I.
Trách Nhiệm Trong Gia Ðình
Trong
đời sống của mỗi chúng ta, mọi người đều có những
bổn phận cần được hoàn thành. Nếu chúng ta không lơ là,
chểnh mảng thì không có gì nguy hiểm; nếu không thì sẽ
có những chuyện đáng tiếc xảy ra không thể nào tránh khỏi
như : lơ là nhiệm vụ, oán ghét, ấu đả, và xung đột .
Ðể
tăng trưởng lòng tử tế, sự cảm thông, lòng từ và sự
hòa hợp giữa con người, để có thể sống hạnh phúc, Ðức
Phật đã đề ra những trách nhiệm về mặt xã hội cho mọi
người nương theo.
Ðức
Phật xuất hiện ở Ấn Ðộ và giáo pháp của Ngài đã tồn
tại khoảng 2,532 năm. Vài người nói, "Có quá nhiều thay đổi
trong thời gian dài đó, và phong tục được thực hành cũng
thay đổi theo từng địa phương. Vì vậy vài điều trong giáo
pháp của Ðức Phật có vẻ lỗi thời và không thể nào thực
tập được."
Ðức
Phật không bao giờ có ý kềm hãm con người, và chưa bao giờ
Ngài bắt mọi người phải tuân theo lời Ngài mà chưa có
sự thể nghiệm hay kiểm chứng. Ngài khuyến khích mọi người
hãy đặt câu hỏi về những giáo lý, trong kinh 'Kalama', Ðức
Phật nói, "Ðừng tin vào những gì mà mình chỉ nghe nói lại,
hay vì đó là tập quán lâu đời, hoặc là nghe rao truyền,
hoặc thấy trong kinh điển, hoặc vì đó là bài luận giải
rất hay; hãy tự mình suy nghĩ những gì mình nghe được, biết
được đây là những điều xấu, có hại, bị chê trách bởi
những bậc hiền triết; đây là những điều gây đau khổ
cho người, thì lập tức chúng ta từ bỏ chúng. Khi mà chúng
ta biết, đây là những điều có lợi ích, đem đến hạnh
phúc thì hãy thi hành và thực tập."
Ðức
Phật không đề ra những luật lệ nếu chúng không đem lại
lợi ích cho con người. Vì thế, để xóa tan nghi ngờ, bạn
đọc nên thử hoàn chỉnh những trách nhiệm liên quan đến
xã hội để biết được như thế nào mà ta có thể làm lợi
ích cho những người thân yêu và những người chung quanh mình.
Trách
nhiệm của bậc cha mẹ
Ðức
Phật trình bày về nhiệm vụ của cha mẹ đối với con cái
như sau; cha mẹ phải khuyên răn con tránh điều ác, khuyến
khích con làm việc lành, cho con học chữ hoặc nghề, lo việc
hôn nhân cho con và để gia tài lại cho con đúng thời, đúng
lúc.
Cha
mẹ là những người thầy quan trọng đầu tiên cho con cái.
Khi còn nhỏ, con cái sống với cha mẹ và học hỏi nhiều
điều nơi cha mẹ và kế đó chúng mới thu thập kiến thức
nơi thầy cô giáo.
Khi
còn nhỏ dại, sự hiểu biết của chúng chưa trưởng thành.
Tâm trí chúng của chúng thường do dự giữa tốt và xấu,
và thường dễ nghiêng về những thói quen xấu. Tâm trí của
chúng giống như đất sét hay sáp vậy, dễ bị uốn nắn.
Và như vậy, muốn được những hình tượng đẹp thì phải
nhờ vào 'tay nghề' của thợ đúc tượng. Cũng như vậy, bước
đầu huấn luyện con cái rất quan trọng và nương dựa rất
nhiều về việc dạy dỗ của cha mẹ.
Trong
lúc nầy, cha mẹ hiểu biết sẽ dùng mọi cách thích hợp
để răn dạy con cái về những bài học đạo đức cũng như
những hiểu biết căn bản. Cha mẹ còn phải quan tâm con cái
bằng cách đừng cho con giao du với những thành phần bất
hảo để tránh cho con cái mình những ảnh hưởng xấu, có
hại.
Những
đứa con được nuôi nấng, dạy dỗ tử tế, sẽ là những
công dân tốt trong xã hội. Vì vậy cha mẹ cần phải cố
gắng sao cho con cái mình nhận được sự dạy dỗ tốt. Có
những cha mẹ hiểu biết, dù phận nghèo, vẫn cố gắng hy
sinh, cho con ăn học thành tài. Có những bậc cha mẹ làm ăn
phi pháp để có tiền lo cho gia đình, nuôi con, nhưng không
để con mình tham dự vào việc làm phi pháp của mình. Có bậc
cha mẹ, rất tệ, dùng con cái vào việc làm ăn phi pháp của
mình. Họ không lo lắng cho con, lại còn hành hạ và lạm dụng
chúng thay vì phải thương yêu chúng. Những đứa trẻ bị
hành hạ bởi cha mẹ; lúc lớn lên và hiểu biết chúng rất
oán ghét cha mẹ chúng. Ðôi lúc chúng tự làm khổ chúng chỉ
vì oán ghét sự ác độc nơi cha mẹ. Vì thế, cha mẹ cần
phải tránh những hành động tàn ác và làm gương xấu cho
con.
Cha
mẹ có thể nghĩ rằng những hành động tốt sẽ tự động
phát triển khi mà những điều xấu dở bị cấm đoán. Nhưng
họ cũng nên biết rằng con cái họ hay do dự khi phải làm
những điều tốt.
Thí
dụ, có những đứa con tự nó không phải dở, nhưng chúng
không thích học hành. Trong trường hợp nầy, cha mẹ cần
phải thuyết phục chúng gắng lo học. Cha mẹ nên hết lòng
giúp đỡ chúng bằng cách tìm hiểu những yếu điểm của
chúng về thân cũng như tâm.
Nếu
cha mẹ vì quá thương yêu con cái, để cho con cái mình tự
do, muốn làm gì thì làm, mà không một lời răn dạy thì đây
không phải là bậc cha mẹ tốt.
Một
câu ngạn ngữ Anh nói, "Dẹp cái roi, làm con hư ". Thêm vào
đó, con cái có thể trở thành thù địch của cha mẹ. Khi
mà chúng không thể kiếm đủ tiền bằng phương tiện chân
chánh, vì thiếu hiểu biết, chúng đi theo những kẻ xấu và
kiếm tiền một cách phi pháp, hoặc giả chúng có thể phung
phí tiền bạc cha mẹ làm ra, hoặc đánh cắp tiền của trong
nhà. Trong trường hợp nầy, điều phiền muộn do con cái gây
ra có thể kéo theo những phiền toái khác. Ðể tránh gặp
phải trường hợp nầy, cha mẹ cần phải hiểu rõ trách nhiệm
của mình đối với con cái.
Cha
mẹ cũng đừng quên giảng dạy cho con những hiểu biết về
tôn giáo, vì mọi tôn giáo trực tiếp hay gián tiếp đều
dũa mài và làm giàu thêm cho con người về mặt đạo đức,
hạnh kiểm, tánh tình, v...v...
Hấp
thụ giáo lý tôn giáo đối với giới trẻ thật là khó. Cha
mẹ nên truyền lại cho con cái gia tài tôn giáo mà họ đang
có. Muốn được như vậy, cha mẹ phải là người ngoan đạo
sáng suốt, ham học hỏi giáo lý, và biết chọn cho mình một
tôn giáo thích hợp để mà thực tập. Ngược lại, cha mẹ
sẽ khó mà giải thích tại sao mình theo tôn giáo đó, vì sao
họ lại thực tập giáo lý đó, và giáo lý đó đã đem lại
lợi ích gì cho cuộc sống hiện tại của họ, v...v... và
để noi gương cha mẹ, con cái miễn cưỡng thực hành theo.
Sau
đây là một thí dụ cho trường hợp nầy.
Thời
Ðức Phật còn tại thế, có một ông trưởng gỉa rất thành
tâm, tên là Anathapindika. Con trai ông, Kala, thì không có thích
viếng Phật và nghe pháp. Kala không bao giờ nghe lời cha để
đi nghe Phật thuyết pháp. Ông trưởng giả mới nghĩ rằng,
"Nếu con mình không biết tu tập, thì tương lai nó sẽ phải
đi những đường xấu. Hiện nay, không một ai mà không bị
ảnh hưởng bởi tiền bạc; vậy ta sẽ thuyết phục nó bằng
cách nầy vậy." Nói rồi, ông gọi con trai đến và nói rằng,
" Nầy con thân yêu, hãy đến thiền viện, thọ giới và nghe
pháp trong một buổi. Khi về, cha sẽ cho con một trăm đồng
tiền vàng."
Kala
bằng lòng và đi đến thiền viện. Nhưng chàng đâu muốn
nghe pháp, nên tìm một chỗ để ngủ và trở về nhà rất
sớm. Ông trưởng giả rất vui lòng và bảo người ở dọn
bàn cho Kala ăn . Kala bảo phải đưa tiền thưởng trước xong
chàng mới ăn, vì sợ cha cho ăn rồi không đưa tiền.
Ngày
hôm sau, ông trưởng giả lại nói với con mình rằng, " Con
thương, cha sẽ cho con một ngàn đồng tiền vàng nếu con đến
viếng Phật và hiểu được một bài kệ. " Như đã giao ước,
Kala đến thiền viện và ngồi trước mặt Phật.
Chàng
chỉ cần hiểu được một câu kinh là sẽ rời thiền viện
tức khắc. Ðức Phật bèn làm cho chàng hiểu sai nghĩa. Kala
bèn nghĩ, " Ta sẽ ráng nhớ câu kế tiếp vậy." Thế rồi,
chàng ngồi lại và cuối cùng thì nghe trọn vẹn bài pháp,
và như vậy Kala đã bước vào ngưỡng cửa đầu tiên của
giải thoát với sự thấu hiểu sâu sắc.
Ngày
kế tiếp, chàng theo phái đoàn tăng sĩ, dẫn đầu là Ðức
Phật đến nhà của mình. Khi thấy Kala cùng Phật và các tăng
sĩ đến, ông trưởng giả nhìn con tự nói, "bữa nay thái
độ của con ta thật làm ta vui quá.", và ngay khi đó, Kala nghĩ,
" Mong rằng cha ta sẽ không đưa tiền thưởng cho ta trước
mặt Ðức Phật. Mong rằng cha ta sẽ giấu chuyện ta đi nghe
pháp vì tiền thưởng. " Ông trưởng giả mời Phật cùng các
tăng sĩ thọ trai. Kala cũng ngồi xuống dùng bữa. Khi Ðức
Phật thọ trai xong, ông trưởng giả đặt lên bàn một túi
đựng một ngàn đồng tiền vàng trước mặt con trai và nói,
"Con thương, con đã học và hiểu được bài kệ, như đã
hứa, đây là tiền thưởng của con." Kala rất là mắc cỡ
và nói, "Con không cần tiền đâu ", và nhất định từ chối
đụng vào tiền đó.
