|
.
BỆNH
TÂM THẦN VÀ THIỀN ĐỊNH
Dr.
Dhananjay Chavan - Dịch Việt: Mỹ Thanh
 |
 |
Hiện
nay, thế giới đang rối loạn, thiếu hiểu biết, và hay tranh
cãi về bệnh tâm thần, thiền định, cũng như sự liên hệ
giữa hai đề tài nầy. Các chuyên gia về sức khoẻ, thể
chất cũng như tâm thần, họ lại chẳng hiểu rõ ràng phạm
vi nghề nghiệp của họ. Họ cũng không hiểu cái gì là thiền
định. Bởi vậy đối với một người bình thường, họ
sẽ rất bối rối.
Cả
hai chữ « tâm thần » và « thiền định » cũng mang những
hào quang thần bí. Nói tóm lại, bệnh tâm thần là một khoa
học rất mới mẻ, chưa đến trăm năm, trong khi vô số cách
thức thiền đã bắt nguồn từ thuở xa xưa. Tuy vậy, đôi
lúc có lời tuyên bố rằng thiền định không có tính cách
khoa học. Thật ra, thiền định là một môn khoa học, một
phương pháp được thực tập và hoàn hảo hoá mấy thế kỷ
về trước bởi các khoa học gia về tinh thần và thể chất,
bởi các vị Rishis, Munis, và các vị Phật.
Sau
rốt, khoa học là gì ? Khoa học là sự quan sát một cách khách
quan về việc phân tích các dữ kiện, và sự ứng dụng. Khoa
học tìm kiếm để biết sự thật. Chúng ta sẽ thấy trong
bài xã luận nầy, dựa vào tiêu chuẩn tân thời, thiền Vipassana
(Minh Sát) thật đúng là một môn khoa học .
Người
ta thường nghĩ đến bệnh tâm thần là môn khoa học chuyên
giải quyết những tâm thần bất bình thường. Nhưng sẽ chính
xác hơn nếu ta sử dụng hai chữ « hành vi » thay thế cho
hai chữ « tâm thần » trong việc định nghĩa, bởi vì bệnh
tâm thần được định nghĩa như « Một môn học về hành
vi bất thường.» Bây giờ, để định nghĩa sự bình thường
thì thật là một nhiệm vụ khó khăn. Bình thường nói chung
có nghĩa « trung bình » .
Hành
vi ám chỉ những hành động thuộc về lời nói hay việc làm,
như hành vi nói năng, hành vi xử sự. Trong môn học về bệnh
tâm thần và tâm lý, cách suy nghĩ được nghiên cứu chỉ
bằng một kết luận sau khi những hành động về lời nói,
việc làm được thể hiện. Mục đích của các môn khoa học
nầy là giúp sửa đổi lại hành vi của một người trở
lại bình thường (thông thường nghĩa là sự trung bình.)
Chúng
ta cũng có thể sử dụng một định nghĩa tân thời cho bệnh
tâm thần như sau : Đó là một phương thức áp dụng môn khoa
học về thần kinh cho việc chữa trị bệnh tâm thần cho một
nhóm bệnh nhân (tâm thần).
Thật
ra ngay từ ban đầu, phạm vi của bệnh tâm thần đã không
được định nghĩa đúng đắn.
Kết
quả các bác sĩ chuyên môn về tâm thần thường chỉ chữa
cho những bệnh tâm thần thứ yếu. Trong những năm 60 và 70,
các bác sĩ về tâm thần ở phương Tây đều thực hành môn
phân tâm lý học. Những bệnh nhân của họ thường không
có những triệu chứng, hay vấn đề nghiêm trọng; rất ít
bệnh nhân bị loạn trí. Trong khoảng thời gian nầy, ấn tượng
của khoa tâm thần học là chữa được bệnh tâm thần ; nghĩa
là có thể chữa trị tất cả những vấn đề khó khăn của
con người. Nhưng thực tế thì khoa tâm thần học không đóng
góp được gì quan trọng trong việc hài hoà xã hội nói chung,
ngoại trừ giúp đỡ cho một số ít bệnh nhân.
Các
bác sĩ, chuyên gia về tâm thần đã dần dần hiểu được
biên giới của bệnh tâm thần, nó không bao quát song song cùng
với hoạt động tinh thần của mọi con người. Sự hiểu
biết nầy còn có một ý nghĩa to tác, bởi vì nó giúp cho
các bác sĩ tâm thần học và người bình thường hiểu được
định nghĩa và biết rõ phạm vi của bệnh tâm thần.
Sự
thiếu hiểu biết về mặt tâm thần nơi một người bình
thường, hay tạo nên nhiều vấn đề khó khăn khác nhau. Thí
dụ, đôi lúc bác sĩ tâm thần được mời xem bệnh, trong
khi bệnh ấy lại không thụôc về tâm thần, bắt nguồn từ
sự tin tưởng, đòi hỏi vô lý rằng bác sĩ tâm thần học
phải biết hết mọi vấn đề liên quan đến thần trí. Ngược
lại với quan niệm hiểu biết mọi thứ nơi bác sĩ tâm thần
học ; mặt khác của đồng tiền là sự thiếu hiểu biết
toàn bộ về môn đặc biệt nầy, kể luôn cả vài thành phần
chuyên gia về mặt sức khoẻ, với kết quả là … ngay cả
khi cần thiết và có lợi ích người ta cũng không chịu tìm
đến sự giúp đỡ của các bác sĩ tâm thần.
Trong
thời gian vừa qua, bệnh tâm thần đã gia nhập vào một chuyên
ngành của y học, với trọng tâm chuyên trị những bệnh tâm
thần nặng. Điều nầy đã xác định lại vai trò của bệnh
tâm thần như là một môn khoa sinh học, và bác sĩ tâm thần
học hiện nay đã giữ vai trò thích hợp hơn, họ là những
chuyên gia trị liệu về rối loạn sinh học, và tâm lý.
Điều
nầy không có nghĩa là vai trò của bác sĩ tâm thần chỉ giới
hạn trong việc viết toa thuốc ; bác sĩ tâm thần cũng sử
dụng nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Nhưng ngày càng
nhiều bác sĩ tâm thần bắt đầu tự thu hẹp chuyên ngành
của họ : Trị liệu những rối loạn thần kinh nặng. Những
điều kiện để giúp đỡ việc trị liệu cho các bác sĩ
tâm thần là trang bị đầy đủ dụng cụ, với tay nghề cao.
Các bác sĩ tâm thần được huấn luyện để giải quyết
các hành vi « bất bình thường » . Trong những trường hợp
căn bệnh gần với hành vi bình thường ( hoặc trung bình),
hiệu quả của việc trị liệu tâm thần khác nhau rất xa
giữa việc trị liệu và phương cách trị liệu .
WHO
- World Health Organization (Hội Đoàn Sức Khoẻ Thế Giới) liên
tục cố gắng cải thiện tiêu chuẩn chẩn đoán cho các bệnh
tâm thần. Liệt kê danh sách các chứng bệnh quốc tế (International
Classification of Diseases – ICD-10) là một bước tiến quan trọng.
Người
ta đang cố gắng để phân ranh giới một cách hệ thống trong
lĩnh vực bệnh tâm thần. Việc nầy giúp cho các bác sĩ tâm
thần có thể chú tâm đến một số nhỏ dân chúng đặc biệt,
để giúp các nhà nghiên cứu tìm ra những phương thuốc chữa
các chứng bệnh rối loạn tâm thần, và có thể bảo vệ
dân chúng khỏi bị gán cho cái tên « bệnh nhân tâm thần.
» Tuy vậy, ranh giới vẫn còn rất mơ hồ. Kể cả một bác
sĩ tâm thần giỏi đôi lúc cũng cảm thấy khó khăn khi phải
quyết định nên chữa trị một bệnh nhân đặc biệt nào
đó, hay là cho rằng người ấy không cần sự trị liệu.
Mọi
người đều chịu đau khổ từ nhiều điều bất hạnh khác
nhau. Khi đối diện với những vấn đề thương mại, một
người có thể dễ nổi giận, trong khi người khác thì nghiêng
về sự buồn rầu. Trong những lúc nầy, một cá nhân có thể
nói là không bị bệnh tâm thần. Họ có thể được lợi
ích từ lời khuyên, sự nâng đỡ của bạn hay thân quyến,
hoặc là bác sĩ tâm thần. Kể cả như vậy, trong cuộc sống,
mỗi con người đều luôn bị dính chặt vào các cuộc thử
thách, và đau khổ cứ liên tục xảy ra.
Một
người phải làm thế nào khi đối diện với những khó khăn
trong cuộc sống ?
Mỗi
một cá nhân cảm thấy đau khổ khi gặp phải những việc
không muốn mà vẫn xảy ra, và những việc mong muốn lại
không thành; khi một người có được vật mà họ không
thích, hoặc mất đi vật gì họ thích. Tìm kiếm giải
pháp ở đâu đây ?
Tâm
thức là nguyên nhân chánh. Chúng ta cần phải tìm hiểu,
thăm dò cho đến tận chiều sâu của nó để có thể
điều khiển nó – để giải quyết các khó khăn của
chúng ta. Đây chính xác là một môn khoa học của thiền
định. Thiền định là một môn khoa học nghiên cứu về
hịên tượng tâm thức và vật chất. Môn tâm thần học
chỉ tìm hiểu về tâm thức một cách gián tiếp và
chỉ trong phạm vi có thể khảo sát được qua những hành
vi từ lời nói và việc làm.
Trong
môn khoa học về thiền định, tâm thức được tìm hiểu
một cách trực tiếp. Môn khoa học nầy đã được thực
tập cùng khắp xứ Ấn Độ từ thời xa xưa.
Sự
thật tất cả các hành động đều bắt nguồn từ
tâm thức. Nhưng không phải tất cả những gì xuất hiện
nơi tâm thức đều biểu lộ qua lời nói hay cử chỉ.
Những hành động dường như là tương xứng có thể
bắt nguồn từ những ý muốn thầm kín khác.
Thí
dụ, một người đứng chết trân khi thấy một con rắn
có thể có hai lý do cho hành động nầy. Có lẽ anh
ta quá sợ hãi; hoặc anh ta có thể rất bình tĩnh và
đứng yên để không làm con rắn sợ, hoặc để quan
sát con rắn. Tương tự như thế, một người có thể
cho kẻ nghèo một đồng bạc, với tâm lượng từ bi;
để họ đi cho khuất mắt, hoặc để cho những người
khác không xem anh ta là một người keo kiết.
Vì
thế, vấn đề trước nhất là rất khó để giải thích môn
tâm thần học, chiếu theo các kết quả về tâm thức bắt
nguồn từ lời nói và hành động. Tâm thức cần được tìm
hiểu trực tiếp.
Một
vấn đề khác là các kết quả của cái được gọi là “
thuyết nhị nguyên của Des Cartes”, sự phân chia tuỳ ý về
tâm và thân. Trong một thời gian rất lâu, các ngành y khoa
chuyên môn về thân thể, đã bỏ qua việc tìm hiểu về tâm
thức. Và khi các bác sĩ tâm thần học bắt đầu tìm hiểu
về tâm thức, trong bất cứ phương thức nào, họ bác bỏ
thân người. Ngày nay, tầm quan trọng của phương pháp giải
quyết vấn đề có tính cách thánh thiện được chấp nhận.
Tuy vậy, không có một phương thức thẩm vấn nào được
đầy đủ, không có sự hiểu biết thích đáng cho sự tương
tác giữa tâm thần và vật chất, với kết quả là có rất
nhiều lý thuyết, nhưng ít dữ kiện. Hiện tượng thân-tâm
không được tìm hiểu một cách đúng đắn.
