THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002
c
POSTING THÁNG 2-2003
Kinh Lăng Gìa Tâm Ấn, Đại Sư Hám Sơn Sớ Giải - HT. Thanh Từ Việt Dịch
Bồ Tát Giới, Thích Trí Quang Dịch
Nghi Thức Tụng Giới Bồ Tát, HT. Thích Trí Tịnh
Nghi Thức Tụng Giới Bồ Tát, HT. Thích Trí Tịnh - Word Document 124KB
Chữ Kiến Kiến, Hoà thượng Duy Lực giảng rằng: “Có người cho chữ kiến trước là năng, kiến sau là sở, nhưng sự thật thì “Kiến Kiến” là kiến tánh, là cái kiến không có bệnh, nay nếu dùng cái tri kiến có bệnh để thảo luận vấn đề này thì hết kiếp này qua kiếp khác cũng không giải được.  Tri kiến của chúng sanh là cái bệnh từ vô thỉ đến nay, do con mắt bệnh mới thấy hoa đốm trên không, cho nên nói “Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do ly kiến, kiến bất năng cập”. Hai chữ Kiến Kiến là tự tánh tự hiện, là kiến tánh, chứ chẳng phải có người dùng cái năng kiến để kiến cái sở kiến.Xem tiếp.Kiến Bất Năng Cập Là Gì?
Kinh Lăng Nghiêm nói “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn”, cái “Lập tri” ấy tức là tự tri. Thế gian nói “Tri”, nói “Kiến” ấy là thế lưu bố tưởng, Phật cũng nói là tri là kiến , nhưng không có chấp cái tri ấy là thật, nên chẳng có lập tri, nên nói “Tri kiến vô kiến, tư tức Niết bàn”. Nay do tập khí từ lâu đời, chúng ta việc gì cũng muốn tri, muốn kiến, Phật muốn thuyết pháp độ chúng sanh cũng phải tùy thuận chúng sanh,cũng phải nói tri, nói kiến, nhưng không chấp đó là thật; hễ chấp thật tức tự lập cái tri, là căn bản của vô minh, nếu không kiến lập tức Niết bàn... Xem tiếpTri kiến lập tri, tức vô minh bổn là gì?
Lịch sử Phật giáo Việt Nam là một giòng chảy liên tục và sinh động, từ  bao đời qua không ngừng tưới tẩm những đợt phù sa tươi mát lên mạch sống tâm linh của đất nước, dân tộc. Khi bước đường Nam tiến của người Việt dừng lại ở vùng châu thổ sông Cửu Long, biến mảnh đất này thành một vựa lúa phì nhiêu, thì đồng thời một bối cảnh văn hóa cá biệt cũng được hình thành, nảy nở và trên cao hết, như một biểu hiệu của nền văn minh, nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng đã trở thành một nhu cầu thiết tha của quần chúng. Nếu như những thế hệ cha ông người Việt trước đây đã chọn Phật giáo như là một chỗ dựa tâm linh vững chắc thì nay những lưu dân của vùng đất mới dĩ nhiên không thể không hướng vọng về đạo Phật. Thế nhưng, trong một địa bàn xã hội mà thành phần nông dân chiếm đến 85% dân số, quần chúng không cần đến một đạo Phật kinh viện với những triết lý sâu xa, những nghi thức rườm rà mà là một đạo Phật thực tiễn, sống động phù hợp với đạo lý đời thường và nếp nghĩ giản đơn. Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH) ra đời chỉ là một hệ quả, một đáp ứng tất nhiên của những khát vọng sâu kín này...Xem tiếp Phật Giáo Hoà Hảo: Hướng Ði Tịnh Độ Cư Sĩ, Một Giải Pháp Tích Cực của Thời Ðại, Tâm Hà  Lê Công Ða
Nhiều tôn giáo cũng chủ-trương và đề cao lòng từ-ái khuyên dạy phải thương người đồng-loại, nghĩa là giữa người với người, không phân-biệt màu da hay giai-cấp. Đó là tình thương nhân-loại cao đẹp chắc-chắn. Nhưng đồng-thời lại giết hại súc vật để thỏa-mãn miệng ngon của mình, hoặc bắt con này cho con khác ăn tức là cướp sự sống để nuôi sự sống. Chẳng những tâm từ không cho ta giết hại sanh-linh mà lại không cho ta làm những điều có thể gián-tiếp giết hại, chẳng hạn như chế-tạo hoặc buôn khí-giới, các thức ăn uống có chất độc, hoặc thốt một lời, xua một ý mà có thể ám-hại sanh-linh.Xem tiếpTứ Vô lượng Tâm, GS. Hồ Đắc Thăng

