|
|
2008
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2007
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2006
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2005
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2004
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2003
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
POSTING
THÁNG 2-2003
Kinh
Lăng Gìa Tâm Ấn, Đại Sư Hám Sơn Sớ Giải - HT. Thanh Từ
Việt Dịch
Bồ
Tát Giới, Thích Trí Quang Dịch
Nghi
Thức Tụng Giới Bồ Tát, HT. Thích Trí Tịnh
Nghi
Thức Tụng Giới Bồ Tát, HT. Thích Trí Tịnh - Word Document
124KB
Chữ
Kiến Kiến, Hoà thượng Duy Lực giảng rằng: “Có người
cho chữ kiến trước là năng, kiến sau là sở, nhưng sự thật
thì “Kiến Kiến” là kiến tánh, là cái kiến không có bệnh,
nay nếu dùng cái tri kiến có bệnh để thảo luận vấn đề
này thì hết kiếp này qua kiếp khác cũng không giải được.
Tri kiến của chúng sanh là cái bệnh từ vô thỉ đến nay,
do con mắt bệnh mới thấy hoa đốm trên không, cho nên nói
“Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do ly kiến,
kiến bất năng cập”. Hai chữ Kiến Kiến là tự tánh tự
hiện, là kiến tánh, chứ chẳng phải có người dùng cái
năng kiến để kiến cái sở kiến.Xem
tiếp.Kiến
Bất Năng Cập Là Gì?
Kinh
Lăng Nghiêm nói “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn”,
cái “Lập tri” ấy tức là tự tri. Thế gian
nói “Tri”, nói “Kiến” ấy là thế lưu
bố tưởng, Phật cũng nói là tri là kiến , nhưng không
có chấp cái tri ấy là thật, nên chẳng có lập tri, nên
nói “Tri kiến vô kiến, tư tức Niết bàn”. Nay do tập khí
từ lâu đời, chúng ta việc gì cũng muốn tri, muốn kiến,
Phật muốn thuyết pháp độ chúng sanh cũng phải tùy thuận
chúng sanh,cũng phải nói tri, nói kiến, nhưng không chấp đó
là thật; hễ chấp thật tức tự lập cái tri, là căn bản
của vô minh, nếu không kiến lập tức Niết bàn... Xem
tiếpTri
kiến lập tri, tức vô minh bổn là gì?
Lịch
sử Phật giáo Việt Nam là một giòng chảy liên tục và sinh
động, từ bao đời qua không ngừng tưới tẩm những
đợt phù sa tươi mát lên mạch sống tâm linh của đất nước,
dân tộc. Khi bước đường Nam tiến của người Việt dừng
lại ở vùng châu thổ sông Cửu Long, biến mảnh đất này
thành một vựa lúa phì nhiêu, thì đồng thời một bối cảnh
văn hóa cá biệt cũng được hình thành, nảy nở và trên
cao hết, như một biểu hiệu của nền văn minh, nhu cầu về
tôn giáo tín ngưỡng đã trở thành một nhu cầu thiết tha
của quần chúng. Nếu như những thế hệ cha ông người Việt
trước đây đã chọn Phật giáo như là một chỗ dựa tâm
linh vững chắc thì nay những lưu dân của vùng đất mới
dĩ nhiên không thể không hướng vọng về đạo Phật. Thế
nhưng, trong một địa bàn xã hội mà thành phần nông dân
chiếm đến 85% dân số, quần chúng không cần đến một đạo
Phật kinh viện với những triết lý sâu xa, những nghi thức