Những
vấn đề nầy được giải quyết xuyên qua sự hiểu biết
đúng đắn về thiền định. Chữ « thiền định » rất đa
dạng trong nhiều định nghĩa. Trong tiếng Anh, từ nầy được
sử dụng một cách thoải mái để chỉ đến việc suy nghĩ
về một cái gì đó. Các tự điển định nghĩa là « trầm
tư mặc tưởng » : Luyện tập tâm thức trong sự trầm mặc,
chuyên chú đến một chủ đề của sự trầm mặc ; để suy
nghĩ, suy tư và nghiền ngẫm. Khi chúng ta nói đến thiền ở
đây, chúng ta không sử dụng từ nầy trong ý nghĩa chán ngắt
đó.
Bậc
giác ngộ, đức Phật Gotama, sử dụng từ bhavana để diễn
tả những thực tập về sự phát triển của tinh thần. từ
nầy được dịch đại khái là thiền định. Thiền nói về
những thực tập đặc biệt cho tinh thần, những phương thức
chính xác để chú tâm và thanh tịnh hoá tinh thần.
Khi
chúng ta sử dụng từ « thiền định » ở đây, chúng ta sử
dụng từ nầy trong ý nghĩa chuyên môn nầy. Hầu hết trong
các ngôn ngữ Ấn Độ, có những từ rất đặc biệt dành
cho nhiều loại thực tập thiền khác nhau, bởi vì Ấn Độ
có một truyền thống phong phú về thiền.
Những
từ như dhyana, japa, traa.taka, saadhandaa, vipassanaa, (vidarshanaa),
bhaavanaa, v..v..., nói về những loại thực tập khác nhau.
Nói
chung, thiền là một thực tập về sự chú tâm của tinh thần
với những đối tượng khác nhau. Bởi vì sự chú tâm của
tinh thần là điều kiện tiên quyết cho bất cứ một nhiệm
vụ nào, đó là một nhân tố rất quan trọng trong việc khám
phá hiện tượng thân và tâm. Sự chú tâm có thể thực hành
với vô số đối tượng : Mắt thấy, tai nghe, sự tưởng
tượng, lời nói, v..v…
Bậc
Giác Ngộ đã cho chúng ta một đối tượng kỳ diệu để
chú tâm, đó là hơi thở tự nhiên của chúng ta. Không giống
với những đối tượng khác bên ngoài hoặc không có liên
quan trực tiếp đến tâm thân của chúng ta, hơi thở là một
đối thượng có nhiều tiện lợi. Hơi thở trong ta, và luôn
luôn hiện hữu từ lúc sanh ra cho đến lúc chết. Đây là
một thực tế hiển nhiên, rõ ràng.
Hơi
thở ý thức và vô thức, có chủ tâm và không chủ tâm. Nhịp
điệu của hơi thở liên quan mật thiết đến trạng thái
tinh thần và biết rõ ô uế nào đang xuất hiện nơi ý thức,
kể cả sự loạn động nhỏ nhất, cũng làm nhiễu loạn nhịp
hơi thở. Chúng ta không thể tìm thấy một đối tượng để
chú tâm nào khác hơn là hơi thở, vì hơi thở liên quan mật
thiết với hiện tượng thân-tâm và nhất là quá dễ dàng
cho việc quan sát.
Tuy
vậy, sự chú tâm không phải là mục đích của thiền định
; nó chỉ là một dụng cụ. Dụng cụ để làm gì ?
Ở
đây chúng ta gặp cái khó khăn thứ ba về định nghĩa của
thiền như một môn khoa học tân tiến. Bốn chân lý huyền
diệu về khổ rất đơn giản, hợp lý và thông dụng : Đau
khổ hiện hữu ; nó có một nguyên nhân ; nguyên nhân nầy
có thể bị nhổ tận gốc ; và có con Đường dành cho việc
nhổ bật gốc đau khổ. Tuy nhiên, những chân lý phổ biến
thông dụng nầy không được các bác sĩ tâm thần học tân
tiến hoan nghinh, vì tâm lý học chú trọng nhiều đến « tại
sao » hơn là « làm sao » . Thái độ tìm kiếm định nghĩa
trong khi không hiểu chút gì về cơ cấu căn bản thực tế,
làm cho nó càng khó hiểu hơn là việc nâng cao sự học hỏi
về các vấn đề tinh thần của con người.
Bậc
Giác Ngộ là một khoa học gia chân chính, một khoa học gia
lỗi lạc về thân và tâm. Chính Ngài đã không những khám
phá hiện tượng thân-tâm và toàn bộ của nó, Ngài lại còn
chỉ đường cho những người khác, để họ có thể thoát
khỏi đau khổ. Ngài dạy phương thức quan sát tinh thần hoạt
động ra sao, như thế nào thân và tâm tương tác. Ngài dạy
Vipassana. (Thiền Minh Sát)
Vipassana
có nghĩa là thấy, thấy một cách đặc biệt, quan sát bên
trong. Đây là sự quan sát có đối tượng của thực tại
bên trong. Việc phát triển sự nhận biết sâu sắc về bản
thể tự nhiên của một cá nhân . Nó không có những giả
thuyết ; chỉ là sự quan sát.
Đây
là cách thực tiễn để hiểu về nỗi khó khăn của chúng
ta là đau khổ và cần giải quyết việc nầy. Khó khăn chung
của mọi người cũng giống như thế, và thuốc giải cũng
phổ thông. Trong Vipassana, chúng ta học quan sát những cảm
xúc của chính chúng ta một cách khách quan. Các cảm giác là
địa điểm gặp mặt của sự tương tác thân mật giữa thân-tâm.
Xuyên
qua các cảm giác xuất hiện nơi thân, chúng ta cảm nhận được
nó từ nơi tinh thần. Mỗi một người trong chúng ta là một
khoa học gia của thân và tâm. Chúng ta cần có sự hiểu biết
trực tiếp. Bậc Giác Ngộ đã trình bày bốn giai đoạn căn
bản của tinh thần (tâm) : Ý thức, nhận biết, cảm thọ,
và những điều kiện. Về mặt trí thức, không có người
nào phải chấp nhận những giai đoạn nầy ; chúng sẽ trở
nên rõ ràng một khi chúng ta bắt đầu kiểm nghiệm được
chân lý nội tại.
Khi
chúng ta học quan sát được các cảm thọ nội tại, theo kinh
nghiệm, việc nầy thật rõ ràng là chúng ta tiếp tục phản
ứng theo những cảm thọ nầy. Các cảm thọ là căn bản để
các điều kiện, mô hình cũ của ham muốn và ghét bỏ tăng
trưởng. Sự khám phá sâu sắc nầy là trụ cột cho việc
giải thoát, mà Bậc Giác Ngộ đã đưa ra.
Chính
điều kiện của chúng ta làm cho chúng ta mãi đau khổ, và
nó sẽ bị nhổ bỏ tận gốc bằng cách thực tập quan sát
đối tượng của cảm thọ. Thực tập Vipassana, chúng ta không
học để phát huy các điều kiện mới của ham muốn và ghét
bỏ các cảm thọ ; và như vậy, chúng ta bắt đầu tiêu diệt
các điều kiện cũ. Sự thực tập là một hành trình từng
bước một để tiêu diệt các ô uế của tâm thức. Do đó,
đây là một tiến trình để tiêu diệt đau khổ.
Không
nằm trong môn phái khoa học, kỹ thuật nầy rất hữu dụng
trong việc giúp tất cả mọi người có cuộc sống tốt đẹp,
hạnh phúc, an lạc hơn . Những ai đã từng theo học lớp Vipassana
trong vòng mười ngày, dưới sự chỉ dẫn của một vị thầy
giỏi, lớp học nầy là một kinh nghiệm đổi đời.
Thực
tập để khám phá thân tâm ở mức độ sâu xa nhất thật
là không phải dễ. Việc nầy đòi hỏi một sự ổn định,
vững chãi về mặt thân và tâm. Một người cầu đạo chân
chính mong cầu được thực tập thiền Vipassana, họ cần có
sức khoẻ tối thiểu ở nơi thân và tâm. Thông thường, tất
cả đều học được, trừ những người bị bệnh tâm thần.
( Nên liên lạc với bộ quản lý lớp Vipassana trước khi ghi
danh để xem học viên có bệnh, có thể thích hợp cho khoá
học hay không.)
Thiền
Vipassana là phương thuốc chữa bệnh phổ biến cho nỗi đau
khổ chung. Nhưng điều nầy không có nghĩa là khoa tâm thần
học không có chỗ đứng trong việc giúp đỡ nhân loại đang
đau khổ. Đối với những người điên, không có khả năng
để theo học thiền Vipassana, một công việc hết sức tế
nhị. Các bác sĩ chuyên môn về tâm thần học có thể giúp
đỡ, làm giảm nỗi đau khổ của những người bị bệnh
tâm thần. Ngoại trừ một nhóm nhỏ bị bệnh tâm thần quá
nặng, thiền Vipassana rất hữu dụng cho tất cả mọi người.
Phạm
vi của khoa tâm thần học giới hạn vào một số nhỏ
dân số. Nhưng thiền Vipassana thì phổ biến bao gồm tất
cả mọi mặt hoạt động về tâm thần của con người. Khoa
tâm lý học ngụ ý tìm hiểu hoàn toàn về hoạt động tinh
thần của con người, như chúng ta đã bàn qua, đây là môn
“khoa học về thái độ cư xử”, và như vậy nó bị giới
hạn. Thái độ cư xử trong ý nghĩa nầy được định nghĩa
như bất kỳ một hành động phản ứng nào cũng có thể bị
quan sát bằng cách nầy hay cách khác . Luận điểm là hành
động đó, khác với tâm thức, ý nghĩ hoặc cảm giác, có
thể bị quan sát và nghiên cứu. Ý là ở đây, người quan
sát luôn là người ở ngoài cuộc, một người khác. Các tâm
lý gia hiện đại tin tưởng rằng thái độ cư xử là con
đường duy nhất mà các sự kiện tâm lý nội tại có thể
được nghiên cứu kỹ.
Bất
cứ người nào theo học khoá Thiền Vipassana trong vòng mười
ngày, đều có thể nhìn thấy sự sai lầm về mặt nầy của
khoa tâm lý học hiện đại . Anh ta biết ngay rằng, từ kinh
nghiệm bản thân, các sự kiện tâm lý nội tại có thể được
quan sát trực tiếp. Mỗi thiền sinh của Vipassana đều có
thể trở thành một bác sĩ tâm lý thực thụ cho chính mình.
Và xuyên qua môn khoa học thuần khiết về quán sát tự thân,
anh ta bắt đầu thoát khỏi đau khổ.
Nguyện
cầu cho nhiều người bước đi trên con đường do Bậc Giác
Ngộ chỉ dẫn. Nguyện cầu cho nhiều người được học tập
quán sát thực tại bên trong. Nguyện cầu cho mọi chúng sinh
đều hạnh phúc, mọi chúng sinh đều an lạc .

HÃY
LÀ BÁC SĨ CHO CHÍNH MÌNH
Lama
Thubten Yeshe - Dịch Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
Lama
Thubten Yeshe đã thuyết giảng bài nầy ở Hội Trường Melbourne,
Úc Châu, vào tháng Tư, năm 1975. Bài giảng nầy do ông Nicholas
Ribush hiệu đính.
