|
.
MỘT
ĐỜI SỐNG CÓ Ý NGHĨA
Thubten
Zopa Rinpoche
Nicholas
Ribush và Glenn H. Mullin ghi lại Mỹ Thanh dịch sang tiếng Việt
 |
 |
Lạt
ma Thubten Zopa Rinpoche là học trò của Lạt ma Thubten Yeshe. Ông
là một người thầy khả kính đã dạy về con đường giải
thoát cho hàng ngàn người, mà trên một trăm người đã trở
thành tu sĩ. Bài giảng nầy được ghi lại ở Tushita vào ngày
4, tháng 7, năm 1979.
Một
điều rất quan trọng mà chúng ta trong lúc được thân người
nên ráng thực hành, đó là: ráng tu tập để được an bình
trong tâm trí.
Điều
hiển nhiên là hạnh phúc không tùy thuộc vào những điều
kiện bên ngoài. Chúng ta có thể trắc nghiệm được điều
nầy ngay trong cuộc sống hiện tại.
Hạnh
phúc của chúng ta tùy thuộc không những từ những điều
kiện bên ngoài mà còn cần đến những điều kiện ở bên
trong. Nếu những điều kiện bên ngoài có thể cho chúng ta
một hạnh phúc miên viễn, thì những người giàu có chắc
hẳn được nhiều an lạc; và những ai không giàu sẽ không
sung sướng hay hạnh phúc. Nhưng cuộcc sống cho thấy rằng:
có bao người sống rất hạnh phúc nhưng chẳng giàu; trong
khi bao kẻ giàu sang lại đau khổ.
Chẳng
hạn ở Ấn Độ, có rất nhiều nhà thông thái, nhiều đạo
sĩ cao thâm, và bao người Phật tử sống một cuộc đời
rất khiêm nhường nhưng đầy an lạc. Lúc mà họ hạnh phúc
nhất là lúc mà họ từ bỏ sự chạy theo cái tâm lăng xăng
lộn xộn. Sự từ bỏ ngã mạn, giận dữ, si mê, bám víu,
v...v... Càng xa lánh những thứ nầy thì trong tâm họ càng
an lạc.
Những
đạo sĩ nổi tiếng như: Naropa của Ấn Độ và Milarapa của
Tây Tạng, chẳng có gì hết nhưng tâm hồn họ tràn đầy
an lạc. Họ đã từ bỏ cái tâm lăng xăng, nguyên nhân của
những đau khổ.
Chính
sự giải thoát, giác ngộ, đã đem hạnh phúc lại cho họ.
Như Milarapa, có lúc nhịn ăn cả nhiều ngày, sống trong hang
đá, nhưng vẫn được xem là người hạnh phúc nhất trần
gian. Bởi vì họ đã từ bỏ ba thứ độc: tham, sân, si; và
do đó được an lạc, hạnh phúc. Khi mà cái tâm lăng xăng
lộn xộn không còn nữa, thì hạnh phúc, an lạc hiện hữu.
Nếu
hạnh phúc tùy thuộc vào những điều kiện bên ngoài thì
những nước giàu có như Mỹ chắc hạnh phúc lắm lắm. Bao
người cố gắng bắt chước Mỹ quốc vì nghĩ rằng giàu
như thế mới hạnh phúc. Riêng tôi nhận thấy rằng tôi tìm
được an lạc nơi những quốc gia thiên về tâm linh như Ấn
Độ và Nepal.
Ở
những quốc gia nầy, người ta dễ tìm được an lạc. Vì
Ấn Độ là một nước tâm linh, nên ta dễ tìm được sự
bình an nơi tinh thần. Khi mà bạn nhìn thấy những xã hội
vật chất và những người sống trong xã hội đó, tinh thần
bạn rất dễ bị dao động. Khi mà vật chất bành trướng
thì con người càng lúc càng bận rộn và nhiều vấn đề
bắt đầu xuất hiện. Con người không còn thời gian để
nghỉ ngơi, người ta bận rộn, lo lắng, và bất an. Nếu hạnh
phúc hoàn toàn tùy thuộc vào những yếu tố bên ngoài, thì
những đất nước dư ăn dư mặc như Thụy Sĩ hay Mỹ đã
thực sự được an lạc, hạnh phúc; họ đã không cãi nhau,
đánh nhau, và không có bạo động. Nhưng sự thực không phải
vậy. Như thế có nghĩa là có điều gì đó thiếu sót. Chứng
tỏ rằng họ đã sơ sót trong việc tìm kiếm hạnh phúc.
Về
phương diện vật chất, những nước Âu, Mỹ là hàng đầu
thế giới, nhưng biết bao là vấn đề đang tiếp tục hủy
hoại sự an lành và hạnh phúc của họ.
Họ
đã thiếu sót cái gì? Thưa, đó là sự trau dồi bản tâm.
Họ
đã lo chạy theo những thứ bên ngoài và quên mất bản tâm,
quên trau dồi mặt tinh thần. Những nước Tây phương tiến
triển rất nhanh về mặt vật chất; nhưng vì mãi lo bên ngoài
mà họ quên hẳn sự phát triển về mặt tâm linh.
Sự
phát triển vật chất tự nó không phải là không tốt, nhưng
sự phát triển về tâm linh còn quan trọng gấp mấy lần.
Hơn nữa sự phát triển về mặt bản tâm có hiệu quả kiến
tạo hạnh phúc lâu dài hơn hết. Bạn không thể nào tìm được
an lạc khi mà bản tâm bạn bị bỏ quên. Khi mà lòng từ được
tăng trưởng thì bạn dễ tìm được sự an bình trong tâm
hồn. Làm sao có thể so sánh được sự giàu có vật chất
với lòng từ bi bác ái, sự yêu thương, nhẫn nại, sự diệt
trừ bạo động, và sự từ bỏ cái tâm lăng xăng lôn xộn.
Cho dù bạn có một núi kim cương cũng không thể nào so sánh
được với sự bình an trong tâm hồn. Kẻ sở hữu nhiều
châu báo vẫn bị chi phối bởi sân hận, tham lam... Nếu có
ai đó mắng họ, tức thì họ nổi giận và muốn chửi lại
hay đánh lại. Một người biết tu tập thì không phản ứng
như thế. Họ sẽ tự nói: "Kẻ kia mắng mình làm mình buồn
khổ, và nếu mình mắng lại họ thì họ cũng sẽ buồn, sẽ
khổ như mình. Vì đã biết tu tập từ tâm, nên không mắng
chửi lại." Nếu biết nghĩ như thế thì sẽ không làm ai đau
khổ. Khi mà bạn bè của tôi nói hay làm điều gì mà tôi
không thích, sự khó chịu và bực bội bắt đầu nổi lên
trong lòng, tôi muốn nói lại để làm cho họ đau; nhưng tôi
tự chủ lại và tự ngẫm , "Tôi và họ đều muốn tránh
đau khổ và mong hạnh phúc. Thế thì tôi không nên nói hay
làm những điều gây buồn phiền cho họ. Đó là tôi tu." Nhờ
nghĩ như thế, cơn giận liền tan biến như bọt nước bong
bóng. Ban đầu bong bóng tựa như là một khối đá rắn chắc,
nhưng thình lình nó tan biến. Lúc đầu tưạ như là chúng
ta không thể thay đổi được quan niệm, nhưng nếu biết áp
dụng phương pháp đúng cách, thì cơn giận tức khắc tan biến
như bọt bong bóng nước. Đâu còn điều gì để mà tức giận
nữa.
Bạn
nên tập kiên nhẫn, đừng để cho cơn giận bốc lên, nhớ
rằng cơn giận làm cho tâm trí bất an, hủy hoại sự thanh
bình của chính bạn và luôn cả những người chung quanh cũng
bị vạ lây. Cơn giận làm mặt chúng ta xấu đi. Không cần
biết bạn đẹp như thế nào, một khi cơn giận xuất hiện
thì cho dù có điểm trang khéo đến đâu, bạn cũng không thể
che dấu được sự xấu xí, hằn hộc trên gương mặt. Bạn
có thể nhận diện được sự giận dữ trên khuôn mặt mọi
người. Bạn sẽ sợ hãi khi mà phải đối diện với một
kẻ đang sân hận. Khuôn mặt họ lộ vẻ dữ tợn, đó là
phản ảnh của sự tức giận từ bên trong. Đó là một năng
lượng có những rung động rất xấu, chúng ta nên từ bỏ
nó. Vì sân hận làm cho mọi người bất an và mất hạnh phúc.
Sự thực hành đúng chánh pháp, sự thiền định đem lại
lợi ích cho mọi người. Sự thiền định giúp cho chúng ta
và mọi người chung quanh được an lạc. Một hành động đúng
theo chánh pháp làm lợi ích cho mình, cho người. Như tôi đã
nói ở trên, sự nhẫn nại quý giá gấp triệu lần núi kim
cương. Làm sao có được sự bình an của tâm hồn nếu chỉ
lo góp nhặt kim cương? Bạn còn có thể bị nguy hiểm đến
tánh mạng nếu có quá nhiều kim cương. Không thể nào chúng
ta có thể so sánh được sự tốt lành của bản tâm với
sự sung mãn về vật chất.
Mọi
người trong chúng ta đều muốn an vui, hạnh phúc; đo đó chúng
ta phải thực hành chánh pháp. Thực hành chánh pháp cho đúng
nghĩa không phải là tụng kinh nhiều, lễ lạy luôn luôn và
mặc áo tràng. Thực hành chánh pháp là làm tăng trưởng tâm
hồn, làm cho cái tâm được trong sạch hơn... Chúng ta có rất
nhiều những nhân tố xấu bên trong như: tâm lăng xăng lộn
xộn, si mê, ngu dốt, sân hận... và những nhân tố tốt bên
trong như: tình thương, lòng bác ái, v...v... Chúng ta ai ai cũng
có sẵn những nhân tố tốt cũng như xấu. Thực hành chánh
pháp là làm tăng trưởng những cái tốt, diệt trừ những
cái xấu. Đây là một cách thực hành chánh pháp mà ta nên
tu tập. Có rất nhiều cấp bậc đau khổ, vì vậy chúng ta
cần sự bảo vệ tối đa cho chính mình. Chánh pháp như là
một sợi dây thừng được quăng ra cho ai đó đang sắp rơi
vào vực thẳm. Chánh pháp bảo vệ và giữ gìn một người,
không cho họ rơi vào những thế giới đau khổ - thế giới
của điạ ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Hơn nữa, chánh pháp
bảo giúp chúng ta không rơi vào ba đường ác khi chúng ta còn
trong vòng sinh tử luân hồi. Chánh pháp giúp chúng ta phân biệt
được chính tà và bảo vệ chúng ta cho đến lúc chúng ta
đạt giải thoát, được giác ngộ thành Phật; và sự an lạc
tối thượng là đây. Cái chết được tiếp nối ở một
giai đoạn gọi là "trung ấm" (Bardo-Tây Tạng), sau giai đoạn
nầy chúng ta thác sanh một trong sáu thế giới - Thọ sanh,
sống, chết, giai đoạn trung ấm, và đầu thai. Đây là một
chu kỳ không ngừng nghỉ, chúng ta chạy quanh, lặp đi lặp
lại những kinh nghiệm buồn vui lẫn lộn, vì nhận thức sai
lầm.