rườm rà mà là một đạo Phật thực tiễn, sống động phù
hợp với đạo lý đời thường và nếp nghĩ giản đơn. Phật
Giáo Hòa Hảo (PGHH) ra đời chỉ là một hệ quả, một đáp
ứng tất nhiên của những khát vọng sâu kín này...Xem
tiếp Phật
Giáo Hoà Hảo: Hướng Ði Tịnh Độ Cư Sĩ, Một Giải Pháp
Tích Cực của Thời Ðại, Tâm Hà Lê Công Ða
Nhiều
tôn giáo cũng chủ-trương và đề cao lòng từ-ái khuyên dạy
phải thương người đồng-loại, nghĩa là giữa người với
người, không phân-biệt màu da hay giai-cấp. Đó là tình thương
nhân-loại cao đẹp chắc-chắn. Nhưng đồng-thời lại giết
hại súc vật để thỏa-mãn miệng ngon của mình, hoặc bắt
con này cho con khác ăn tức là cướp sự sống để nuôi sự
sống. Chẳng những tâm từ không cho ta giết hại sanh-linh
mà lại không cho ta làm những điều có thể gián-tiếp giết
hại, chẳng hạn như chế-tạo hoặc buôn khí-giới, các thức
ăn uống có chất độc, hoặc thốt một lời, xua một ý mà
có thể ám-hại sanh-linh.Xem tiếpTứ
Vô lượng Tâm, GS. Hồ Đắc Thăng
Luân
Hồi, Ðạo Lý căn bản của Phật Giáo là một sự thực có
thể chứng nghiệm được. Luân Hồi, Nhân Quả, Nghiệp Báo
mang lại an lạc hạnh phúc cho con người nói riêng và công
bằng xã hội cho nhân loại nói chung. Tin tưởng Luân Hồi,
Nhân Quả, Nghiệp Báo là hướng thiện đi đến Chân, Thiện,
Mỹ; ngược lại không tin tưởng Luân Hồi, Nhân Quả, Nghiệp
Báo thì tự mình sẽ rơi vào hố sâu, vực thẳm, đau khổ
triền miên..Xem tiếp.Những
Chuyện Luân Hồi Hiện Đại, Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích
dịch
Tuy
không phải một thiền sinh chân chính, nhưng chú Sáu rất tôn
quý hòa thượng Thanh Từ. Chú thao thức mong được hội kiến
với hòa thượng, trực tiếp ngắm nhìn, lắng nghe hòa thượng
ban pháp từ, và đôi khi tuy không hiểu thâm sâu lắm, chú
Sáu vẫn cảm thấy đón nhận được sự tươi mát và niềm
an lạc của hòa thượng từ một suối nguồn đạo đức vô
hình nào đó tỏa ra, nâng đỡ chú thêm vững mạnh và tinh
tiến trên con đường tu sửa thân tâm. Chính vì vậy mà khi
hay tin hòa thượng sang Mỹ lần cuối cùng, trước khi vĩnh
viễn nhập thất cho đến ngày từ giã cõi giả tạm nầy,
tuy cư ngụ ở tiểu bang xa xôi, chú cùng bè bạn hâm hở rủ
nhau về thiền viện Ðại Ðăng, thị xã Bonsall, Nam California,
để chiêm ngưỡng thầy.Xem tiếp:
An
Tâm, Truyện ngắn của Huỳnh Trung Chánh
Đất
trời Hương sơn không chỉ đẹp ở chiều dài ngút ngát như
hoành sơn, ở chiều cao vời vợi như Lạp sơn Hy Mã, mà còn
đẹp ở lòng người khi hành hương về cõi tâm linh dấu Phật.
Cho nên người xưa nói: “Núi không cao thì cảnh chẳng kỳ,
đường không khó thì lòng người khôn tỏ (rõ)”. Hơn nữa
đây lại là dấu tích của đức Quan âm thị hiện. Hành trình
về Hương sơn là trở về cội nguồn của từ bi và tri tuệ.
Bởi lẽ Bồ tát Quán âm trong kinh Pháp Hoa đã được Việt
hoá hoàn toàn thành Quan âm Nam Hải hay Phật bà Chùa Hương.