Phương
thức mà chúng ta sống và suy nghĩ về mọi việc thường dựa
vào mặt hưởng thụ vật chất. Chúng ta cho rằng việc thọ
nhận vật chất là điều quan trọng nhất, và chúng ta cống
hiến bất cứ gì để cho chúng ta vui thú, sự nổi tiếng
cũng dựa trên căn bản vật chất. Kể cả khi mọi việc xuất
hiện từ nơi tâm thức, chúng ta cũng chỉ hoàn toàn lo lắng
đến những thứ bên ngoài, và không bao giờ nhìn vào bên
trong, chúng ta không bao giờ hỏi cái gì đã làm cho các vật
ấy trở nên hấp dẫn.
Tuy
vậy, tâm thức nầy là một phần không thể tách rời khỏi
chúng ta ; chúng ta còn sống thì tâm thức nầy còn hiện diện
trong chúng ta. Như vậy, chúng ta lúc nào cũng đứng ngồi không
yên. Không phải là cơ thể chúng ta đứng và ngồi, mà là
tâm thức của chúng ta – tâm thức hoạt động theo cách riêng
của nó mà chúng ta không thể nào hiểu nổi. Cho nên, đôi
lúc chúng ta phải tự kiểm soát lấy chính bản thân ; không
phải kiểm soát cơ thể mà là kiểm soát tâm thức, chính
tâm thức sai bảo chúng ta phải làm gì. Anh cần phải biết
tâm lý của chính mình, hoặc, trong ngôn từ tôn giáo, có thể
gọi là bản chất nội tại của anh. Nhưng mà anh gọi nó
là gì cũng được, quan trọng là anh phải hiểu biết tâm
thức của chính mình.
Đừng
nghĩ rằng kiểm soát và biết về bản chất của tâm thức
chỉ là một chuyến du lịch Châu Á. Đây là một quan niệm
sai lầm ; đấy không phải là chuyến du lịch Châu Á, mà là
chuyến du lịch của chính bản thân. Làm sao anh có thể tách
rời cơ thể, hoặc hình ảnh của anh khỏi tâm thức ? Anh
không thể nói, « Tôi có quyền lực tách rời cơ thể khỏi
tâm thức. » Việc nầy là điều không thể nào. Anh nghĩ rằng
anh là một người tự do trong thế giới, đang hưởng thụ
mọi thứ. Ấy là do anh nghĩ thế thôi, nhưng thật sự anh
không có chút tự do nào. Tôi không cho rằng anh đang bị ai
đó điều khiển ; chỉ là sự bám víu của chính anh, và anh
đang bị đàn áp bởi tâm thức hỗn loạn nầy. Nếu như anh
có thể khám phá ra cái gì đã đàn áp anh, tâm thức hỗn
loạn sẽ tự động biến mất. Như vậy, việc hiểu rõ về
tâm thức của chính bản thân là giải pháp cho các vấn đề
liên quan đến tinh thần.
Có
ngày thế gian thật tốt đẹp ; ngày kế thế gian thật là
tệ. Làm sao anh có thể nói như thế ! Nói một cách khoa học,
thế giới không thể nào thay đổi triệt để như vậy. Chỉ
là tâm thức của anh cho thấy như vậy thôi. Đừng cho rằng
đây là giáo điều hay tín ngưỡng ; việc chúng ta đứng ngồi
không yên không phải do giáo điều hay tín ngưỡng. Tôi không
nói đến tôn giáo; tôi muốn nói về cách thức mà anh đang
sống, cách sống ấy đã làm cho anh đứng ngồi không yên.
Con người và ngoại cảnh không thay đổi triệt để; những
đổi thay đều là từ trong tâm thức của chính anh. Dĩ nhiên
là anh hiểu được điều nầy – thật là đơn giản.
Cũng
vậy, một người nghĩ rằng thế giới nầy đẹp và con người
thật là tử tế, kỳ diệu, nhưng người khác lại cho rằng
con người và mọi vật đều xấu xa. Ai đúng ? Làm thế nào
để giải thích việc nầy một cách khoa học ? Đây chỉ là
một phóng ảnh của tâm thức mỗi một người trong thế giới
tri giác. Như vậy, anh có cảm giác, « Hôm nay như thế nầy,
ngày mai thế khác ; ông nầy như vầy, bà nọ như thế kia.
» Nhưng đâu là một phụ nữ đẹp mãi và hoàn toàn
không thay đổi ? Ai sẽ là người đàn ông mãi mãi đẹp trai
? Những việc nầy không thật hiện hữu, chúng chỉ là những
sáng tạo của tâm thức mà thôi.
Cũng
thế, anh không nên đòi hỏi vật chất làm anh thoả mãn và
làm cho cuộc sống của anh trở nên hoàn hảo ; việc nầy
cũng không thể nào xảy ra được. Làm sao anh có thể
thoả mãn với vô số vật chất ? Có thể nào anh hài lòng
khi ngủ với trăm người khác nhau ? Việc nầy không thể nào.
Sự hài lòng đến từ tâm thức. Tâm thức bất mãn luôn khao
khát thay đổi từ người nầy sang người khác, từ chuyến
du lịch nầy sang chuyến du lịch khác, không bao giờ anh thoả
mãn. Đây chỉ là tâm thức của anh.
Anh
thấy đó, nếu anh không hiểu tâm lý của chính anh, anh có
thể không biết cái gì đang xảy ra trong tâm thức anh, cho
đến khi tâm thức sụp đổ và anh trở nên hoàn toàn điên
rồ. Người ta điên vì thiếu sự sáng suốt nội tại, thiếu
khả năng kiểm soát tâm thức của chính mình. Họ không thể
tự giải thích ; họ không biết cách nói chuyện với chính
mình. Như vậy, họ luôn luôn lo lắng về ngoại vật trong
khi tâm thức nội tại của họ đang kiệt sức cho đến khi
nó rạn vỡ. Họ hoàn toàn không biết gì về thế giới nội
tại ; tâm thức họ hoàn toàn hợp nhất với sự si mê, thay
vì thức tỉnh và tiến hành việc tự phân tích. Kiểm soát
thái độ tâm thức của anh là việc rất cần thiết ; chủ
yếu là anh trở thành bác sĩ của chính mình.
Các
vị là những người thông minh : các vị biết vật chất không
thể mang lại hạnh phúc cho các vị. Tuy nhiên, các vị không
cần phải lên tàu làm vài chuyến du lịch có tính cách mộ
đạo, để mà khảo sát tâm thức của các vị. Một số người
cho rằng họ cần làm thế ; họ nghĩ rằng cách thức tự
phân tách là một cái gì đó thuộc về tôn giáo và tâm linh.
Để thực hành điều nầy, không nhất thiết anh phải là
một môn đồ của triết lý nầy hay tôn giáo nọ. Nhưng nếu
anh muốn hạnh phúc, anh cần phải xem lại cách sống của
anh. Việc nầy, anh không cần phải đặt mình vào một loại
tôn giáo nào ; tâm thức của riêng anh là tôn giáo của anh
đó.
Khi
anh xem lại tâm thức của mình, anh không nên hợp lý hoá hay
thúc đẩy. Hãy thư giãn. Đừng bực bội khi các trở ngại
xuất hiện. Chỉ nên nhận biết chúng và thấy được gốc
rễ của chúng. Hãy làm quen với nó : Đây là một loại
trở ngại. Tại sao việc nầy trở thành một vấn đề ? Tâm
thức nào đã biến việc ấy thành một trở ngại ? Tâm thức
nào cảm thấy rằng đây là một trở ngại ? Việc nầy thật
đơn giản, và khi anh xét lại kỹ càng, trở ngại ấy tự
động biến mất. Việc ấy đơn giản quá, phải không
nào ? Để làm được như vậy, anh không cần phải tin vào
một cái gì. Đừng tin vào gì hết ! Mọi thứ đều giống
nhau, anh không thể nói : « tôi không tin là tôi sỡ hữu
một tâm thức. » Anh không thể chối bỏ được tâm
thức của mình. Anh có thể nói, tôi chối bỏ những vật
gì thuộc về Á châu – cái nầy tôi đồng ý. Nhưng anh có
thể chối bỏ được chính mình hay không ? Có thể nào anh
chối bỏ cái đầu, cái mũi của anh ? Anh không thể chối
bỏ được tâm thức của mình. Như vậy, hãy đối đãi với
chính anh một cách sáng suốt, và cố gắng khám phá nguồn
gốc chân thật của hạnh phúc.
«
Tôi già giống cha mẹ tôi, tôi có bánh và kẹo sô-cô-la nhiều
như tôi mong muốn, và rồi tôi sẽ hạnh phúc. » Anh có
thể có những quyết định kiểu đó trong đầu. Bây giờ
anh có rất nhiều bánh và kẹo sô-cô-la, nhưng mà anh đang
chán nản. Và anh cho rằng nếu điều nầy chưa làm anh hạnh
phúc, anh sẽ mua một chiếc xe hơi, một cái nhà, truyền hình,
có vợ - sau đó, anh sẽ hạnh phúc. Và bây giờ, anh có
đầy đủ mọi thứ, nhưng có thêm nhiều vấn đề. Chiếc
xe hơi là một vấn đề ; căn nhà là một vấn đề khác ;
vợ cũng là một vấn đề ; con cái cũng thế. Lúc nầy, anh
nghiệm ra rằng, « Ô, đây không phải là hạnh phúc. »
Như
thế, cái gì là hạnh phúc ? Hãy suy nghĩ cho tận cùng và xem
xét lại ; việc nầy rất quan trọng. Xét lại cuộc sống
của anh từ nhỏ cho đến bây giờ - hãy suy ngẫm. Đây là
thiền định, thiền định có tính chất phân tách. Lúc ấy,
tâm thức của tôi như vậy đó ; bây giờ thì tâm thức tôi
như thế nầy. Tâm thức thay đổi khi vầy, khi khác. Anh thấy
đó, tâm thức của anh thay đổi rất nhiều lần, nhưng mà
anh cũng vẫn chưa biết rõ việc gì sẽ mang lại chân hạnh
phúc cho anh. Giải thích của tôi về việc nầy là … anh đã
sai lạc rồi. Tôi không cần biết anh biết đường đi nước
bước ở thành phố, anh biết đường về nhà, biết rõ chỗ
nào để mua kẹo ; nhưng mà tôi biết, anh đang sai lạc ; anh
không thể tìm thấy mục đích của mình. Hãy xem xét lại
một cách chân thật, anh sẽ thấy tôi nói đúng.
Bởi
vậy, đức Phật nói, anh chỉ cần biết anh là gì, tại sao
anh hiện hữu ; thế là đủ. Anh không cần làm gì khác nữa.
Chỉ là hiểu rõ tâm thức của chính mình : nó hoạt động
ra sao ; làm thế nào mà ham muốn, bám víu xuất hiện ; tại
sao có mê lầm ; các cảm xúc từ đâu tới. Chỉ cần biết
bản chất thật của mọi thứ ấy ; chỉ cần như vậy đã
đủ mang lại cho anh hạnh phúc, và an lạc. Cuộc sống của
anh thay đổi hoàn toàn ; mọi vật sẽ bị đảo lộn ; cái
mà anh cho rằng ghê tởm sẽ trở nên đẹp đẽ. Việc nầy
thật sự có thể xảy ra.
