|
|
2008
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2007
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2006
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2005
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2004
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2003
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
NEW
POSTING THÁNG 6-2003
Gần
đây có người nói rằng Phật Giáo Đại Thừa là Bà La Môn
Giáo, là tà ma ngoại đạo. Thật ra lời nói này không
có gì mới lạ, nó đã có từ thời xưa, khi Phật Giáo đang
ở trong thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, nhằm tránh sự
hoang mang cho những người mới bước chân vào đạo Phật
và cho những Phật tử không có nhiều thì giờ nghiên
cứu về sự khác biệt giữa hai tôn giáo nên chúng tôi viết
bài dưới đây. Chúng tôi không có ý so sánh hai tôn giáo
lớn của nhân loại, vì việc làm này là của các nhà học
gỉa, mà chúng tôi chỉ đưa ra vài điểm khác biệt quan yếu
có tính cách nền tảng giữa đạo Phật nói chung, Phật Giáo
Đại Thừa nói riêng so với Bà La Môn Giáo. Xem
Tiếp: Có
Phải Phật Giáo Đại Thừa Là Bà Môn Giáo?
Sáu
bảy năm trước, tôi bỗng được người bạn gốc gác Cần
Thơ báo tin rằng tờ đặc san Trung Học Phan thanh Giản có
bài viết về tôi (*), những chi tiết về tên họ, ngành nghề,
chức vụ thì khó lầm lẫn là ai khác, nhưng lại có vài điểm
như : quê quán Rạch Giá, con nhà giàu, cùng học chung với
người viết là cụ Việt Cường Võ văn Hơn tại Trung học
Phan thanh Giản vào các niên khóa 1930-1934 thì không đúng, có
lẽ tác giả đã lẫn lộn và trộn lẫn tôi với một người
nào khác chăng? Thật ra, làm con nhà giàu ngổ ngáo như cụ
Võ văn Hơn mô tả nghe cũng hấp dẫn, nhưng rất tiếc tôi
không có hân hạnh đó, tôi cũng chưa có hân hạnh đặt chân
đến ngưỡng cửa trường Trung Học Phan thanh Giản lần nào,
nhất là tôi không thể nào có hân hạnh làm bạn học với
cụ vào những năm 1930-1934… chỉ vì thời gian đó tôi chưa
sanh ra đời : Tôi sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội xã Long
Hòa, Trà Vinh, quê ngoại xã Hòa An, Cao Lãnh. Anh bạn khuyên
tôi đính chánh, nhưng tôi nghĩ cụ Võ văn Hơn đáng tuổi
cha mẹ tôi, cụ nhắc chuyện xưa, chuyện nầy “bắt quàng”
qua chuyện khác mới cũ lẫn lộn nhau là việc rất bình thường,
đính chánh có thể khiến cụ cụt hứng, tội nghiệp… nên
tôi đã im lặng. Xem Tiếp:Tản
Mạn Vể Cần Thơ,Truyện Ngắn của Huỳnh Trung Chánh
Dayton
là một thành phố nhỏ bé thuộc tiểu bang Ohio, nơi mà 25
năm trước đây, khi định cư tại Hoa Kỳ chú Sáu đã được
người bảo trợ lãnh về, để bắt đầu kiếp sống tha phương
xứ người. Do đó, dù chỉ lưu trú tại đây không quá 6 tháng,
nhưng những kỹ niệm, những hình ảnh thân thương của chốn
nầy lúc nào cũng tràn ngập trong tâm khảm chàng. Do đó, khi
chiếc phi cơ Delta vừa lượn một vòng ngắn, nhìn xuyên qua
cửa sổ ngắm nhìn cảnh thành phố nhỏ nhắn mờ sương ngày
xưa, chú Sáu đã xúc động nghẹn ngào. Chú ngậm ngùi nhớ
tới nỗi ngơ ngác âu lo của của 3 thằng con trai bạc mạng
trên bước đường vong quốc vào “thuở ban đầu” ở xứ
nầy, chàng nhớ bà Mary Sanders, người bảo trợ hiền lành
đã dang rộng vòng tay thương yêu đón nhận ba đứa con trai
xa lạ, để bảo dưỡng, chăm sóc chúng từng miếng ăn, từng
áo mặc và tận tình hướng dẫn chúng hòa nhập vào nếp
sống Hoa Kỳ.Xem Tiếp:Ngưu
Ma Vương, Truyện Ngắn của Huỳnh Trung Chánh
Trong
bài nói chuyện này, chữ "tu" được dùng để đề cập đến