Khi
chúng ta thực hành chánh pháp, chánh pháp bảo vệ và dẫn
dắt chúng ta khỏi những lầm lẫn tai hại khi ta còn trong
vòng sinh tử. Chánh pháp có nhiều trình độ, và luôn dẫn
dắt, bảo vệ những ai thực hành nghiêm chỉnh. Cơ thể và
tâm trí của chúng ta luôn làm chúng ta đau khổ. Tại sao như
vậy ? Bởi vì tâm trí chúng ta chưa được giải thoát khỏi
vô minh. Và khi còn vô minh thì tâm trí và cơ thể đều chịu
ảnh hưởng lẫn nhau. Cơ thể chúng ta "khổ" khi bị nóng quá,
lạnh quá, đói khát, sanh, bịnh, già, chết, v.v...
Còn
có thân, thì chúng ta còn chưa thoát được những nỗi khổ
nầy. Những hạt giống đau khổ đã nằm sẵn ở trong mỗi
chúng ta. Sự luân hồi sinh tử của chúng ta là do nơi thân
nầy, tâm nầy. Thân và Tâm nầy luôn làm chúng ta lo lắng
và không bao giờ để cho chúng ta yên tịnh. Thân và Tâm cộng
thêm Vô Minh, và bắt đầu từ đó là Nghiệp được tạo
ra, rồi Nghiệp đó lại dẫn dắt chúng ta đi trong vòng luân
hồi.
Luân
hồi là một vòng tròn như bánh xe. Nó quay như thế nào ? Những
hợp thể, thân và tâm, tiếp tục từ kiếp sống nầy sang
kiếp sống khác. Những kết tập của kiếp trước và kiếp
sau liên tục, không gián đoạn. Chúng tạo ra một vòng tròn
tiếp nối, giống như là người đi xe đạp vậy.
Bản
ngã cũng thế. Nó dắt chúng ta chạy quanh từ kiếp sống nầy
sang kiếp sống kế tiếp; đầu thai trở lại theo nghiệp lực
đã gieo. Cái nghiệp mà ta đã tạo ra nơi thân và tâm. Dựa
vào những dự kiện đã huân tập mà ta thọ thai nơi cõi người,
súc vật, trời hay địa ngục.... Những hợp thể đưa dẫn
chúng ta đi chẳng khác nào con ngựa chở người cỡi nó.
Từ
vô thỉ đến nay, trải qua bao nhiêu kiềp sống, chúng ta đã
không tu tập để tự giải thoát khỏi những phiền não, nghiệp
lực. Do đó, thân và tâm chúng ta lúc nào cũng trong vòng đau
khổ, luôn lặp đi lặp lại những lỗi lầm đã vấp phải.
Nếu chúng ta thoát được phiền não thì không khi nào chúng
ta lại lặp lại những đau khổ đã trải qua.
Một
khi mà giải thoát được khỏi vòng sinh tử, tức là khổ
đau chấm dứt. Khi không phải trở lại mang thân sinh tử thì
đâu cần phải có nhà cửa, quần áo, thức ăn, và những
nhu cầu cần thiết khác.
Đâu
có lý do gì để lo lắng, sắm sửa, góp nhặt của cải, chạy
theo danh lợi để có cả trăm bộ quần áo, mặc vào những
dịp khác nhau, để có cả trăm đôi giầy, làm việc đầu
tắt mặt tối v...v...
Không
có thân thì đâu có những vấn đề nầy.
Nhưng
vì có thân nầy mà phải lao tâm, lao lực suốt cuộc đời,
từ lúc "mang thân" cho đến lúc "bỏ thân"; cũng chỉ lo có
bấy nhiêu.
Lạt
ma Tsong Khapa, một đạo sư Tây Tạng, được tôn sùng như
Bồ tát Văn Thù Sư Lợi (Manjushri), vị Bồ tát của Trí Tuệ,
trên bước đường tu tập có viết như sau: " Nếu một người
không bao giờ nghĩ đến sự tiến hóa trong vòng luân hồi,
thì không khi nào họ có thể cắt đứt được gốc rễ của
sinh tử."
Ví
như một người hay bệnh vì ăn những thức ăn không hợp
với thể tạng của họ; nếu anh ta không chịu để ý để
tránh, mà cứ ăn hỗn tạp thì cho dù có uống bao nhiêu thuốc
cũng sẽ không khỏi bệnh.
Cũng
như vậy, nếu chúng ta không chịu tìm hiểu đường đi nước
bước của vòng luân hồi, thì làm sao chúng ta có thể đạt
được Niết Bàn.
Muốn
chứng đạt Niết Bàn phải cắt gốc sinh tử. Muốn thành
công trong việc cắt gốc sinh tử thì phải biết tu tập theo
chánh pháp. Có nghĩa là chúng ta phải nhận diện được sự
vận hành của vòng luân hồi, những nguyên nhân nào đã ct
chúng ta vào vòng sinh tử. Nhờ hiểu rõ ngọn ngành, chúng
ta có thể thực hiện được những điều cần thiết để
thoát vòng sinh tử.
Lạt
ma Tsong Khapa tóm tắt như sau: " Tôi là một đạo sĩ đã thực
tập như vậy để được giải thoát; và tôi yêu cầu tất
cả những ai đang trên đường giải thoát nên thực tập y
như vậy."
Vị
đạo sư nầy đã giải thoát và khuyên chúng ta nên thực tập
như người.
Điều
quan trọng trước tiên là chúng ta phải có ước muốn được
thoát khỏi luân hồi; kế đến là nhận diện luật tiến
hóa trong vòng sinh tử và cuối cùng thì cắt gốc sinh tử.
Để
hiểu rõ về sự tiến hóa của chu trình sinh tử, chúng ta
phải hiểu cặn kẻ về mười hai mắc xích, và những căn
nguyên của chúng phụ thuộc lẫn nhau.
Mười
hai mắc xích nầy là nguyên nhân dẫn chúng ta chạy quanh vòng
sinh tử. Trong quá khứ, vì Vô Minh che đậy, chúng ta tích lũy
Nghiệp để rồi thọ sanh ra thân nầy. Trong cơn hấp hối,
một tích tắc trước khi lìa đời, chúng ta còn bám víu, không
muốn bỏ cái thân, không muốn chết ... Khi sang qua thân trung
ấm, và kế đến là vào bào thai mẹ. Trứng lớn dần và
những cảm giác bắt đầu tăng trưởng. Sau đó, là sự xúc
chạm, phản ứng của những cảm thọ xuất hiện. Thế là
sự đầu thai bắt đầu... cho đến lúc chúng ta già...và những
gì còn lại chỉ là kinh nghiệm của cái chết.
Trong
cuộc sống hiện tại không có an lành; từ lúc sanh ra cho đến
lúc chết, chúng ta luôn luôn phải chịu đau khổ: đau đớn
lúc chào đời, không hài lòng với hoàn cảnh, gặp cảnh trái
ngang, có nhiều lo lắng, sợ phải xa lìa người thân, sợ
mất của, sợ bệnh hoạn, sợ tuổi già và sợ chết.
Tất
cả những vấn đề nầy là đều từ nơi nghiệp lực mà
ra. Nghiệp có được là từ vô minh. Bởi thế cái gốc rễ
của vòng sinh tử đều bắt đầu từ Vô Minh. Sự vô minh
bắt đầu bằng cái " TA." Cái bản ngã nầy không có thật.
Nhưng vì vô minh, chúng ta xem nó là thật, là thật hiện hữu.
Vô Minh là nguyên nhân của tất cả khổ đau. Chúng ta chỉ
được Niết Bàn khi mà phá bỏ được Vô Minh - gốc rễ của
sinh tử. Nếu không nhổ được gốc Vô minh, thì sẽ không
có Niết bàn. Muốn được Niết Bàn phải nhổ gốc sinh tử,
do đó chúng ta phải thực hành theo Chánh pháp. Một khi gốc
sinh tử được cắt đứt thì Niết Bàn hiện tiền. Nhưng
mà một khi đạt được giải thoát, ta phải nghĩ đến những
chúng sinh khác, trong đó có cha mẹ, anh chị em trong nhiều
đời nhiều kiếp của chúng ta.
Không
có một chúng sanh nào không tử tế với chúng ta dù trong kiếp
nầy hay kiếp khác. Ngay trong hiện tại, ít nhiều hạnh phúc
của chúng ta đều tùy thuộc vào sự tử tế của những người
chung quanh. Không hẳn chỉ có loài người, mà còn có những
chúng sanh khác bị giết vì chúng ta, và một số còn làm việc
cực nhọc để cho chúng ta được sung sướng. Chẳng hạn
muốn có lúa gạo, một số côn trùng bị giết, một số người
phải làm việc dưới ánh nắng gay gắt, v...v... Do đó sự
sung sướng hàng ngày của chúng ta luôn tùy thuộc vào sự
tử tế của các chúng sanh khác. Được làm người, đây là
cơ hội để chúng ta trả những ơn đó. Những con vật thì
ngu dốt và không hiểu chánh pháp. Chúng ta làm người có được
cơ hội để học tập và khi đạt giác ngộ thì chúng ta giúp
những chúng sanh nầy được giải thoát. Chúng ta nên suy ngẫm
như sau: "Tôi nên ráng tu tập đạt đạo giải thoát để làm
lợi ích cho chúng sanh. Chúng sanh đã tử tế với tôi, và
giúp đỡ tôi rất nhiều. Những chúng sanh nầy đang đau khổ,
trong đó biết đâu lại chẳng có cha mẹ nhiều đời nhiều
kiếp của tôi. Là con, tôi phải có bổn phận giúp đỡ...
Con đường chánh pháp là tâm từ . Và tâm từ rộng lớn là
tâm Bồ Tát, với ý nghĩ muốn thành Phật để độ chúng
sanh thoát khổ. Và đây là tâm từ mà chúng ta nên phát triển.
ẢNH
HƯỞNG CỦA THIỀN VIPASSANA NƠI LÀM VIỆC
S.
S. Joshi - Mỹ Thanh dịch sang tiếng Việt
 |
 |
Để
tìm hiểu mức ảnh hưởng của Thiền Vipassana (Thiền Minh
Sát) nơi làm việc, chúng tôi phỏng vấn những người đã
theo học khóa Thiền Vipassana trong vòng mười ngày. Những câu
hỏi cũng được đặt ra cho những đồng nghiệp của họ
để biết về kết quả thu thập được sau khi họ thực tập
Thiền Vipassana.
Kết
quả cho thấy thực hành thiền Vipassana không chỉ có nhiều
chuyển hoá trong đời sống mà còn tăng cường năng suất
và hiệu quả làm việc.
***
Thường
thường tất cả đều nhận thấy có những đổi thay tốt
đẹp nơi những người thực tập Thiền Vipassana, và mang lại
được nhiều lợi ích cho nơi họ làm việc. Sau khóa thực
tập, họ trở nên cởi mở, tin tưởng và thân thiện hơn.
Họ làm việc một cách hăng say. Sự mệt mỏi, căng thẳng
biến mất ; vấn đề ganh tỵ, khó chịu, mặc cảm đều giảm
đi một cách rõ rệt.