Tôi
chắc chắn rằng nếu như tôi nói với tất cả các vị là
các vị chỉ sống cho kẹo sô-cô-la và kem, các vị sẽ nghĩ
là tôi điên rồi. Không, không, không, tâm thức
ngạo mạn của các vị nói thế. Nhưng hãy nhìn sâu vào mục
đích cuộc sống của các vị. Các vị ở đây làm gì ? Để
được tiếng khen ? Thâu gom tài vật ? Cố gắng làm đẹp
? Tôi không phóng đại đâu – các vị hãy tự suy xét, và
rồi các vị sẽ thấy. Xuyên qua sự khảo sát kỹ càng, các
vị sẽ thấy rõ rằng nếu nguyên cuộc sống của các vị
là để tìm kiếm hạnh phúc, qua các vật như kẹo và kem,
như vậy, cuộc sống làm người của các vị đâu có ý nghĩa
gì. Loài chim và chó cũng có thái độ tương tự về cuộc
sống. Nếu các vị nghĩ rằng các vị thông minh, như vậy
các vị hãy cống hiến cuộc sống của các vị cho những
mục đích cao cả hơn mục đích của những con gà !
Tôi
không quyết định cuộc sống của anh, nhưng anh phải tự
kiểm điểm lại. Thà là sống một cuộc sống hợp nhất
còn hơn là sống trong sự rối loạn tinh thần. Mặt khác,
cuộc sống của anh không đáng giá, không ích lợi gì cho mình
hay tha nhân. Hãy tự hỏi, vậy anh sống cho cái gì – cho kẹo
sô-cô-la à ? Thịt nướng ? Có thể là học vấn. Nhưng mà
học vấn cũng đến từ tâm thức. Không có tâm thức, cái
gì là học vấn, cái gì là triết lý ? Triết lý là cách suy
nghĩ của một người, cách gom góp những ý nghĩ lại theo
phương thức nào đó. Không có tâm thức, thì cũng không có
triết lý, không có giáo điều, không có môn cao học nào.
Tất cả mọi thứ nầy đều xuất phát từ tâm thức.
Làm
thế nào để kiểm soát tâm thức ? Chỉ cần quan sát cách
tâm thức nhận thấy và hiểu biết về một đối tượng
nào đó mà nó giao tiếp ; - cảm giác gì – thoải mái hoặc
khó chịu – xuất hiện. Kế đó, anh xem lại : Khi tôi nhận
biết hình ảnh nầy, cảm giác xuất hiện ; xúc cảm hiện
hữu ; tôi phân biệt được bằng cách nầy, tại sao vậy
? Đây là cách để xem xét tâm thức, chỉ có như vậy ; rất
đơn giản.
Khi
anh xem xét tâm thức của chính mình một cách đứng đắn,
anh sẽ thôi không đổ lỗi cho người khác ; anh hiểu rằng
các hành động xuất phát từ tâm thức vẩn đục, lừa dối.
Khi anh bận rộn lo lắng về vật chất, những vật bên ngoài,
anh hay đổ lỗi cho vật hay người về những trở ngại mà
anh gặp phải. Sau đó, anh khổ sở vì kế hoạch của anh dựa
vào hiện tượng bên ngoài, hơn là nhìn rõ các vật ấy đúng
theo thực chất của chúng. Như vậy, anh có thể hiểu
rõ cái nhìn của anh chỉ là khái niệm mơ hồ - thái độ,
hoặc bản chất tự nhiên của chính tâm thức anh.
Anh
có thể cho rằng mọi thứ thật là mới lạ đối với anh,
nhưng không phải vậy. Bất cứ lúc nào, khi anh bắt đầu
làm việc gì, đầu tiên hãy xem xét có nên làm hay không, và
rồi sẽ quyết định. Nếu như anh đã làm qua rồi, tôi sẽ
cho anh một cách mới ; sự khác biệt là anh thực hành chưa
đủ. Anh cần phải xem xét kỹ hơn. Để làm điều nầy, anh
không cần phải ngồi trong góc một mình – anh có thể xem
xét tâm thức của anh bất cứ lúc nào, kể cả khi nói chuyện
hay làm việc với những người khác. Cũng vậy, anh không nên
nghĩ rằng khảo sát tâm thức là việc dành riêng cho những
người đi du lịch ở Á châu. Đừng nên nghĩ như vậy.
Anh
cũng nên biết thực chất của tâm thức rất khác biệt so
với thịt xương của cơ thể vật lý. Tâm thức giống như
một tấm gương soi, phản chiếu mọi thứ không phân biệt.
Nếu như anh có sự hiểu biết sáng suốt, anh sẽ điều khiển
được phản ảnh nào mà anh muốn nó hiện diện ở cái gương
tâm thức. Nếu như anh hoàn toàn không biết điều gì đang
xảy ra nơi tâm thức của anh, cái gương ấy sẽ phản ảnh
lại tất cả mọi thứ rác rưởi – những thứ có thể làm
cho anh bệnh hoạn về mặt tâm lý.
Sự
xem xét sáng suốt của anh sẽ giúp anh phân biệt được những
phản ảnh nào có lợi, và phản ánh nào có thể mang đến
những trở ngại về mặt tâm lý. Dần dà, khi anh hiểu rõ
thực chất của chủ thể và khách thể, tất cả vấn đề
của anh sẽ tan biến.
Một
số người nghĩ rằng họ rất mộ đạo, nhưng cái gì là
mộ đạo ? Nếu anh không khảo sát bản chất thật của chính
mình, không đạt được trí tuệ, thì anh mộ đạo cách nào
đây ? Chỉ là ý nghĩ cho rằng anh mộ đạo – Tôi đạo Phật,
Do Thái – chẳng giúp ích gì hết. Nó cũng chẳng giúp gì
cho anh; và cũng không giúp được người khác. Nếu anh
có trí tuệ, anh có thể thật sự giúp đỡ mọi người.
Vấn
đề lớn nhất của nhân loại thường nghiêng về tâm lý
hơn vật chất. Từ khi sinh ra đời cho đến khi chết, con người
luôn bị điều khiển bởi các nỗi khổ tinh thần. Một số
người không bao giờ chịu để ý đến tâm thức của họ
khi mọi việc ổn thoả, nhưng khi có chuyện – một tai nạn
hoặc một chuyện ghê gớm nào đó xảy ra – họ liền nói,
Thượng đế, xin hãy giúp con. Họ cho rằng họ sùng đạo,
nhưng thật ra họ chỉ đùa vui thôi. Trong hạnh phúc hay buồn
phiền, một người thực hành cần mẫn vẫn giữ được ý
thức kiên định và bản chất chân thật của thượng đế.
Anh không thực tế và không sùng đạo khi anh quên chính bản
thân mình trong lúc anh bận rộn hưởng thụ các thú vui trần
thế, và anh chỉ quay lại với thượng đế khi có việc không
may xảy ra. Chắc chắn là thượng đế không giúp nổi rồi.
Có
rất nhiều tôn giáo hiện hữu mà chúng ta đã biết qua, sự
giải thích của họ về thượng đế hoặc phật hoặc gì
gì đi nữa, cũng chỉ là những chữ đơn sơ bắt nguồn từ
tâm thức ; chỉ có vậy. Do đó, những chữ nầy không quan
trọng lắm.
Quan
trọng là anh hiểu rõ mọi vật – tốt và xấu ; tất cả
các loại triết lý hay giáo điều – đều bắt nguồn từ
tâm thức. Tâm thức rất hùng cường ; vì vậy nó cần có
một sự hướng dẫn chắc chắn. Một chiếc phi cơ mạnh mẽ
cần một phi công giỏi ; phi công tâm thức của anh cần có
sự hiểu biết sâu sắc, cần có trí tuệ về mặt tâm thức.
Khi ấy, năng lực mạnh mẽ mới có thể được hướng dẫn
làm lợi ích cho cuộc sống hiện tại, hơn là để nó chạy
nhảy mặc sức như một con voi điên, vì nó sẽ làm thương
tổn đến chính bản thân anh cũng như những người chung quanh.

LỜI
KHUYÊN THÍCH ỨNG CHO CÁC THIỀN SINH
(PRACTICAL
ADVICE FOR MEDITATORS) The Wheel Publication No. 116
Copyright
of 1986 Buddhist Publication Society
Bhikkhu
Khantipalo - Dịch Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
NỘI
DUNG
*
Lời nói đầu
*
Hai dòng thiền
*
Lời khuyên hữu ích cho thiền sinh
*
Sự hoàn hảo siêu phàm vĩnh cữu
*
Lòng kiên nhẫn và sự hoàn hảo của nó
*
Năng lượng và sự hoàn hảo của nó
*
Sự tập trung và sự hoàn hảo của nó
*
Những nguy hiểm đối với việc thiền định
*
Phụ lục : 40 bài thực tập thiền định
*
Ghi chú
LỜI
NÓI ĐẦU
Những
trang sau đây là những phần mới được thêm vào cho quyển
sách – "Đạo Phật là gì ?" in lần thứ hai. Vì có nhiều
người rất hâm mộ việc thực tập thiền và cũng có một
số người tách rời khỏi nguồn truyền thống sống động
nầy, và hy vọng rằng những điều sau đây sẽ có giá trị
cho những người thực tập thiền, ngoài những quyển sách
bổ sung.
Khi
chúng ta muốn thực tập thiền, chúng ta phải có những lý
do chánh đáng cho sự thực tập nầy. Thiền — một định
nghĩa hay hơn từ Samadhi, là sự bình thản — chỉ là một
khái niệm thực tập Phật giáo, một điều cần thiết, để
thành công cần phải kèm theo những thực tập khác như lòng
quảng đại, sự dịu dàng, không bạo động, kiên nhẫn, vui
vẻ và nhún nhường.
Nếu
những điều tốt nầy không có nơi một thiền sinh thì đúng
là có điều gì không ổn, và chỉ có một người dại dột
mới ráng tiếp tục thực tập.
Sự
bình thản tự chủ luôn dựa trên nền tảng căn bản đạo
đức (sila) và một người không thể nào thành công nếu họ
không chịu giữ gìn giới luật.
Những
dấu hiệu của "sự tiến bộ" nơi lòng tự chủ không phải
là những cảnh tượng khác thường, những cảm giác kỳ lạ
(mặc dù những điều này có thể xuất hiện khi thiền sinh
có sự tiến bộ trong việc thực tập), nhưng mà là một sự
bình an hài hoà trên con đường đạo. Nếu một người thực
tập không có thầy thì cần phải thật cẩn thận. Nếu không,
một người không bao giờ biết được mình đang đi trên con
đường chánh pháp hay tà pháp.
Bài
tiểu luận nầy được trích ra từ quyển sách "Buddhism Explained"
(Phật giáo giải nghĩa) in lần thứ hai (sửa chửa và bổ
túc) của quyển sách "What is Buddhism?” (Đạo Phật là gì
?) ấn bản của The Social Science Press (Báo Khoa Học Xã Hội)
ở Thái lan, Phya Thai Road, Chula soi 2, Bangkok.
--Bhikkhu
Khantipalo
HAI
DÒNG THIỀN
Có
hai dòng thiền Phật giáo, cho dù trong khi thực tập hai dòng
thiền nầy được xem là bổ túc lẫn nhau.
Rất
lợi ích cho một số người có tư tưởng năng động, luôn
bị phân tán bởi những ý tưởng lăng xăng lộn xộn. Tư
tưởng là một chuỗi dự kiện tinh thần, xuất hiện và biến
mất một cách nhanh chóng.
Mỗi
một dự kiện là một tư tưởng đầy đủ với những yếu
tố tinh thần, cho nên trong lúc ban đầu cái tư tưởng, cái
tâm trí là "sự chú ý" và nó quan sát những "tư tưởng" khác
(tất cả chỉ là một sự tiếp diễn không ngừng nơi phần
tinh thần của một người). Nhờ vậy một người mới dần
phát triển được khả năng quan sát tâm trí, tư tưởng, để
xem nó đi đâu. Đi về quá khứ, hiện tại hay tương lai. Có
phải nó đang nghĩ đến vật chất hay cảm giác, hoặc đang
nhận thức, hay đang ham muốn, hoặc là nó biến mất nơi ý
thức ?