Hình ảnh một đức Phật hoá thân (nirmàkàya) đến cuộc
đời và sống trong đời để hoá độ chúng sinh qua biểu
tượng một bà mẹ là hoàn toàn hợp duyên thích ứng với
nền văn hoá Bách Việt khi mà chế độ Phụ hệ chưa hoàn
toàn thay thế được chế độ Mẫu hệ.Xem
tiếp.Hình
Tượng Đức Quan Âm Trong Lòng Người Dân Việt, Sơn Nam
Chúng
ta hẳn thấy rõ, những giáo pháp được Phật nói ra đều
từ ánh sáng giác ngộ đó mà lưu xuất. Thiếu ánh sáng giác
ngộ thì Phật pháp có còn là Phật pháp chăng? Hay chỉ là
những trang chữ nghĩa chết? Theo ngài Lâm Tế, pháp thật
chính là Tâm, rời tâm không có pháp thật nào khác. Nếu người
cứ bám vào văn tự, chữ nghĩa để tìm Phật pháp hẳn không
thể thấy Phật pháp thật. Bởi vì giác ngộ là ở nơi tâm,
từ “tâm giác ngộ” mới thấy được pháp và chính từ
đó mới nói ra pháp. Do đó, pháp có nói ra, cốt đều chỉ
cho người trở về bản tâm là gốc. Đây là một lẽ thật
trên hết, người học Phật không thể quên..Xem
tiếp Tinh
Thần Giác Ngộ của Đạo Phật, Thích Thông Phương
Mục
đích tối hậu của giáo lý Phật giáo là giúp con người
chuyển mê khai ngộ, chuyển phàm hoá Thánh. Điều đó không
phải ở đâu xa, chúng ta có thể tìm thấy ngay tại thế gian
này cảnh giới cực lạc nhân gian tại đây và bây giờ. Đồng
thời, mục đích đó phải thực hiện bằng cách tu tập và
điều phục, chế ngự tâmXem tiếp.Con
Người Qua Lý Duyên Khởi, Tịnh Ngọc
Kinh
Ðại Bổn Di Ðà nói: Một hôm Ðức Phật Thích Ca dung nhan
khác lạ, ngài A Nan mới hỏi có nhân duyên gì mà Ðức Thế
Tôn hoan hỷ như vậy? Ðức Phật nói có pháp môn niệm Phật
Di Ðà rất thích hợp với chúng sanh, đặc biệt vào thời
mạt pháp khi căn cơ chúng sanh bị giới hạn đi nhiều và
bất cứ ai cũng có thể trì niệm được. Ðây là nguyên do
đầu tiên.Xem tiếpÐường
Về Cõi Phật A Di Ðà, Cư sĩ Trúc Lâm Lê An Bình
Nhiều
Thanh Niên, Trí Thức đến chùa dịp Tết Nguyên Tiêu (Phóng
Sự)
Do
một bản tin ngắn dựa trên các tin đồn được báo chí Cambodia
loan tải đã làm cho một đám đông khoảng 500 người Căm
Bốt nổi giận đốt cháy toà đại sứ Thái Lan tại Thủ
đô Phnom Penth, gây thiệt mạng cho một người Thái Lan, bảy
người khác bị thương, ông Đại Sứ phải leo rào thoát chạy
ngả sau và làm căng thẳng mối bang giao giữa hai quốc gia
Thái Lan và Cambodia. Trước đây không lâu, cũng do một bài
báo loan tải trên nhật báo Ngày Nay “Thisday” ở Nigeria đã
châm ngòi cho cuộc bạo động giữa người Hồi giáo và người
Thiên Chúa giáo, làm 215 người thiệt mạng và hơn 1000 người
bị thương. Phía người Hồi giáo cho rằng bài báo đã
xúc phạm đến họ khi nói rằng ngài Mohammad sẽ chọn được
vợ trong số các người đẹp tới tham dự cuộc thi hoa hậu
thế giới Miss World tại nơi đây. Cuộc thi hoa hậu phải
di chuyển sang Anh Quốc, ban biên tập tờ báo đã phải xin
lỗi, tờ báo bị đóng cửa, và ký giả bài báo đã bị kết
án tử hình để rồi phải lẩn trốn ra nước ngoài tránh
bị thọ án. Chỉ một bản tin viết không đúng sự thật
làm cháy nhà, chết người và ảnh hưởng đến bang giao giữa
hai xứ. Chỉ một câu nói, đáng lẽ không nên nói đã
gây bao tang tóc, làm hàng trăm người chết và hàng ngàn người
bị thương. Quả thật là bút máu, là hoạ tùng khẩu
xuất như người xưa thường nói..Xem
tiếp: .Họa
Tùng Khẩu Xuất, Hoàng Liên Tâm
Hành
Hương Yên Tử (Phóng Sự)
Khai
hội chùa Hương (Phóng Sự)
Giác
Ngộ Xuân Quý Mùi 2003 Thành Hội Phật Giáo TP. HCM
Hình
Ảnh Chùa Lân (Trúc Lâm Yên Tử) Tỉnh Quảng Ninh, Việt
Nam do HT Thích Thanh Từ Xây Dựng
Các
Chùa ở Huế Thừa Thiên Xin Quyên Giúp Duy Trì 200 Lớp Học
Tình Thương Với Khoảng 300 Cô Giáo Vườn Trẻ Hướng Dẫn
6000 Trẻ em
"Làm
sao trong kiếp này những người tôi đã gặp, tôi không muốn
gặp lại họ nữa nếu tôi được làm người lại"
Thật
ra câu hỏi nhắc chúng ta một điều Đức Phật đã dạy mà
hình như vô tình chúng ta quên mất, đó là một trong tám cái
khổ nạn: oán tắng hội khổ, tức là đối với những người
mình không ưa thích hay ghét cay ghét đắng, muốn tránh cho
khuất mắt mà không thể tránh được; mình muốn lờ đi nhưng
nó cứ xuất hiện trước mặt, đến nỗi có những trường
hợp phải sống chung với nhau ngắn hạn hay dài hạn......
