả thật là khổ đấy, nhưng khi thái bình an
lạc thì khác rồi, thưa đại đức!
- Ý
đại vương nói là khi quốc độ nguy vong, không những muôn
dân đều khổ mà chính đức vua cũng phải hao tổn tâm cơ,
ngày đêm nhăn trán, nhíu mày tìm phương kế đối phó...
- Vâng.
- Và
khi xung quanh không còn kẻ thù quấy nhiễu nữa thì đại vương
hoàn toàn sung sướng, hạnh phúc?
- Chính
thế!
- Thế
thì con đường tìm kiếm, cần cầu Niết bàn vô thượng cũng
phải trải qua, vượt qua gian khổ; phải đánh bại tất cả
thù địch, ma quân cả bên trong, bên ngoài chứ nào khác gì?
Vậy, có những vị tỳ khưu sống đời thu thúc lục căn,
ít ngủ, ít ăn, chấp nhận đời sống bần hàn vô sản; tinh
cần chỉ tịnh, quán minh, xa lìa ngủ dục thấp hèn - cũng
nhằm đến mục đích an lạc như ngôi vua chí tôn của ngài
vậy - thì sự khổ ấy cũng thường tình, như là một cái
gì tất yếu vậy, phải thế không đại vương?
- Có
lý lắm.
- Một
người muốn học nghề thành tài để sau này khả dĩ nuôi
sống được vợ con - thì hắn phải lập tâm, lập hạnh như
thế nào, hở đại vương?
- Tâm
phải kiên trì, kiên quyết; hạnh phải hiền thục, ngoan ngoãn,
dễ dạy. Ngoài ra còn phải biết tôn sư trọng đạo, phải
biết lễ nghĩa, hầu hạ thầy. Những việc lặt vặt như
nấu trà nước, nấu nước tắm, tăm xỉa răng và nước súc
miệng, đấm bóp chân tay cho thầy v..v...cũng phải quan tâm
chăm sóc cho chu đáo. Khi học, khi thực hành phải chú tâm
quan sát lắng nghe v.v...Nói tóm lại, là muốn thành tài, cũng
phải biết chịu đựng và vượt qua rất nhiều gian khổ vậy.
- Niết
bàn là cái tối thượng, hy sinh chút ít, chịu khổ chút ít,
để đem đến cho mình một thứ hạnh phúc ngoài thời gian,
vô điều kiện - thì sự đánh đổi ấy quá rẻ, tâu đại
vương!
- Vâng!
- Lập
ngôn của đại vương: "Niết bàn lẫn lộn sự khổ" không
đứng vững được rồi!
Đức
vua Mi-lan-đà cất tiếng cười sảng khoái:
- Đứng
còn không được thì lấy đâu mà vững, đại đức?
Đại
đức Na tiên cũng cười vui.
* *
*
173.
Tại sao không diễn tả Niết bàn một cách cụ thể?
Hôm
đó, khi vừa gặp đại đức Na tiên, không biết trong tâm
của đức vua nghĩ ngợi gì mà ngài cứ mỉm cười hoài! Sau
đó, đức vua không mở đề như thường lệ, mà buông lời
như trống không, vô nghĩa.
- Gẫm
cũng thú vị quá, đại đức nhỉ?
- Ý
đại vương muốn nói gì?
- Ô!
Đức Phật đó! Giáo hội đó! Chư Tăng đó! Tất cả sa môn
trong hàng ngũ của đại đức đấy!
- Bần
tăng vẫn không hiểu gì!
- À,
là thế này! Niết bàn ấy mà! Ai cũng nói Niết bàn là vô
thượng, tối thượng, là hạnh phúc, là an lạc. Nhưng khi
diễn tả Niết bàn cho mọi người cùng thấy, cùng biết...
thì quý vị cứ ởm ờ, trả lời vòng quanh, trườn uốn như
con lươn! Này nhé, đại đức hãy nghe đoạn đối thoại sau
đây:
"-
Thưa đại đức, Niết bàn có sắc tướng không?"
- Không,
không có sắc tướng, không phải kết hợp do tứ đại.
- Thế
ra nó phải có một diện tích, một cảnh, một cõi, một xứ,
một nơi chốn nào đó?
- Không,
hoàn toàn không phải là như vậy!
- Cũng
không có bộ phận, chi tiết gì cả sao?
- Không,
không có!
- Có
thể nào đưa ra một sự ước lượng, một sự độ chừng
được không?
- Thưa,
không thể.
- Có
thể đưa ra một ví dụ chăng?
- Chẳng
thể nào!
- Thế
Niết bàn chắc phải có nhân gì chứ?
- Nó
không nhân!
- Thế
thì duyên?
- Cũng
không!
- Chẳng
có cách thức, phương pháp gì để chứng thực, để diễn
đạt sao?