vấn đề tu tập của tất cả những người theo đạo Phật,
được gọi là Phật Tử, dù đã qui y hay chưa, tại gia hay
xuất gia. Chữ "tu", theo thế gian thường dùng, được
ghép thêm chữ như là: tu bổ, tu chí, tu chính, tu chỉnh, tu
dưỡng, tu hành, tu luyện, tu sửa, tu tỉnh, tu nhân tích đức,
tu tâm dưỡng tánh, và có nghĩa là "sửa", chẳng hạn như
là: sửa chữa, sửa đổi, sửa mình, sửa sai, sửa sang, sửa
soạn, nói chung là "tu sửa". Trong phạm vi đạo Phật,
chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề tu tập qua hai phần,
đó là: "tu tướng và tu tâm". Chúng ta thử tìm hiểu:
Tu tướng là thế nào? Tu tâm là thế nào? Tại sao phải
tu tướng? Tại sao phải tu tâm? Xem
Tiếp:Tu
Tướng và Tu Tâm, Thích Chân Tuệ
Căn
cứ trên tuyên bố Phật: “Sarvam śūnyam” (Mọi vật đều
không), vấn đề Niết-bàn (Nirvāna), đã được các bộ phái
nêu ra đặt vấn đề trở lại sau khi Ngài qua đời; theo đó
Niết-bàn được trình bày theo dạng sở đắc của họ, và
cũng từ đó mọi tranh luận về nó cũng như các giáo lý khác
trở nên gay gắt hơn. Niết-bàn, vấn đề hiện hữu hay
không hiện hữu, có (bhāva) hay không (abhāva), tại thế gian
(laukika) này hay vượt ra khỏi thế gian (lokottara); một
vấn đề làm nảy sanh ra mọi sự tranh luận, càng ngày càng
gay gắt giữa Hữu bộ hay còn gọi là Nhứt thiết hữu bộ
(Sarvāsti-vādin) và Kinh bộ còn gọi là Kinh lượng bộ (Sautrāntika).Xem
Tiếp:Niết
Bàn, TT. Thích Đức Thắng
Khổ
đau hay hạnh phúc đều là những hậu quả tất yếu mà những
hành động trước đó chúng ta đã tạo ra; dù là đồng thời
hay dị thời đi nữa, thì chúng cũng bị lệ thuộc vào sự
chi phối của luật tắt Nhân quả đứng về mặt hiện tượng.
Do đó vấn đề Nhân quả ở mặt nào đó, chúng được coi
như là nhân tố quyết định cho mọi giá trị đánh giá về
cuộc sống, mà đức Đạo sư khi còn tại thế thường dạy
cho đệ tử xuất gia cũng như tại gia của Ngài, theo đó cuộc
sống được thể hiện qua khổ đau hay hạnh phúc đều do
hành động của chính chúng ta mang lại ngay trong hiện tại
hay trong tương lai.Xem Tiếp:Năm
Pháp Có Thể Đưa Đến Khổ Đau hay Hạnh Phúc, TT. Thích Đức
Thắng
Thật
ra đức Phật không có bất cứ nguyên tắc chung nào để dạy
chúng ta, ngoài con đường Trung đạo duyên khởi; nhằm giải
thoát mọi vướng mắc khổ đau trong cuộc sống của chúng
ta. Nhưng ngay chính bản thân con đường này cũng chỉ là một
phương tiện. Do đó, mọi nguyên tắc đối trị mọi căn cơ
để đưa chúng sanh đến giải thoát khổ đau phiền não, thì
chính chúng là con đường trung đạo. Vậy chúng chỉ là pháp
phương tiện đối trị bệnh cơ của chúng sanh mà thôi. Hơn
nữa, nguyên tắc luôn là trói buộc, do đó vấn đề giải
thoát được đức Phật đặt ra như là một tiên quyết cho
một thể nghiệm về phương tiện; qua đó phương tiện sống
được coi như là một đối tượng nhận thức sẽ bị vượt
qua, tất cả đều trở thành phương tiện chuyên chở cho một
cứu cánh cho chính chúng.Xem
Tiếp:Đức
Phật và Pháp Giáo Hoá Của Ngài, TT. Thích Đức Thắng
Tóm
lại, qua những trình bày về mười hai nhân duyên, cho chúng
ta thấy được sự khác biệt giữa Đại thừa và Tiểu thừa
trong nhận thức. Một đàng căn cứ vào ba pháp ấn cho rằng
ngoài nhơn không ra còn tất cả các pháp đều là thật hữu,
nên thập nhị nhân duyên thuộc về chân đế, chúng thuộc
về pháp vô vi; chỉ có nhơn không mới là tục đế, chúng
thuộc về pháp hữu vi sinh diệt. Một đàng khác căn cứ vào
lời tuyên bố của đức Phật: «Mọi
vật đều vô thường, mọi vật đều vô ngã.»