Oán ghét nhau là khổ đã đành mà yêu nhau cũng khổ.
Đó là ái biệt ly khổ, cái khổ thứ hai trong bát khổ.
Cho nên có câu: “Nghiệp bất trọng bất sanh Ta Bà. Ái bất
đoạn bất sanh Tịnh Ðộ.” Vậy, muốn thoát khỏi Ta
bà khổ này thì không những không ghét nhau mà còn phải không
yêu nhau nữa, phải dứt ái, vì ái ràng buộc kiếp này kiếp
khác, luân hồi triền miên làm thân bằng quyến thuộc của
nhau. Do đó muốn không gặp nhau ở kiếp sau thì chỉ
có cách tu để ra khỏi luân hồi.... Xem
tiếp: ..Làm
sao trong kiếp này những người tôi đã gặp, tôi không muốn
gặp lại họ nữa nếu tôi được làm người lại
Nhân
dịp đi hành hương Thập Tự đầu năm tôi thâ’y co’ một
sô’ chùa co’ thờ Ngài Quan Đê’ hay Quan Tha’nh hoặc
Quan Công vơ’i bộ râu dàị Tôi không hiểu tại sao
chùa lại thờ một vị quan Trung Hoa, co’ hỏi một vài người
nhưng họ không rõ. Vì đi nhiều chùa trong một ngày nên
không thể nào hỏi vị trụ trì được. Vậy xin quy’
đạo hữu chỉ bào dùm.
Ngoài
ra co’n câu hỏi phụ là tại sao gọi là hành hương Thập
Tự ? sao không nhâ’t tự, nhị tự hay ngũ tự??.Xem
tiếp: .Tại
sao Chùa Phật Giáo VN thờ Quan Đế
Tăng
sĩ là người lấy Phật-Pháp làm tánh, lấy Như lai làm nhà,
lấy chánh pháp làm thân, lấy trí huệ làm mạng, lấy thiền
định làm thức ăn. Cho nên Tăng sĩ không ỷ thế họ sang
hèn, không kinh doanh tư gia cơ nghiệp, không trao đổi hình
hài, không tham sống sợ chết, không đắm mình vào 5 mùi dục
lạc thế gian. Nhiếp tâm có định, biện minh có huệ nói
giới thì gạn trong 3 độc, mà mãn đời không nhơ. Nói định
thì tịnh tư lự chánh tinh thần trọn ngày không rối, nói
huệ thì sùng điều đức hạnh, biện sự tà phi mà minh lẽ
phải..Xem tiếp:Tăng
Sĩ Gương Mẫu
Hai
thực phẩm vốn được coi là địch thủ của bệnh ung thư
vú ở phụ nữ có thể giúp ngăn ngừa sự phát triển ung
thư tuyến tiền liệt ở nam giới. Hiệu quả sẽ tăng nhiều
nếu trà và đậu nành được dùng phối hợp. Đó là kết
luận của một nghiên cứu tiến hành trên chuột đăng trên
Tạp chí Dinh dưỡng của Mỹ số tháng này...Xem
tiếp: Đậu
nành và trà giúp bảo vệ tuyến tiền liệt
...Như
thế, việc áp dụng phương pháp "thực dưỡng bằng gạo lứt,
muối mè" để đều trị một số bệnh tật xem ra có hiệu
quả. Tuy nhiên, một số bác sĩ chuyên khoa Ung bướu thuộc
Trung tâm Ung bướu TP Hồ Chí Minh thì thận trọng: "Để kết
luận rằng gạo lứt muối mè chữa được bệnh ung thư, cần
có một công trình nghiên cứu tỉ mỉ trên nhiều bệnh nhân
ở nhiều dạng ung thư khác nhau, nhiều thời kỳ khác nhau,
với những bệnh nhân đối chứng nhằm đánh giá khách quan
chứ không thể chỉ dựa vào vài trờng hợp để khẳng định
rằng cứ hễ ung thư mà ăn gạo lứt, muối mè thì lành"Xem
tiếp:Về