- Không
có! "
Đấy!
Đoạn đối thoại như vừa rồi là cách trả lời phổ thông
nhất của quý ngài đấy! Nếu trường hợp đại đức thì
đại đức sẽ trả lời sao?
- Tâu
đại vương! Nếu được hỏi như thế thì bần tăng cũng
chỉ trả lời được như thế thôi!
- Thế
không có cách gì cụ thể để cho mọi người dễ lãnh hội
hơn sao?
- Tâu,
có thể trả lời cụ thể, nhưng cụ thể ấy không phải
là Niết bàn. Có thể từ ví dụ cụ thể ấy khơi mở cho
ta thấy "bóng dáng" của Niết bàn!
- Ồ!
Vậy là hay lắm!
- Thế
gian nói có biển lớn, và đại vương không biết đã thấy
biển lớn chưa?
- Thưa,
có thấy rồi!
- Quả
thật có biển lớn chứ?
- Vâng,
có thật.
- Đại
vương đã thấy biển lớn rồi và xác định biển lớn ấy
có thật. Vậy thì xin hỏi đại vương, biển lớn ấy rộng
bao nhiêu, dài bao nhiêu, sâu bao nhiêu? Và trong biến ấy ước
chừng bao nhiêu lượng nước, bao nhiêu loài cá, mỗi loại
như thế số lượng được bao nhiêu con?
- Không
ai nói được điều đó, không ai biết được điều đó.
Vả lại, đây là loại câu hỏi không nên đặt ra, đại đức!
- Tại
sao thế? Biển cả có thật, nước có thật, cá có thật -
mà tại sao đại vương không chịu trả lời? Hay là đại
vương chưa hề thấy biển?
- Trẫm
thấy thật chứ - nhưng bề dài, rộng, sâu, bao nhiêu cá thì
quả thật trẫm chịu; trẫm chưa đủ kiến thức về hải
dương học, nếu có, trả lời cũng không chính xác đâu!
- Biển
cả là cái cụ thể, đại vương đã từng thấy bằng mắt,
thế mà hỏi về dài, rộng, sâu, bao nhiêu cá... đại vương
cũng không độ chừng được, ước lượng được... Thế
mà đại vương bảo bần tăng độ chừng, ước lượng, đưa
ra bộ phận, chi tiết... về Niết bàn, là pháp siêu thế sao?
- Ồ!
- Giả
dụ như có người có thần thông, có kiến thức uyên bác,
có trí nhớ tuyệt hảo; y có thể độ chừng bề dài, rộng,
sâu, nước và cá trong biển lớn; nhưng đối với Niết bàn
y cũng không thể nói được, trình bày được!
- Tại
sao?
- Vì
sao thì đại vương biết rồi đó chứ! Vì Niết bàn ở ngoài
mọi ước lượng, mọi nhân, duyên, ví dụ, so sánh..., tâu
đại vương!
Đức
vua Mi-lan-đà nóng nảy:
- Nhưng
đại đức có nói, là có thể có ví dụ cụ thể, từ đó
khơi mở cho người khác thấy "bóng dáng" của Niết bàn kia
mà! Trong tâm của trẫm đang có một lò lửa thiêu đốt đấy!
Đại
đức Na tiên nói:
- Vậy
thì đại vương hãy nghe cho kỹ đây! Đây là những ví dụ
cụ thể, từ đó ta sẽ thấy thấp thoáng bóng dáng của Niết
bàn:
Một
là, hoa sen có một đức tính tương tợ Niết bàn.
Hai
là, nước có hai đức tính tương tợ Niết bàn.
Ba
là, thuốc trị độc rắn có ba đức tính tương tợ Niết
bàn.
Bốn
là, biển lớn có bốn đức tính tương tợ Niết bàn.
Năm
là, vật thực có năm đức tính tương tợ Niết bàn.
Sáu
là, hư không có mười đức tính tương tợ Niết bàn.
Bảy
là, ngọc ma ni có ba đức tính tương tợ Niết bàn.
Tám
là, chiên đàn đỏ có ba đức tính tương tợ Niết bàn.
Chín
là, sữa Sappi (tức sữa chua, bơ lỏng) có ba đức tính tương
tợ Niết bàn.
Mười
là, đỉnh núi có năm đức tính tương tợ Niết bàn.
Nghe
xong mười điều, đức vua Mi-lan-đà hoan hỷ nói:
- Hay
lắm! Vậy thì đại đức bi mẫn cho nghe từng điểm một.
- Vâng,
đây là điều thứ nhất. Hoa sen có một đức tính khả dĩ
từ đó chúng ta hình dung ra Niết bàn. Đức tính ấy là gì?