Bây
giờ chúng ta hãy nhận xét kết quả của từng cá nhân sau
thời gian tu tập:
- Ông
Balle, Nhà quản Lý (Nghiên cứu & Khuếch trương), thực
tập Thiền Vipassana trong vòng mười năm. Ông nói là ông đã
giảm bớt sự nóng nảy, cộc cằn. Ông suy nghĩ nhiều lần
trước khi trả lời. Ông không còn xẵng giọng với mọi người
như trước kia nữa. Những người dưới quyền ông giờ có
thể đến gần ông trò chuyện và không khí trở nên thân
mật hơn, ở nhà cũng như ở sở. Niềm tin của ông đối
với mọi người được tăng lên.
Ông
cảm thấy thoải mái đối với mọi hạng người. Chẳng hạn,
ở sở có một người mà không ai ưa hết, thế mà ông thân
được với người nầy và bây giờ cả hai trở nên bằng
hữu.
Ông
Balle nhận thấy được sự lợi ích của Thiền Vipassana, nên
đã giới thiệu một người bạn thông minh nhưng cộc tính
học một khóa Vipassana.
Sau
đó, người bạn nầy cũng thay đổi rõ rệt, ông ta dễ thương
hơn đến nỗi gia đình và bạn bè đều rất đổi ngạc nhiên.
Một thời gian sau, người bạn nầy giới thiệu hai, ba người
bạn Bác sĩ khác đến học Thiền Vipassana.
Nhờ
ông Balle bớt nóng giận và trở nên tin tưởng vào những
cộng sự viên, và họ làm việc tích cực, có hiệu quả hơn.
Trước
kia, những tiến trình của một dự án mất rất nhiều công
sức và thời gian; đôi lúc phải thực hiện nhiều lần mới
có kết quả như ý muốn. Bây giờ, sau khi thực tập Vipassana,
những ý kiến cũng như quyết định của ông Balle đã trở
nên chính xác và có hiệu quả hơn. Việc làm tiến hành một
cách mỹ mãn mà không mất thời gian. Kết quả là hàng sản
xuất gia tăng trong một thời gian rất ngắn.
Tất
cả những người thực tập Vipassana và đồng nghiệp của
họ, đều công nhận rằng có những đổi thay khả quan nơi
họ cũng như nơi làm việc.
- Ông
Kulkani (Ban hành sự) hay bực tức và căng thẳng khi mà thuộc
hạ lầm lỗi hay không làm theo ý của ông. Sau khóa thực tập
Vipassana, ông lẳng lặng nhìn 65 lỗi của thuộc hạ và từ
tốn chỉ dẫn họ sửa sai. Sự chú tâm và bình tĩnh của
ông gia tăng thì sự căng thẳng được giảm bớt.
Do
đó, kết quả của mức sản xuất cũng trội hơn lúc trước.
- Những
đồng nghiệp của một người thực tập Vipassana nói rằng:
sau khóa tu tập, ông ta dễ chịu hơn với mọi người và bớt
hung hăng. Ông suy nghĩ trước và sau đó hành động một cách
thích ứng tùy theo trường hợp. Đồng nghiệp cảm thấy thoải
mái hơn khi gần ông ta.
- Ông
B. Sitharam (Tổng Quản Lý) thực tập 10 ngày trong tháng giêng
1993. Sau khóa tu tập thứ I, ông ngừng hút thuốc và uống
rượu. Ông thực tập Vipassana mỗi ngày trong vòng một tiếng
đồng hồ. Vợ ông thì thực tập khóa học tháng 11, 1993.
- Ông
N.P. Joshi (Phụ tá quản lý) cảm thấy sau khóa tu học Vipassana,
ông trở nên lễ phép hơn và bắt đầu quan tâm đến mọi
người. Vợ ông cũng thực tập một khóa vào tháng giêng năm
1994, và quan niệm về cuộc sống của bà sau đó cũng thay
dổi. Bây giờ đứa con trai 9 tuổi cũng sửa soạn học một
khóa vào tháng 5, 1994.
- Ông
P. J. Shah (Nhân viên môi giới) thực tập Vipassana một tiếng
đồng hồ mỗi ngày. Ông nói mặc dầu tâm trí đôi lúc bực
dọc, sau buổi thực tập, tâm thần ông trở nên sảng khoái,
minh mẫn hơn. Sự nóng nảy cũng được giảm bớt. Ông làm
việc có hiệu quả hơn. Mọi quyết định của ông trở nên
chính xác và nhờ đó ông tự tin hơn.
- Ông
Pathah (Nhân viên cửa hàng) thực tập Vipassana từ tháng 7,
1992. Trước đó ông hay ngủ vào giờ ăn trưa. Bây giờ giấc
ngủ trưa không còn cần thiết nữa, vì tinh thần ông không
mỏi mệt. Ông làm việc nhanh hơn. Ông thường làm xong tất
cả công việc trước khi tan sở. Nhờ vậy ông có thời gian
rảnh rỗi để lo việc ở nhà. Thuộc hạ của ông bảo là
ông dễ chịu hơn, bớt nóng nảy, bớt căng thẳng. Đồng
nghiệp ông cũng khen ông làm việc có hiệu quả và chính xác
hơn. Chứng tỏ Thiền Vipassana đã giúp ông cải thiện đời
sống của chính mình và nơi chốn làm việc, ông là một nhân
viên khá hoàn toàn.
Những
nhận xét chung về nhân viên có thực tập Vipassana như sau:
họ luôn luôn làm xong công việc được giao phó trong ngày,
ít khi nào công việc bị dời lại cho ngày hôm sau. Chứng
tỏ họ có sự chú tâm ''đặc biệt,'' do đó họ làm công
tác nhanh hơn; họ cũng bỏ luôn những thói quen xấu như: hút
thuốc, uống rượu. Sự tin tưởng, quan tâm, biết giúp đỡ
lẫn nhau trong một đoàn thể làm cho công tác ở sở không
còn khó khăn hay trở ngại như lúc trước.
Nếu
chúng ta biết áp dụng Thiền Vipassana cho mọi người cùng
thực tập thì trong một đoàn thể hay một xã hội đều sẽ
có được nhiều lợi ích.
Tóm
lại, chúng ta có thể kết luận một cách chắc chắn là Thiền
Vipassana có một ảnh hưởng rất tốt cho chính bản thân cũng
như đối với mọi người chung quanh. Thêm vào đó, Vipassana
cũng giúp cho sự sản xuất gia tăng nơi chốn công sở. Người
tốt thì việc tốt.
GÌA
VÀ CHẾT
Bhikkhu
P.A. Payutto - Mỹ Thanh dịch sang tiếng Việt
 |
 |
Bản
nguyên tác tiếng Anh
(Thuyết
trình tại buổi hội thảo chuyên đề y học quốc tế về
bản chất
và
tiến trình của cái chết)
Ngày
22 tháng 4 - 2539/ 1996
Kính
thưa toàn thể quý vị,
Hôm
nay thay vì trình bày về cái chết và tiến trình của cái
chết, tôi xin được trao đổi với quý vị về tiến trình
của già và chết.
Già
và cái chết là những hiện tượng thiên nhiên. Theo quy luật
thiên nhiên, tất cả các sự vật duyên khởi đều vô thường
và phải bị biến đổi, tùy thuộc vào sự chi phối của
nguyên nhân, và điều kiện. Bất cứ cái gì có khởi đầu
đều phải có kết thúc.
Đời
sống của tất cả chúng sinh, sau khi được sanh ra là phải
chịu biến đổi với sự kiếm khuyết của các giác quan.
Cái chết chỉ là một sự thay đổi, sự chấm dứt đời
sống ở nơi nầy ; sự tan rã của các tế bào, sự vất bỏ
của thân xác nầy.
Mặc
dầu theo luật thiên nhiên, Già và Chết là một sự thật
hiển nhiên của đời sống con người. Trên mặt tâm lý, thường
thì Già và Chết tượng trưng cho sự mất mát, hết hy vọng,
một ngả rẻ đi vào bóng tối với sự hiện diện của sợ
hãi, lo lắng. Dù vậy, tuổi già cũng có thể là một cơ hội
để ‘trưởng thành’, và cái chết là một sự giải thoát.
Ít ra, một người khi có được đời sống tốt đẹp và
có ý nghĩa; lúc chết ít nhất cũng sẽ không bị hoang mang
mà còn có thể được giải thoát ngay lúc ấy.
Cuộc
sống của con người thường thì được chia ra làm ba giai
đoạn: trẻ thơ, trung niên và cuối cùng là "tuổi già". Trong
những thời gian nầy, một người khi sống với Chánh Niệm
trong từng hành động thường ngày, có thể sống tốt đẹp
ở giai đoạn đầu và đoạn giữa của cuộc sống, nhưng
còn đoạn cuối thì sao ?
Đức
Phật là một điển hình của sự toàn thiện trong cả ba giai
đoạn. Có nghiã là một đời sống an vui, hạnh phúc trong
tuổi "già" vẫn có thể thực hiện được. Thêm vào đó,
như đã nói trên, một người vẫn có thể tiến triển đến
mức hoàn thiện vào lúc cuối cuộc đời.
Bao
người đã bỏ hai phần ba cuộc đời chạy theo danh vọng,
tiền tài, địa vị, quyền lực, và đua đòi vật chất. Họ
có thể nói đời sống của họ là đáng giá. Thật ra thì
chưa đủ. Họ đã không nhận ra tiềm năng thật sự của
con người. Khi có cơ hội được sống lâu hơn kẻ khác, đó
là lúc họ có thể tiến bước trên con đường tìm lại những
tiềm năng của chính mình.
Muốn
được sống lâu, chúng ta phải biết săn sóc bản thân. Săn
sóc trên mọi phương diện : tinh thần, thể chất, sinh lý
cũng như tâm lý. Sự tương quan giữa những điểm nầy cần
được hướng dẫn chu đáo để đời sống hàng ngày được
nhiều lợi lạc. Ngoài việc ăn uống đầy đủ và thể dục
đều đặn, một cuộc sống không làm tổn hại đến người
và vật xung quanh là một điều rất cần thiết cho một cuộc
sống hạnh phúc & quân bình.
Ngày
nay, xã hội phát triển trên đà tranh chấp và tiêu thụ. Con
người vì lao theo nhịp sống nầy chỉ lo tranh dành và gom
góp của cải ,và vì vậy đã không còn thời gian dành cho
chính mình. Vì sống trong một xã hội như thế, không ai có
thể lo cho ai, nên người già phải tự lo. Trong trường hợp
nầy, người già nên giải trí bằng cách tập thể dục, năng
vận động trong môi trường thiên nhiên. Trên phương diện
tình cảm gia đình, tình thương dành cho con cái vẫn giữ vai
trò quan trọng. Nhưng đôi lúc, cha mẹ đã lo lắng thái quá
và việc đó làm cho con cái bực bội.
Theo
lời Phật dạy : một khi con cái đã trưởng thành và có thể
tự lập, cha mẹ nên san sẻ tình thương của mình một cách
công bằng, không quá đáng. Có nghĩa là tình thương mà có
tính cách trói buộc vào người hay vật, phải được chuyển
đổi thành tình thương công bình - tình thương được cân
bằng ở mức độ như tình bạn & tình nhân ái.