Luân Hồi, Ðạo Lý căn bản của Phật Giáo là một sự thực có thể chứng nghiệm được. Luân Hồi, Nhân Quả, Nghiệp Báo mang lại an lạc hạnh phúc cho con người nói riêng và công bằng xã hội cho nhân loại nói chung. Tin tưởng Luân Hồi, Nhân Quả, Nghiệp Báo là hướng thiện đi đến Chân, Thiện, Mỹ; ngược lại không tin tưởng Luân Hồi, Nhân Quả, Nghiệp Báo thì tự mình sẽ rơi vào hố sâu, vực thẳm, đau khổ triền miên..Xem tiếp.Những Chuyện Luân Hồi Hiện Đại, Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích dịch

Tuy không phải một thiền sinh chân chính, nhưng chú Sáu rất tôn quý hòa thượng Thanh Từ. Chú thao thức mong được hội kiến với hòa thượng, trực tiếp ngắm nhìn, lắng nghe hòa thượng ban pháp từ, và đôi khi tuy không hiểu thâm sâu lắm, chú Sáu vẫn cảm thấy đón nhận được sự tươi mát và niềm an lạc của hòa thượng từ một suối nguồn đạo đức vô hình nào đó tỏa ra, nâng đỡ chú thêm vững mạnh và tinh tiến trên con đường tu sửa thân tâm. Chính vì vậy mà khi hay tin hòa thượng sang Mỹ lần cuối cùng, trước khi vĩnh viễn nhập thất cho đến ngày từ giã cõi giả tạm nầy, tuy cư ngụ ở tiểu bang xa xôi, chú cùng bè bạn hâm hở rủ nhau về thiền viện Ðại Ðăng, thị xã Bonsall, Nam California, để chiêm ngưỡng thầy.Xem tiếp: An Tâm, Truyện ngắn của Huỳnh Trung Chánh

Đất trời Hương sơn không chỉ đẹp ở chiều dài ngút ngát như hoành sơn, ở chiều cao vời vợi như Lạp sơn Hy Mã, mà còn đẹp ở lòng người khi hành hương về cõi tâm linh dấu Phật. Cho nên người xưa nói: “Núi không cao thì cảnh chẳng kỳ, đường không khó thì lòng người khôn tỏ (rõ)”. Hơn nữa đây lại là dấu tích của đức Quan âm thị hiện. Hành trình về Hương sơn là trở về cội nguồn của từ bi và tri tuệ. Bởi lẽ Bồ tát Quán âm trong kinh Pháp Hoa đã được Việt hoá hoàn toàn thành Quan âm Nam Hải hay Phật bà Chùa Hương. Hình ảnh một đức Phật hoá thân (nirmàkàya) đến cuộc đời và sống trong đời để hoá độ chúng sinh qua biểu tượng một bà mẹ là hoàn toàn hợp duyên thích ứng với nền văn hoá Bách Việt khi mà chế độ Phụ hệ chưa hoàn toàn thay thế được chế độ Mẫu hệ.Xem tiếp.Hình Tượng Đức Quan Âm Trong Lòng Người Dân Việt, Sơn Nam