mà chủ trương Sarvam Sūnyam, không những chỉ có nhơn không
mà còn có pháp không, và do đó tất cả các pháp đều thuộc
về pháp sinh diệt không tự tánh, chúng thuộc vào sự chi
phối của nhân và duyên sinh diệt nên chúng thuộc về tục
đế.Xem Tiếp:Thập
Nhị Nhân Duyên, TT. Thích Đức Thắng
Gần
đây, có nhiều người nêu ra một thắc mắc khi thấy danh
hiệu của các vị Tăng -sĩ đều mở đầu bằng chữ Thích
tỷ dụ như Thích-Tâm-Châu, Thích Tâm Giác, v.v… và do đó
nêu lên những câu hỏi:
_
Chữ Thích có nghĩa gì?
_
Tại sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích?
Người tại gia tu Phật có dùng chữ Thích được không?
_
Chữ Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu,
thịnh hành vào thời nào?
với
mục đích diễn xướng và luận giải về chân nghĩa những
danh từ Phật Giáo, đặng làm tài liệu nhận xét chung, nơi
đây đề cập đến từng vấv đề giải đáp để cùng liễu
giải và xác luận:Xem Tiếp: Pháp
Danh Bắt Đầu Bằng Họ Thích Có Ở Việt Nam Từ Bao Giờ?
Cuộc
đời của Tất Đạt cũng là cuộc đời của mọi người
chúng ta. Ba lần tỉnh ngộ của Tất Đạt tương đương với
ba lần vấp ngã của chàng. Ngộ đi liền với mê, phiền não
đâu thì giác ngộ đó (phiền não tức bồ đề). Lần đầu,
do cơn mê khổ hạnh Tất Đạt ngộ được rằng khổ hạnh
không đưa đến trí tuệ, và đã từ bỏ khổ hạnh để đi
ra giữa cuộc đời, sử dụng các giác quan để học bài học
đau khổ do đam mê khoái lạc giác quan. Sự mê lầm thứ hai
này được đánh thức bằng tiếng “OM” mầu nhiệm, gợi
nhớ lại những ngày tu khổ hạnh, và nhờ đấy chàng bỏ
ý định quyên sinh. Lần ba nhân sự đau khổ vì đứa con yêu
quý đã bỏ chàng mà đi, Tất Đạt đã ngộ được rằng
cuộc đời là “như vậy”, và không còn thái độ kiêu hãnh,
khinh thường người thế tục, mà thấy tất cả đều là
anh em, đạt đến lòng bi mẫn sâu xa đối với tất cả cuộc
đời. Lúc đó con người mới thật sự hạnh phúc, vì mình
là tất cả...Xem Tiếp Câu
Chuyện Dòng Sông, Hermann Hesse, Việt Dịch Phùng Khánh-Phùng
Thăng
Trước
hết, tại sao chúng ta ngồi lê mách lẻo? Đây là một dạng
của nội tâm không an lạc, phải vậy không? Cũng giống như
lo lắng, ngồi lê mách lẻo biểu thị một tâm trí bồn chồn,
không yên tịnh. Tại sao lại khát khao xen vào chuyện người
khác, muốn biết người khác làm gì, nói gì? Một tâm trí
quá nông cạn, hời hợt, thì mới ngồi lê đôi mách, phải
vậy không? Xem Tiếp: Về
Thói Ngồi Lê Mách Lẻo, Krishnamurti - Danny Việt Chuyển ngữ
Hai
chữ Kiến Kiến tức là bản kiến tự hiện, chẳng có năng
kiến, sở kiến, Phật đã giải thích kỹ càng trong quyển
nhì này; nếu có năng sở, đều là kiến bệnh đã thành từ
vô thỉ, có năng kiến năng giác đều là bệnh. Vì bản kiến