Bên
Thái Lan, người già tìm được sự quân bình trong tình thương
khi họ tìm đến Chùa hay Thiền Viện và ở đấy, họ thực
tập, làm công quả cả tuần với những bạn già khác. Xa
hơn nữa, hãy khuyến khích họ chọn lựa, tự tìm cho mình
một việc gì để làm. Nghĩa là họ phải tự biết mình nên
làm gì, vì điều đó rất tốt, có ý nghĩa, họ thích làm
được việc mà họ muốn. Chẳng hạn, viết một quyển sách
về những kinh nghiệm đã sống qua, làm một chương trình
về công tác trồng cây, hay tìm hiểu về vấn đề tâm linh.
Cần nhất là phải thiết tha làm một việc mà mình tin tưởng
và muốn thành công. Hãy tự nói với mình : "Tôi phải làm
xong việc nầy trước khi lià đời."
Có
những người già, sau một thời gian về hưu thì cảm thấy
trơ trọi, trống vắng, chán nản, và buồn rầu. Họ héo sầu
và ít khi kéo dài tuổi thọ.
Vài
người khác bị xuống tinh thần, và có kẻ đã tự kết liễu
đời mình.
Nhưng
những người già có ý chí và có lòng tin nơi việc mình làm
sẽ không như vậy. Lúc đó, ý chí và sự tin tưởng mãnh
liệt vào việc làm có ý nghĩa sẽ giúp họ vượt qua trở
ngại. Họ có việc để làm và có chỗ để nương tựa niềm
tin.
Họ
tiếp tục học hỏi, tìm tòi thêm ; họ sẽ sống mạnh khỏe,
về thể chất cũng như tinh thần. Như Phật đã từng dạy,
"ai có bốn điểm như sau : Muốn làm, có ý chí, biết dấn
thân, và kinh nghiệm tìm hiểu vấn đề tâm linh, sẽ giúp
họ kéo dài tuổi thọ."
Người
già thường dễ nhuốm bệnh vì cơ thể bị suy yếu. Do đó,
họ hay lo lắng và thường tủi thân. Đức Phật dạy mình
nên tự ngẫm : "Thân bệnh, nhưng tâm không bệnh.", hoặc "mặc
dầu cơ thể suy yếu nhưng tâm tôi không hề suy yếu." Nhiều
người nghĩ hạnh phúc là khi sung mãn về vật chất. Nếu
hạnh phúc là thỏa mãn những nhu cầu của các giác quan thì
tuổi già thật là một nỗi thống khổ to tát, bởi vì tuổi
già có nghĩa là các giác quan bị thoái hóa hoặc kiếm khuyết.
Sự
thật thì có hai loại hạnh phúc:
--
Hạnh phúc vật chất.
Có
những người chuyên chạy theo cảm thọ vật chất; và trong
lúc tìm kiếm thứ hạnh phúc nầy, họ phải lao tâm, lao lực
để đạt mục đích. Việc nầy đôi khi còn được khuyến
khích bởi xã hội.
Con
người có khả năng sáng tạo. Ngày nay con người đã sáng
chế ra rất nhiều thứ kỹ thuật tối tân. Nếu sức sáng
tạo nầy được hướng dẫn xoay về bên trong, khả năng nầy
có thể tạo ra niềm vui và sự hài hoà trong tinh thần.
Chẳng
may những người tìm kiếm khoái lạc cũng như hạnh phúc đã
hao tổn sức lực để đi tìm những cảm thọ nhất thời.
Do đó đã không có thời gian để mà tìm lại bên trong của
chính mình.
Sức
sáng tạo và tiềm năng không được phát huy, dẫn đến sự
thiếu an lạc, tinh thần bất an. Lúc họ đi tìm khoái lạc
vật chất, họ đã vô tình tự tạo những hiện tượng bất
an ở bên trong như : sự căng thẳng, lo lắng, hồi hộp, thất
vọng, sợ hãi, mất ngủ và biết bao là tính trạng tâm thần
bất an khác, kể cả bệnh điên.
Những
kẻ chạy theo vật chất lúc thiếu thời sẽ khổ gấp đôi
trong lúc tuổi già. Lúc nầy các giác quan bị suy kém, và vì
họ không được thỏa mãn như lúc còn trẻ; họ sẽ cảm
thấy bực bội, căng thẳng, sợ hãi, lo lắng, và thất vọng.
Sự
bực bội vì những cảm thọ bên ngoài không được thỏa
mãn sẽ làm tăng cường những cảm giác bất an bên trong.
Lúc nầy thật là khổ cho tuổi già.
--
Người sáng suốt, thông minh sẽ không chỉ tìm kiếm vật
chất để thỏa mãn những cảm thọ, mà họ còn tìm cách
tạo ra những cảm giác tốt cho tinh thần, và một niềm an
lạc bên trong.
Đức
Phật đã khuyên chúng ta nên khai thác năm tính chất tốt cho
tinh thần, đó là: Niềm vui, phấn khởi , thoải mái, an lạc
và sự chú tâm. Năm điều nầy giúp chúng ta gạt bỏ được
những cảm giác bất an, đau khổ.
Đây
là cách tu tập để được an lạc và hạnh phúc.
Lúc
về già, người có tuổi nên học tập để có được nhiều
niềm vui nội tại, nhờ đó họ có thể sống an lạc, tự
do và hạnh phúc.
Niềm
hạnh phúc nầy cao hơn, vượt khỏi những hình thức. Đây
là thứ hạnh phúc cao tột khi mà một người nhận chân được
tất cả sự thật về vạn vật cũng như vũ trụ.
Trên
bước đường tu tập để tự giải thoát khỏi vô minh, đức
Phật dạy chúng ta phải học hỏi, tìm hiểu sự thật về
mọi sự vật. Già và Chết là một phần của sự sống cần
được tham vấn. Phật nói : "Đây là năm sự thật về đời
sống. Mỗi người phải tự suy ngẫm, dù là nam hay nữ, người
cư sĩ hay tu sĩ: "Tôi sẽ già, tôi không thể tránh khỏi tuổi
già. Tôi sẽ bệnh, tôi không tránh được bệnh. Tôi sẽ chết,
tôi không tránh khỏi cái chết. Mọi người cũng như mọi
vật tôi hằng yêu mến sẽ bị đổi thay hay xa cách. Tôi là
chủ những việc làm của tôi, tốt hay xấu, tôi phải chịu
trách nhiệm."
Cái
Chết là điểm then chốt của những điều nêu trên, là một
điểm cần được suy ngẫm. Người Phật tử được nhắc
nhở, cần phải trau dồi Chính Niệm, và luôn suy ngẫm về
cái Chết.
Sự
suy ngẫm đúng và sáng suốt sẽ giúp chúng ta nhận chân ra
sự vô thường của cuộc đời. Hơn nữa, sự suy ngẫm giúp
chúng ta sống với Chính Niệm, để chuyên cần tinh tấn trước
khi cuộc đời chấm dứt.
Thêm
vào đó, điều nầy dẫn chúng ta đến sự hiểu biết chân
thật về vô thường. Sự nhận thức chân thật nầy giúp
chúng ta giác ngộ và giải thoát.
Ai
đạt đến đây coi như là người hạnh phúc nhất.
Nhiều
đệ tử của đức Phật đã giác ngộ và giải thoát ngay
trước phút lâm chung. Những người chưa hoàn toàn giải thoát,
lúc chết nhờ được nhắc nhở, nên họ chết một cách an
lành, không sợ hãi, loạn động.
Tóm
lại, ba điểm cần được soi xét lúc già và chết :
- Già
và Chết là luật tự nhiên, phải chấp nhận và nhận thức
một cách không sợ hãi.
-
Già và Chết cũng là một cơ hội để thăng hoa đời sống,
và chúng ta nên làm hết lòng.
-
Nơi cái Già và Chết còn có cái Không già & Không chết
, mà ai ai cũng có thể "sỡ hữu" được.
Với
những điểm trình bày sơ lược bên trên, tôi xin kết thúc
buổi nói chuyện hôm nay.
Chân
thành cảm ơn tất cả quý vị.
LỢI
ÍCH CỦA THIỀN VIPASSANA
CHO
CHÍNH BẢN THÂN CŨNG NHƯ XÃ HỘI
Nguyên
tác tiếng Anh: Usha Modak - Dịch sang tiếng Việt: Mỹ Thanh
 |
 |
Đời
sống văn minh hiện đại tiến nhanh đến mức độ, thời
gian để thở cũng không có. Cuộc sống bon chen, cạnh tranh
như cuộc chạy đua quyết liệt mà không có người thắng;
với những tiện nghi vật chất, những trò chơi phong phú,
những cải tiến tốt nhất về kỹ thuật , cũng đã không
làm cho con người sung sướng hơn.
Về
mặt vật chất, sự tiến bộ của loài người trên phương
diện khoa học, kỹ nghệ, và chính trị thật là to tát. Con
người là kẻ sáng lập và là kẻ tiêu thụ những phát minh
nầy, nhắm mục đích là để cải thiện và hài hoà nếp
sống của con người.
Nhưng
sự thực có phải như thế không ?
Chúng
ta hãy nhìn rõ những xã hội trên thế giới được gọi là
"văn minh hiện đại". Mặc dầu họ phát triển tối đa về
phương diện học vấn, sức khỏe, và kỹ thuật, nhưng họ
lại đang rơi vào tình trạng khủng hoảng về những bệnh
tâm thần, nghiện ngập, tự tử, phạm pháp và tội ác đang
gia tăng...
Một
xã hội được hình thành bằng những phần tử cá nhân. Mỗi
một cá nhân trong xã hội hiện đại không ít thì nhiều,
là nạn nhân của sự căng thẳng và lo lắng. Mỗi một phút
giây trong cuộc sống của họ là sự giằng co giữa vật chất
và tinh thần.
Xã
hội vật chất đã thôi miên con người, làm cho con người
chỉ biết bỏ thời gian để làm ra tiền, và tiêu tiền. Con
người trở thành nô lệ cho những dục vọng của chính mình;
nói cho văn hoa hơn là con người có hoài bão, nguyện vọng,
mục đích và lý tưởng.
Những
thứ nầy ít khi nào ta đạt được đầy đủ, bởi vì chúng
là nguyên nhân tạo ra những thất vọng, buồn khổ, và bất
mãn; cho dù ta "có" hay "không có." Do đó, đau khổ là một
vấn đề chung của con người. Đau khổ không dành riêng cho
một đất nước nào, một giống dân nào, hay một đoàn thể
riêng biệt nào, mà là cho tất cả những ai có mặt trên dãy
điạ cầu nầy.
Vì
đau khổ là một "bịnh" chung cho nhân loại nên "thuốc trị"
cũng chỉ có một thôi, đó là thiền Vipassana.
Căn
bản của một xã hội lành mạnh, tốt đẹp phải là một
xã hội gồm có những cá nhân tốt lành. Mỗi một cá nhân
có những ý tưởng lành mạnh, tốt đẹp, sẽ giúp cho xã
hội tốt đẹp và lành mạnh theo.
Thiền
Vipassana là một phương pháp duy nhất để giúp chúng ta có
được một đời sống nội tâm lành mạnh, an lạc. Sự an
lạc nội tâm được gia tăng tùy theo sự tiến triển của
cá nhân về mặt tâm linh.