Chúng ta hẳn thấy rõ, những giáo pháp được Phật nói ra đều từ ánh sáng giác ngộ đó mà lưu xuất. Thiếu ánh sáng giác ngộ thì Phật pháp có còn là Phật pháp chăng? Hay chỉ là những trang chữ nghĩa chết?  Theo ngài Lâm Tế, pháp thật chính là Tâm, rời tâm không có pháp thật nào khác. Nếu người cứ bám vào văn tự, chữ nghĩa để tìm Phật pháp hẳn không thể thấy Phật pháp thật. Bởi vì giác ngộ là ở nơi tâm, từ “tâm giác ngộ” mới thấy được pháp và chính từ đó mới nói ra pháp. Do đó, pháp có nói ra, cốt đều chỉ cho người trở về bản tâm là gốc. Đây là một lẽ thật trên hết, người học Phật không thể quên..Xem tiếp Tinh Thần Giác Ngộ của Đạo Phật, Thích Thông Phương

Mục đích tối hậu của giáo lý Phật giáo là giúp con người chuyển mê khai ngộ, chuyển phàm hoá Thánh. Điều đó không phải ở đâu xa, chúng ta có thể tìm thấy ngay tại thế gian này cảnh giới cực lạc nhân gian tại đây và bây giờ. Đồng thời, mục đích đó phải thực hiện bằng cách tu tập và điều phục, chế ngự tâmXem tiếp.Con Người Qua Lý Duyên Khởi, Tịnh Ngọc

Kinh Ðại Bổn Di Ðà nói: Một hôm Ðức Phật Thích Ca dung nhan khác lạ, ngài A Nan mới hỏi có nhân duyên gì mà Ðức Thế Tôn hoan hỷ như vậy? Ðức Phật nói có pháp môn niệm Phật Di Ðà rất thích hợp với chúng sanh, đặc biệt vào thời mạt pháp khi căn cơ chúng sanh bị giới hạn đi nhiều và bất cứ ai cũng có thể trì niệm được. Ðây là nguyên do đầu tiên.Xem tiếpÐường Về Cõi Phật A Di Ðà, Cư sĩ Trúc Lâm Lê An Bình

Nhiều Thanh Niên, Trí Thức đến chùa dịp Tết Nguyên Tiêu (Phóng Sự)

Do một bản tin ngắn dựa trên các tin đồn được báo chí Cambodia loan tải đã làm cho một đám đông khoảng 500 người Căm Bốt nổi giận đốt cháy toà đại sứ Thái Lan tại Thủ đô Phnom Penth, gây thiệt mạng cho một người Thái Lan, bảy người khác bị thương, ông Đại Sứ phải leo rào thoát chạy ngả sau và làm căng thẳng mối bang giao giữa hai quốc gia Thái Lan và Cambodia. Trước đây không lâu, cũng do một bài báo loan tải trên nhật báo Ngày Nay “Thisday” ở Nigeria đã châm ngòi cho cuộc bạo động giữa người Hồi giáo và người Thiên Chúa giáo, làm 215 người thiệt mạng và hơn 1000 người bị thương.  Phía người Hồi giáo cho rằng bài báo đã xúc phạm đến họ khi nói rằng ngài Mohammad sẽ chọn được vợ trong số các người đẹp tới tham dự cuộc thi hoa hậu thế giới Miss World tại nơi đây.  Cuộc thi hoa hậu phải di chuyển sang Anh Quốc, ban biên tập tờ báo đã phải xin lỗi, tờ báo bị đóng cửa, và ký giả bài báo đã bị kết án tử hình để rồi phải lẩn trốn ra nước ngoài tránh bị thọ án. Chỉ một bản tin viết không đúng sự thật làm cháy nhà, chết người và ảnh hưởng đến bang giao giữa hai xứ.  Chỉ một câu nói, đáng lẽ không nên nói đã gây bao tang tóc, làm hàng trăm người chết và hàng ngàn người bị thương.  Quả thật là bút máu, là hoạ tùng khẩu xuất như người xưa thường nói..Xem tiếp: .Họa Tùng Khẩu Xuất, Hoàng Liên Tâm
Hành Hương Yên Tử (Phóng Sự)

Khai hội chùa Hương (Phóng Sự)