Bằng
phương thức đặt câu hỏi rằng “Nó đã đi đâu?”. Sự
phân tán nơi tinh thần sẽ từ từ được kiểm soát cho đến
lúc “sự chú ý” hay “chánh niệm” trở nên nền tảng
vững vàng cho việc hành thiền tiếp tục.
Tâm
trí cần được huấn luyện và phát triển theo cách thực
tập nầy, nhưng nó phải được quân bình bởi sự tỉnh lặng
thấm nhuần. Khi tinh thần trở nên yên tịnh thì một người
nên bắt đầu thực tập thiền (jhana), và đây là bước đầu
cho trí tuệ xuất hiện. Phương cách nầy gọi là "trí tuệ
đưa đến tỉnh lặng”.
Những
cách thực tập khác dành cho những người mà tinh thần ít
bị giao động, bao gồm bốn mươi đề tài cổ điển về
thiền (xem phần phụ lục); và những đề tài thiền nầy
cộng với những cách thực tập khác phát triển hơn, dựa
vào một đối tượng để làm đề tài cho sự tập trung.
Có
thể là thân thể của chúng ta, hay một phần thân thể, màu
sắc của một bức tranh, một chữ hay một câu, và sự suy
ngẫm trừu tượng, vân vân và vân vân. Tất cả những phương
thức nầy kèm theo sự rèn luyện về tinh thần một cách kỹ
càng nhưng vừa phải . Lúc mà tư tưởng chạy sang chỗ khác
thì phải từ tốn kéo nó trở về (bằng chính niệm) để
tiếp tục tập trung vào vào đề mục đã chọn.
Nhiều
người lầm tưởng và cho rằng thực tập như thế nầy thì
nhất định sẽ có được sự tỉnh lặng ngay lập tức. Họ
sẽ ngạc nhiên khi bắt đầu thực hành, vì họ sẽ nhận
thấy có nhiều trở ngại hơn họ nghĩ. Lúc đầu là như vậy,
vì có bao giờ họ chịu kiểm soát tư tưởng của họ đâu.
Kế đó, lúc bắt đầu thực hành cũng giống như lấy một
khúc cây khuấy nước đọng trong ao, hoặc khơi đống lửa
tro. Tư tưởng như con voi rừng, quen chạy rong trong khu rừng
ham muốn, sẽ không dễ gì để bị huấn luyện, không dễ
gì bị cột lại. Nhưng với sự chuyên cần và chú tâm, dần
dần ta có thể dùng dây chính niệm để cột voi lại, và
kết quả là ta sẽ được sự tỉnh lặng.
Bốn
mươi đề tài nói trên nằm trong cách thực tập thứ hai,
mà khi đã có được sự yên tịnh nhờ vào thực tập thì
trí tuệ sẽ xuất hiện. Vì thế được gọi là "tỉnh lặng
đưa đến trí tuệ”, và các bài tập nầy rất quan trọng
trong thời buổi hiện tại điên cuồng ngày nay. Để hiểu
rõ thêm, một người nên tìm đọc Path of Purification (Con đường
thanh lọc – Visuddhi-magga, bản dịch), cho dù quyển sách nầy
cho ta một kiến thức vĩ đại , nó cũng không thể thay thế
được sự liên hệ trực tiếp giữa thầy và trò.
Lời khuyên
hữu ích cho các thiền sinh
Từ
quan điểm tâm lý đến thực hành, sự thiền định dành cho
giới cư sĩ có thể được chia ra làm hai thành phần : nỗ
lực thực hành và thực hành trong sinh hoạt hàng ngày. Nỗ
lực thực hành cũng có hai phần : ngồi thiền mỗi ngày hay
đôi khi ẩn cư (retreat).
Ngồi
thiền mỗi ngày
Trước
hết, chúng ta bàn về việc nỗ lực thực hành thiền mỗi
ngày. Có nghĩa là ngày nào cũng ngồi thiền vào một giờ
nhất định. Cần phải cẩn trọng đừng nên ngồi thiền
như một nghi lễ, mà phải luôn tự nhủ vì lý do nào mà ta
phải thực hành thiền. Những ý kiến sau đây là những gợi
ý hữu ích.
Nói
về phần vật chất thì nơi thực hành thiền cần phải yên
tịnh. Nếu có được một phòng nhỏ dành cho việc hành thiền
thì thật là tốt. Dù sao thực hành thiền một mình vẫn hay
hơn trừ khi những người trong gia đình đều cùng thực tập.
Một người cần chắc chắn rằng tinh thần của chính mình
phải trong sạch trong liên hệ với người chung quanh, như không
tham lam, sân hận, vì những độc chất này sẽ cướp mất
kết quả của sự hành thiền.
Muốn
yên tịnh, hay nhất là nên dậy sớm để hành thiền trước
khi những người khác thức dậy. Hơn nữa, lúc sáng sớm là
lúc tâm trí thoải mái nhất và cơ thể không bị mệt mỏi.
Một thiền sinh hết lòng thực tập sẽ luôn thực hành thiền
vào những giờ nhất định, vì biết rằng chỉ cần đủ
giờ ngủ nghỉ thì thân thể sẽ thoải mái và tỉnh táo hơn.
Sau
khi thức dậy và làm vệ sinh xong thì nên ngồi thiền với
bộ đồ sạch và thong thả. Cũng nên có một bàn thờ nhỏ
với những hình ảnh Phật, nhưng cũng không cần thiết lắm.
Vài người khác thì dâng hoa cúng Phật, thắp hương trong sự
tỉnh thức cao độ.
Trong
những nước Phật giáo thì thiền sinh thầm niệm "Namo tassa
bhagavato arahato samma-sambuddhassa", (Nam-mô Bậc ứng cúng, chánh
biến tri, bậc giác ngộ viên mãn) khấn nguyện về ba nơi
nương tựa và những giới cấm.
Nếu
một người thuộc những lời kinh tán thán Phật, Pháp, Tăng
bằng tiếng Pali thì cũng nên niệm những lời nầy trong khi
hành thiền.
Một
điều hữu ích khác quan trọng cũng không kém là sự suy ngẫm
về những lời tụng niệm, vì chúng giúp ta suy ngẫm thêm
về chân lý của pháp (dhamma).
“Được
may mắn có thân người, tôi có hai trách nhiệm trong pháp giới
: lợi ích cho chính bản thân và lợi ích cho những người
khác. Những chúng sinh khác dù là người hay không phải người,
có hình thể hay không có hình thể, lớn hay nhỏ, xa hay gần,
tôi sẽ đối xử với tất cả chúng sinh bằng sự dịu dàng,
tử tế và mong rằng tất cả đều được an lành. Mong cho
tất cả đều hạnh phúc…!
Tôi
sẵng sàng giúp đỡ khi thấy họ đau khổ, và sung sướng
với họ khi thấy họ hạnh phúc. Mong sao cho tôi phát triển
lòng bình đẳng, không phân biệt, có một tâm trí luôn thăng
bằng để không bao giờ tức giận !
Trong
lúc lo cho kẻ khác, tôi sẽ không quên sự tiến triển của
chính mình trên con đường giáo pháp. Mong sao cho tôi nhận
biết được mình đang bị gió nghiệp nào lôi kéo vì đã
nhiều lần đau khổ triền miên trong sinh tử!
Tôi
cũng nên biết rằng cuộc sống nầy là ngắn ngủi và tạm
bợ. Tâm trí và thân thể luôn đổi thay trong từng giây phút.
Cả tâm trí lẫn thân thể nầy không phải của tôi hay là
tôi. Và nhận thấy rằng tâm trí hay bị dao động vì những
khó khăn xảy ra trong cuộc sống ngắn ngủi nầy. Vì si mê
và đầy ham muốn, tôi cần phải biết rằng cái chết là
điều không thể tránh khỏi, già và bệnh là những việc
tự nhiên phải đến. Tôi phải cố gắng để biết rằng
cái người được gọi là "Tôi", chỉ là một tập thể của
tinh thần và vật chất và ở đó không có một thực thể
nào gọi là linh hồn hay cái ngã thực sự hiện hữu.
Mong
sao cho tôi thấu hiểu được rốt ráo ý nghĩa của vô thường
và vô ngã. Mong sao cho tôi được ở trong hư vô! Và giác ngộ
được chân lý cao tột để sau nầy có thể dẫn dắt được
những người khác! ”
Khi
ngồi thiền, nên giữ thân thể thẳng nhưng thư thả. Không
nên cứng ngắt, bó buộc, đầu không nên gục xuống, thắt
lưng phải thẳng. Thân thể phải yên tỉnh và thăng bằng.
Mặc dù tư thế kiết già là tốt nhất khi thiền sinh ngồi
trên một gối đệm nhỏ, có thể dùng ghế cho những người
không thể hoặc không quen ngồi kiết già. Ngồi kiết già
hay bán kiết già sẽ dễ nếu có một gối cứng để dưới
bàn toạ. Đầu gối sẽ đụng đất và ba điểm tựa vững
chắc (hai đầu gối và bàn toạ) sẽ làm cho việc ngồi thiền
được dễ dàng.
Mỗi
ngày, một người nên ngồi thiền trong một thời gian nhất
định, cho đến khi có được sự tập trung kha khá, lúc ấy
ta nên kéo dài thêm thời gian ngồi thiền. Có người đốt
một nén nhang để đo thời gian ngồi thiền. Ngồi cho đến
khi nén nhang tàn. Để hai tay theo tư thế thiền, mắt có thể
nhắm hay khép hờ tuỳ ý.
Có
nhiều cách thức được sử dụng để tập trung tâm trí,
và hai cách thiền chánh đã được nhắc đến như trên. Những
cách thức khác như lặp đi lặp lại một chữ hay một câu
và có thể dùng xâu chuỗi. Nếu thiền sinh chú ý vào hơi
thở, thì có thể dùng chữ "Buddho", hoặc "Araham" để làm
yên tịnh tinh thần. Thì thầm lặp lại âm tự đầu khi hít
vào và chú tâm vào âm tự sau khi thở ra. Cũng như đếm hơi
thở ( từ một đến mười - thường không đếm hơn số mười,
vì tâm trí sẽ dễ chạy loanh quanh) để giữ sự tập trung.
Nhưng
các phương cách nầy cần được bỏ đi khi ta bắt đầu có
được sự tập trung cao. Khi thực tập vào một câu thì xâu
chuỗi được sử dụng để đánh dấu mỗi câu bằng một
hạt trên chuỗi.
Sự
thực tập thiền được tiến triển tốt đẹp khi sự tập
trung vào một đối tượng được gia tăng. Nhưng cũng không
nên cho rằng thực tập thiền là vô ích khi có những lúc
ta bị xao lãng, lo ra hay buồn ngủ. Đây là những trở ngại
cần phải đối diện. Và nếu nó được nhận diện bằng
sự chú tâm, không phải bằng sự bực bội hay chán nản,
thì những khó khăn nầy sẽ được khắc phục.
Để
thành công, điều cần thiết là ta phải luôn cố gắng kiên
trì và quân bình.
Khi
xả thiền, ta nên tụng một bài kinh và hồi hướng công đức
cho tất cả chúng sanh. Trong lúc nầy, nên tụng Kinh Từ Bi
– Metta Sutta (Bài kinh về lòng từ) , vì bài kinh không dài
nên rất dễ nhớ.