Đức
Phật Gotama đã tìm thấy lại phương pháp nầy trong lúc thiền
định một cách sâu xa. Ngài đã giác ngộ, và đạt giải
thoát qua phương pháp nầy.
Với
lòng từ bi và tình thương vô biên, Ngài đã chỉ dẫn pháp
môn nầy để giúp chúng sinh thoát khổ.
Đức
Phật không lập môn phái hay bảo mọi người phải tôn sùng
Ngài. Phật chỉ dạy thiền Vipassana, một phương pháp để
tẩy sạch cái tâm tham, sân, si của chúng ta.
Thiền
Vipassana là gì?
Đây
không phải là một nghi thức dựa theo sự tin tưởng mù quáng.
Không
có sự hình dung, tưởng tượng Thượng đế, các thần thánh
hay một vật gì, cũng không có sự tụng đọc thần chú; càng
không phải là một sự giải trí về trí óc hay triết học.
Vipassana
có nghĩa là : "passa" là nhìn , là quan sát, và "vi" là một
cách đặc biệt. Vipassana nghĩa là quan sát theo dõi chính mình
một cách đặc biệt.
Đây
là một cách thanh lọc tư tưởng, để giảm thiểu tối đa
những sân hận, tham lam, ích kỷ, v...v... bằng cách tự quan
sát chính mình và soi xét nội tâm.
Đây
là "thiền sáng suốt", giúp chúng ta nhìn thấy sự vật như
"nó là", chứ không phải như thế nầy hay thế khác, hoặc
thấy sự vật qua lăng kính đủ màu. Đây là một phương
pháp giúp chúng ta sửa đổi những tập quán tham đắm, si
mê đã in hằn trong tâm khảm từ lâu đời lâu kiếp.
Thiền
Vipassana được dạy căn bản trong vòng mười ngày. Khóa học
đòi hỏi học sinh phải quan sát sự yên lặng và tuyệt đối
tuân hành theo những luật lệ. Thời khóa biểu hàng ngày,
trung bình, là mười tiếng thiền định, với những giờ giải
lao. Thiền sinh tham khảo từng lời chỉ dẫn cho mỗi buổi
thiền trong ngày, và mỗi chiều có buổi thuyết pháp qua "videotape"
của Thầy S.N. Goenka, giải thích những thắc mắc gặp phải
khi tọa thiền.
Có
ba bước thực tập trong khóa Thiền Vipassana.
Thứ
nhất, quan sát về năm giới cấm, những giới nầy ngăn cản
sự bạo động, nói láo, ăn cắp, gian dâm, sử dụng rượu
cùng những chất kích thích xấu.
Tóm
lại, sự quan sát về những giới nầy giúp chúng ta hành động
đúng, sống đúng với nói lời thành thật.
Khi
mà một người phạm những giới trên, tự họ đã làm vẩn
đục tư tưởng của chính mình. Những cái không tinh khiết
là gốc rễ của căng thẳng, bất an, mà ai ai cũng muốn từ
bỏ chúng.
Khi
bạn thực tập Thiền Vipassana, trong lòng bạn nên hiểu rằng
: mỗi lần bạn phạm một điều, trước hết tự mình làm
khổ mình, và sau đó làm khổ người.
Khi
mà bạn tức giận, bạn cảm thấy khó chịu, khổ sở, như
thế thì làm sao bạn an lạc được? Đó là luật tự nhiên.
Một sự thật không chối cãi được.
Bước
kế tiếp là làm sao để làm chủ cái tâm lăng xăng lộn xộn
của chính mình, phương pháp thực tập là chú ý vào hơi thở,
còn được gọi là aanaapaana-sati. Không cần tưởng tượng
hay tụng niệm gì, chỉ quan sát hơi thở ra vào một cách tự
nhiên.
Sự
tập trung nầy giúp cho tâm trí chúng ta nhạy bén hơn. Và sau
đó, thiền sinh sẽ bước qua giai đoạn kế tiếp của Vipassana,
đó là quan sát những cảm thọ trong cơ thể từng phút giây,
giai đoạn tập trung liên tục giữa tâm và thân.
Tâm
trí chúng ta luôn luôn phản ứng theo những điều kiện ở
bên ngoài, giữa " yêu " và "ghét". Nhưng nếu chúng ta tra xét
rõ ràng qua phương pháp Vipassana, chúng ta sẽ khám phá ra rằng
khi mà chúng ta có những phản ứng, chỉ là phản ứng theo
sự cảm thọ của thân hoặc của tâm, liên kết với những
dự kiện bên ngoài.
Một
ý nghĩ xuất hiện, tức thì có sự cảm thọ của thân, thích
hoặc không thích, rồi thì yêu và ghét. Đây là luật tự
nhiên. Dần dần sự yêu thích và ghét bỏ được cũng cố
thêm và kế đến, là tham đắm, si mê thêm bành trướng. Chúng
ta bắt đầu cột những gút thắt trong tâm mình. Chúng ta gieo
đau khổ cho chính mình bằng cách luôn phản ứng theo cảm
thọ nhất thời.
Với
phương pháp Vipassana nầy, chúng ta tập cho tâm trí mình quan
sát theo dõi những cảm thọ một cách bàng quan, không thiên
vị, nghĩa là, không ham muốn khi có những trạng thái sung
sướng, dễ chịu, và không ghét bỏ khi có trạng thái khó
chịu, hay khổ.
Một
khi chúng ta có thực tập thì nghiệm ra rằng cho dù cảm thọ
vui hay khổ, nó cũng bị đổi thay không ngừng. Tất cả đều
là vô thường, không thật.
Đây
là luật tự nhiên của vũ trụ, dù là hữu tình hay vô tình.
Theo
kinh nghiệm thực tập, một người sẽ hiểu rằng phương
pháp nầy không phải chỉ để học cho biết một cách qua
loa. Một khi mà chúng ta bắt đầu có sự chú tâm về những
cảm thọ khác nhau, dù dễ chịu hay khó chịu, tư tưởng sẽ
dần dần trở nên sáng suốt vì có sự chú tâm.
Lúc
nầy, hàng rào ngăn cách giữa ý thức và vô thức bị sụp
đổ, và chúng ta không còn phản ứng một cách mù quáng nữa.
Những
tham đắm, si mê chôn sâu trong vô thức ví như một hỏa diệm
sơn đang ngủ, chỉ chờ cơ hội là vùng dậy làm điêu đứng
chúng ta.
Muốn
được giải thoát khỏi những hoả diệm sơn đang ngủ, ta
chỉ có cách là làm theo Chánh Pháp.
Sự
giải thoát không phải một sớm một chiều. Chúng ta phải
kiên tâm, bền chí thực hành phương pháp Vipassana một cách
đúng đắn.
Khi
mà bạn tiến trên đường thực tập, bạn sẽ tự nhận diện
được những phiền não như : nóng giận, ganh ghét, tự ty,
ngã mạn, của chính mình, và bạn sẽ biết quan sát chúng
một cách bàng quan để mà loại bỏ chúng.
Vipassana
là phương pháp thanh lọc tư tưởng qua sự quan sát nội tâm.
Đây
là phương pháp "tự kiểm thảo", tự loại bỏ những gì không
trong sạch trong tâm hồn chúng ta. Với phương thức nầy không
có "sự tôn thờ một giáo chủ", chính bạn phải vạch sẵn
đường đi của chính mình. Không ai có thể làm thế cho bạn
được. Bạn không thể trở thành thiền sinh đúng nghĩa, nếu
chỉ thực tập có mười ngày.
Khóa
học mười ngày chỉ là một khuôn mẫu hướng dẫn, cần
được thực hành hàng ngày, và nếu được nên tiếp tục
học những khóa kế tiếp, để củng cố và tiến hơn trên
bước đường tu tập.
Chỉ
có như vậy chúng ta mới gặt hái được những lợi ích đáng
kể trong lúc thực hành thiền Vipassana. Có những khóa học
hai mươi ngày, ba mươi ngày, hay bốn mươi lăm ngày để giúp
thiền sinh vững chãi hơn trên bước đường thực tập. Thực
hành kiên trì trong một thời gian, tâm trí ta sẽ từ từ thoát
khỏi những tham đắm, giận hờn, si mê. Và từ đó, ta tìm
được hạnh phúc, an lạc cho chính mình, và luôn cả những
người chung quanh cũng được lợi ích.
Lợi
ích của Thiền Vipassana trong đời sống hằng ngày như thế
nào ?
Sự
tiến bộ trong lúc hành thiền Vipassana không đo lường bằng
bao nhiêu khóa học, bao nhiêu năm thực hành, mà là sự bình
thản, an lạc của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Bạn
gặt hái được lợi ích của Thiền Vipassana ngay trong hiện
tại. Bước đầu là sự tấn công vào bản ngã, và dần dần
bản ngã sẽ tan biến khi mà quá trình thanh lọc bắt đầu.
Một
thiền sinh cho biết, thời thiếu niên anh ta bất đồng ý kiến
với cha mẹ, và trong lúc tức giận, anh ta từ bỏ mái ấm
gia đình, và trong mười năm qua mặc dầu cha mẹ cố gắng
tìm anh, anh vẫn không thèm gặp họ. Khi anh đến học khóa
thiền Vipassana, và nhờ thực tập, bản ngã của anh bắt đầu
tan dần và anh chợt nhận ra sự thiếu sót của mình. Anh cảm
thấy rất khổ sở, nhưng anh bắt đầu cảm nhận được
quan điểm của cha mẹ anh. Anh nhận thấy được nhiều khía
cạnh của cùng một vấn đề, và không còn suy nghĩ một chiều
nữa. Anh quyết định viết thư cho cha mẹ và cho họ biết
anh ở đâu; anh trở về nhà và giải tỏa những mâu thuẫn
ngày xưa.
Lời
khuyên hay lời chỉ bảo đơn thuần sẽ không có kết quả.
Chỉ khi nào ta thay đổi quan điểm và chịu quan sát vấn đề
một cách cặn kẽ. Những lớp vỏ tinh thần không tinh khiết
sẽ được vứt bỏ khi hành thiền Vipassana và sự suy nghĩ
trở nên sáng suốt hơn. Chúng ta bắt đầu có những phán
đoán chính xác về người và vật. Nhờ đó, sự liên kết
giữa ta và người được tốt đẹp thêm lên. Chúng ta bắt
đầu bớt đòi hỏi nơi thân nhân, con cái, hàng xóm, đồng
nghiệp, thuộc hạ, v...v... Với cách suy nghĩ rõ ràng, sự
phán đoán chính xác, trong nhà cũng như nơi công sở ta sẽ
được nhiều lợi ích thiết thực.
Một
thiền sinh khác là nữ y tá cho nhà thương, cô nói Thiền Vipassana
đã giúp cô bớt bực dọc, bối rối trong việc làm. Hàng
ngày cô phải đối diện với máu me, thương tật, và đôi
lúc cô như bị tê liệt bởi những cảnh tượng nầy. Cô
không đổi sang chỗ khác, nhưng quyết định đương đầu
với vấn đề. Với sự thực tập đều đặn hàng ngày, cô
đã trở nên cứng rắn và quân bình hơn.
Điều
nầy đã làm cho các bác sĩ và y tá làm chung với cô ngạc
nhiên hết sức. Công việc săn sóc bệnh nhân của cô cũng
trở nên tốt đẹp, khả quan hơn.