Ông
trưởng giả bèn hỏi Phật về thái độ của con mình. Ðức
Phật đáp, " Con ông đang bước vào ngưỡng cửa giải thoát,
vì thế hắn không muốn lấy tiền của ông đâu. " Mặc dầu
ông trưởng giả biết là con mình có thay đổi, nhưng ông
muốn Phật xác định điều đó. (Dha, v 178).
Cha
mẹ không cần phải ép buộc con cái theo đạo. Chỉ cần nói
về đạo và rồi đưa sách cho chúng đọc trong những giờ
rảnh rỗi. Chỉ cần như vậy là cha mẹ có thể khiến chúng
thích tìm hiểu về tôn giáo.
Khi
con cái học kém và không thể học lên cao, thì cha mẹ cần
phải cho con một số vốn làm ăn hoặc cho con đi học nghề
để có thể tự kiếm sống. Khi mà con cái có một nghề chuyên
môn thì chúng sinh sống nơi nào cũng không lo. Tiền của có
thể bị mất khi gặp hỏa hoạn, lụt lội, trộm cướp, kẻ
thù, hay chính quyền thối nát, hoặc vì con cái ngu si không
biết gìn giữ. Vì vậy tốt nhất là dạy cho chúng một nghề,
hoặc nhờ vào học vấn mà có thể tự kiếm sống.
Ngày
xưa, cha mẹ quyết định sự hôn nhân cho con cái, và người
con chỉ vâng lời tuân theo. Ngày nay, tập tục nầy đang dần
biến mất. Con cái muốn được tự do lựa chọn người phối
ngẫu, và cha mẹ không can dự vào quyết định nầy.
Thật
ra, cha mẹ có nhiều kinh nghiệm trong đời sống hôn nhân.
Vì thế, họ muốn chọn một người thích hợp cho con họ
để con họ sau nầy tránh được những phiền muộn trong hôn
nhân, và họ muốn cho con ý kiến của mình.
Vài
cặp vợ chồng nghĩ là không phải phận sự của họ săn
sóc cha mẹ chồng, hay cha mẹ vợ, bởi vì họ dọn ra ở riêng
sau khi thành hôn. Nhưng dù cho họ có ở với cha mẹ chồng
/ vợ hay không, nếu họ không quên bổn phận của họ đối
với cha mẹ, thì lòng tử tế cũng thấm nhuần nơi gia đình
và như vậy họ có thể sống chung một cách hạnh phúc.
Cha
mẹ chồng / vợ cũng có thể giúp đỡ con dâu hay con rễ tùy
theo khả năng của mình. Khi một cặp vợ chồng sống chung
với cha mẹ chồng / vợ, họ chỉ cần kính trọng cha mẹ,
đừng ganh tỵ, thì sẽ không có chuyện gì . Nếu không, thì
sự bực bội, chán ghét và đối đầu là điều sẽ không
tránh khỏi.
Bổn
phận của con cái
Con
cái khi làm ra tiền, phải nên phụng dưỡng cha mẹ; phải
giữ gìn truyền thống của dòng họ, phải hết lòng kính
trọng cha mẹ và khi cha mẹ qua đời, con cái phải bố thí
và hồi hướng công đức cho cha mẹ.
Tình
thương của bậc cha mẹ tốt, thật là vô bờ bến, họ lo
lắng cho con cái với tình âu yếm và lo cho con ăn học thành
tài. Vì thế, cha mẹ xứng đáng được con cái kính trọng,
nhớ ơn, vâng lời và chăm sóc lúc họ già yếu.
Từ
khi mang thai đến lúc cho ra đời một đứa trẻ, cha mẹ vui
vẻ săn sóc, làm lụng cực nhọc để nuôi con, và hy sinh tất
cả vì con. Cha mẹ không bao giờ phàn nàn về việc chăm sóc
con mình lúc con còn nhỏ dại. Lúc nào cũng cố gắng lo cho
con mình đầy đủ về mặt tinh thần cũng như vật chất.
Cha mẹ luôn sẵn sàng hy sinh thân mạng, tiền của, sức khỏe
của mình vì con. Tình thương và lòng hy sinh của cha mẹ thật
không kể xiết, và khó có thể được đền bù xứng đáng.
Trong
thời gian Ðức Phật còn tại thế, có một vị vua ở Ấn
Ðộ tên là 'Ajatasattu', có nghĩa là "kẻ thù của cha trước
khi được sanh ra", bởi vì khi mẹ của ông đang mang thai ông,
bà thèm được uống máu của chồng, tức là cha của ông.
Và cha của ông liền lấy dao đâm xuyên qua cánh tay mình để
lấy máu đưa cho vợ uống. Một nhà tiên tri trong hoàng cung
mới nói rằng, "Ðưá nhỏ sau nầy sẽ giết cha của nó ".
Khi nghe như thế, người mẹ có ý định hủy cái bào thai,
nhưng chồng bà ngăn lại và nhất định không cho bà thực
hiện ý định dù biết rằng mạng sống của ông sẽ bị
đe dọa.
Khi
Ajatasattu lớn lên, lại hiệp lực với Devadatta, một tăng
sĩ có ác tâm. Nghe lời Devadatta xúi dục, Ajatasutta giết cha
để chiếm lấy ngôi hoàng đế.
Ajatasutta
ra lệnh cho bắt vua cha giam lại,và bỏ đói vua cha cho đến
chết.
Cùng
lúc, vợ của Ajatasutta vừa cho ra đời một đứa con. Khi Ajatasutta
nghe tin mình có đứa con thì tình thương con dào dạt dâng
lên trong lòng và Vua liền nghĩ đến vua cha đã chết. Vua nghĩ
chắc cha mình cũng thương mình như thế, và rồi Vua đi tìm
mẹ để hỏi xem cha mình có thương mình không.
Mẹ
vua bảo rằng, " Cha con thương con lắm, cha biết rằng sau nầy
con sẽ giết cha, nhưng cha cấm không ai được làm hại con.
Lúc nhỏ, con bị chín mé ( y học - một mụt nhọt có mủ
sưng lên ở ngón tay hay ngón chân ).
Ngày
đó, con đau quá nên ngủ không được, và khóc cả đêm. Cha
con mới ôm con vào lòng và ru cho con ngủ. Con đã đặt ngón
tay sưng vào miệng cha để cho bớt đau, và rồi con ngủ thiếp
đi. Trong lúc đó, mụt nhọt bể, mủ chảy ra, nhưng cha nuốt
mủ vào bụng, không dám nhổ ra vì sợ con bị đánh thức."
Khi
Ajatasutta nghe mẹ kể xong thì ông rất hối hận về việc
mình xử chết vua cha. Từ lúc đó, ông không bao giờ ngủ
yên giấc vì toàn gặp ác mộng...
(
DA Samannaphala Sutta ).
Con
cái khi còn nhỏ, ít khi nào hiểu được tình thương của
cha mẹ dành cho mình. Nhưng khi chính những đứa con nầy lớn
lên, có gia đình, có con, họ mới hiểu được thế nào là
tình thương của bậc cha mẹ. Có những người trẻ nghĩ một
cách sai lầm, mình được sanh ra vì dục tính của cha mẹ,
và vì vậy cha mẹ phải có bổn phận lo cho mình : bởi thế,
đâu cần phải nhớ ơn cha mẹ.
Dù
thế nào đi chăng nữa, chúng ta được sanh ra bởi luật tự
nhiên hay vì dục tính của cha mẹ, thì chúng ta cũng phải
mang ơn hai bậc sanh thành, vì cha mẹ lo lắng cho chúng ta từ
lúc sơ sinh cho đến lúc trưởng thành. Nhớ ơn dưỡng dục
sinh thành của cha mẹ, con cái phải giúp đỡ cha mẹ trong
công việc nhà, và lo lắng cho cha mẹ khi cha mẹ bệnh hoạn.
Dù
không giúp đỡ được cha mẹ bằng vật chất, con cái vẫn
có thể lo cho cha mẹ về mặt tâm linh, hoặc là vâng lời,
hiếu kính với cha mẹ, để cho cha mẹ có thể sống vui, hạnh
phúc trong những ngày còn lại. Trong gia đình mà được như
vậy, thì hạnh phúc, an lạc, hài hòa sẽ hiện diện.
Ðể
tránh những xung đột và phiền toái trong gia đình, những
cặp vợ chồng thích sống riêng, và để cha mẹ sống riêng
một nơi khác. Ðiều nầy dường như là rất tốt cho cả
đôi bên. Khi cha mẹ còn sức khỏe và có thể tự lo thì không
thành vấn đề. Nhưng khi lớn tuổi hơn, thì họ cần sự
giúp đỡ của những người khác. Thật là tội nghiệp khi
thấy những người già ở một mình, ít bạn, không thân nhân
bên cạnh, phải đi chợ một mình. Cho dù những người già
có tiền dành dụm để tự lo, họ vẫn không thể nào nhận
được sự thương yêu lo lắng do nhân viên xã hội mang lại.
Vì vậy, ít nhất phải có một đứa con, trai hoặc gái, dọn
về ở chung để săn sóc và an ủi cha mẹ già.
Con
cái khi thành tài, thành danh nên giúp đỡ cha mẹ già. Cha mẹ
hy sinh, lo lắng, bảo bọc cho con từ lúc sơ sinh cho đến lúc
trưởng thành. Họ không mong gì hơn là con họ có chân đứng
trong xã hội, và họ rất hãnh diện về điều nầy. Cha mẹ
tốt không bao giờ mong đợi con cái trả ơn, hoặc mong hưởng
lợi từ tài danh của con mình. Vì thế, con cái không nên do
dự, nên sẵn lòng chăm sóc mẹ cha và lo lắng cho họ khi mình
có đủ khả năng .
Một
vấn đề thường xảy ra trong gia đình đông con. Cha mẹ có
khuynh hướng thương đứa con trai hoặc đứa con gái nầy,
vì nó làm vừa lòng mình hơn. Trong trường hợp nầy, những
đứa con khác sẽ nghĩ rằng cha mẹ thiên vị.