bản giác chẳng ở trong bệnh mới gọi là kiến kiến, tức
là kiến tánh. Tự tánh chẳng phải sở kiến, nên cũng
chẳng có năng kiến để kiến tự tánh, vậy lúc kiến kiến
(Kiến kiến chi thời), dù nói kiến nhưng chẳng phải là kiến
(Kiến phi thị kiến), vì chẳng có năng kiến và sở kiến,
cho nên nói kiến còn phải lìa kiến (kiến do ly kiến), vì
Năng kiến chẳng thể thấy đến, nên nói Kiến bất năng
cập. Xem Tiếp: Giảng
Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Những
ai muốn học hỏi, nghiên cứu và tu tập theo Chánh Pháp không
thể không biết đến Ngũ Uẩn. Ðó là một trong những
giáo lý vô cùng quan trọng và phải được hiểu rõ một cách
tường tận, chính xác để có thể tu tập cho hiệu quả,
rốt ráo. Vậy năm uẩn này là gì? Chúng liên hệ
với nhau ra sao? Thông hiểu được chúng thì sẽ giúp
ích như thế nào cho sự tu tập của chúng ta?..Xem
Tiếp:.Ngũ
Uẩn Trong Giáo Lý Nguyên Thuỷ của Đức Phật, V.D
Về
Làng Mai, Diệu Tịnh Ký sự về chuyến
đi từ Hòa Lan về Làng Mai tham dự Khóa Tu học dành cho những
người nói tiếng Việt, trung tuần tháng 4 năm 2003
ICAN
là một tổ chức bất vụ lợi với tâm nguyện giúp đỡ
các trẻ em nghèo trên thế giới có được một cuộc sống
tốt đẹp hơn, thắp sáng trong tâm hồn các em ngọn nến tin
yêu và hy vọng ở tình người. Trong thời gian qua, ICAN
đã thay mặt các vị mạnh thường quân giúp đỡ những trẻ
em và gia đình kém may mắn tại Việt Nam cũng như ở Nepal
và Ấn Độ. ICAN cũng đã bắt tay với các hội đoàn
thiện nguyện khác trong các chương trình về y tế, giáo dục,
cũng như các kế hoạch xây dựng và phát triển cộng đồng,
ngõ hầu mang đến cho các em những lợi ích sâu xa và lâu
dài trong cuộc sống...Xem
Tiếp: Hội
Từ Thiện ICAN
Thuyết
Giảng Kinh Luận, Hoà Thượng Thích Duy Lực - Thích Đồng Thường
ghi thành văn tự Hòa
thượng Duy Lực giảng các kinh luận: Kinh Kim Cang, kinh Phạm
Võng, phẩm Phổ Môn, phẩm Bát Nhã, phần đầu kinh Viên Giác,
vài phẩm Trung Quán Luận, Yếu Chỉ Trung Quán Luận.
Bóng
ma là cách diễn giải của trí óc về quá trình tương tác
của cơ thể với những vật xung quanh, các nhà tâm lý học
Anh nhận định. Cảm giác ớn lạnh khi trời chạng vạng tối
hoặc ở trong một từ trường nào đó có thể gợi nên nỗi
ám ảnh “có ai đó” trong phòng, nhưng tất cả chỉ dừng
lại ở mức độ cảm giác mà thôi. Lời giải thích
này là kết quả của một nghiên cứu lớn, trong đó, các
nhà nghiên cứu đã dẫn hàng trăm người tình nguyện đi vòng
quanh hai địa danh hãi hùng nhất ở nước Anh cung điện Hampton
Court và các hầm mộ South Bridge ở Edinburgh, Scotland... Xem Tiếp:
Ma
Do Tâm Tạo

|