Khi
mà tâm trí chúng ta trải qua một cuộc thanh lọc, thì khả
năng làm việc của chúng ta cũng được gia tăng gấp bội.
Nghị lực được tiêu thụ trong lúc đấu tranh với căng thẳng,
hẹp hòi, ích kỷ, trở ngại cảm xúc, được tiêu dùng một
cách có ích lợi hơn. Công việc của chúng ta cũng trở nên
hoàn toàn hơn, về phẩm cũng như lượng.
Sự
đắn đo thông thường là : Phương pháp nầy nhấn mạnh về
sự bình thản, như vậy có làm cho chúng ta trở thành ù lì
không ? Thưa không!
Một
người có trách nhiệm trong xã hội phải là người năng hoạt
động.
Cái
mà chúng ta gạt bỏ ra là sự phản ứng mù quáng.
Chúng
ta học để phản ứng đúng hơn với một cảm giác chắc
chắn, rõ ràng. Ngoài phần thanh lọc nội tâm ( đây là điểm
then chốt của việc hành thiền ), thiền sinh còn được lợi
ích về mặt thể chất cũng như tinh thần.
Những
bệnh như : máu cao, nhức đầu, ung nhọt, lở loét, v...v...
là những chứng bệnh "tinh thần cơ thể" (psychosomatic). Những
căn bệnh nầy được chữa lành trong lúc hành thiền Vipassana,
và đây chỉ là những sản phẩm phụ gặt hái được trong
lúc thanh lọc thân tâm.
Có
những người nghiện rượu, thuốc, cũng đã bỏ hẳn những
thói quen không tốt nầy sau khi thực hành Vipassana. Nhiều thiền
sinh cho biết họ có sự tập trung cao hơn, trí nhớ cũng gia
tăng, học và hiểu nhanh hơn lúc thường.
Một
học sinh bỏ học nửa chừng, và phải uống thuốc an thần;
nay đã không còn dùng thuốc, đã đi học trở lại và đã
học xong .
Vipassana,
nếu thực tập một cách đúng đắn, với sự hiểu biết
chính xác, sẽ giúp mỗi cá nhân trở nên tốt đẹp hơn. Nhờ
đó, mỗi một người có thể đóng góp tích cực trong việc
xây dựng xã hội một cách hài hòa tốt đẹp.
Kết
luận
Vipassana
là một phương pháp có đường lối thực tiễn. Không những
nó giúp ta bình thản trước những thăng trầm của cuộc đời,
mà còn cho ta một xã hội an lạc. Vipassana không những giúp
ích cho từng cá nhân, mà còn có thể giúp cho cả một cộng
đồng. Đây là nghệ thuật sống, nơi đây chúng ta học sống
hòa bình với chính mình và hòa hợp với tất cả mọi người.
Tóm
lại, đặc điểm đặc thù của Vipassana là :
1.
Đây là một phương pháp có tính cách phổ thông, ai ai cũng
có thể thực tập, không kể là đất nước nào, tôn giáo
nào, thành phần nào...
2.
Đây là phương pháp đánh thẳng vào những vẩn đục trong
vô thức, phá vỡ những lớp vỏ si mê hàng rào giữa ý thức
và vô thức.
3.
Không có sự tưởng tượng thánh thần nào, không trì tụng
thần chú. Chỉ bắt đầu nhận diện sự thật nơi thân và
tâm, từ thô đến tế, và nhận diện được Sự Thật hằng
hữu nơi mình.
4.
Đây là cách hành thiền có tính cách cá nhân, với sự cảm
nhận riêng biệt của mỗi người. Do đó, ta nên tự bước
đi trên đường. Trong pháp môn nầy, không ai có thể làm thế
cho ai; như vậy, không có sự sùng bái thái quá về một bậc
thầy.
5.
Với phương pháp nầy chúng ta gặt hái được nhiều lợi
ích cho chính bản thân mình. Và để trở nên một công dân
vẹn toàn.
HẠNH
PHÚC, KHỔ ĐAU VÀ NIẾT BÀN
Venerable
Ajahn Sumedho -Dịch sang tiếng Việt: Mỹ Thanh
 |
 |
Mục
đích của Thiền Phật Giáo là Niết Bàn.
Chúng
ta hướng đến Niết Bàn và tránh xa những rắc rối của
thế giới dục lạc - vòng tròn không dứt của những thói
quen. Niết Bàn là mục đích mà ta có thể đạt được ngay
hiện đời. Chúng ta không cần đợi lúc lià đời mới biết
Niết Bàn hiện hữu.
Các
giác quan và thế giới dục lạc là cõi của Sanh, Già, Bệnh,
Chết.
Cái
thấy là một thí dụ, nó dựa vào rất nhiều nguyên nhân
: cho dù là ngày hay đêm, cho dù mắt tốt hay không tốt. Chúng
ta hay bám víu vào màu sắc, hình dáng mà ta cảm nhận được
bằng mắt và bắt đầu đồng hóa với chúng.
Kế
đến là lỗ tai và cái nghe. Khi chúng ta nghe những âm thanh
chói tai thì chúng ta chán ghét. Cái ngửi thì cũng vậy. Chúng
ta tìm kiếm những mùi thơm tho, và không ưa những mùi hôi
thối.
Với
cái nếm cũng thế, chúng ta kiếm những vị thơm ngon và tránh
những vị dở. Kế nữa là sự xúc chạm -- có bao lần trong
đời, chúng ta trốn chạy những xúc chạm khó chịu, đau đớn
và tìm kiếm những xúc chạm dễ chịu.
Cuối
cùng là sự suy nghĩ, sự phân biệt . Cái suy nghĩ và phân
biệt nầy đem lại cho chúng ta bao niềm vui cũng như nỗi khổ.
Bời vì đây là những cảm giác, cảm xúc.
Chúng
ta đang ở trong thế giới dục lạc - Thế giới của Sanh Tử.
Do đó đau khổ, bất toàn, và bất như ý là những điều
hiển nhiên. Bạn không bao giờ tìm được hạnh phúc hoàn
toàn, không bao giờ hài lòng và an bình trong thế giới dục
lạc. Nơi đây chỉ có thất vọng và sự chết. Thế giới
dục lạc là bất như ý, do đó khi chúng ta tìm ''sung sương''
nơi đây - chúng ta chỉ được kết quả đau khổ mà thôi.
Chúng ta sẽ đau khổ nơi thế giới nầy khi mà chúng ta đòi
hỏi nơi đây nhiều hơn là nó có thể mang lại cho chúng ta.
Chẳng hạn như đòi sự an toàn tuyệt đối, tình yêu vĩnh
viễn, và mong đời sống của chúng ta chỉ toàn niềm vui và
không có đau buồn.
" Nếu
chúng ta có thể đoạn diệt được bệnh hoạn và tuổi già."
Tôi
còn nhớ hai mươi năm trước ở Mỹ Quốc, người ta hy vọng
vào khoa học tiên tiến để loại trừ hết bệnh tật. Họ
nói : ''Tất cả bệnh về tâm thần là do hóa chất trong cơ
thể không được cân bằng. Nếu chúng ta có thể tìm ra công
thức của những hợp chất và chích những hóa chất mà ta
thiếu vào trong cơ thể thì bệnh tâm thần như 'phân tán tâm
thần' (schizophrenia) sẽ được chữa lành.'' Sẽ không còn
bệnh đau lưng hay đau đầu nữa.
Chúng
ta có thể thay thế tất cả bộ phận bên trong bằng những
bộ phận tốt hơn làm bằng ''nhựa'' (plastic). Tôi còn đọc
một bài báo của Úc Châu nói là họ sẽ làm thế nào để
chiến thắng tuổi già ! Như hiện giờ dân số của thế giới
cứ tiếp tục gia tăng, chúng ta cứ tiếp tục sanh con và nếu
không ai già và không ai chết... Thử xem thế giới sẽ hỗn
loạn đến mức nào.
Thế
giới sắc dục là bất như ý và điều nầy là hiển nhiên.
Khi mà chúng ta bám víu vào thế giới nầy, thì chúng ta chỉ
có thất vọng - vì bám viú nghĩa là muốn được như ý --
chúng ta muốn thế giới nầy làm vừa lòng chúng ta, làm cho
chúng ta sung sướng và hạnh phúc, an toàn. Nhưng chúng ta hãy
nhìn lại bản chất của hạnh phúc -- Chúng ta có thể hạnh
phúc trong bao lâu ?
Hạnh
phúc là gì ? Bạn có thể nghĩ là khi mà bạn có được
những gì bạn mong muốn, đó là hạnh phúc. Người nào đó
nói điều gì, hay làm điều gì mà bạn hài lòng và bạn cảm
thấy vui, cảm thấy hạnh phúc. Người nào làm đồ ăn ngon
đãi bạn - bạn vui. Bạn vui khi trời đẹp, có nắng ấm.
Nhưng bạn có thể vui trong bao lâu ? Ở Anh Quốc, thời tiết
thay đổi liền liền, sự sung sướng, vui thích lúc nắng ấm
bên Anh là một việc không hoàn toàn được như ý vả lại
chúng ta đâu phải lúc nào cũng vui khi được thời tiết đẹp.
Tóm lại, đau khổ là khi không được cái mà ta mong muốn.
Muốn trời đẹp, mà trời mưa. Người ta làm những việc
mà mình không vừa ý, đồ ăn không ngon v...v... Đời sống
nhàm chán, độc điệu khi mà ta không vừa ý với đời sống
ta đang có.
Do
đó hạnh phúc và khổ đau dựa trên những gì ta muốn và
đạt được, hoặc không muốn mà phải ''bị có''.
Nhưng
hạnh phúc là mục đích của mọi người trong cuộc sống
nầy. Trong luật nhân quyền của Mỹ, có nói đến ''tự do
tìm hạnh phuc''.
Làm
cho được những gì mình mong muốn, và đây là mục đích
của chúng ta trong đời sống hằng ngày. Nhưng hạnh phúc lúc
nào cũng đưa đến đau khổ vì nó là ''Vô Thường.'' Bạn
có thể hạnh phúc được trong bao lâu ? Ráng thu xếp, điều
khiển, làm mọi cách để có những gì ta muốn, luôn nghe được
những điều ta muốn nghe, thấy những gì ta muốn thấy, để
cho ta không phải nếm đau khổ hay thất vọng -- Nhưng đây
chỉ là một việc làm vô ích. Một điều không thể thực
hiện đưọc, phải không ? Vì thế đây không phải là một
điều mà ta có thể dựa vào hay lấy đó làm mục đích cho
đời sống.
Hạnh
phúc luôn luôn là thất vọng vì nó hiện hữu một cách ngắn
ngủi và tiếp theo là đau khổ. Hạnh phúc lúc nào cũng tùy
thuộc vào những nguyên nhân khác -- Chúng ta hạnh phúc khi
chúng ta mạnh khỏe, nhưng cơ thể con người luôn bị đổi
thay ; chúng ta có thể mất sức khỏe một cách nhanh chóng.
Lúc ấy chúng ta thiệt là khổ vì bệnh hoạn làm mất đi
cảm giác mạnh mẻ, đầy sức sống. Do vậy, mục đích của
người Phật tử không phải là tìm hạnh phúc vì biết nó
không thật.