Ấy là hoa sen không dính nước, không thấm nước. Niết bàn
cũng như hoa sen vậy, có đặc tính là, nước cấu uế, nước
phiền não không dính được, không thấm vào đấy được!
- Vâng,
cho xin nghe tiếp hai đức tính của nước?
- Khi
trời nóng nực, nước giúp ta tắm rửa mát mẻ, đồng thời,
tẩy sạch tất cả những dơ dáy bụi bặm. Cũng tương tự
thế, Niết bàn làm lắng dịu hận tâm, sân tâm; làm mát mẻ
tất cả sự bực tức, bực bội, nóng nảy, ngoài ra còn tẩy
rửa tất cả tâm tư, ý niệm dơ dáy, bất tịnh - tâu đại
vương!
- Đúng
là như vậy, thế cho nghe ba đức tính của thuốc trị độc
rắn.
- Vâng.
Điều thứ nhất, thuốc ấy uống vào là tan độc tính. Thứ
hai, uống vào là hết bệnh. Thứ ba, uống vào là ngăn được
sự chết. Tương tợ như thế, Niết bàn làm tiêu vong phiền
não, thứ nữa là diệt tận khổ đau, chấm dứt tham sân si;
cuối cùng là ngăn giữ cho chúng sanh khỏi rơi vào sanh gìa
bệnh chết!
- Điều
thứ tư, bốn đức tính của biển lớn là như thế nào?
- Vâng!
Thứ
nhất, biển lớn luôn giữ gìn sự trong sạch của mình, không
dung chứa những xác tử thi bất tịnh; cũng vậy, Niết bàn
bao giờ cũng thanh khiết, không dung chứa bất cứ sự cấu
uế, bất tịnh nào.
Thứ
hai, biển lớn rộng mênh mông; bao nhiêu con sông lớn ngày
đêm tuôn chảy vào cũng không đầy. Tương tự như thế, Niết
bàn mênh mông không thấy mé bờ; nếu vô lượng chúng sanh
đời này, đời kia vào an trú, không vì thế mà Niết bàn
đầy hơn.
Thứ
ba, biển lớn là nơi sinh sống của hằng trăm triệu thủy
tộc, tha hồ cho chúng bơi lội vẫy vùng. Tương tự thế,
Niết bàn là cảnh giới của vô lượng bậc Thánh nhân vô
lậu cư trú, tha hồ sống đời hạnh phúc, an lạc chơn thường.
Thứ
tư, biển cả là nơi chôn dấu, sinh trưởng của biết bao
nhiêu loài, giống, loại quý báu. Không kể ngọc, kim cương,
xà cừ, pha lê, trân châu... mà còn hương liệu, tinh chất
được lấy ra từ các loại thảo mộc chưa có tên gọi. Tương
tự thế, Niết bàn là nơi hội tụ của mọi loài hương hoa
thơm ngát được chiết ra từ các pháp thanh tịnh; biết bao
trí đức, tuệ đức quý báu; vô lượng đức tính toàn mỹ,
toàn thiện không đếm xiết được.
Đại
vương thấy thế nào? Bốn đức tính của biển có tương
ưng, tương hợp với Niết bàn chăng?
- Quả
là vậy. Xin đại đức cho nghe tiếp năm đức tính của vật
thực?
- Vâng.
Thứ
nhất, vật thực nuôi dưỡng sanh mạng chúng sanh, Niết bàn
cũng nuôi dưỡng đời sống bất tử của chúng sanh không
cho tiêu hoại bởi già và chết.
Thứ
hai, vật thực cho chúng sanh sức lực và sức mạnh, Niết
bàn cũng là nơi cho chúng sanh thần lực và năng lực.
Thứ
ba, vật thực làm cho tươi sắc da, Niết bàn cũng làm tươi
đẹp thêm màu sắc của giới.
Thứ
tư, vật thực dứt sự quằn quại xót xa do đói - thì Niết
bàn cũng chấm dứt tất cả sự thống khổ, sầu muộn do
phiền não.
Thứ
năm, vật thực giúp chúng sanh giải quyết sự đói thèm -
thì Niết bàn cũng làm cho tất cả sự khao khát, tham muốn
thảy đều yên lặng.
- Ví
dụ ấy thật là sít sao! Đại đức cho nghe tiếp.
- Vâng,
bây giờ là mười đức tính của hư không.
Thứ
nhất, hư không và Niết bàn đều không già.
Thứ
hai, hư không và Niết bàn đều không chết.
Thứ
ba, hư không và Niết bàn đều không rời đi, rớt đi.
Thứ
tư, hư không và Niết bàn đều không tái sanh.
Thứ
năm, hư không và Niết bàn không ai áp chế được.
Thứ
sáu, hư không và Niết bàn không ai trộm cắp hoặc sở hữu
được.