Vì
có nhiều cách tụng, cho nên nếu có được một cuộn băng
của bài kinh nầy được đọc tụng bởi các thầy thì rất
tốt.
Trong
vấn đề tụng kinh, việc hữu ích là nên biết rằng một
vài bài giảng của Đức Phật được nói ra bằng ngôn ngữ
cổ điển của Phật giáo.
Một
khi tâm trí bị phân tán thì bài kinh tụng có thể giúp một
người trở lại sự chú tâm. Vào những lúc bị xao lãng ,
thiền sinh không nên thất vọng nhưng nên tiếp tục ngồi
và tụng những bài kinh cho chính mình nghe. Đây là một cách
thực tập của các thầy ngày hai lần để phát triển tinh
thần. Đồng thời cũng là cách củng cố niềm tin và để
quân bình trí tuệ.
Một
cách thực tập khác là thiền hành, có thể được thực tập
ngay trong nhà hay trong vườn. Chiều dài khoảng hai mươi hoặc
ba mươi bước là đủ, vì nếu khoảng cách dài hơn tâm trí
sẽ chạy nơi khác, và nếu ngắn quá thì sự phân tâm sẽ
dễ gia tăng. Một người nên đi theo nhịp đi bình thường
của mình, hai tay nối nhau để thong thả trước thân. Đến
cuối con đường thì nên quay lại theo chiều kim đồng hồ.
Vài
lời tâm nguyện cũng rất cần thiết cho việc thực tập.
Không có một người Phật tử thành tâm nào mà không thực
tập thiền. Để tâm thực tập thiền, người đó phải có
những lý tưởng Phật giáo trong tâm. Nhờ nương tựa vào
giáo pháp, người Phật tử sẽ dễ vượt qua những trở ngại
trong lúc thực tập. Bất cứ một trở ngại nào xảy đến
đều bị khuất phục nhờ vào sự thành tâm của người thực
tập. Nếu trên bước đường tu tập, thiền sinh nhận thấy
bị bít lối, sự tu tập không tiến bộ, và người nầy không
có một vị thầy bên cạnh. Họ không nên chán nản, hay bỏ
cuộc, mà phải nghĩ rằng : "Tôi đang nhận lấy những quả
không tốt mà tôi đã gieo trong quá khứ". Và rồi người nầy
nên nhớ lại lời cuối của đức Phật : "Tất cả những
gì giả hợp đều sẽ tan rã. Với chánh niệm, các người
hãy tinh tấn". Tất cả những khó khăn cũng là những giả
hợp và rồi chúng sẽ thay đổi, trong lúc nầy hãy mãnh liệt,
tận tâm sử dụng chánh niệm để nhận thấy sự thật nầy.
Nếu
một người không mệt lắm sau một ngày làm việc và có cơ
hội vào buổi tối, hoặc một lúc nào đó rảnh rỗi thì
nên ngồi thiền. Dẫu sao đi nữa, nên tập có thói quen ngồi
thiền trước khi đi ngủ. Nên nghĩ rằng : “một khi ta đã
nằm xuống thì chắc gì ta sẽ lại thức dậy". Vì thế, một
người có thể nằm xuống để chết và cách nầy là cách
hay nhất để nhắc nhở ta loại bỏ những tánh xấu và để
thực tập tỉnh thức.
Nếu
một người thực tập điều nầy, “nằm xuống để chết”,
cách nầy rất hay để tập cho ta sẵn sàng cho cái chết có
thể đến bất cứ lúc nào trong tương lai. Để giúp ta dần
dần từ bỏ, không bám víu vào những gì không thuộc về
mình, chẳng hạn, thân và tâm nầy.
Một
câu kinh hay một chữ nào trong giáo pháp đều có thể được
sử dụng, lặp đi lặp lại nhiều lần trước khi đi vào
giấc ngủ. Bằng cách nầy, một người bắt đầu và kết
thúc một ngày bằng sự thực tập giáo pháp của đức Phật.
Ngoài
việc thành tâm thực tập cả ngày, đâu có gì tốt hơn nữa
?
Ẩn
cư
Cách
thực tập cao độ là sự ẩn cư. Một thiền sinh sốt sắng
có thể đi ẩn cư nếu những tiện nghi cho phép. Ở phương
tây chỉ có vài nơi để thực tập.
Điều
quan trọng là làm sao nhận được lời chỉ dẫn trực tiếp
nơi một vị thầy có kinh nghiệm (sách chỉ là bước đầu,
vì đôi lúc kể cả có thầy cũng vẫn chưa đủ). Một khi
tìm được vị thầy rồi thì một người phải hết lòng
chuyên cần để thực tập và để thể nghiệm lấy những
gì mình đã học được.
Nếu
một người có được một vị thầy và có điều kiện để
thực tập thì người nầy là người may mắn nhất.
Nhiều
người sẽ không có cơ hội có được một người thầy,
và vài người khác sẽ cố gắng đi ẩn cư để thực tập
thiền ở vài nơi yên tịnh của miền quê. Chỉ nên thực
hành việc ẩn cư khi mà thiền sinh đã được sự chú tâm
cao. Nếu không thì việc ẩn cư sẽ không có lợi ích, đôi
lúc còn có vẻ tăng cường những trần cấu tinh thần.
Sinh
hoạt hàng ngày
Đã
có rất nhiều bài viết về những cách thực tập thiền khác
nhau. Sau đây là những lời chỉ dẫn. Trước hết, một người
không nên tự dối mình khi nói về sự chú tâm. Không lợi
ích gì khi mình tự dối mình và những người khác là cuộc
sống của mình là thiền trong sinh hoạt hàng ngày — trừ
khi một người đã có được sự chú tâm cao độ. Chỉ có
những người từng ngồi thiền trong nhiều năm và giữ giới
như những tu sĩ thì mới có thể nói họ sống với "Thiền"
trong sinh hoạt hàng ngày; mà nếu thật sự có như thế thì
thông thường người nầy cũng không nói điều nầy ra cho
người khác biết. Từ chối không cho sự hãnh diện có cơ
hội để làm méo mó trạng thái của tâm thức, một người
nên giữ quân bình và biết chấp nhận giới hạn của chính
mình. Và đây là một bước lớn để tiếp tục thực tập.
Nếu một người cư sĩ tự nghĩ rằng mình là một vị A-la-hán
thì điều nầy sẽ ngăn cản bước tiến của mình; trong khi
một người thành thật thì ít ra cũng có được sự hiểu
biết để trở nên khiêm tốn hơn.
Nếu
không có chính niệm, thì khó lòng có hy vọng sống được
với thiền trong sinh hoạt hàng ngày. Những việc bình thường
vẫn có thể trở nên những đề tài cho sự thực tập thiền.
Chính niệm là sự chú tâm, biết mình đang làm việc gì ngay
trong hiện tại. Chẳng có gì thú vị hết cho nên cần phải
có sự cố gắng lúc ban đầu để tránh không đánh mất “chính
niệm”. Thường khi nào muốn tránh những cảnh nhàm chán
hay việc gì không thích hợp thì chúng ta hay hướng về những
thế giới không tưởng, nghĩ về quá khứ hoặc tương lai
và trốn tránh hiện tại. Nhưng nếu một người thật sự
muốn hiểu rõ về mình, thì những việc nói trên không có
lợi ích gì hết, bởi vì nó được tổng hợp bởi những
ảo tưởng, như sợ hãi, si mê. Trong khi chúng ta thực hành
thiền một cách nghiêm ngặt thì chính niệm có thể theo dõi
tất cả những gì đang xảy ra trong tâm trí; trong công việc
hàng ngày, ta nên đem chính niệm đến với việc làm của
chúng ta. Một người không nên "gởi" tâm trí đi lông bông,
không để nó mơ tưởng về quá khứ hoặc tương lai. Đức
Phật ngày xưa có nói như sau :
"Quá
khứ như một giấc mơ,
Tương
lai tựa ảo tưởng
Trong
khi hiện tại như đám mây”.
Sự
so sánh nầy rất cần thiết để giữ sự chú tâm, vì tâm
trí hay chạy lăng xăng. Sự thực tập thiền giúp cho tâm trí
“nằm trong” cơ thể, nghĩa là luôn có sự chú tâm, nhận
biết về một việc gì. Chỉ có người thiền sinh hết lòng
mới thấy được lợi ích của việc thực tập. Bởi vì sự
thực tập nầy cắt đứt mọi hứng thú đối với bên ngoài,
và làm ngưng bặt sự suy nghĩ viễn vong.
Cái
hay của chính niệm là giúp ta tìm thấy được sự hứng thú
trong công việc hàng ngày. Mỗi ngày qua đưa chúng ta gần kề
với cái chết và cho dù với sự tái sinh ta cũng không biết
mình sẽ đi về đâu.
Chỉ
có hiện tại cho chúng ta cơ hội để thực tập giáo pháp
thay vì sống trong ảo tưởng hay chán ghét những gì mình không
thích (hoặc dễ dãi với lòng tham của chính mình), với chính
niệm, chúng ta có thể chuyển hướng những thói quen cũ. Không
phải bị kềm chế bởi tham lam hay sân hận, và không bị
thống trị bởi những ảo tưởng, chỉ có chính niệm mới
có thể đưa chúng ta đến con đường giải thoát.
Trong
sự thực tập hàng ngày, chúng ta phải để chính niệm có
mặt luôn luôn để giúp chúng ta dần dần tách khỏi sự ràng
buộc. Chúng ta cũng nên khôn ngoan lợi dụng những cơ hội
“nghịch” như : chờ đợi xe lửa hay xe buýt, trong lúc chờ
đợi ai, bất cứ lúc nào ta một mình trong vài phút. Thay vì
chúng ta đọc báo, nói chuyện điện thoại, hay tán dóc với
người khác, sẽ có lợi ích hơn nếu chúng ta cho tâm mình
được "nghỉ ngơi".
Tách
rời sự chú tâm khỏi những vật bên ngoài, tập hít thở
trong chính niệm, hoặc lặp lại những câu trong giáo pháp,
hoặc những chữ như "Buddho" (Phật) hoặc "Arahat" (A-la-hán),
làm như vậy cho đến khi chúng ta trở lại với công việc
của mình. Trở về bên trong thường thường là một việc
làm hết sức lợi ích, nó giúp ta củng cố việc ngồi thiền,
và ngồi thiền giúp chúng ta vững mạnh hơn về khả năng
quay lại bên trong.
Chú
tâm vào hơi thở là một cách tập trung rất tốt trong lúc
chúng ta đi du lịch hoặc đang chờ xe buýt hay xe lửa.
Tại
sao ta phải hấp tấp và thiếu kiên nhẫn ?
Một
chút thực tập về hơi thở nên dành cho những lúc như thế
nầy, chú tâm vào hơi thở giúp tâm trí ta bớt lăng xăng và
giúp cho cơ thể ta bớt dao động. Một du khách phải cứ nhìn
ra cửa sổ trong lúc phi cơ đang bay!
Tại
sao ta phải làm nô lệ cho cặp mắt trong khi một chút thực
tập có thể lợi ích hơn. Một người không cần phải nghe
những người chung quanh tán ngẫu, tại sao lại làm nô lệ
cho "lỗ tai" ? Người ta không thể đóng hai tai lại, nhưng
ai ai cũng có thể đem sự chú tâm của mình vào việc thực
tập chính niệm.
Cũng
chính là chính niệm giúp cho ta tập trung trong lúc ngồi thiền.