Mục
đích thật , nằm ngoài thế giới dục lạc. Không có nghĩa
là chối bỏ thế giới nầy, nhưng mà là hiểu được nó
một cách cặn kẻ để mà thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn. Chúng
ta không còn chờ đợi '' nó '' mang hạnh phúc lại cho chúng
ta nữa. Chúng ta không còn đòi hỏi quá đáng và bắt đầu
ý thức về bản chất thật của thế giới mình đang sống.
Chấp nhận bản chất thật của nó trong mọi trường hợp
và hoàn cảnh. Ta không còn bám víu vào những cảm xúc nhất
thời khi hạnh phúc cũng như khi đau khổ.
Niết
Bàn không phải là trạng thái '' trống vắng '' mà là một
trạng thái '' tỉnh thức '' - khi mà ta không còn bị lôi cuốn
theo những pháp trần. Bạn sẽ không còn đòi hỏi thứ gì
nơi cõi dục lạc nầy. Bạn chỉ nhận biết tất cả là những
hiện tượng của '' có '' và '' không. ''
Trong
hiện tại được thân người, chúng ta không thể tránh khỏi
già, bệnh, chết. Một lần, có một người đàn bà trẻ ẳm
con đến Thiền Viện ở Anh Quốc. Đứa bé bệnh đã hơn một
tuần và bị ho rất nhiều. Người mẹ nhìn con với vẻ thất
vọng và khổ sở. Bà ngồi ôm con, đưá bé bắt đầu ho và
la khóc đỏ cả mặt mày. Bà mẹ nói : " Ôi! Thầy Sumedho,
tại sao con tôi phải khổ như thế? Nó chưa từng hại ai,
chưa làm gì sai trái. Tại sao ? Chẳng lẽ kiếp trước nó
đã làm gì nên tội, nên bây giờ phải chịu khổ như thế
?" Thật ra đứa bé khổ vì nó đã ra đời ! Nếu nó không
ra đời thì đâu phải chịu khổ. Khi mà chúng ta được sanh
ra tức là chúng ta sẽ phải gánh chịu bệnh hoạn, đau đớn,
già và chết.
Đây
là một điều quan trọng cần suy ngẫm. Chúng ta có thể đoán
chừng là kiếp trước, đứa bé nầy có lẽ đã bóp cổ mèo,
chó gì đó, và bây giờ phải chịu trả nghiệp mà nó đã
gieo. Nghĩ và đoán chừng như thế nầy cũng chẳng lợi ích
gì. Ta chỉ cần biết là khi được sanh ra là do Nghiệp.
Mỗi
người trong chúng ta đều phải chịu bệnh, đau, đói, khát,
già, và cuối cùng là chết. Đây là định luật của Nghiệp
báo!
Cái
gì có bắt đầu thì phải có kết thúc, có sanh thì có tử,
có sum họp thì có chia ly. Chúng ta không phải chán đời vì
những điều nêu trên, nhưng chúng ta nên chiêm nghiệm để
mà đừng đòi hỏi nhiều nơi cuộc sống ở đây.
Nhờ
vậy ta mới có thể đương đầu với cuộc sống, chịu đựng
khi gặp trở ngại , hài lòng khi mọi việc êm xuôi. Nếu hiểu
được như thế, chúng ta có thể sống vui và không trở thành
'' nạn nhân '' của cuộc sống.
Bao
nhiêu đau khổ xảy ra trong đời sống con người cũng chỉ
vì chúng ta đòi hỏi quá đáng. Chúng ta có những ý tưởng
lãng mạn như là gặp đúng ý trung nhân, thương nhau và sống
với nhau hạnh phúc suốt đời; nghĩa là chúng ta sẽ không
cãi nhau, một liên hệ hoàn hảo.
Nhưng
còn cái chết thì sao ? Bạn có thể nghĩ, " nếu hai chúng ta
có thể chết cùng lúc." Đây chỉ là hy vọng phải không ?
Hy vọng và rồi thất vọng khi một người thân yêu vĩnh viễn
ra đi -- trước khi bạn đổi ý bỏ đi theo một người nào
khác.
Bạn
có thể học được rất nhiều từ nơi trẻ em, bởi vì trẻ
em không biết che dấu những cảm xúc. Khi chúng vui thì cười,
khi chúng buồn thì khóc. Một lần tôi đến nhà một cư sĩ
- Khi chúng tôi đến , đứa con gái trông thấy cha nó thì rất
là vui mừng. Người cư sĩ nói với con :" Cha phải đi với
Thầy Sumedho, chỉ một chút thôi - sẽ trở lại trong vòng
một tiếng." Đứa bé chưa đủ trí khôn để hiểu câu ''
trở lại trong vòng một tiếng '', và nó bắt đầu la khóc.
Bởi vì sự chia ly đột ngột của người thân yêu là một
nỗi khổ lớn. Hãy để ý xem trong cuộc sống của chúng ta,
khi nào có khổ đau là lúc mà ta phải chia ly với người thân
yêu, hay mất đi một vật gì mà ta yêu thích; hoặc phải rời
xa một chỗ mà ta hằng yêu mến. Là người lớn chúng ta có
đủ sáng suốt để hiểu rằng chúng ta đi rồi sẽ trở lại
- nhưng nỗi buồn vẫn man mác đâu đây. Từ tháng 11 đến
tháng 3, tôi du lịch khắp nơi... mỗi lần đến phi trường,
gặp người đón tôi '' chào anh / chị '', và vài ngày sau thì
'' chào tạm biệt '' -- Lúc nào cũng có ý '' sẽ trở lại
''và tôi nói '' vâng, tôi sẽ trở lại ''... và như vậy tôi
hứa với tôi sẽ trở lại năm sau. Ta không thể nói '' chào
vĩnh biệt '' với người mà chúng ta mến thương, phải không
nào?
Vì
vậy, chúng ta nói '' tôi sẽ gặp lại anh / chị ; tôi sẽ
điện thoại, tôi sẽ viết thư, và hẹn gặp lại...'' Chúng
ta nói lên những câu nầy để che đậy phần nào cảm giác
buồn xa cách. Đây là cảm giác tự nhiên.
Trong
Thiền định chúng ta bắt đầu chứng nhận đau khổ, để
hiểu rõ nó hơn, và không đè nén, hoặc bỏ nó qua một bên.
Bên nước Anh, người ta có khuynh hướng đè nén đau khổ
khi người thân qua đời.
Họ
tránh không khóc, và ráng giữ bình tĩnh. Và khi họ bắt đầu
thực tập Thiền thì họ thấy, họ tự nhiên khóc cho một
người đã chết cách đây 15 năm.
Họ
đã không khóc và chờ 15 năm sau mới giải tỏa nỗi lòng.
Khi
mà người thân qua đời, chúng ta không muốn chấp nhận nỗi
khổ, và không khóc vì khóc là yếu đuối, và mắc cỡ với
mọi người chung quanh. Do đó, chúng ta đã đè nén và giữ
lại những cảm xúc, không nhận thức được đây là một
hiện tượng tự nhiên.
Trong
Thiền định, chúng ta để cho tâm trí rộng mở và để cho
những gì bị đè nén, chèn ép, được nhận diện, và khi
mà những vấn đề được nhận diện thì chúng sẽ tự dưng
chấm dứt. Chúng ta để cho mọi việc trôi theo tiến trình
của nó -- Sanh và Diệt. Chúng ta để nó tự nhiên mất đi
hơn là chúng ta xua đuổi nó đi. Thông thường thì chúng ta
hay đẩy những vấn đề qua một bên, từ chối không chấp
nhận hoặc không chịu ý thức sự hiện diện của chúng.
Khi chúng ta ngắm nhìn hoa đẹp, trời xanh, đọc sách, xem TV,
tức giận, chán chường, hoặc làm việc gì đó. Chúng ta không
khi nào nhận thức được một cách hoàn toàn những việc
nầy. Chúng ta không nhận thức được nỗi buồn, nỗi thất
vọng của chính mình vì chúng ta thường tìm cách khỏa lấp
chúng bằng cách : ta có thể ăn bánh, kẹo, và nghe nhạc. Rất
dễ dàng để thấm hồn vào âm nhạc, tránh được sự nhàm
chán, thất vọng.
Chúng
ta lệ thuộc vào việc xem TV, và đọc sách. Có rất nhiều
sách đến nỗi ta cần phải đốt bớt, vì có bao sách vô
bổ. Mọi người thi nhau viết về mọi thứ mà không có thứ
nào đáng để nói cả. Ngày nay có bao tài tử viết và làm
phim về cuộc đời của họ. Rồi có những đề mục về
tán gẫu. Con người muốn tránh sự nhàm chán của đời sống
riêng mình, cho nên đọc những chuyện về thiên hạ, chuyện
liên quan đến tài tử nổi tiếng và những nhân vật quan
trọng.
Chúng
ta không bao giờ nhận thức được bản chất thật của sự
nhàm chán.
Khi
mà sự nhàm chán xuất hiện thì tức thời chúng ta chạy tìm
những cái hấp dẫn, những thú vui khác để khoả lấp nó.
Nhưng trong lúc Thiền định, chúng ta để cho sự nhàm chán
bộc lộ. Chúng ta để cho thất vọng, chán chường, ganh tỵ,
giận dữ, oán ghét... xuất hiện và ý thức nhận diện '"nó"
với bản chất thật của nó không thêm không bớt.
Bằng
vào '' từ tâm ''' và trí tuệ, chúng ta để cho những điều
nầy tự '' Sanh và Diệt '' -- tốt hơn là đè nén chúng theo
thói quen. Nếu chúng ta cứ muốn đè nén những cảm xúc thì
đây là một thói quen không tốt.
Khi
chúng ta thất vọng và chán chường, chúng ta không thể nào
thưởng thức được những vẻ đẹp; vì bình thường chúng
ta chưa bao giờ nhận thức được bản chất thật của cái
đẹp.
Tôi
còn nhớ một kinh nghiệm trong năm đầu thực tập Thiền ở
Thái Lan.
Trong
năm đó, tôi sống một mình trong chòi lá và những tháng đầu
thật là khủng khiếp...
Bao
nhiêu là thứ nổi lên trong tâm thức -- ham muốn, sợ hãi,
khủng hoảng và ganh ghét. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình
có nhiều ganh ghét đến thế.
Tôi
chưa bao giờ nghĩ rằng mình ghét ai, nhưng trong những tháng
đầu Thiền định, tôi hình như ghét tất cả mọi người.
Tôi
không thể nghĩ tốt về ai hết, có rất nhiều phản kháng
hiện ra trong tâm thức. Cho đến một buổi trưa, tôi bắt
đầu thấy một điều lạ... Lúc đó, tôi nghĩ là tôi điên
-- Tôi thấy người ta đi ra khỏi óc của tôi --- Tôi thấy
mẹ tôi bước đi khỏi óc tôi và tan vào trong hư không. Rồi
cha và chị tôi bước đi kế tiếp. Đây là một kinh nghiệm
rất là khó chịu. Sáng hôm sau thức dậy nhìn quanh, tôi cảm
nhận và thấy rằng tất cả mọi vật đều tuyệt đẹp.
Tất cả, kể cả những cái bất toàn cũng đẹp. Tôi ở trong
tình trạng ngạc nhiên cực điểm.