Mặc
dù họ có thể không lo lắng cho cha mẹ, nhưng họ vẫn ganh
tỵ và ghét cha mẹ. Họ lơ là bổn phận làm con nhưng vẫn
ganh ghét anh chị em nào đang giúp đỡ cha mẹ.
Cha
mẹ phải chia gia tài cho con cái đúng thời, đúng lúc. Có
những trường hợp sau khi chia gia tài xong, thì con cái mạnh
ai nấy lo phần mình, bỏ cha mẹ trơ trọi. Vì vậy, cha mẹ
cần phải thận trọng trong lúc nầy.
Trường
hợp nầy đã xảy ra trong lúc Ðức Phật còn tại thế, có
một ông trưởng giả giàu có bốn người con trai. Khi bốn
người con trai lấy vợ, ông chia cho mỗi đứa con bốn trăm
ngàn đồng tiền vàng để làm vốn. Sau đó ít lâu, vợ ông
chết, bốn đứa con sợ rằng cha mình sẽ lấy vợ khác, thì
tài sản sẽ phải chia cho những anh em cùng cha khác mẹ. Vì
vậy họ bàn với nhau, phải nên chăm sóc lo lắng cho ông hết
sức tốt đẹp, và rồi thì họ năn nỉ, khuyến dụ ông chia
tất cả gia tài cho họ. Khi thấy các con chăm sóc mình chu
đáo, ông trưởng giả đồng ý chia hết toàn bộ gia tài,
chỉ để lại cho mình một bộ đồ.
Sau
đó, thì ông đến nhà người con lớn để ở, nhưng cũng
không bao lâu, người con nghe lời vợ, bảo ông đến nhà người
em ở. Cứ thế cho đến lúc ông không ở được với người
con nào, ông đành lang thang đi ăn xin sống qua ngày.
Tuổi
già sức yếu, phải rày đây mai đó, ông mới tìm đến Ðức
Phật xin giúp đỡ. Ðức Phật dạy ông một bài vè đại
khái như sau, "Tôi rất vui mừng khi các con tôi ra đời. Tôi
chỉ mong chúng thành công, nhưng vì nghe theo vợ, chúng đã
đuổi tôi ra khỏi nhà như chó đuổi lợn. Chúng gọi tôi
- ' Cha thương yêu, cha thương yêu' nhưng chúng bỏ tôi khi tôi
già yếu. Như ngựa già yếu, vô dụng bị chủ bỏ rơi. Một
người cha bị con cái bỏ rơi, phải đi ăn xin từng nhà. Cây
gậy dẫn đường vẫn có ích hơn những đứa con bỏ rơi
cha mẹ. Cây gậy có thể xua đuổi chó và trâu rừng, giúp
người già dò đường trong bóng đêm hay tránh những vũng
nước. Với cây gậy nầy, người yếu có thể giữ thăng
bằng khi sắp té.'
Ông
trưởng giả học thuộc và đi xin ăn bằng bài vè đó. Sau
đó ông đến pháp hội của Ðức Phật và hát bài nầy, bao
người nghe đều bất mãn và họ đòi phải trừng trị những
đứa con bất hiếu nầy.
Thời
bấy giờ luật xã hội sẽ tử hình những người con không
chăm sóc cha mẹ. Vì thế, những đứa con của ông trưởng
già quỳ xuống xin cha tha tội cho chúng. Và họ đem cha già
về phụng dưỡng hết lòng. Ông trưởng giả sống an vui và
cảm ơn Ðức Phật đã dạy ông bài vè ấy. (DhA. v 324)
Bố
thí hồi hướng cho cha mẹ đã quá vãng
Con
trai cũng như con gái có bổn phận bố thí và hồi hướng
công đức cho cha mẹ đã quá vãng. Theo Phật giáo, thần thức
của một người sẽ tiếp tục tái sinh cho đến lúc họ không
còn ái nhiễm. Những người có chánh kiến, tin tưởng vào
kết quả của những hành động thiện, trong lời nói, việc
làm và ý nghĩ, sẽ được tái sinh trong cảnh giới trời hay
người sau khi chết. Nơi đây, họ sẽ hưởng thụ những quả
tốt lành mà họ đã gieo trong kiếp sống trước.
Những
người chuyên làm ác sẽ phải tái sinh làm thú hay ngạ quỷ;
đây là những cảnh giới thấp mà nơi đó họ sẽ phải lãnh
chịu những hậu quả mà họ đã gây ra. Người gian ác, không
bao giờ làm việc thiện sẽ tái sinh trong địa ngục.
Chuyện
kể rằng có một người kia không bao giờ biết làm điều
lành, khi anh ta chết bị đày xuống địa ngục, bị Diêm Vương
tra vấn. Anh ta là kẻ bất hiếu đối với cha mẹ, không biết
kính trọng những bậc tu hành, không biết săn sóc hiếu kính
người già trong gia đình. Diêm Vương hỏi anh ta rằng, "Nầy
anh, tại sao trong cuộc sống, anh không chịu làm lành, lánh
dữ, để bị xuống đây vậy ? " Anh ta đáp, " Ðâu có ai cho
tôi biết là chết sẽ bị phán xét như thế nầy đâu. Nếu
được báo trước thì tôi đã thay đổi làm lành lánh dữ
rồi."
Diêm
Vương nói, " Chẳng lẽ anh không thấy các sứ giả mà ta gửi
đến ? "
Anh
thanh niên đáp, " Tôi thật chẳng thấy sứ giả nào hết."
Diêm
Vương phán, " Tại vì anh không chịu để ý nên mới không
thấy thôi. Sứ giả đầu tiên là đứa bé mới sinh ra đời.
Sứ giả thứ hai là một ông già tám chín chục tuổi. Sứ
giả thứ ba là người bệnh nằm rên rỉ, kêu la. Sứ giả
thứ tư là một kẻ ác bị chính quyền bắt tội và tra tấn.
Và sứ giả thứ năm là thần chết. Khi thấy những hiện
tượng nầy, tại sao anh không lo làm lành, lánh dữ. Nếu bây
giờ anh kể cho Ta nghe được một việc thiện anh đã làm
lúc còn sống, thì Ta tức khắc sẽ đưa anh ra khỏi chỗ nầy.
" (M.iii. 180)
Và
vì khi còn sống anh ta chưa làm một việc thiện nhỏ nhặt
nào, thế nên cuối cùng thì anh phải đi chịu tội nơi địa
ngục.
Nếu
một người thân qua đời bị đọa vào đường ngạ quỷ
là vì trước khi chết họ không biết buông xả, còn bám víu
rất nhiều nơi người và vật. Ngạ quỷ luôn đói khát. Ðức
Phật có nói, "Ngạ quỷ hay đứng chờ ngoài bờ tường, ngã
tư hay cổng nhà của họ để trông chờ thân nhân bố thí
và hồi hướng công đức cho họ, đặng họ có thể nương
theo công đức hồi hướng đó mà thoát kiếp ngạ quỷ. Khi
một người qua đời, những người còn sống khóc lóc, kêu
gào. Những việc nầy không ích lợi gì cho thân nhân đã chết.
Tốt nhất là thân nhân hãy bố thí, cúng dường và hồi hướng
cho người quá cố như sau, "Ðây là công đức bố thí, cúng
dường của thân nhân chúng tôi. Mong là thân nhân chúng tôi
được hưởng lợi ích qua sự cúng dường nầy." Cho dù thân
nhân có đang ở cõi không tốt, nhân nơi đây mà có thể rời
khỏi thế giới thấp để bước qua một thế giới khác tốt
hơn. (Khuđakapatha, Tirokutha Sutta).
Ðức
Phật có nói, như nước mưa từ vùng cao chảy xuống vùng
thấp, những gì chúng ta làm và hồi hướng ở cõi nầy thì
ở cõi thấp hơn những ngạ quỷ cũng được lợi ích. Tôi
đoán biết tại sao người Phật tử khi cúng dường hồi hướng,
thường đổ nước từ tách nầy sang tách khác. Nước lọc
đã được tẩy trùng, thì trong, sạch, mát và có thể tuôn
chảy khắp nơi. Cũng vậy, người cúng dường phải có được
một tâm trí trong sạch, không ích kỷ, không tham, sân, si v..v..
trong
lúc họ đang hồi hướng cho thân nhân họ.
Khi
tâm trí trong sạch và rộng lượng, một lòng chỉ cầu mong
cho thân nhân thoát khổ, và vì vậy, sự hồi hướng đó sẽ
mang lợi ích rất nhiều cho kẻ quá vãng. Cho dù thân nhân
không bị đọa vào đường của ngạ quỷ, thì công việc
hồi hướng cũng không phải hoàn toàn vô ích. Người cúng
dường vẫn được năm điều lợi ích sau đây.
Người
cúng dường được nhiều người thương mến, người tốt
và giàu sang sẽ đến với họ, họ được khen ngợi là người
rộng lượng, trong đám đông họ được mọi người kính
nể, và cuối cùng sau khi chết, họ chỉ tái sanh trong cõi
người, hoặc là cõi trời mà thôi. Vì thế, mọi người nên
thực hành bố thí, cúng dường và hồi hướng công đức
cho người thân đã quá vãng.
Trách
nhiệm của vợ chồng
Người
chồng không nên xem thường vợ, mà phải đối xử với vợ
một cách tử tế, dịu dàng; phải chung thủy với vợ; cho
vợ quyền xử lý các công việc trong nhà; nên mua sắm quần
áo và nữ trang cho vợ.
Người
vợ thì phải lo việc nội trợ một cách chu đáo; phải cần
mẫn trong công việc; phải biết gìn giữ tiền do chồng mang
lại, không được phung phí; phải chung thủy với chồng; phải
hiếu khách với gia đình hai họ.
Ðể
cuộc sống hôn nhân được hạnh phúc, cả hai vợ chồng đều
phải tuân hành theo những bổn phận nêu trên. Quan trọng nhất
là lòng chung thủy của hai người. Nếu một trong hai người
không thỏa mãn trong vấn đề sinh lý với người phối ngẫu
thì họ có thể đi tìm lạc thú ở một người khác. Nên
nhớ rằng sự thiếu chung thủy sẽ làm người phối ngẫu
rất đau lòng, và tạo nên những phiền lụy trong cuộc sống
vợ chồng cũng như tạo nên những vấn đề trong xã hội.
Nếu quá tệ, thì ly dị là điều không tránh khỏi. Ðàn bà
Miến Ðiện có tục ngữ như sau, "Người vợ có thể chia
phần bánh của mình nhưng nhất định không chia chồng mình
với người đàn bà khác."