hiệu quả của phương pháp thực dưỡng bằng gạo lứt, muối
mè
Khi
đời càng lọan thì con người càng thích hoang tưởng. Hình
như người Việt chúng ta mỗi khi nhắc đến hai chữ Thiên
Thai thì trong tâm tưởng ít nhiều vương vấn đến bản nhạc
tiền chiến cùng tên của nhạc sĩ Văn Cao. Ông đã tóm gọn
ý nghĩa của Thiên thai bằng những lời lẽ quyến luyến trong
đọan dẫn của cuộn video chủ đề về nhạc của ông được
nhà nước Việtnam cho phép phát hành trong thời kỳ đổi mới:
"Tại sao tôi nói đến Thiên thai, là bởi vì một nơi, một
cõi nào đó người ta coi như đất hứa mà một cái đất
hứa thì không ai tìm được ở trên cái thế gian này. Nhưng
đi tìm mãi trong những cái hòai niệm của mình ở tuổi thanh
niên thì nhớ rằng có lần tìm ra được…”Xem
tiếp: Đầu
Xuân Nói Chuyện Thiên Thai, Trần Trúc Lâm
Tín
ngưỡng dân gian là hành vi tôn giáo có liên quan đến phong
tục dân tộc, cũng là hiện tượng tôn giáo mang hình thái
nguyên thuỷ. Từ khi có văn hoá nhân loại đến nay, tín
ngưỡng dân gian đã tồn tại một cách phổ biến trong các
dân tộc. Đây là vì nhân loại cần phải giải toả phiền
não trong tâm, sự tranh chấp ở gia đình và ngoài xã hội,
áp lực của hoàn cảnh tự nhiên. Trong một thời gian ngắn,
họ không có cách gì dùng thể năng, trí năng của con người
để giải quyết những vấn đề trên, nên chỉ có cách cầu
thần minh chỉ dẫn, giúp đỡ, cứu tế, bảo hộ. Họ lợi
dụng phương thức xin thẻ, bói toán, giáng sinh, cầu hồn,
lên cơ, cúng tế, hứa nguyện(1), để mong liên lạc cảm thông
được với quỷ thần. Hành vi này, theo nhất thần giáo là
mê tín dị đoan và tà thuật. Phật giáo cũng không chủ trương
có hành vi như vậy...Xem tiếp:.Phật
giáo làm cách nào để thích ứng với yêu cầu tín ngưỡng
dân gian?, HT. Thích Thánh Nghiêm
Khái
niệm đốn ngộ và tiệm ngộ trong Thiền học xuất phát từ
bộ kinh Lăng Già, khi luận về phép tịnh tâm, gạn lọc hết
dòng tưởng niệm. Theo kinh, sự gạn lọc ấy tuỳ chỗ mà
gọi tên, khi thì đốn, khi thì tiệm. Tiệm giống như sự
chín của trái cây hoặc công việc làm đồ gốm , hoặc một
sự điêu luyện nào đó của nghệ thuật cần phải tuần
tự tiến dần theo thời gian. Nếu như một tấm gương phản
chiếu nhanh tức khắc, bất thình lình, không cần có trước
một sự chuẩn bị có ý thức nào, đó là đốn. Sau đó,
tư tưởng đốn ngộ triển khai trong Phật giáo Đại thừa
mà Trung Quôc là nước phát triển mạnh mẽ nhất...Xem
tiếp:Dung
hòa giữa Đốn ngộ và Tiệm ngộ Nét đặc sắc trong Phật
giáo Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Đức Diện
Mở
đầu bài “Tựa” sách “Đại cương luận Tân xá” của
Hoà thượng Thích Thiện Siêu có câu: “Đạo Phật chính là
đạo nói về Tâm (“Phật ngữ tâm tông, nhất thế Phật
ngữ tông”). Tuỳ theo trình độ căn cơ của chúng sinh mà
mỗi kinh nói tâm mỗi khác”. Nhờ được đọc một số kinh
sách Phật giáo, tôi thấy lời Hòa thượng Thích Thiện Siêu
rất đúng và cái tâm ấy được xiển dương rất tiêu biểu,
rất sáng rỡ qua “Phẩm Song yếu” kinh Pháp Cú cũng Hòa
thượng Thích Thiện Siêu dịch: “Trong các pháp, tâm dẫn
đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác”...Xem
tiếp:.Phẩm
song yếu kinh Pháp Cú chiếm vị trí trọng yếu trong Phật
giáo, Đỗ Đức Thịnh
Cùng
một việc dứt thở, bỏ xác, tại sao ở người thế-gian,
gọi là chết, còn ở Phật lại gọi là “nhập Niết-bàn”?
Vậy sự sai khác giữa đôi đàng như thế nào và Niết bàn
có nghĩa là gì? Đó là hai điểm mà tôi xin đề-nghị cùng
chư quý đạo-hữu tìm hiểu, xuyên qua các sách vở đã được
viết ra rất nhiều về vấn-đề này...Xem
tiếp:Ý-Nghĩa
Niết Bàn, Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Hạnh
phúc trước hết là một thực tại (thực tại hạnh phúc)
chứ không phải là một ý tưởng hay là một khái niệm. Người
có quan niệm hay một hệ thống các quan niệm về hạnh phúc
chưa chắc là một người hạnh phúc đích thực và một người
hạnh phúc thực sự không hẳn là người phải có một quan
niệm nhất định về hạnh phúc. Có thể có nhiều quan niệm
khác nhau về hạnh phúc, nhưng một quan niệm phổ biến nhất
cho rằng hạnh phúc là một tình trạng hay một trạng thái
được thoả mãn hoàn toàn (état de complète satisfaction, quan
niệm của tâm lý học). Nhưng vấn đề đặt ra ở đây không
phải là định nghĩa hạnh phúc là như thế này hoặc như
thế kia mà vấn đề đâu là suối nguồn đích thực của
hạnh phúc, một thứ hạnh phúc không hoàn toàn đồng nghĩa
với những khoái lạc nhất thời của trần gian?..Xem
tiếp:Mùa
Xuân đi tìm suối nguồn của hạnh phúc, Trần Trung Phượng
Lên
đường là một cuộc dấn thân toàn triệt, một cuộc phiêu
bồng theo tiếng gọi sơ nguyên, lìa vòng trú chấp đông đặc
ẩn mật bí ngữ huyền môn để tuôn vào nẻo thâm cùng bất
nhị, hòa với vô thường vạn pháp. Lên đường là không
ngăn ngại ngưng dừng như dòng sông mãi chảy theo tiếng vỗ
đại dương, không cần một dẫn dắt nào..Xem
tiếp:.Như
cuộc hành hương, Thiếu bảo
..Vị
Tăng muốn hỏi về trí tuệ Bát Nhã. Thiền sư đưa ra một
hình ảnh sương mù. Vị Tăng bám vào lời thầy và rơi vào
sương mù, không biết rằng trí Bát Nhã ở ngay trong tâm mình,
trong cái tâm kính có thể phản chiếu toàn thể vạn vật
một cách như như: tuyết thì trắng tinh, gió thì lạnh giá.
Cho dù đại từ bi, Thiền sư cũng không thể giảng giải về
Đại Bát Nhã. Vị Tăng phải tự mình lên đường trở về
với nó. Phải tự mình bước vào sương mù và tự mình bước
ra sương mù. Tự mình chơi đùa với Huyễn Hóa. Còn không
thì thôi...Xem tiếp:Bốn
mùa như như, Nhật Chiêu

|