Chẳng hạn như ham muốn nhục dục có thể bị tan biến khi
ta nghĩ đến sự mục rửa của thây ma. Nhan sắc được ban
tặng cho các cô gái xinh xắn (hoặc anh chàng đẹp trai) trở
nên lố bịch khi ta nghĩ đến những ông bà già có hấp dẫn
ai đâu. Chỉ khi nào ta nhận thấy chính dục vọng sẽ đốt
cháy kẻ ham muốn, lúc ấy ta mới thấy nên từ bỏ nó.
Cũng
như vậy, sự tham ăn dù chỉ chút chút cũng có thể từ bỏ
được khi ta tập trung sự suy nghĩ về những tiến trình của
đồ ăn. Đồ ăn đã nhai rồi dù có bày trên đĩa đẹp cách
mấy cũng chẳng thấy ngon. Ói mửa cũng là những thức ăn
đó nhưng đâu có ai ham. Cả đến phân để trên đĩa bằng
vàng cũng không hấp dẫn được ai – nhưng đây lại là những
gì còn lại của những món ngon đã ăn! Khi một người suy
ngẫm về thức ăn trong ba giai đoạn kể trên, lòng tham ăn
sẽ biến mất, và khi một người ăn, họ dùng thức ăn như
là một phương thuốc để giữ gìn thân thể nầy.
Trong
lúc đang tức giận, chính niệm có trách nhiệm để biết
rằng ta nên đem sự chú ý qua một đề tài khác hay một người
khác. Chính chánh niệm cảnh giác chúng ta khi chúng ta sắp
sửa tức giận, và chính chánh niệm sẽ giúp ta chuyển hướng
và giữ được thế quân bình.
Khi
ganh tỵ xuất hiện, chính niệm giúp ta thấy bằng tâm trí
là "ganh tỵ đang xuất hiện", và nếu ta không vui mừng với
niềm vui của kẻ khác thì chính niệm cũng cho ta biết rõ
điều đó để giúp ta giữ thế quân bình hoặc giúp ta hướng
sự chú ý của mình đến những đề tài khác. Đức Phật
thật sự đã nói, "Chính niệm, ta tuyên bố, rất là lợi
ích ở mọi nơi".
Những
người có ý tưởng lệch lạc cho rằng Phật giáo khuyến
khích sự thiền định cá nhân, cho nên không làm gì lợi ích
cho xã hội. Họ nên hiểu rằng người Phật tử tin là xã
hội có thể tốt hơn, nếu mỗi người biết tự sửa đổi.
Một
xã hội lý tưởng theo người Phật tử, được đức Phật
giảng nói trong những bài pháp dành cho người cư sĩ, và đức
Phật luôn nhấn mạnh sự phát triển của từng cá nhân, nó
quan trọng và là một yếu tố cần thiết.
Một
xã hội lành mạnh là nơi mà có những người dân sống hoà
bình với chính bản thân mình. Sự phát triển về trí tuệ
và từ bi của một người có ảnh hưởng đến những người
chung quanh, như là bột nổi bỏ vào trong bột bánh.
Vì
vậy người Phật tử luôn kêu gọi hãy cố gắng đạt sự
an bình trong tâm mình, một khi mọi người có an bình trong
tâm họ thì hoà bình sẽ có mặt trên thế giới. Nếu chỉ
muốn có hoà bình mà không tự tu tâm thì không làm sao có
được hoà bình miên viễn, vì gốc rễ tham, sân, si vẫn còn
nằm trong tim mọi người. Đó là không thực tế ? Nó chỉ
dành cho những người không thực tập. Những người có thực
tập luôn nhận thấy sự lợi ích của thiền; thiền giúp
họ giải quyết được một số vấn đề trong cuộc sống.
Cho
dù có tham gia nhiều ngày để thực tập thiền, con đường
đưa đến Niết bàn vẫn cần nhiều nỗ lực. Đôi lúc gặp
phải trở ngại trên đường, nhưng với chính niệm làm ngọn
đèn soi sáng, ta hiểu được rằng mục đích của mình là
đáng giá và huy hoàng, không phải chỉ cho riêng ta mà cho tất
cả mọi chúng sanh.
Thiên đường
(Brahma-vihara) và sự hoàn hảo của nó
Con
đường dẫn đến Niết bàn có những nơi chốn gọi là "Thiên
đường”, nơi để ta luyện tập từ dở trở thành hay trên
con đường tu tập giáo pháp.
Như
đã nhấn mạnh ở trên, mục đích là hạnh phúc cho mình và
cho tất cả chúng sanh. Vì thế một người phải hành động
như thế nào để có được một kết quả hạnh phúc.
Trong
trường hợp nầy, một người cần phải đối xử với những
người khác như họ muốn được đối xử. Bởi vì mỗi một
chúng sanh đều quý trọng chính mình,
và
mong ước được hạnh phúc.
Một
người không thể nào có được hạnh phúc riêng rẻ mà không
có nguyên nhân của nó, cũng không thể có được hạnh phúc
khi mà ta đối xử tệ với những người khác, hay những chúng
sanh khác.
Mọi
chúng sanh đều tham sống, sợ chết, đây là một điều rất
thật đối với chúng ta cũng như đối với các sinh vật khác.
Một
người luôn luôn hành động đúng và sống một cuộc sống
từ bi là người thực sự thương chính bản thân mình, vì
họ làm những việc có lợi ích, có hạnh phúc. Những người
khác, cho dù họ nghĩ rằng họ rất thương bản thân họ,
nhưng thật ra họ lại là kẻ thù tệ nhất của chính họ
vì họ làm những việc không có lợi cho họ cũng như những
việc mà kẻ thù của họ muốn làm cho họ.
Phẩm
hạnh tốt dựa trên sự thuần thục của tâm trí, một khi
tâm trí được giải thoát khỏi sự kềm kẹp của tham, sân,
si. Đối xử với người láng giềng như đối xử với chính
mình, nói thì dễ nhưng làm thì khó.
Những
bài giảng của đức Phật có một giá trị đặc biệt là
chỉ cho ta thấy làm thế nào một phương cách được dịch
giảng bằng kinh nghiệm, với phương cách thực tập về thiên
đường nơi tinh thần. Khi chúng ta nói đến “tinh thần”,
chữ nầy không nên được hiểu trong một ý nghĩa nhỏ hẹp
của những tiến trình có tính cách tri thức, nhưng mà bao
gồm tinh thần – và – con tim, tri thức và tình cảm.
Có
bốn trạng thái thuộc về thiên đường : thân thiện, từ
bi, vui vẻ và bình thản. Tất cả những điều nầy, quan trọng
là điều thứ nhất, những thực tập thiền rất phổ biến
ở những đất nước Phật giáo. Tiếp theo là một giải thích
ngắn cho mỗi trạng thái. Lòng thương xót (metta) là một tình
thương không ích kỷ và có thể lan rộng đến tất cả mọi
người.
Điều
nầy sẽ trở nên dễ dàng một khi ta thấm nhuần trong thiền
định, khi mà phẩm chất của sự thân thiện, từ bi trở
nên một phần cá tánh nơi một người. Theo thói thường,
con người chỉ "thương yêu" một số người nào mà họ có
mối liên hệ gia đình, v… v… Một tình thương yêu như vậy
chỉ là sự bám víu của nhục dục, một tình thương bị
hạn chế, và những người đứng ngoài tình thương đó thường
bị làm ngơ hoặc bị ghét bỏ. Như vậy, tình thương yêu
có tính cách nhục dục không những liên hệ với sự bám
víu (tham), mà còn liên hệ với giận hờn (sân) và ảo tưởng
(si), và như vậy người nào cảm thấy hài lòng với tình
thương kiểu nầy, sẽ phải trả một giá rất đắt.
Rất
ít người có được tình thương không bám víu, tình thương
có thể trở nên vô tận và không cần bị thu hẹp trong nhóm
nầy hoặc người nọ. Vì tình thương có thể là vô biên,
không chừa ai hết, và như thế không có liên hệ gì đến
ba độc, tham, sân, si.
Sự
thân thiện, từ bi có thể được phát triển dần dần nơi
sự thực tập hàng ngày của một người; nhưng nếu muốn
nó hữu hiệu, thì cần phải thể hiện nó trong sinh hoạt
hàng ngày. Để làm cho cuộc sống dễ chịu hơn bằng cách,
ban đầu hãy đổi những người trước đây mình ghét thành
những người mình không để ý, và rồi khi sự thực tập
được củng cố, chuyển đổi nó thành đối tượng để
phát huy sự tử tế. Đây là phương thuốc mà đức Phật
đã đề ra để chữa bệnh giận hờn và ghét bỏ. Cuối cùng,
một người cần nên cảnh giác với hai kẻ thù : "một kẻ
thù ''gần '' là sự bám víu có tính cách nhục dục, và thường
bị lầm lẫn gọi là "thương yêu", trong khi kẻ thù ''xa ''
là sự ghét bỏ.
Trong
tiến trình phát triển lòng thân thiện, từ bi, một người
cần phải đề phòng hai trạng thái nầy.
Từ
bi (karuna) là để ý đến những đau khổ của mọi người
trên thế giới. Nó khắc phục sự lãnh đạm thờ ơ đối
với nỗi khổ của chúng sanh. Như thế, lòng từ bi cần được
thể hiện trong cuộc sống bằng cách sẵn sàng giúp đỡ,
và lo lắng cho những người đang khốn đốn.
Đây
có được một lợi ích là làm giảm đi sự ích kỷ bằng
cách thông cảm nỗi khổ của kẻ khác. Đây là phương thuốc
trị bịnh độc ác, vì làm sao một người có thể làm thương
tổn những kẻ khác khi thấy họ đang đau khổ ?
Đây
cũng có hai kẻ thù : "gần" là sự hối tiếc trong khi kẻ
thù "xa" là ác độc. Cùng vui (mudita) là vui với mọi người
khi người thành công, sung sướng. Điều nầy khắc phục thái
độ khó chịu với kẻ khác, và sự ganh tỵ có thể xuất
hiện khi nghe kẻ khác sung sướng.
Nơi
đây trong cuộc sống một người cần phải bày tỏ niềm
vui mỗi khi biết được rằng người khác được lợi ích
về vật chất hay tinh thần. Ở đây, điều lợi ích là mở
rộng lòng đối với kẻ khác, và dẹp bỏ tính giấu diếm.
Một
người phát triển được sự vui vẻ, sẽ hấp dẫn vô số
bạn hết lòng với mình, và với những người bạn nầy hay
những người khác, người nầy luôn sống trong sự hài hoà.
Đây là phương thuốc của đức Phật dành để trị sự ganh
tỵ và tỵ hiềm, và có thể ngăn chận nó phát triển. Hai
kẻ thù của sự vui vẻ là sự sung sướng cá nhân, nghĩ về
những gì mình có được - - đây là kẻ thù "gần"; trong khi
kẻ thù "xa" là sự ghét bỏ, hoặc chán nản .
Sự
bình thản (upekkha) cần được phát triển để đương đầu
với những trạng thái mà một người phải chấp nhận là
mình bó tay, không thể chuyển đổi được gì. Sự bình thản
khắc phục được sự lo lắng và sự xao lãng không cần thiết
về những việc có liên quan đến mình hoặc mình không thể
sửa đổi nó.
Điều
nầy được phản ảnh trong cuộc sống của một người bằng
khả năng đối diện với những tình trạng khốn khó bằng
sự trầm tỉnh với một tinh thần không dao động. Lợi ích
nhận thấy nơi sự phát triển là làm thế nào cho cuộc sống
của một người thêm đơn giản bằng cách rời xa những hoạt
động vô bổ. Đây là thuốc của đức Phật dành để trị
bệnh xao lãng, lo lắng, và nó là kẻ thù của chúng ta ; kẻ
thù "gần" là sự thờ ơ, lãnh đạm, trong khi kẻ thù "xa"
là tham lam, oán giận đưa đến những việc làm không thiện
lành.
Ba
sự hoàn hảo (parami) hoặc phẩm chất được nhiều Phật
tử thực tập và mong được giác ngộ - tiến trình được
trình bày ở đây, và những người nầy cũng tu tập thiền
định.
Kiên nhẫn
(Khanti-parami) và sự hoàn hảo của nó
Kiên
nhẫn là một phẩm chất rất được ca ngợi trong kinh điển
Phật giáo.
Kiên
nhẫn có thể phát triển dễ dàng chỉ khi nào sự bồn chồn
và ghét bỏ đã lắng đọng nơi tinh thần, như lúc đang thực
tập thiền.
Vô
thường có khuynh hướng làm cho một người hấp tấp và như
vậy mất đi rất nhiều cơ hội tốt, đây là kết quả của
việc không có khả năng ngồi yên và để chờ mọi việc
tự nó giải quyết lấy -- đôi lúc nó có thể tự sáng tỏ
mà không cần có người nhúng tay vào. Một người kiên nhẫn
nhận được trái táo rớt sẵn xuống đùi trong khi người
xông xáo lại bị hụt.
Một
khi tinh thần không yên tịnh, vì thiếu kiên nhẫn, nó làm
dao động tinh thần và đem theo những bệnh lo âu của thế
giới thương mại hiện đại.
Sự
kiên nhẫn lặng yên chịu đựng -- là một phẩm chất rất
quý giá trong việc thực tập tinh thần và nhất là trong sự
thực tập thiền định.
Thật
là không hay khi mong đợi sự tỉnh thức tức thời sau năm
phút thiền định. Cà-phê thì có thể nhanh chóng, nhưng thiền
định thì không, và chỉ có hại khi cố gắng muốn đạt
sự tỉnh thức tức thời.
Đã
bao nhiêu năm rác rưới đầy dẫy, một đống rác tinh thần
khổng lồ, và vì vậy khi một người cầm một cái muỗng
rất nhỏ và bắt đầu múc rác, làm sao một người có thể
mong chờ là đống rác biến mất một cách nhanh chóng ? Kiên
nhẫn là câu trả lời, cùng với năng lượng kiên quyết.
Người
thiền sinh kiên nhẫn thật sự đạt kết quả với giá trị
lâu dài; người tìm kiếm "những phương thức nhanh chóng"
hoặc "sự tỉnh thức tức thời" tất phải chịu sự thất
bại lớn bởi thái độ của họ.
Thật
vậy, điều nầy cần được nhận thấy rõ ràng nơi người
đang tìm hiểu về giáo pháp (Dhamma); các bài giảng nầy không
dành cho người thiếu kiên nhẫn.
Người
Phật tử xem cuộc sống hiện tại của mình như là một thời
gian ngắn có thể là tám mươi năm hay hơn nữa, và cuộc sống
cuối cùng là rất xa với các kiếp sống như thế nầy. Hãy
ghi nhớ điều nầy trong tâm, người Phật tử quyết tâm hoạt
động tích cực trong kiếp sống nầy để đạt sự tỉnh
thức càng sớm càng tốt. Nhưng người nầy không đánh giá
quá cao khả năng của mình; người nầy chỉ tiếp tục sống
với giáo pháp từ ngày nầy qua ngày khác một cách kiên nhẫn
và trầm tỉnh. Gấp gáp để đạt sự tỉnh thức (hoặc bất
cứ cái gì đó mà mình mong muốn), giống như một con bò rừng
trong tiệm bán đồ sứ, và như vậy một người sẽ không
thể tiến xa được, trừ khi người nầy có cá tánh rất
đặc biệt để có thể thành công nhanh chóng, và quan trọng
nhất là người nầy phải hết lòng thực tập qua lời chỉ
dạy của một vị thiền sư có kinh nghiệm.
Với
sự kiên nhẫn một người không làm chính mình bị thương
tích, nhưng cẩn thận bước từng bước trên con đường.
Chúng ta biết rằng một vị Bồ Tát rất sáng suốt về điều
nầy, và luôn trau dồi tinh thần với sự hoàn thiện để
tinh thần không bị xáo trộn bởi những việc thông thường
hay xảy đến từ bên ngoài. Vị nầy quyết định là sẽ
kiên nhẫn đối với những tình huống bên ngoài -- không bị
bực bội khi mặt trời nóng quá hay thời tiết quá lạnh,
không bị dao động bởi những kẻ tấn công thân thể mình,
chẳng hạn như các sâu bọ và muỗi. Vị nầy cũng không bị
phiền hà khi bị người chưởi mắng, vu oan hay hành hung mình,
dù trước mặt hay sau lưng.
Sự
kiên nhẫn của vị nầy vẫn không bị hư hao dù thân thể
bị dày vò, chịu những cú đánh, bị đánh bằng gậy hay
bị liệng đá, tra khảo, và có thể bị giết chết; vị nầy
vẫn chịu đựng những điều nầy một cách kiên cường,
vẫn kiên nhẫn, không hề nao núng. Các tăng sĩ Phật giáo
thường được nhắc nhở như vậy để thực tập.
Trong
truyền thống Phật giáo sự hoàn hảo về mặt kiên nhẫn
được nhắc đến nhiều hơn những phẩm chất khác. Bởi
vì trong Truyện Tiền Thân đã hết sức đặc biệt miêu tả
sự kiên nhẫn. Vị thầy Khantivadi (Kiên Nhẫn) - Truyện Tiền
Thân [5] cần được đọc nhiều lần và nó là đối tượng
thường xuyên của sự suy ngẫm sâu sắc. Chỉ một người
đặc biệt cao quý, và trong trường hợp nầy là đức Phật
Gotama, trong một tiền kiếp khi đức Phật là vị thầy Rishi,
chỉ dạy về đức tính kiên nhẫn, đã chịu đựng để cho
vị vua, đang giận tức và say rượu, cắt thân thể ngài ra
từng mảnh. Sự cao quý dịu dàng và sức chịu đựng nầy
chỉ có nơi một vị Bồ Tát và đây là điều cần thiết
cho tất cả những ai muốn đạt đến mục đích tỉnh thức.
Tinh tấn
(viriya-parami) và sự hoàn hảo của nó
Sự
tỉnh thức chỉ được nhận diện khi một người có kiên
nhẫn, vì sự kiên nhẫn không thể có được nếu không có
sự cố gắng. Giáo pháp không bao giờ khuyến khích học thuyết
định mệnh, và người Phật tử chân chánh không bao giờ
nghĩ rằng các việc xảy ra là được quyết định trước
một cách cứng ngắt.
Bằng
chính niệm và tinh tấn, ta có thể chiến đấu được với
thuyết định mệnh. Sự hoàn hảo nầy là bản đối chiếu
với cái trước đó, và được cân bằng do thực tập, những
điều nầy bảo đảm rằng một Phật tử thành tâm, sẽ không
thụ động chấp nhận phải chiến đấu hay gấp gáp giải
quyết sự náo động của chính bản thân hay của kẻ khác,
mà sẽ biết kiên nhẫn.
Bằng
cách cảnh giác, trong thế giới Phật giáo có rất nhiều "phương
cách" hứa hẹn sự phong phú của giáo pháp. Người ta nghe
những lời phê bình như "Cần gì phải học và đọc sách?"
hoặc "Sự phát triển tỉnh lặng thật là mất thời giờ!
Một người chỉ cần phát triển trí tuệ".
Những
quan điểm lệch về một phía không thể hiện được trí
tuệ mà đức Phật nói đến, đức Phật luôn dạy rằng phải
cần thiết có sự phát triển cân bằng nơi tinh thần. Học
tập và sách vở hữu dụng cho những người muốn biết rõ
đức Phật đã nói những gì trước khi bắt đầu chuyên tâm
thực tập.
Một
khẳng định khác là không có trí tuệ thật sự (chỉ là
những ảo tưởng) xuất hiện đối với tâm thức của một
người không có kinh nghiệm về tỉnh lặng. Những quan điểm
lệch lạc như thế nầy thường dựa vào những kinh nghiệm
khác thường của những "vị thầy" tạo ra chúng, điều nầy
thường làm cho một số người bị lạc đường vì ham muốn
những kết quả nhanh chóng, cộng thêm không thích sự khó
nhọc mà ra.
Cần
phải có sự kiên nhẫn để chấp nhận những điều kiện
cần thiết để đạt thành công trong thiền định (như được
trình bày ở đây), và kết quả của sự thất bại chỉ vì
đi sai đường.
Thiền
sinh phải áp dụng hết mình vào bất cứ công tác nào được
giao phó, và phải hoàn thành công việc đó, không biết mệt
mỏi để sẵn sàng bắt tay ngay vào một mục đích mới.
Nói
về sự mệt mỏi, có tất cả là hai loại : một là vì cơ
thể mệt nhoài; và hai là những yếu tố không khéo léo của
biếng nhác và uể oải do tinh thần gây ra.
Trong
khi loại mệt mỏi đầu tiên thì không thể tránh được,
nhưng loại sau chỉ xuất hiện khi gốc rễ của si mê (hoặc
ù lì) trở thành thống trị nơi phần tinh thần. Điều nầy
xảy ra khi có một trạng thái như, cái nầy không thú vị
đối với "tôi", không thích, không muốn và "tôi" muốn chạy
trốn.
Con
người phàn nàn là họ càng lúc càng mệt mỏi khi ngồi thiền
trong lúc thực tập cao độ còn hơn là lúc họ đọc những
sách nặng nề. Khi cái ngã cảm thấy bị đe doạ bởi dự
kiện tự bộc lộ mình, nó liền phóng ra một màn sương mù
uể oải dầy đặc bắt nguồn từ si mê. Ngược lại, nhiều
người thực tập thiền nhận thấy rằng họ không cần ngủ
nhiều như lúc trước, trong khi năng lực trở nên tự nhiên
và không cần sự cố gắng một khi được thực tập và trở
nên hoàn hảo như vị Bồ tát.
Sự
hoàn nảo nầy được miêu tả bằng câu chuyện của người
dẫn đầu đoàn lữ hành, đã mạnh mẽ cứu sống những người
thương buôn, và thú vật được gởi gắm cho ông. Trong lúc
những người khác chịu thua và đầu hàng cái chết khi đoàn
lữ hành lạc đường vào nơi sa mạc và thực phẩm không
còn; người dẫn đầu đoàn lữ hành bắt buộc một người
trong bọn đào đất và tìm được nước. Trong một tiền
kiếp, chính đức Phật Gotama là người dẫn đầu đoàn lữ
hành, cố gắng không phải chỉ vì mạng sống của riêng mình
mà vì tất cả mọi người khác.
Trong
các đoạn kinh Pali các tăng sĩ cũng được nhắc nhở như
là “người dẫn đầu đoàn lữ hành", cho thấy rằng chỉ
có đức Phật hoặc một vị Bồ tát là có khả năng chỉ
dẫn cho những người khác. Nếu chúng ta thực tập một cách
hăng hái thì chúng ta cũng sẽ thấy hăng hái đối với sự
tiến bộ của những người khác. Vô số mẫu chuyện như
trên được tìm thấy trong các tác phẩm Phật giáo, cho thấy
rằng năng lực rất là cần thiết, và từ năng lực nầy
mà xuất hiện sự kiên trì và quyết tâm để nhận thấy
được chân lý, thấy được Niết bàn.
Sự tự chủ
(samad |