Giác Ngộ Xuân Quý Mùi 2003 Thành Hội Phật Giáo TP. HCM
Hình Ảnh Chùa Lân (Trúc Lâm Yên Tử) Tỉnh Quảng Ninh,  Việt Nam do HT Thích Thanh Từ Xây Dựng
Các Chùa ở Huế Thừa Thiên Xin Quyên Giúp Duy Trì 200 Lớp Học Tình Thương Với Khoảng 300 Cô Giáo Vườn Trẻ Hướng Dẫn  6000 Trẻ em 
"Làm sao trong kiếp này những người tôi đã gặp, tôi không muốn gặp lại họ nữa nếu tôi được làm người lại"
Thật ra câu hỏi nhắc chúng ta một điều Đức Phật đã dạy mà hình như vô tình chúng ta quên mất, đó là một trong tám cái khổ nạn: oán tắng hội khổ, tức là đối với những người mình không ưa thích hay ghét cay ghét đắng, muốn tránh cho khuất mắt mà không thể tránh được; mình muốn lờ đi nhưng nó cứ xuất hiện trước mặt, đến nỗi có những trường hợp phải sống chung với nhau ngắn hạn hay dài hạn...... Oán ghét nhau là khổ đã đành mà yêu nhau cũng khổ.  Đó là ái biệt ly khổ, cái khổ thứ hai trong bát khổ.  Cho nên có câu: “Nghiệp bất trọng bất sanh Ta Bà. Ái bất đoạn bất sanh Tịnh Ðộ.”  Vậy, muốn thoát khỏi Ta bà khổ này thì không những không ghét nhau mà còn phải không yêu nhau nữa, phải dứt ái, vì ái ràng buộc kiếp này kiếp khác, luân hồi triền miên làm thân bằng quyến thuộc của nhau.  Do đó muốn không gặp nhau ở kiếp sau thì chỉ có cách tu để ra khỏi luân hồi.... Xem tiếp: ..Làm sao trong kiếp này những người tôi đã gặp, tôi không muốn gặp lại họ nữa nếu tôi được làm người lại

Nhân dịp đi hành hương Thập Tự đầu năm tôi thâ’y co’ một sô’ chùa co’ thờ Ngài Quan Đê’ hay  Quan Tha’nh hoặc Quan Công vơ’i bộ râu dàị  Tôi không hiểu tại sao chùa lại thờ một vị quan Trung Hoa, co’ hỏi một vài người nhưng họ không rõ.  Vì đi nhiều chùa trong một ngày nên không thể nào hỏi vị trụ trì được.  Vậy xin quy’ đạo hữu chỉ bào dùm.
Ngoài ra co’n câu hỏi phụ là tại sao gọi là hành hương Thập Tự ?  sao không nhâ’t tự, nhị tự hay ngũ tự??.Xem tiếp: .Tại sao Chùa Phật Giáo VN thờ Quan Đế

Tăng sĩ là người lấy Phật-Pháp làm tánh, lấy Như lai làm nhà, lấy chánh pháp làm thân, lấy trí huệ làm mạng, lấy thiền định làm thức ăn. Cho nên Tăng sĩ không ỷ thế họ sang hèn, không kinh doanh tư gia cơ nghiệp, không trao đổi hình hài, không tham sống sợ chết, không đắm mình vào 5 mùi dục lạc thế gian. Nhiếp tâm có định, biện minh có huệ nói giới thì gạn trong 3 độc, mà mãn đời không nhơ. Nói định thì tịnh tư lự chánh tinh thần trọn ngày không rối, nói huệ thì sùng điều đức hạnh, biện sự tà phi mà minh lẽ phải..Xem tiếp:Tăng Sĩ Gương Mẫu

Hai thực phẩm vốn được coi là địch thủ của bệnh ung thư vú ở phụ nữ có thể giúp ngăn ngừa sự phát triển ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới. Hiệu quả sẽ tăng nhiều nếu trà và đậu nành được dùng phối hợp. Đó là kết luận của một nghiên cứu tiến hành trên chuột đăng trên Tạp chí Dinh dưỡng của Mỹ số tháng này...Xem tiếp: Đậu nành và trà giúp bảo vệ tuyến tiền liệt