Cái
chòi được dựng nên rất thô sơ, nhưng lúc ấy tôi như sống
trong cung điện. Những cây cằn cỗi trông như khu rừng xanh
tươi, đẹp đẽ. Ánh nắng tràn ngập qua cửa sổ chiếu lên
một cái dĩa nhựa -- trông thật là đẹp vô cùng.
Tôi
sống trong cảm giác tươi đẹp ấy trong vòng một tuần lễ
và chiêm nghiệm nó; và tôi đột nhiên hiểu rằng mọi vật
có chu trình của nó và chỉ khi nào tâm thức thật sáng suốt
thì ta mới cảm nhận được một cách đầy đủ.
Trong
bao tháng, cửa sổ có rất nhiều bụi bám, nhưng tôi không
hề hay là cửa sổ dơ. Mãi cho đến lúc đó, tôi mới nhận
ra rằng mình đã nhìn thấy mọi việc qua khung cửa sổ dơ
bẩn. Và vì thế, cho nên tất cả những gì tôi thấy đều
mang màu sắc xám, xấu xí. Thực hành Thiền là '' lau chùi
cửa sổ '', là thanh lọc tinh thần, để cho mọi việc đến
và đi không chút vướng bận.
Một
khi đạt '' Giác ngộ '', kiến tánh, chúng ta sẽ
nhận xét một cách rốt ráo bản chất thật của sự vật.
Không
còn bám víu vào cái sắc tướng nữa. Nhờ vậy chúng ta không
còn bị lôi cuốn theo thói quen qua cái nhìn của Vô minh mà
thật sự thấy rõ lẽ '' tự nhiên '' của tạo hóa.
Có
sanh là có già, có bệnh và có chết. Nhưng đây là nói về
thân thể của bạn, không phải bạn. Thân thể của bạn không
thật là của bạn. Không cần biết bạn có những đặc điểm
gì, cho dù bạn có khoẻ mạnh hay đau yếu, đẹp hay không
đẹp, trắng hay đen -- tất cả đều là Vô Ngã. Đó là ý
nghĩa của Anatta.
Thân
thể con người thuộc về thiên nhiên, nó bị chi phối bởi
thiên nhiên, sanh ra, lớn lên rồi già, rồi chết. Biết là
biết như thế, nhưng chúng ta vẫn bám víu vào thân thể nầy
rất nhiều. Ta có thể nói : " Tôi là người sáng suốt, tôi
sẽ không khi nào bám víu vào thân nầy." Như vậy thì là ta
đã quá lý tưởng rồi. Tựa như chúng ta muốn leo lên ngọn
cây, ta nói : " Tôi đáng lý phải ở ngọn cây, không phải
ở dưới đất." Nhưng thật ra ta phải khiêm hạ chấp nhận
là ta hiện ở gốc cây, phải nhìn lại những việc xem như
là tầm thường, trước khi ta biết nhận diện được cái
gì là ngọn cây. Đây là chiêm nghiệm một cách sáng suốt.
Khi mà tâm thần được chút gì trong sáng, ta cũng không nên
bám vào cái mà gọi là thanh tịnh, sáng suốt. Bởi vì cả
đến những cảm giác, ý tưởng cao tột, trong sáng nhất cũng
là Vô thường, vì chúng đều dựa vào những yếu tố khác
để mà hiện hữu.
Niết
Bàn thì khác. Những nguyên nhân xấu hay đẹp, hay hoặc dở,
thanh cao hay gì gì đi nữa -- nó xuất hiện và rồi biến mất,
không dính dáng gì đến bản thể của Niết Bàn. Chúng ta
không nên chán bỏ thế giới nầy, vì khi chúng ta cố gắng
loại bỏ những cảm xúc thì chúng ta có thể sẽ trở nên
thờ ơ, lãnh đạm . Chúng ta cần phải kiên nhẫn. Cuộc sống
của con người là một cuộc sống trong Thiền định.
Hãy
xem phần cuối cuộc đời ta như là một buổi thực tập Thiền
dài hơn là 10 ngày. Khi mà bạn Thiền và '' đạt '' đến trình
độ cao hơn, thì những việc tầm thường hàng ngày dường
như là trở nên nhàm chán. Bạn đang '' lên cao '' và khi trở
về với cuộc sống thực tại, với những công việc độc
điệu, thì còn tệ hơn là lúc bạn chưa Thiền, phải không
nào ? Khi đến mức độ cao thì tự nhiên sinh hoạt hàng ngày
trở nên quá tầm thường, thô kệch, và khó chịu.
Sự
sáng suốt ( Giác ngộ ) không phải là thích thanh cao và chán
ghét những cái thô kệch, nhưng nhận chân ra là dù thanh cao
hay thô kệch thì cũng chỉ là những giai đoạn của Vô thường.
Vô thường thì là bất như ý. Vì vậy, nó sẽ không bao giờ
làm ta hài lòng vì nó là Vô ngã --- Nó không phải là ta và
ta không phải là nó. Vì vậy giáo lý của Bụt dạy thật
là đơn giản -- có gì đơn giản hơn là '' cái gì có sanh
thì có diệt '' . Đây đâu phải là một triết lý cao siêu
gì, kể cả dân bộ lạc thiếu học cũng biết điều nầy.
Bạn không cần phải vào đại học mới biết được điều
nầy.
Khi
ta còn trẻ, ta nghĩ " Tôi còn những bao năm của tuổi trẻ
và hạnh phúc ". Nếu ta nghĩ ta đẹp thì " Tôi sẽ trẻ, sẽ
đẹp hoài hoài ". Nếu ta 20 tuổi, đang vui chơi, thì cuộc
sống thật là tuyệt vời và nếu có ai đó nói : " Anh ngày
nào đó sẽ chết ". Ngay khi ấy, ta nghĩ đây là một kẻ đang
chán đời, không nên mời anh ta đến nhà mình nữa. Chúng
ta không muốn nghĩ đến cái chết, chỉ lo nghĩ đến cuộc
sống là đẹp, là vui.
Chúng
ta có thể có được bao nhiêu niềm vui trong đời ?
Khi
là Thiền sinh, chúng ta suy ngẫm về già và chết. Đây không
phải là ý nghĩ chán đời, bệnh hoạn hay u ám, nhưng mà là
bắt đầu hiểu được chu kỳ của cuộc sống, để sống
một cách thận trọng hơn.
Bao
người làm những việc rất dã man, vì họ không chịu suy
nghiệm về cái chết của chính họ. Họ chỉ chạy theo những
dục vọng và cảm thọ nhất thời, chỉ muốn được phần
mình và rồi thì tức giận, chán chường khi mà cuộc sống
không đem lại cho họ những gì họ mong muốn.
Hãy
suy ngẫm lại cuộc đời của bạn, suy ngẫm về cái chết,
cũng như những tiến trình tự nhiên của tạo hóa . Ta nên
chiêm nghiệm lại niềm vui cũng như nỗi thất vọng. Hãy nhận
xét xem chúng ta cảm giác như thế nào lúc được cũng như
lúc mất, lúc ưa cũng như lúc ghét. Khi mà chúng ta đang buồn,
chúng ta đọc một quyển sách và chợt có niềm hứng thú
cao độ. Nhưng nên nhớ là cho dù cảm giác cao đến đâu đi
nữa, tất cả cũng chỉ là vô thường. Chẳng hạn như muốn
được cảm giác vui vẻ, bạn phải tập như thế nào để
có được niềm vui ấy hoài hoài. Nhưng một khi công việc
ấy trở nên máy móc, độc điệu thì bạn không còn cảm
thấy vui thú nưã. Do đó, dựa vào hứng thú tôn giáo thì
chắc chắn là thiếu sót. Bởi vì khi bạn quá bám vào sự
hứng thú tìm hiểu về Phật Giáo chẳng hạn; khi bạn nhàm
chán thì sao ? Bạn sẽ tức khắc chạy đi tìm một tôn giáo
mới để gây cảm hứng cho mình . Chẳng hạn như là bám víu
vào tình yêu, một khi một mối liên hệ vừa chấm dứt thì
bạn bắt đầu đi tìm một tình yêu mới . Vài năm trước
ở Mỹ, tôi có gặp một cô đã lập gia đình những đến
sáu lần, cô ấy chỉ mới 33 tuổi. Tôi nói : " Cô đáng lý
đã phải học hỏi được nhiều nơi lần đỗ vỡ thứ 3,
thứ 4. Tại sao cứ tiếp tục cưới rồi ly dị ?" Cô trả
lời : " Vì Tình Yêu, tôi không thích mặt trái của tình yêu.
Nhưng tôi yêu '' tình yêu ''.
Ít
ra cô ta cũng thành thật, nhưng không sáng suốt mấy. Tình
yêu, sự hứng thú, sự náo nhiệt, phiêu lưu , luôn hiện hữu,
khi đạt đến tột đỉnh của nó, rồi thì mặt trái của
những thứ nầy xuất hiện, giống như khi chúng ta hít vào
thật sâu rồi thì phải thở ra. Thử tưởng tượng sự hít
vào. Y như là có nhiều tình yêu, cái nầy nối tiếp cái kia
. Bạn có thể hít vào trong bao lâu ? Hít vào thì phải có
thở ra, cả hai đều cần thiết. Sanh thì Tử, hy vọng thì
rồi thất vọng... Vì thế khi chúng ta bám vào niềm hy vọng
thì tất nhiên là chúng ta sẽ thất vọng. Khi ta bám vào sự
náo nhiệt thì nó sẽ đưa ta đến sự chán chường.
Khi
ta bám vào tình yêu thì sẽ vỡ mộng và ly dị là điều không
tránh khỏi.
Khi
ta bám vào sự sống thì nó đưa ta đến cõi chết.
Vì
vậy, nên nhận thức rằng sự bám víu vào bất cứ cái gì
đều là đau khổ, vì chúng là vô thường, là vô ngã. Đừng
đòi hỏi nơi nó những gì mà nó không thể cho ta được.
Có bao người lúc nào cũng dường như chờ đợi, hy vọng
vào một sự thành công, hay niềm hoan lạc nào đó; hoặc giả
lo lắng, sợ hãi về một điều bất tường sẽ xảy ra trong
tương lai.
Nhưng
hy vọng nhiều thì cũng sẽ thất vọng nhiều. Do đó, khi ta
suy ngẫm và bắt đầu hiểu rằng cái gì làm cho ta đau khổ
. Ta thấy rằng chính mình là người làm cho mình đau khổ.
Vì Vô minh, vì không hiểu rõ lý vô thường của sự vật,
chúng ta đã đồng hóa mình với sự vật và do đó đã đau
khổ, thất vọng. Khi mà ta có thể buông bỏ, không một chút
vướng bận thì đây là Giác ngộ. Khi chúng ta hiểu rõ được
thế giới dục lạc, ta có thể sống chung với nó mà không
bị lệ thuộc. Ta không còn đòi hỏi thế giới nầy phải
làm hài lòng chúng ta, hay cho chúng ta sự an toàn tuyệt đối
vì biết rằng, càng đòi hỏi thì chúng ta sẽ càng thất vọng,
khổ đau. Ta biết dùng thế giới nầy để thực tập bố
thí, để thực tập từ tâm.
|