Việc
ngoại tình phiền lụy đến ít nhất là ba người. Người
đàn ông hay đàn bà ngoại tình lúc nào cũng nghĩ đến việc
đi gặp người tình một cách bí mật, và lúc nào cũng muốn
giấu nhẹm chuyện mình ngoại tình; họ luôn là mồi cho căng
thẳng và xốn xang. Những hành động không thành thật nầy
làm day dứt tinh thần của người phối ngẫu. Về mặt xã
hội thì họ bị mang tiếng xấu, có thêm kẻ thù. Vì vậy,
nếu chúng ta hiểu rõ được những nhu cầu của thân cũng
như tâm, ta có thể vì đạo đức và luật xã hội, mà biết
kềm hãm dục vọng của mình, và nên tránh việc ngoại tình.
Nếu không, một người có thể ngoại tình bằng cách dùng
quyền lực, tiền của hay sắc đẹp, v..v..
Trong
thời Ðức Phật, Vua Pasenadi Kosala khi du ngoạn ngoại thành,
tình cờ gặp một người đàn bà trẻ đẹp, Vua cảm thấy
yêu nàng quá mới tìm cách đem nàng về hoàng cung. Nhưng người
thiếu phụ xinh đẹp tuyệt vời đó đã có gia đình, vì thế,
Vua đem người chồng về hoàng cung sai vặt. Chờ có cơ hội
để bắt tội và xử tử người chồng. Chẳng ngờ người
chồng là một người giúp việc rất tốt. Vì thế Vua bèn
bắt người chồng phải đi bộ đến tận một nơi xa xôi,
mười hai dặm đường cách thành Savathhi, để đem về những
hoa sen và phấn thơm cho Vua tắm trong ngay chiều ngày hôm đó.
Chiều
hôm đó, Vua Pasenadi sợ rằng người chồng sẽ về kịp lúc
nên Vua ra lệnh đóng cửa thành sớm hơn mọi khi. Người chồng
trở về và khi thấy cửa thành bị đóng, anh ta liền để
phấn thơm trên thành tường và cắm những hoa dưới đất.
Và rồi anh lớn tiếng nói rằng, " Nhân dân hãy làm chứng
cho tôi! Tôi đã làm xong nhiệm vụ được giao phó, trở về
đúng giờ như Vua đã giao hẹn. Thế mà Vua lại có ý định
muốn giết tôi." Nói xong, anh ta bỏ đi và tìm đến thiền
viện Jetavana tá túc và tìm an ủi nơi thiền môn thanh tịnh
nầy.
Trong
lúc đó, Vua Pasenadi, bị dục vọng khống chế, nên không ngủ
được, và cứ mãi suy nghĩ để tìm cách hại người chồng
để chiếm đoạt người vợ. Vào khoảng nửa đêm, Vua nghe
nhiều tiếng động quái lạ; đấy là tiếng than thở của
bốn người ở địa ngục (Lohakumbhi Niraya), họ đang rất
khổ sở. Nghe những tiếng than vản nầy, Vua rất là sợ hãi.
Theo lời khuyên của Hoàng hậu Mallika, Vua liền đến tham vấn
Phật. Sau khi nghe Vua kể lại, Ðức Phật nói với Vua rằng
đấy là bốn người con của một nhà giàu trong thời Ðức
Phật Kassapa. Họ đang phải chịu thống khổ ở địa ngục
(Lohakumbhi Niraya), vì họ đã phạm giới thứ ba, một trong
năm giới. Họ chuyên đi ngoại tình với những người đàn
bà có chồng. Ngay khi đó Vua hiểu rằng hình phạt của việc
ngoại tình rất là nặng. Và sau đó Vua tự hứa nhất định
sẽ không bao giờ còn dám tơ tưởng đến vợ của người
khác. Vua còn suy ngẫm ra rằng, "có lẽ vì dục vọng quá mạnh,
Vua chỉ lo tơ tưởng đến cách chiếm đoạt người đẹp
nên đã không ngủ được. (Dha v 60. Dựa theo dịch bản của
Daw Mya Tin ).
Một
người đàn ông và một người đàn bà cần phải tìm hiểu
nhau cho rõ trước khi lập gia đình với nhau. Họ cần phải
tôn trọng ý kiến cũng như ước muốn của người phối ngẫu,
và không nên ép buộc người kia phải chìu theo ý mình.
Họ
nên tránh những cuộc cãi vã quyết liệt có thể làm tan vỡ
mái gia đình.
Nếu
có con thì việc ly dị chẳng những làm hai bên đau khổ, mà
những đứa con cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. Con cái cần
rất nhiều thứ nơi bậc cha mẹ. Hôn nhân là chia xẻ - làm
việc chung - và cùng nhau chăm sóc con cái.
Chỉ
một người cha hay một người mẹ không thể nào lo lắng
cho con cái chu toàn, bởi vì họ không thể có đủ thời gian
để vừa đi làm, vừa chăm sóc con một cách hoàn hảo. Những
đứa trẻ sống chỉ với mẹ hoặc cha, sẽ rất khổ sở
nếu cha hay mẹ không nhiều có thời gian chăm sóc chúng.
Trong
bất cứ trường hợp nào, hạnh phúc lứa đôi chỉ được
thể hiện khi mà cặp vợ chồng có những quan niệm tương
đồng như : " niềm tin, đạo đức, rộng lượng, và hiểu
biết." Họ biết săn sóc nhau, biết tự chủ, biết nói với
nhau những lời êm dịu, tốt đẹp, thì cặp vợ chồng nầy
có thể sống với nhau bền lâu. Ngược lại, thì họ khó
mà có thể hưởng được niềm hạnh phúc lứa đôi.
Bạn
đọc có thể hiểu rằng giá trị đạo đức rất là quan
trọng cho cả vợ lẫn chồng trong câu chuyện sau đây, xảy
ra thời Ðức Phật còn tại thế.
Có
một ông trưởng giả có bốn cô con gái đến tuổi lập gia
đình. Có bốn người đàn ông đến cầu hôn. Người thứ
nhất thì đẹp đẻ, sang trọng. Người thứ hai thì lớn tuổi.
Người thứ ba thì giàu có, và người thứ tư là một người
phẩm hạnh, đạo đức. Ông trưởng giả không biết phải
gã con cho ai, nên ông đến tịnh xá Jetavana tìm Phật để
xin Phật giúp ông chọn được người rễ xứng đáng. Ðức
Phật đáp rằng, " Trong tiền kiếp ông đã nhiều lần hỏi
câu nầy, nhưng vì luân hồi mãi nên ông đã quên hết." Và
Ðức Phật nói với ông như sau, " Sang trọng và đẹp đẽ
cũng tốt. Người lớn tuổi thì được kính nể. Nhưng con
người còn cần thêm những ưu điểm khác nữa. Một người
sẽ bị khinh khi, chê bai nếu họ không có đạo đức." Sau
khi nghe xong câu trả lời của Ðức Phật, ông trưởng giả
quyết định gã con cho người có phẩm hạnh, đạo đức.
(Ja.
No. 200 )
Tôi
chẳng dám lạm bàn về cuộc sống lứa đôi vì tôi không
có kinh nghiệm về hôn nhân. Tôi chỉ xin trình bày về những
lời giảng dạy của Ðức Thế Tôn trong cuộc sống đôi lứa
.
Bảy
hạng vợ
Khi
mà Ðức Thế Tôn ở rừng Jeta, trong công viên của Anathapindika;
ngày nọ Ðức Phật đến nhà Anathapindika để khất thực.
Lúc ấy trong nhà có rất nhiều tiếng ồn ào. Khi hỏi nguyên
nhân, Ðức Phật được Anathapindika kể lại rằng, "Tôi có
một cô con dâu. Cô là con nhà giàu. Cô chẳng màng để ý
đến cha chồng, mẹ chồng, và chồng; cô cũng chẳng biết
kính trọng Ðức Phật."
Ðức
Phật bèn cho gọi nàng dâu Sujata đến và hỏi nàng có muốn
nghe pháp không, và nàng bằng lòng. Ðức Phật liền nói cho
nàng nghe về bảy hạng vợ :
- Vợ
như là tên sát nhân,
-
vợ như là tên cướp,
-
vợ như là chủ nhân,
-
vợ như là mẹ,
-
vợ như là chị hay em,
-
vợ như là bạn,
-
và vợ như là người hầu.
Sujata
nói, "Con không hiểu rõ nghĩa những gì Thế Tôn vừa nói,
xin Ngài giải thích rõ dùm cho con hiểu."
Ðức
Phật bèn giải thích như sau : "Vợ như tên sát nhân, khi mà
tánh tình nóng nảy, lúc nào cũng nạt nộ chồng. Vợ như
tên cướp, khi mà tiêu xài phung phí tiền bạc do chồng làm
ra. Vợ như chủ nhân, không thích việc nội trợ, thích lấn
lướt chồng, không tử tế, lười biếng và tham lam. Vợ như
mẹ, khi mà biết chăm sóc, và không phung phí tiền của do
chồng mang lại. Vợ như là chị hay em, xem chồng như anh em,
biết kính trọng và luôn chìu ý chồng. Vợ như là bạn, người
có đạo đức, biết kính trọng chồng, lúc nào cũng vui vẻ
khi gặp mặt chồng như bạn thân lâu năm vừa gặp lại. Vợ
như người hầu khi mà trong lòng luôn an lạc, không giận dữ
cho dù chồng không đối xử tốt với mình, vẫn luôn trìu
mến và chăm sóc chồng. Theo thái độ của ba hạng vợ đầu
tiên, thì con đường đưa đến địa ngục là điều không
tránh khỏi; và bốn hạng vợ sau thì thiên đường là nơi
họ đến sau khi chết. Vì vậy, Sujata, con muốn làm hạng vợ
nào trong bảy hạng kể trên?"
Sujata
đáp, " Thưa Thế Tôn, từ nay con xin nguyện làm người hầu
cho chồng."
Gia
đình của ông trưởng gỉa rất là hài lòng khi nghe Sujata
trả lời như thế.
Làm
thế nào để sống với người chồng
Ngày
nọ, lúc Ðức Phật ở rừng Jatiya, có một người tên là
Uggaha thỉnh Phật đến thọ trai. Uggaha dọn nhiều thức ăn
để cúng dường Phật, sau khi Phật thọ trai xong, Uggaha nói,
"Thưa Thế Tôn, các con gái của con sẽ phải về nhà chồng
trong nay mai. Xin Thế Tôn cho vài lời để các con gái của
con sau khi về nhà chồng sẽ biết cách đối xử, và nhân
đó được nhiều lợi ích."
Ðức
Phật nói với các cô gái đó rằng họ nên thực tập như
sau : "Người vợ phải dậy sớm hơn chồng, và đi ngủ sau
chồng, sẵn sàng chìu ý chồng, đối xử với chồng một
cách tử tế; vợ nên biết kính trọng gia đình, bạn hữu
của chồng, và nên hiếu khách với những người nầy; vợ
phải biết việc nội trợ, đảm đang, không nên lười biếng;
phải biết điều khiển người hầu, và trả lương hay tăng
thưởng họ cho xứng đáng, không nên phung phí tiền bạc của
chồng làm ra, phải biết cần kiệm và giữ gìn đàng hoàng."
(
A. iii. 36)
Hiện
nay, vợ cũng như chồng đều phải đi làm để kiếm tiền.
Người vợ không còn phải nương tựa chồng để có tiền.
Và vì thế, họ có thể nghĩ rằng những điều nói trên đã
lạc hậu và nếu họ thực tập theo thì họ tự làm giảm
gía trị của chính mình. Nói như thế, có nghĩa là họ vẫn
chưa bỏ được tánh tự cao, ngã mạn và không thể có từ
tâm thật sự đối với người chồng.
Không
có lý do nào có thể cản trở họ làm những bổn phận nói
trên nếu họ thực sự thương yêu người chồng của mình.
Cũng không có hại gì nếu họ thực hiện những điều nói
trên như là một cuộc thử thách. Khi mà người vợ thực
hành những điều nói trên, thì họ sẽ nhận được tình
yêu và sự chăm sóc chu đáo nơi người chồng.
II. Bổn phận
xã hội
Phận
sự của bằng hữu
Con
người là một phần tử của xã hội, vì thế sau khi được
sinh ra đời, con người cần có ít nhất một người ở bên
cạnh. Tình trạng sức khỏe, học vấn, sự sung túc của một
người nương vào môi trường chung quanh mà họ được sanh
ra và lớn lên. Vòng tròn xã hội được lan rộng dần với
thời gian. Trong thời niên thiếu, con người được cha mẹ
hướng dẫn, chỉ dạy để tránh những ảnh hưởng nơi bạn
xấu. Lớn chút nữa, thì một người phải tự chọn bạn
mà chơi, vì khi chúng ta cần sự giúp đỡ, không phải bạn
nào cũng sẵng sàng nâng đỡ chúng ta. Có một câu ngạn ngữ
như sau: "Khi sa cơ mới biết bạn hiền."
Một
người không nên chọn bạn vì bạn mình có địa vị và giàu
sang.
Tất
cả bạn hữu đúng nghĩa đều đáng quý.
Có
một câu chuyện về bạn như sau:
Có
một tiền kiếp mà Ðức Phật là con của một thương gia
giàu có. Ngày nọ, Bồ Tát và các bạn ngồi nơi ngã tư đường,
và họ thấy một người thợ săn chở một xe đầy thịt
hướng về phía họ. Một người trong bọn nói, : " Ê! Thợ
săn, cho tôi một miếng thịt." Người thợ săn đáp, " Anh
bạn, khi xin điều gì thì phải nói năng lễ phép. Miếng thịt
tôi cho anh sẽ xứng đáng như lời anh hỏi xin, " và người
thợ săn cho anh nầy một miếng thịt dở. Người thứ hai
trong bọn nói," Anh hai ơi! Tôi có thể xin anh một miếng thịt
không ?" Thợ săn đáp, " Anh em là huyết thống, có liên hệ
mật thiết", và thợ săn cho anh ta một cái đùi thịt. Người
thứ ba trong bọn nói, " Cha ơi! Cha có thể nào cho con xin một
miếng thịt không ?" Thợ săn đáp, " Con sẽ được một miếng
thịt ngon như lời con xin, người cha nào mà không động lòng
khi nghe con mình cầu xin", và thợ săn cho anh nầy một trái
tim và một miếng thịt thật ngon. Lúc nầy, người trẻ nhất
trong bọn, Bồ Tát lúc bấy giờ đến gần thợ săn và nói,
" Bạn ơi! Người bạn tử tế của tôi, có thể nào bạn
cho tôi một miếng thịt không?" Thợ săn đáp," Anh sẽ nhận
được miếng thịt như lời anh xin. Người mà không có bạn
như là lữ hành đi trong rừng hoang. Tôi rất sung sướng và
vui lòng khi nghe lời thỉnh cầu từ nơi người bạn của tôi."
và rồi thợ săn dâng tặng cho Bồ Tát của chúng ta cả xe
thịt, và vị Bồ Tát của chúng ta thết đãi người thợ
săn với tất cả lòng hiếu khách và kính trọng, và sau đó
Bồ Tát khuyên người thợ săn nên đổi nghề và họ làm
việc chung, sống với nhau và trở nên đôi tri kỷ. (Ja. No.
315)
Ðể
phân biệt bạn tốt với bạn "xã giao", Ðức Phật đã giảng
cho Singala về những đức tính của những người bạn "xã
giao" như sau.
Một
người lúc nào cũng có ý muốn được cái gì nơi bạn. Họ
đến nhà bạn tay không và khen những đồ vật mà bạn đang
sở hữu để rồi bạn phải cho họ một vật gì đó để
họ đem về. Họ cho bạn rất ít mà muốn lấy về nhiều
hơn.
Họ
chỉ đến với bạn khi họ cần bạn giúp đỡ. Họ thân cận
với bạn để họ được lợi. Khi bạn đến nhà họ, họ
nói, "Ô tiếc quá, hôm nay chẳng có gì để đãi bạn, hôm
qua có rất nhiều món ngon, mong bạn đến mà không thấy; nếu
bạn đến hôm qua thì tôi đã đãi bạn nhiều món ngon rồi.
Hy vọng mai nầy bạn đến, tôi có thể đãi bạn những món
đặc biệt." Họ ăn mặc sang trọng, dùng những vật dụng
mắc tiền, họ nói, "Tôi muốn cho bạn những thứ nầy lắm,
nhưng mà tôi không có dư để cho bạn. Xin lỗi bạn nhé."
Khi
bạn cần sự giúp đỡ, họ sẽ nói họ không có khả năng,
khi bạn mượn vật gì thì họ sẵn sàng cho bạn mượn đồ
hư cũ của họ. Họ cũng sẵng sàng rủ bạn đi uống rượu,
đi đến những nơi cờ bạc, đi xem hát, và khuyến khích bạn
làm những việc sai trái. Họ cổ võ bạn làm những việc
tốt cũng như xấu, và luôn miệng khen bạn khi bạn có mặt
và khi bạn vắng mặt thì họ dèm pha, nói xấu.
Ðức
Phật nói với Singala về bốn hạng người mà ta có thể xem
là bằng hưũ.
Một
là người hay giúp đỡ. Người nầy sẵn sàng chạy đến
giúp bạn khi biết bạn đang gặp khó khăn, và sẵn sàng cho
bạn vay tiền khi cần thiết. Họ sẵn sàng săn sóc bạn bè,
và lo lắng cho tài sản cũng như gia đình của người bạn
của họ. Nói như thế, có một người phê bình như sau, "Kể
cả khi người bạn bị nghiện rượu, ta không tránh họ mà
lại còn giúp họ, bằng cách lo cho tài sản và gia đình của
họ." Chúng tôi không đồng ý với quan điểm nầy, vì chúng
ta biết rằng khi thân cận với người nghiện rượu, tài
sản của chúng ta cũng dễ bị tiêu mòn. Ðúng ra là thế.
Nhưng chúng ta nên biết không ai là hoàn toàn cả. Chẳng hạn
một người bạn của chúng ta không phải xấu từ khi mới
sanh ra, mà tại vì bạn ta tập một thói quen xấu, hoặc bị
ảnh hưởng xấu và gây ra lỗi lầm. Một lần, hai lần, nếu
chúng ta từ bỏ họ ngay lúc đó, thì chúng ta cũng chưa phải
là bạn tốt. Ngược lại nếu chúng ta tiếp tục có liên
hệ với họ nhưng không khuyên nhủ hay chỉ bảo cho họ thì
chúng ta là những người bạn không đáng tin cậy. Vì thế,
chúng ta trước tiên phải giải thích cho bạn mình những ảnh
hưởng cũng như kết quả xấu của việc nghiện rượu, và
thúc giục bạn bỏ đi thói quen xấu nầy. Nếu người bạn
của chúng ta không nghe lời khuyên của chúng ta và vẫn tiếp
tục cái thói quen xấu ấy, thì chúng ta nên rời xa họ là
tốt nhất.
Người
nào mà chia xẻ những niềm vui nỗi buồn của bạn mình là
một người bạn thật sự. Người nầy tâm sự những việc
thầm kín của mình với bạn, nhưng tuyệt nhiên không nói
những việc bí mật của bạn mình cho người khác. Khi thấy
bạn gặp nguy hiểm, họ sẵn sàng hy sinh thân mạng mình để
cứu bạn.
Họ
khuyên nhủ bạn đừng làm điều xấu ác, nói cho bạn nghe
những điều hay và dẫn dắt bạn trên con đường đưa đến
an lạc, hạnh phúc.
Ðây
là một câu chuyện có liên hệ đến những điều đã nói
ở trên. Trong thời Ðức Phật Kassapa, có một người Bà-La-Môn,
tên Ghatikara làm đồ gốm, là một người hết lòng ủng hộ
Phật . Anh có một người bạn tên Jotipala.
Ngày
nọ, anh thợ đồ gốm mới bảo bạn đến viếng Phật. Jotipala
đáp,
"Có
hay ho gì khi đi viếng một thầy tu?" Lần nào cũng thế, mỗi
lần Ghatikara bảo đi viếng Phật thì Jotipala đều từ chối.
Ngày
kia, cả hai đi đến một dòng sông để tắm. Khi đến dòng
sông, anh thợ đồ gốm mới bảo bạn, " Nầy, hay là chúng
ta đến viếng Ðức Phật , tịnh xá của Ngài cũng gần đây
thôi." Jotipala cũng từ chối như bao lần khác. Cuối cùng,
thì anh thợ đồ gốm nắm lấy tóc của bạn và lôi bạn
đi đến gặp Phật. Jotipala lúc đó liền nghĩ, "Anh nầy giai
cấp hạ tiện mà dám nắm tóc mình, chắc là phải có gì
hay nơi Ðức Phật," và rồi anh đồng ý đến viếng Phật.
Sau
khi nghe xong thời pháp thoại, Jotipala bảo bạn hãy cùng mình
trở thành tu sĩ. Anh thợ đồ gốm đáp,"Tôi còn cha mẹ mù
lòa phải phụng dưỡng, tôi không đi được. Nhưng tôi sẽ
rất vui mừng khi thấy anh trở thành một tăng sĩ của Ðức
Phật."
Và
rồi thì Jotipala được xuống tóc và trở thành tỳ khưu và
thực tập pháp một cách rất là hiệu quả. ( M. ii. 45ff )
Một
người bạn thân thì không vui khi thấy bạn mình thất bại
hay bị chê bai, nhưng lại vui mừng khi thấy bạn được khen
hay thành công trong cuộc đời.
Một
người phải tự biết chọn bạn mà giao thiệp, khi thân cận
một người tốt và được họ giúp đỡ thì ta sẽ dễ dàng
thành công trong cuộc đời.
Một
lần Ngài Ananda nói với Ðức Phật là phân nửa sự thành
công trong việc tu học là có những bạn đồng hành tốt,
Ðức Phật đáp, " Nầy Ananda, ông không nên nói như thế,
vì người thành công trên bước đường tu tập, đạt được
mục đích là nhờ sự giúp đỡ của những bạn tốt." Chỉ
chọn bạn tốt mà chơi cũng chưa đủ. Ta còn cần phải biết
làm bạn.
Ðể
cũng cố tình bạn được lâu bền, Ðức Phật dạy một bài
học về cách đối xử với bạn như sau. ( S. i. 87 )
Một
người phải rộng lượng, cho bạn những gì bạn cần; phải
nói với bạn những lời nhã nhặn; phải lo lắng cho an vui
của bạn; phải đối xử với bạn như mình đối xử với
chính mình, và phải luôn giữ lời hứa.
Bạn
của mình cũng phải đối lại với mình như sau: phải lo lắng
cho cơ nghiệp của bạn, khi bạn mình không còn khả năng để
tự lo; khi bạn gặp hiểm nguy ta phải hết lòng giúp đỡ;
không bỏ rơi bạn lúc bạn gặp khó khăn, và nên giúp đỡ
gia đình của bạn.
Hơn
nữa, mọi người nên học những lời của Ðức Phật dạy
về tình bạn.
" Nếu
không gặp bạn đồng hành bằng hay giỏi hơn mình, thì thà
là một mình đơn độc chứ không làm bạn với người ngu."
( Dhp. v. 61 )
" Khi
gặp một người khôn ngoan, như là người khám phá kho tàng,
họ chỉ những cái hay cũng như cái dở của ta để giúp ta
thăng tiến." (Dhp. v. 76)
"Thân
cận với người ngu là một điều đau khổ như thân cận
với kẻ thù.
Gần
được người trí chẳng khác nào như gặp người thân." (Dhp.
v.207)
Bổn
phận của chủ nhân và người làm công
Người
chủ cần chỉ định nhân viên của mình làm những công việc
thích hợp với khả năng, sức lực, và tinh thần của họ;
cần phải trả tiền công cho họ đúng hạn và tùy theo sự
làm việc mà tặng cho họ tiền thưởng; cần phải lo cho họ
khi họ chẳng may bệnh tật; cần chia xẻ những thức ngon
với họ, và khi cần thiết nên cho họ nghỉ phép.
Người
làm công bù lại phải thức khuya dậy sớm lo công việc cho
chủ nhân, chỉ lấy những gì chủ cho; làm việc sốt sắng,
và gìn giữ tiếng thơm cho chủ.
Những
điều nói trên dành cho chủ nhân và người làm trong nhà.
Nhưng hiện nay, nếu chúng ta có học qua về ngành kinh tế,
chúng ta sẽ thấy các hãng xưởng ở những nước tân tiến
đều áp dụng những gì mà Ðức Phật đã dạy ở trên, và
theo cách thức đó, đất nước của họ đang giàu mạnh.
Bổn
phận của chủ nhân cũng như người làm công cho thấy rằng
cần phải có một sự liên hệ cảm thông giữa hai bên thì
mọi việc mới thuận lợi.
Hơn
nữa, sự phát đạt của một hãng xưởng nương rất nhiều
vào một quản lý giỏi. Cho dù một người có nhiều vốn,
nếu không biết cách quản lý, hoặc giả không hiểu biết
về vấn đề làm thương mại thì cũng khó mà thành công trong
việc mua bán. Nếu hãng xưởng không có thợ tài giỏi, thì
việc làm cẩu thả, sớm hay muộn gì hãng cũng sẽ phải bị
dẹp.
Khi
tiền lương không được trả đúng thời hạn, thì thợ tay
nghề giỏi sẽ không khi nào chịu làm việc cho hãng đó.
Sau
đây là câu chuyện về một người biết buôn bán. Trong một
tiền kiếp Ðức Phật là con của một người thủ quỹ, biết
tiên đoán vị lai.
Ngày
nọ, trên đường đến viếng Vua Brahmadatta, Bồ Tát thấy
xác một con chuột nằm trên đường, và khi nhìn vị trí của
những tinh cầu lúc đó, Bồ Tát nói, "nếu có người nào
tử tế, sáng dạ, có thể dùng con chuột nầy để làm vốn
buôn bán, và có thể trở thành một người giàu có."
Lúc
ấy có một người thanh niên con nhà tử tế, nhưng nghèo,
nghe vậy, anh liền lượm xác con chuột và bán cho người nuôi
mèo với giá một cắc. Sau đó anh mua một cắc mật. Rồi
anh lại dùng mật đó bỏ vào nước và đem nước mật cho
những người hái hoa . Những người nầy cảm ơn anh đã làm
nước mật cho họ giải khát bằng cách tặng cho anh một bó
hoa. Anh bán được bó hoa và lại dùng tiền mua mật bỏ vào
nước, đem nước đến cho những người hái hoa, và rồi anh
lại được trả công bằng rất nhiều hoa đẹp, và anh đem
hoa đi bán được những tám xu trong một thời gian ngắn.
Ngày
kế tiếp, khi anh đi ngang vườn thượng uyển anh thấy nhiều
cành cây mục và lá rụng đầy dòng suối mà người thợ
làm vườn không biết cách nào để làm sạch con suối. Anh
bèn nhờ những người bạn của mình đến giúp anh thợ làm
vườn để làm sạch con suối, sau đó anh đãi họ nước mật.
Người thợ làm vườn tặng cho anh một số củi. Anh bán củi
đó cho thợ làm đồ gốm được mười sáu xu, năm cái chén
và tô. Tất cả tổng cộng là hai mươi bốn xu, và rồi anh
phát họa một chương trình. Anh liền đến vùng lân cận cửa
thành với một bình nước mật, và anh tặng nước mật cho
đám thợ gặt ở đó. Sau đó, họ nói, "Nầy anh bạn, chúng
tôi có thể giúp được gì cho anh không?" Anh trả lời, " Ô,
khi nào tôi cần, tôi sẽ gọi các anh". Anh làm quen được
với chủ bến tàu và vị tỉnh trưởng, và anh hỏi họ về
tin tức của những đoàn thương buôn bán ngựa. Ðược biết
đoàn thương gia sẽ đến thành với năm trăm con ngựa, anh
liền đến những thợ gặt xin họ mỗi người cho anh một
bó cỏ, và bảo họ đừng bán cỏ cho ai, cho đến khi nào
anh bán được những bó cỏ của anh.
Sau
đó, anh bán cỏ cho ngựa của đoàn thương gia được tới
một ngàn đồng. Vài ngày sau đó, anh lại được tin có một
tàu sẽ cặp bến; anh mướn xe và đến hải cảng trong trang
phục của một thương gia giàu có. Anh mua chịu tất cả hàng
hóa và để lại một chiếc nhẫn đắt tiền làm tin.
Lúc
ấy có khoảng một trăm thương gia đến bến tàu để mua
hàng hóa nhưng tất cả hàng hóa đều đã được bán cho chàng
thanh niên nọ. Vì thế, sau cùng họ phải mua lại hàng hóa
của chàng thanh niên, và anh nầy bán được số hàng với
giá hai trăm ngàn đồng. Anh thanh niên tặng phân nửa số tiền
đó để tạ ơn Bồ Tát đã chỉ dẫn. Và khi được biết
chỉ với xác con chuột mà anh làm nên việc lớn. Bồ Tát
lúc ấy rất hài lòng và gã con gái của người cho anh thanh
niên nọ."
Làm
thương mại, muốn phát tài, cần phải có tiền vốn, sự
siêng năng, và sự hiểu biết trong công việc làm ăn của
mình. Biết cần kiệm, cần phải có bạn bè giúp đỡ và
phải biết quản lý tiền bạc. Một người có thể nghĩ họ
có thể làm giàu một cách nhanh chóng bằng đường tắt. Nhưng
nếu một người có nhiệt tâm, cẩn trọng, tư tưởng, lời
nói, hành động trong sáng, và nếu làm bất cứ việc gì cũng
cẩn thận và chu đáo, làm ra tiền một cách hợp pháp, thì
tiền của và tiếng tăm của người đó sẽ được lan rộng.
Ðức
Phật khuyến khích mọi người nên hùng vốn và làm việc
chung như bầy ong cùng làm ra mật, như mối cùng xây tổ, và
Ðức Phật nói như sau về việc tiêu tiền như thế nào :
"Một người cần phải chia tài sản ra làm bốn phần: một
phần cho mình và việc làm từ thiện; hai phần dành cho việc
buôn bán, và một phần để dành phòng khi cần kíp, hay là
để dành cho chính mình lúc về già."
Có
một số người vẫn chưa hiểu tính chất của sự thực tập
Thiền. Họ nghĩ rằng thiền hành, tọa thiền và nghe pháp
thoại là thực tập. Thật là như vậy, nhưng đây chỉ là
những thực tập phiến diện, sự thực tập thật ra nằm
nơi phần tinh thần, với một đối tượng. Ðấy mới là
sự thực tập thật sự.
Ví
dụ khi người ta nói một điều gì đó mà mình không thích
thì sự bực dọc, tức tối nổi lên; nếu họ nói gì đó
mà ta thích thì ta vui vẻ và đồng lòng. Và đấy là lúc mà
ta cần phải thực tập. Thực tập như thế nào ? Ðây mới
là vấn đề chính.
Nếu
chúng ta chỉ luôn luôn chạy theo sự sung sướng và quay lưng
với đau khổ thì suốt đời ta không thấy được pháp. Thật
là vô ích! Khi sung sướng hay đau khổ xuất hiện, chúng ta
hãy thực tập giáo pháp để thoát khỏi sự kềm chế của
chúng, và đây mới là sự thực tập tốt, có lợi ích.
Thông
thường, khi chúng ta đối diện với một điều bất như ý,
chúng ta không chấp nhận nó.
Như
người ta thường than van : " Ðừng làm phiền tôi! Tại sao
đổ lỗi cho tôi ?" Ðây là một người hoàn toàn bị "bưng
bít" và bị tách rời.
Lúc
nầy là lúc mà ta cần phải thực tập. Khi người ta phê bình,
chúng ta nên lắng nghe. Nếu họ đang nói sự thật ? Chúng
ta nên cởi mở cõi lòng và gắng sửa đổi. Có thể có một
điều nào đó mà họ nói đúng, và vì tự ái ta đã phản
ứng lại và chống đối họ. Nếu người ta chỉ lỗi của
mình cho mình thấy thì mình nên cố gắng loại bỏ thói xấu
ấy. Và đây mới là sự thực tập của một người có trí
tuệ.
Có
những người không chịu được sự phê bình, họ rất là
tự cao. Và như vậy họ quay lại và gây gỗ. Ðây là một
sự thật hiển nhiên khi một người lớn đối xử với một
đứa nhỏ. Ðôi lúc những đứa trẻ nói những điều rất
là hay, rất là thông minh, nhưng nếu bạn là bậc cha mẹ,
chẳng hạn, thì bạn đâu dễ dàng gì mà chấp nhận. Nếu
bạn là một thầy, cô giáo mà học sinh nói một điều gì
đó mà bạn không biết, bạn đâu có chấp nhận dễ vậy.
Và nếu nghĩ như thế thì đã sai rồi.
Trong
thời Ðức Phật còn tại thế, một đệ tử của Phật rất
là thông minh.
Một
lần, trong lúc đang giảng pháp, Phật quay sang và hỏi người
đệ tử,
"
Sariputta, ông có tin điều nầy không ?" Ngài Sariputta đáp,
" Thưa, con chưa tin." Phật liền khen, " Giỏi lắm, Sariputta,
ông thật là một người sáng suốt. Một người sáng suốt
không bao giờ tin liền một điều gì, họ phải lắng nghe
với một tinh thần cởi mở, và so sánh để thấy được
sự thật của việc đó trước khi kết luận là tin hay là
không tin."
Nơi
đây Ðức Phật đã làm một gương sáng cho những vị thầy.
Những gì Ngài Sariputta nói là sự thật, Ngài chỉ nói như
Ngài biết. Vài người cho rằng khi nói như thế là mình đang
đánh giá người thầy, và như vậy là vô phép, cho nên họ
rất sợ phải nói lên sự thật. Họ cứ nghe và đồng ý.
Thường
thì thiên hạ thích như thế hơn, nhưng Ðức Phật thì không
thấy mích lòng. Không có gì phải xấu hổ khi mình không biết
và nói tôi không biết. Vì thế mà Ngài Sariputta mới nói "Thưa,
con chưa tin.". Ðức Phật đã khen ông.
"Vị
tỳ kheo nầy thật thông minh, sáng suốt. Suy nghĩ rất kỹ
trước khi quyết định tin hay không tin." Ðây là một gương
sáng cho những người thầy sau nầy đối với học trò của
mình. Ðôi lúc chúng ta học được nhiều điều hay nơi trẻ
em, vì thế đừng cứng ngắc tin vào quyền hạn hay địa vị
của mình.
Trong
khi bạn đứng, ngồi, hay đi đây đó, bạn vẫn có thể học
được nhiều điều ở chung quanh mình. Chúng ta học một cách
tự nhiên, mở lòng ra với mọi vật, dù là thấy, nghe, ngửi,
nếm, xúc chạm hay tưởng tượng. Người sáng suốt thì quan
tâm đến tất cả mọi thứ. Thực tập đúng nhất là khi
mà chúng ta không còn phải lưu ý cân nhắc đến mọi thứ
trong tư tưởng.
Nếu
chúng ta còn chưa nhận biết sự thích hay không thích lúc chúng
xuất hiện, thì lúc đó vẫn còn phải lưu tâm đến những
ý trong tư tưởng.
Nếu
chúng ta biết được sự thật của những thứ nầy, chúng
ta sẽ nghĩ : "Ô, đâu có gì trong cái cảm giác thích thú nầy.
Ðây chỉ là một thứ cảm giác xuất hiện rồi sẽ biến
mất. Không thích cũng thế, chỉ là một cảm giác có rồi
mất. Tại sao chúng ta phải rắc rối với chúng?"
Nếu
chúng ta nghĩ sung sướng hay đau khổ là những thứ mà ta sở
hữu được, thì chúng ta sẽ bị nguy to, chúng ta sẽ không
bao giờ thoát khỏi dây xích vô tận của thương và ghét.
Và phần đông nhiều người trong chúng ta đều nằm trong trường
hợp nầy.
Hiện
nay khi thuyết pháp người ta không chú ý đến tư tưởng,
không bàn về sự thật. Nếu bạn nói về sự thật thì người
ta sẽ nói, "Ông đó không biết gì về thời gian và không
gian, ông ta không biết nói chuyện cách tử tế".
Nhưng
mà con người cần phải nghe sự thật. Người thầy đúng
nghĩa sẽ chỉ nói sự thật, họ không nói bằng ký ức. Phần
đông chúng ta khi nói chuyện, chúng ta nói bằng ký ức, và
nói để xưng tụng chính mình. Người thầy thật sự thì
không như thế, ông ta chỉ nói sự thật, sự thật như nó
là.
Người
ta thường hay không hiểu khi vị thầy giảng về sự thật,
cho dù ông thầy có cố gắng cách mấy, họ vẫn không hiểu.
Hiểu được pháp (dharma) không phải là một điều dễ. Nếu
bạn hiểu được pháp thì bạn nên thực hành theo sự hiểu
biết của mình. Không cần thiết phải trở thành tu sĩ, mặc
dầu hình thức tu sĩ là phương cách tốt nhất để thực
hành. Ðể thực hành đúng nghĩa bạn phải nên quên đi sự
hỗn loạn của thế giới, phải từ bỏ của cải cũng như
gia đình, phải vào rừng. Rừng cây là nơi thực tập lý tưởng
nhất.
Nhưng
nếu chúng ta còn gia đình và bổn phận thì làm sao để thực
tập ?
Vài
người nói rất là khó mà thực hành khi chúng ta còn là cư
sĩ. Hãy nhìn xem nhóm nào đông người nhất, nhóm tu sĩ hay
cư sĩ ?
Dĩ
nhiên là cư sĩ nhiều hơn . Nếu mà chỉ có nhóm tu sĩ thực
tập còn cư sĩ thì không, thì tất nhiên sẽ có nhiều vấn
đề lộn xộn. Ðây là hiểu sai. "Tôi không thể trở thành
tu sĩ..." Trở thành tu sĩ không phải là điểm đáng nói!
Trở
thành tu sĩ không có nghĩa lý gì cả khi mà bạn không thực
tập.
Nếu
bạn thật sự hiểu pháp thì địa vị hay nghề nghiệp gì
gì đi nữa, làm thầy cô giáo, làm bác sĩ, làm công chức
... bạn vẫn có thể thực tập pháp trong mỗi giây phút trong
ngày.
Nghĩ
rằng mình không thể thực tập vì mình là cư sĩ thì ta đã
đi sai đường rồi.
Tại
sao con người có thể tìm ra động lực nào thúc đẩy mình
làm nhiều việc ? Nếu họ cảm thấy họ thiếu vật gì thì
họ cố gắng làm để cho có được.
Nếu
có đủ lòng ham muốn, con người có thể làm mọi việc, vài
người nói, "Tôi không có thời gian để mà thực hành pháp."
Tôi nói, " Vậy sao bạn có thời gian để thở ?" Hít thở
là việc quan trọng, việc sống còn của đời sống con người.
Nếu họ thấy thực hành pháp cũng quan trọng không kém gì
sự hít thở của đời sống thì họ sẽ thực tập liền.
Bạn
không phải chạy vòng vòng hoặc phải nhọc nhằn khi thực
hành pháp. Chỉ cần chú ý đền những cảm giác đang xuất
hiện nơi tư tưởng bạn. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng,
mũi ngửi mùi, thân thể xúc chạm, ... tất cả đều xuất
hiện nơi tư tưởng, "cái mà biết". Khi mà tư tưởng nhận
thấy những điều nầy thì điều gì xảy ra? Nếu chúng ta
thích vật đó thì lập tức chúng ta cảm thấy sung sướng,
nếu chúng ta không thích thì chúng ta cảm thấy bực bội.
Tất cả chỉ có như vậy thôi.
Vậy
thì bạn đi đâu để tìm hạnh phúc trong cuộc đời nầy
?
Chẳng
lẽ bạn chờ đợi mọi người chỉ nói những điều hay,những
điều dễ nghe trong suốt cuộc đời bạn? Có thể như thế
được không ?
Thật
là hoang tưởng. Nếu không được, thì bạn sẽ đi đâu ?
Thế
gian chỉ có thế, chúng ta cần phải rõ thế gian - Lokavidu--
biết được sự thật của thế gian. Ðức Phật đã sống
nơi thế gian, chứ không ở đâu khác. Ngài cũng có gia đình,
nhưng Ngài thấy được giới hạn của nó và Ngài đã tách
mình ra khỏi chúng. Bây giờ làm thế nào cho người cư sĩ
thực tập?
Nếu
bạn muốn thực tập thì bạn phải cố gắng đi con đường
đã chọn. Nếu bạn cố gắng thực hành đúng cách thì với
sự thực tập bạn sẽ dần dần thấy được giới hạn của
đời sống nầy và sẽ có thể buông bỏ một cách dễ dàng.
Người
dùng rượu đôi khi nói, " Tôi không thể bỏ được rượu".
Tại
sao họ không bỏ được?
Bởi
vì họ không thấy được nguy cơ của sự nghiện rượu.
Nếu
họ thấy rõ sự nguy hiểm của rượu thì họ sẽ tức thời
từ bỏ rượu, không cần phải đợi người khuyên răn. Nếu
bạn không thấy được cái nguy cơ của một sự việc thì
làm sao bạn có thể thấy được sự lợi lạc khi từ bỏ
việc đó.
Như
thế sự thực tập của bạn sẽ không có kết quả, bạn
chỉ đùa chơi với sự thực tập. Ví như có người chài
lưới nghe thấy có một vật đập đập trong bẫy giăng cá.
Nghĩ rằng đó là một con cá, anh ta thò tay vào trong bẫy.
Vì không thấy được bên trong, anh ta có 2 ý nghĩ : có thể
là một con lươn, hoặc có thể là một con rắn. Nếu anh ta
liệng cái bẫy thì có thể anh ta sẽ hối tiếc lắm, nếu
đấy là một con lươn. Ngược lại, nếu là con rắn anh ta
có thể bị rắn cắn. Ngay lúc nầy anh ta đang phân vân lưỡng
lự. Sự ham muốn được con lươn rất mạnh nên anh cố gắng
tìm cách để xem bên trong bẫy, anh thấy da có sọc, có vằn
lập tức anh liệng nó xuống nước. Anh không cần đợi ai
phải nói cho biết, "Ðó là con rắn, liệng đi!" Hình dạng
con rắn cho anh biết nhanh hơn là lời nói.
Tại
sao? Vì khi anh thấy được sự hiểm nguy -- rắn có thể cắn!
Cũng
thế, trong khi thực hành pháp, chúng ta sẽ thấy được sự
vật như nó là và chúng ta sẽ không ngần ngại mà từ bỏ
những thứ có tác hại cho mình.
Con
người không thực tập bằng cách nầy, họ thực tập cho
những thứ khác.
Họ
không suy ngẫm mọi sự vật, họ không suy nghĩ về già, bệnh,
và chết.
Họ
chỉ nói về không già, và không chết, vì thế họ không có
lòng để thực hành pháp. Họ đến để nghe pháp thoại, nhưng
thực ra họ chẳng có nghe.
Ðôi
lúc tôi được mời đến nói chuyện ở những nơi hội hợp
quan trọng, nhưng thật là phiền cho tôi khi phải đi. Tại
vì sao? Vì khi tôi nhìn những người có mặt ở đó, tôi thấy
rõ là họ đến không phải để nghe pháp thoại.
Vài
người mang mùi rượu nặc nồng, họ hút thuốc, họ tán gẫu...
Nói
pháp thoại ở những nơi nầy thật là không có lợi ích.
Người
ta phụng phịu, lơ đãng, họ nghĩ, "Chừng nào ông thầy mới
hết nói đây?... Làm cái nầy không được, làm cái kia không
được..." và cứ như thế tư tưởng họ chạy lung tung.
Ðôi
lúc họ mời tôi đến để nói chuyện chỉ vì xã giao thôi.
"Thưa Thầy, xin Thầy đến cho chúng con một bài pháp thoại."
Họ
không muốn tôi nói nhiều, vì có thể làm họ khó chịu!
Khi
mà tôi nghe nói như vậy, thì tôi đã hiểu việc ra sao rồi.
Những
người nầy không thích nghe pháp. Pháp thoại làm họ khó chịu.
Nếu tôi cho một bài pháp ngắn thì họ sẽ không hiểu. Cũng
như khi bạn chỉ ăn có một ít, có đủ no không ?
Dĩ
nhiên là không rồi.
Ðôi
lúc tôi đang nói để giới thiệu bài pháp thoại bữa đó,
thì có một ông say lớn tiếng, " Ðược rồi, tránh đường,
tránh đường, hãy nhường lối cho Thầy ra!" -- ông ta muốn
đuổi tôi ấy mà!
Khi
mà gặp những người như thế, tôi hay suy ngẫm về bản chất
của con người. Giống như là một người có chai nước đầy
rồi mà còn đi xin thêm nước. Ðâu còn chỗ nữa mà bỏ thêm
vào.
Thật
là phí thời gian và công sức mà giảng dạy cho họ, vì tư
tưởng họ đã đầy ấp rồi. Nếu còn bỏ thêm vào thì chỉ
làm tràn một cách vô ích.
Nếu
chai của họ trống thì còn có chỗ mà bỏ nước vào, và
như thế thì lợi ích cho cả hai người, người xin cũng như
người cho.
Cũng
như vậy, khi mà người ta thật sự muốn nghe pháp thoại,
họ ngồi yên lặng, lắng nghe chăm chú, tôi sẽ thấy hứng
thú giảng dạy cho họ hơn.
Nếu
họ không chú ý thì cũng như người đã có chai nước đầy...
không còn chỗ để bỏ thêm gì khác. Thật là phí thời gian
của tôi khi nói chuyện với những người như thế. Trong những
trường hợp nầy, tôi thật không có sức để mà giảng dạy.
Bạn không thể bỏ nhiều công sức trong lúc cho, khi mà người
có mặt không bỏ ra công sức để thâu nhận.
Thời
gian gần đây, những cuộc pháp đàm đều như thế, và càng
lúc càng tệ.
Con
người không kiếm sự thật, họ học chỉ để có được
sự hiểu biết cần thiết để mà làm ra tiền, lo cho gia đình,
và nuôi sống bản thân. Học sinh hiện nay biết nhiều hơn
học sinh thời trước. Họ học hỏi được nhiều hơn, và
mọi thứ tiện lợi hơn. Nhưng đồng thời họ cũng lộn xộn
hơn và khổ hơn lúc xưa.
Tại
sao như vậy? Bởi vì họ chỉ chú trọng đến cái hiểu biết
để sau dùng làm phương tiện sinh sống.
Cả
đến giới tu sĩ cũng như thế. Ðôi lúc tôi nghe họ nói,
" Tôi không trở thành tu sĩ để thực hành pháp. Tôi chỉ
thọ giới để được học". Ðây là lời nói của người
đã tự tách rời khỏi con đường thực tập. Không có tương
lai, đây là ngõ cụt. Khi mà những người thầy như vầy giảng
dạy thì họ chỉ nói bằng ký ức. Họ dạy một việc nhưng
mà tư tưởng họ lại ở những nơi khác. Những bài giảng
như thế không có ý nghĩa gì hết.
Cuộc
đời là như vậy đó.
Nếu
bạn gắng sống đạm bạc, thực hành pháp và sống yên lành,
thì người ta nói bạn kỳ cục và phản xã hội. Họ nói
bạn làm chận đứng sự phát triển của xã hội. Họ còn
hăm dọa bạn nữa. Dần dần bạn bắt đầu tin rằng họ
đúng và trở lại nếp sống của thế gian, chìm sâu từ từ
trong thế gian và rồi thì không thể nào ra khỏi được. Vài
người nói, " Tôi không thể ra được vì tôi đã chìm sâu
lắm rồi." Và xã hội là như thế đó. Xã hội không thấy
được giá trị của phật pháp.
Giá
trị của phật pháp không thể tìm trong sách vở. Ðấy chỉ
là những phiến diện của pháp, pháp thật sự chỉ có nơi
kinh nghiệm của người thực tập.
Nếu
bạn hiểu rõ được pháp thì bạn sẽ hiểu rõ được tư
tưởng mình, bạn sẽ thấy được sự thật nơi đó. Khi mà
sự thật hiện hữu thì mọi vọng tưởng sẽ tự dưng bị
chặt đứt.
Dù
trong hiện tại hay tương lai, lời dạy của Ðức Phật là
một sự thật trường tồn. Ðức Phật đã phơi bày sự thật
nầy 2.500 năm trước và đến nay sự thật ấy vẫn không
đổi thay. Lời dạy của Ðức Phật không thể được thêm
vô hay bị cắt bớt. Ðức Phật đã nói, " Những gì Như Lai
đã đề ra không được loại bỏ, và những gì Như Lai không
nói đến không được thêm vào." Và như thế, Ðức Phật
đã ngăn chận sự thêm bớt có thể xảy ra đối với giáo
pháp của Ngài.
Tại
sao như thế?
Bởi
vì đấy là lời dạy của một người đã không còn ô nhiễm.
Không cần biết xã hội thay đổi ra sao, nhưng những lời
dạy của Ðức Phật sẽ luôn luôn là sự thật, không bao
giờ thay đổi. Bao thế hệ đến rồi đi, nhưng những điều
Phật dạy không bao giờ thay đổi, bởi vì đó là những sự
thật.
Ai
đã đặt ra sự thật nầy ?
Sự
thật tự nơi nó phát sinh! Có phải chính Ðức Phật đã đặt
ra nó ?
Thưa
không. Ðức Phật chỉ tìm thấy sự thật, sự thật của
mọi vật như nó là, và Ngài đã nói lên những gì Ngài khám
phá ra được.
Sự
thật luôn là sự thật cho dù có Phật ra đời hay không. Ðức
Phật chỉ là người khám phá ra sự thật chứ không phải
là người đã "chế biến" ra sự thật.
Sự
thật luôn hiện hữu. Chỉ có Ðức Phật là người đã đi
tìm và khám phá ra sự thật để tìm ra cái "bất tử" đã
được dạy trong giáo pháp của Ngài.
Ngài
chỉ khám phá ra cái sự thật hiện hữu muôn đời mà trước
Ngài chưa ai tìm thấy.
Có
một thời gian sự thật nầy sáng tỏ và sự thực tập giáo
pháp được tăng trưởng. Theo thời gian và những thế hệ
tiếp nối sự thực tập bị suy thoái và giáo pháp bị phai
tàn.
Sau
đó thì giáo pháp được chỉnh đốn lại và một lần nữa
lại nở rộ.
Theo
thời gian thì môn đồ của giáo pháp cũng tăng dần, phồn
thịnh được một lúc rồi thì một lần nữa giáo pháp lại
bắt đầu đi vào bóng tối của thế gian. Cho đến một lúc
giáo pháp không thể còn tồn tại, và lúc nầy thì sự hỗn
loạn sẽ ngự trị. Rồi lại đến một lúc sự thật được
phục hồi. Sự thật thì chẳng mất đi đâu hết. Khi Ðức
Phật nhập diệt thì giáo pháp vẫn tồn tại, hiện hữu.
Thế
giới xoay tròn như thế. Giống như cây xoài. Cây trưởng thành,
nở hoa, kết trái, trái lớn và chín dần. Sau đó thì trái
hư hoại và hạt cây rớt xuống đất để trở thành một
cây xoài mới. Và cứ thế chu kỳ mới lại bắt đầu lần
nữa. Tuần tự có rất nhiều trái chín tiếp tục sinh, trụ,
hoại, diệt.
Thế
gian cũng như thế. Thật ra không có gì thay đổi nhiều, thế
gian chỉ xoay quanh chu kỳ của sự vật.
Cuộc
sống của chúng ta ngày nay cũng vậy. Ngày hôm nay chúng ta
chỉ làm những việc cũ thường làm. Con người suy nghĩ nhiều
quá. Có rất nhiều thứ làm họ thích thú, nhưng chẳng có
thứ nào đưa họ đến sự đầy đủ.
Có
những môn khoa học như toán, vật lý, tâm lý, v...v... Bạn
có thể tìm tòi nghiên cứu bất cứ thứ gì, nhưng