...Như thế, việc áp dụng phương pháp "thực dưỡng bằng gạo lứt, muối mè" để đều trị một số bệnh tật xem ra có hiệu quả. Tuy nhiên, một số bác sĩ chuyên khoa Ung bướu thuộc Trung tâm Ung bướu TP Hồ Chí Minh thì thận trọng: "Để kết luận rằng gạo lứt muối mè chữa được bệnh ung thư, cần có một công trình nghiên cứu tỉ mỉ trên nhiều bệnh nhân ở nhiều dạng ung thư khác nhau, nhiều thời kỳ khác nhau, với những bệnh nhân đối chứng nhằm đánh giá khách quan chứ không thể chỉ dựa vào vài trờng hợp để khẳng định rằng cứ hễ ung thư mà ăn gạo lứt, muối mè thì lành"Xem tiếp:Về hiệu quả của phương pháp thực dưỡng bằng gạo lứt, muối mè

Khi đời càng lọan thì con người càng thích hoang tưởng. Hình như người Việt chúng ta mỗi khi nhắc đến hai chữ Thiên Thai thì trong tâm tưởng ít nhiều vương vấn đến bản nhạc tiền chiến cùng tên của nhạc sĩ Văn Cao. Ông đã tóm gọn ý nghĩa của Thiên thai bằng những lời lẽ quyến luyến trong đọan dẫn của cuộn video chủ đề về nhạc của ông được nhà nước Việtnam cho phép phát hành trong thời kỳ đổi mới: "Tại sao tôi nói đến Thiên thai, là bởi vì một nơi, một cõi nào đó người ta coi như đất hứa mà một cái đất hứa thì không ai tìm được ở trên cái thế gian này. Nhưng đi tìm mãi trong những cái hòai niệm của mình ở tuổi thanh niên thì nhớ rằng có lần tìm ra được…”Xem tiếp: Đầu Xuân Nói Chuyện Thiên Thai, Trần Trúc Lâm
Tín ngưỡng dân gian là hành vi tôn giáo có liên quan đến phong tục dân tộc, cũng là hiện tượng tôn giáo mang hình thái nguyên thuỷ. Từ khi có văn hoá nhân loại đến  nay, tín ngưỡng dân gian đã tồn tại một cách phổ biến trong các dân tộc. Đây là vì nhân loại cần phải giải toả phiền não trong tâm, sự tranh chấp ở gia đình và ngoài xã hội, áp lực của hoàn cảnh tự nhiên. Trong một thời gian ngắn, họ không có cách gì dùng thể năng, trí năng của con người để giải quyết những vấn đề trên, nên chỉ có cách cầu thần minh chỉ dẫn, giúp đỡ, cứu tế, bảo hộ. Họ lợi dụng phương thức xin thẻ, bói toán, giáng sinh, cầu hồn, lên cơ, cúng tế, hứa nguyện(1), để mong liên lạc cảm thông được với quỷ thần. Hành vi này, theo nhất thần giáo là mê tín dị đoan và tà thuật. Phật giáo cũng không chủ trương có hành vi như vậy...Xem tiếp:.Phật giáo làm cách nào để thích ứng với yêu cầu tín ngưỡng dân gian?, HT. Thích Thánh Nghiêm
Khái niệm đốn ngộ và tiệm ngộ trong Thiền học xuất phát từ bộ kinh Lăng Già, khi luận về phép tịnh tâm, gạn lọc hết dòng tưởng niệm. Theo kinh, sự gạn lọc ấy tuỳ chỗ mà gọi tên, khi thì đốn, khi thì tiệm. Tiệm giống như sự chín của trái cây hoặc công việc làm đồ gốm , hoặc một sự điêu luyện nào đó của nghệ thuật cần phải tuần tự tiến dần theo thời gian. Nếu như một tấm gương phản chiếu nhanh tức khắc, bất thình lình, không cần có trước một sự chuẩn bị có ý thức nào, đó là đốn. Sau đó, tư tưởng đốn ngộ triển khai trong Phật giáo Đại thừa mà Trung Quôc là nước phát triển mạnh mẽ nhất...Xem tiếp:Dung hòa giữa Đốn ngộ và Tiệm ngộ Nét đặc sắc trong Phật giáo Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Đức Diện