Thứ
bảy, hư không và Niết bàn đều không có gì dính mắc được.
Thứ
tám, hư không là nơi đi lại của chim, chư thiên, người và
dạ xoa có thần thông- Niết bàn là nơi đi lại của bậc
Thánh.
Thứ
chín, hư không và Niết bàn không có gì ngăn ngại.
Thứ
mười, hư không và Niết bàn là nơi mênh mông không có chỗ
cuối cùng.
- Hay
vậy thay! Xin cho nghe về ngọc ma ni?
- Vâng,
ngọc ma ni có ba đức tính:
Một
là, ngọc ma ni và Niết bàn làm cho thành tựu sở nguyện.
Hai
là, ngọc ma ni và Niết bàn làm cho hoan hỷ
Ba
là, ngọc ma ni và Niết bàn làm cho an lạc.
- Cho
nghe thêm về ba đức tính về chiên đàn đỏ.
- Vâng,
chiên đàn đỏ và Niết bàn đều có ba đức tính tương tợ
nhau.
Trước
hết, nó là cái khó tầm cầu, khó được
Thứ
hai, có mùi thơm không gì sánh bằng.
Sau
nữa, chiên đàn đỏ được thế gian ưa thích thì Niết bàn
là nơi bậc thánh ưa thích.
- Thế
còn ba đức tánh của bơ lỏng?
- Vâng.
Đầu
tiên, nếu bơ lỏng có màu sắc đẹp thì Niết bàn có vô
lượng đức tính đẹp.
Tiếp
đến, bơ lỏng có vị ngon đặc biệt thì Niết bàn cũng có
vị ngon đặc biệt (diệt phiền não, được an vui).
Cuối
cùng, bơ lỏng có mùi thơm đặc biệt thì Niết bàn cũng có
mùi thơm đặc biệt (ấy là tuệ hương, giải thoát hương...)
- Bây
giờ còn năm đức tính của núi nữa, đại đức?
- Vâng!
Một
là, đỉnh núi là điểm cao nhất - Niết bàn cũng là cõi cao
nhất.
Hai
là, đỉnh núi không hề rung chuyển, lay động thì Niết bàn
cũng thế.
Ba
là, đỉnh núi người lên một cách khó khăn - Niết bàn người
đắc cũng rất khó khăn.
Bốn
là, trên đỉnh núi đá không cây gì mọc được, ở Niết
bàn, tham sân si, phiền não cũng không mọc được.
Năm
là, đỉnh núi và Niết bàn đều xa lìa sự thương và ghét.
Tâu
đại vương! Đấy là tất cả các ví dụ tạm thời nhằm
so sánh với Niết bàn - mà trình độ của bần tăng có thể
nói được. Mong đại vương suy gẫm, may ra có thể thấy thấp
thoáng bóng dáng của Niết bàn chăng?
- Vậy
là đã quá nhiều rồi! Có gì chưa thông suốt, trẫm sẽ xin
hỏi lại vào một dịp khác.
- Tâu,
vâng.
* *
*
174.
Làm cho rõ Niết bàn?
- Thưa
đại đức! Hôm qua đại đức đã nêu ra hằng chục đức
tính cao quý vô thượng của Niết bàn do nhờ hình tượng
của sự vật nói lên. Hiện tại, trẫm đã hình dung ra được
Niết bàn ấy. Tuy nhiên, theo trẫm được học hiểu thì Niết
bàn không phải quá khứ, Niết bàn không phải vị lai, Niết
bàn không thể là hiện tại. Lại nữa, Niết bàn ấy cũng
không phải cái mà mọi người làm cho nó sanh lên. Quả thật
trí óc phàm phu chẳng thể nào mà nắm bắt được!
Vậy
thì sao ạ, thưa đại đức, những người thực hành đúng
đắn chánh pháp, tinh cần chỉ tịnh và quán minh thì sẽ làm
cho tỏ lộ Niết bàn? Hay cứ thực hành cho rõ con đường
ấy tất là làm cho rõ Niết bàn? Hoặc là cứ tu tập như
thế thì Niết bàn sẽ tự tỏ lộ, sau đó mới làm cho rõ
hơn nữa.
- Tâu
đại vương! - Khi mà thực hành đúng đắn chánh pháp rồi
thì sẽ làm cho tỏ lộ Niết bàn hoặc là Niết bàn tự tỏ
lộ, rồi làm cho rõ rệt thêm lên đều được cả. Cách nói
nào cũng đúng cả! Chỉ đừng nên hiểu sai là Niết bàn được
sanh lên bởi một nhân nào đó. Có lẽ khi mình thấy rõ Niết
bàn, chứng nghiệm Niết bàn rồi - thì sự diễn tả, phát
ngôn của mình mới chính xác hơn, phải thế chăng?
- Đúng
vậy!