Mở đầu bài “Tựa” sách “Đại cương luận Tân xá” của Hoà thượng Thích Thiện Siêu có câu: “Đạo Phật chính là đạo nói về Tâm (“Phật ngữ tâm tông, nhất thế Phật ngữ tông”). Tuỳ theo trình độ căn cơ của chúng sinh mà mỗi kinh nói tâm mỗi khác”. Nhờ được đọc một số kinh sách Phật giáo, tôi thấy lời Hòa thượng Thích Thiện Siêu rất đúng và cái tâm ấy được xiển dương rất tiêu biểu, rất sáng rỡ qua “Phẩm Song yếu” kinh Pháp Cú cũng Hòa thượng Thích Thiện Siêu dịch: “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác”...Xem tiếp:.Phẩm song yếu kinh Pháp Cú chiếm vị trí trọng yếu trong Phật giáo, Đỗ Đức Thịnh
Cùng một việc dứt thở, bỏ xác, tại sao ở người thế-gian, gọi là chết, còn ở Phật lại gọi là “nhập Niết-bàn”? Vậy sự sai khác giữa đôi đàng như thế nào và Niết bàn có nghĩa là gì? Đó là hai điểm mà tôi xin đề-nghị cùng chư quý đạo-hữu tìm hiểu, xuyên qua các sách vở đã được viết ra rất nhiều về vấn-đề này...Xem tiếp:Ý-Nghĩa Niết Bàn, Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Hạnh phúc trước hết là một thực tại (thực tại hạnh phúc) chứ không phải là một ý tưởng hay là một khái niệm. Người có quan niệm hay một hệ thống các quan niệm về hạnh phúc chưa chắc là một người hạnh phúc đích thực và một người hạnh phúc thực sự không hẳn là người phải có một quan niệm nhất định về hạnh phúc. Có thể có nhiều quan niệm khác nhau về hạnh phúc, nhưng một quan niệm phổ biến nhất cho rằng hạnh phúc là một tình trạng hay một trạng thái được thoả mãn hoàn toàn (état de complète satisfaction, quan niệm của tâm lý học). Nhưng vấn đề đặt ra ở đây không phải là định nghĩa hạnh phúc là như thế này hoặc như thế kia mà vấn đề đâu là suối nguồn đích thực của hạnh phúc, một thứ hạnh phúc không hoàn toàn đồng nghĩa với những khoái lạc nhất thời của trần gian?..Xem tiếp:Mùa Xuân đi tìm suối nguồn của hạnh phúc, Trần Trung Phượng
Lên đường là một cuộc dấn thân toàn triệt, một cuộc phiêu bồng theo tiếng gọi sơ nguyên, lìa vòng trú chấp đông đặc ẩn mật bí ngữ huyền môn để tuôn vào nẻo thâm cùng bất nhị, hòa với vô thường vạn pháp.  Lên đường là không ngăn ngại ngưng dừng như dòng sông mãi chảy theo tiếng vỗ đại dương, không cần một dẫn dắt nào..Xem tiếp:.Như cuộc hành hương, Thiếu bảo

..Vị Tăng muốn hỏi về trí tuệ Bát Nhã. Thiền sư đưa ra một hình ảnh sương mù. Vị Tăng bám vào lời thầy và rơi vào sương mù, không biết rằng trí Bát Nhã ở ngay trong tâm mình, trong cái tâm kính có thể phản chiếu toàn thể vạn vật một cách như như: tuyết thì trắng tinh, gió thì lạnh giá. Cho dù đại từ bi, Thiền sư cũng không thể giảng giải về Đại Bát Nhã. Vị Tăng phải tự mình lên đường trở về với nó. Phải tự mình bước vào sương mù và tự mình bước ra sương mù. Tự mình chơi đùa với Huyễn Hóa. Còn không thì thôi...Xem tiếp:Bốn mùa như như, Nhật Chiêu

TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap