THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002

 
 
 
c
NEW POSTING THÁNG 5-2004
Nhân quả là một định luật tất yếu trong sự hình thành nhân sinh quan và vũ trụ quan qua liên hệ duyên khởi của cuộc sống con người, mà qua đó nhân quả được coi như là một luật tắc không thể thiếu được khi hình thành một xã hội nhân bản đạo đức. Nhân quả vì thế không chỉ có riêng của Phật giáo, mà trước đó và ngay trong thời kỳ đức Phật còn tại thế, các luận sư ngoại đạo cũng đã lập thành luận thuyết chủ trương rõ ràng rồi, nhưng cũng vì kiến giải quá nhiều về nhân quả, nên mọi kiến giải trở thành đa thù sai biệt và chống đối nhau trên quan điểm nảy sinh ra bốn loại mà đức Phật gọi là tà chấp. Đức Phật, chỉ kết hợp lại những gì khế cơ khế lý mà thành lập nhân quả Phật giáo. Nhân quả Phật giáo vì thế đã trở thành hai hệ thống qua Phật giáo phát triển của các hệ phái sau này, đó là nhân quả Tiểu thừa và nhân quả Đại thừa trong việc kết hợp với định thức duyên khởi tùy thuộc vào thời gian và không gian mà hình thành cơ sở lý luận cho tất cả mọi quan hệ duyên khởi trong thế giới.Xem Chi Tiết:Tập San Nghiên cứu Phật Học Phật Giáo Thừa Thiên Huế Số 9 - Phật Đản Pl. 2548
... Giãi thích giá trị của Trung Đạo sẽ tìm ra một giãi pháp cho các vấn đề, mà thái độ tiết chế là một đề nghị mà Phât Từ nên noi theo. Phât giáo đề cao rất mực điều may mắn khi được sinh ra làm kiếp con người, không phải vì có nhân quyền hay được đứng trên tạo vật khác. Theo ý nghiã tiết chế, thì sống một đời xa xí là vô nghiã, nhưng sống nghèo khó chẳng đưa đi đến đâu. Phật Giáo không lên án giàu sang mà cũng không hề ca ngợi nghẻo đói. Một đời sống tiết chế là điều kiện cần thiết và tiên quyết cho sự tu tập để đạt tới giác ngộ. Để việc tu tập có kết quả, Phật Tử cần có một cơ sở vật chất tối thiểu và bình an tâm hồn. .:Xem Chi Tiết:Phật Giáo Trước Những Vấn Đề Dân Số, Tiêu Thụ và Môi Trường, Rita M. Gross - Đỗ Kim Thêm chuyển ngữ 

... Khi nói đến công việc từ thiện để giúp đỡ cho những cuộc đời bất hạnh, không ai mà không nghĩ đến những con người dấn thân. Họ chính là những bông hoa tươi thắm làm cho cuộc đời này mỗi ngày một tươi đẹp hơn. Chúng tôi là người đã từng chứng kiến những hoàn cảnh, những cuộc đời bất hạnh nhất đã được những tấm lòng vàng này mang lại cho họ sự che chở, sự đặc ân mà tưởng chừng họ đã bị con người và xã hội bỏ quên. Và để chia xẻ đến toàn thể quý Thầy Cô, bạn bè và Phật tử ân nhân những gì mà chúng tôi chứng kiến qua, chúng tôi xin trân trọng ghi sơ lược lại một vài nét nhằm giúp tất cả quý vị thấy được những đức tính như; Từ bi, trí tuệ, hỷ xả và hùng lực của những người biết dấn thân và dám quên mình để cứu lấy những cuộc đời bất hạnh. Chúng tôi hy vọng rằng, sau khi đọc được bài viết của chúng tôi, tất cả quý vị sẽ cảm thông được cuộc sống bất hạnh của những người không may, đặc biệt là những trẻ thơ tật nguyền, mồ côi cha mẹ….và quý vị sẽ đồng cảm cho những con người biết dấn thân, và càng thúc đẩy thêm tinh thần để họ làm cho cuộc đời mỗi ngày một tươi sáng hơn. Với những từ ngữ thô thiển và sự hiểu biết giới hạn của chúng tôi không làm sao tránh được sự sơ sót trong khi chúng tôi đặt bút để viết bài này, kính mong chư vị hoan hỷ miễn thứ cho chúng tôi, kính cảm ơn rất nhiều. .:Xem Chi Tiết Những Tấm Lòng Vàng, Thích Thông Lý

...Tánh Không như vừa được trình bày ở trên là Pháp tánh Duyên Khởi tánh. Mức độ liễu hội Tánh Không tùy thuộc vào cấp độ Định, Tuệ của hành giả thuộc hàng phàm phu, Hữu học hay Vô học. Với cấp độ phàm phu, tâm thức còn bị ràng buộc bởi Dục giới tâm (thiện,ác của Dục giới), nặng tập khí chấp ngã, thì rất khó liễu hội Tánh Không. Với hàng Thánh Hữu học, hành giả dù đã thể nhận rõ Tánh Không, nhưng chưa đủ khả năng thể nhập. Với hàng Thánh Vô học, do lậu hoặc đã được sạch trừ, nên hành giả còn điều kiện thể nhập Tánh Không. Với ai chưa thể nhập Tánh Không, thì cần tu thiền chỉ và Thiền quán (Samatha và Vipassana) đi qua ba cấp độ tu tập .:Xem Chi Tiết:Tánh Không, Thích Chơn Thiện
..Khi Ðức Phật đi đến Pàvà thì Ngài trú tại vườn Xoài của người thợ sắt có tên là Cunda. Nhân cơ hội này, Cunda đã thỉnh Phật và chúng Tỳ Kheo đến nhà ngày hôm sau để thọ trai. Ngày hôm sau, Ðức Phật và chúng Tỳ Kheo đến, như thường lệ, Ðức Phật liền ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Ðức Phật đã nói với người thợ sắt Cunda rằng:”Này Cunda, loại mộc nhĩ đã dọn sẵn này chỉ dọn cho ta ăn thôi. Còn các món ăn khác thì hãy dọn cho chúng Tỳ Kheo”. Rồi sau đó Ðức Phật đã giải thích lý do vì sao Ngài không cho chúng Tỳ Kheo ăn món ăn thượng hảo hạng này:”Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại, Người hãy đem chôn đi. Ta không hề thấy một ai, ở cõi trời và người, ở Ma Giới hoặc Phạm Thiên, không một người nào trong chúng Sa Môn và Bà La Môn mà ăn món mộc nhĩ này có thể tiêu hóa được”.  “Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Ðức Phật bị nhiễm bệnh nặng, đau đớn gần như đến chết. Rồi Ðức Phật đã chánh niệm tĩnh giác, nhẫn nại chịu đựng cơn bệnh”.  Trong những giây phút cuối cùng ở Kusinara, dù đang trong cơn đau đớn Ngài vẫn lo lắng sau này Cunda sẽ bị người đời ngộ nhận về bữa ăn cuối cùng này, nên Ngài đã nói với Ananda:Xem Chi Tiết:Cuộc Hành Trình Cuối Cùng của Đức Phật với Những Thống Khổ Muôn Đời Của Nhân Loại, Thích Phước An

Tuyển Tập Mừng Phật Đản

Kinh Đại Bát Niết Bàn HT. Thích Trí Tịnh Việt dịch (Trọn Bộ)
...Dưới chân đồi, chúng tôi hướng về điện Potala, giữa một đám đông gồm có những du khách và người mộ đạo đi hành hương. Những người này đến từ khắp mọi nơi trong xứ Tây Tạng để chiêm ngưỡng cung điện của đức Phật Sống, một danh hiệu thường dùng để gọi đức Đạt Lai Lạt Ma. Dẫu cho họ chỉ thấy Ngài trong một cái nhìn thoáng qua, họ cũng được hài lòng mà trở về với niềm tin tưởng rằng công lao khó nhọc của chuyến đi hành hương xa sôi này đã được đền bù tưởng thưởng gấp trăm lần!...Xem Chi Tiết: Tây Tạng Huyền Bí, Việt Dịch: Nguyễn Hữu Kiệt
Đức Thích Ca Mâu Ni thương xót tất cả chúng sanh. Dưới mắt Phật tuy muôn loài có hình dạng khác nhau nhưng có cùng nguyên thủy nguồn gốc và chịu chi phối bởi luật luân hồi nhân quả. Chúng sanh tùy theo tạo nghiệp ác hoặc duyên lành mà luân hồi kiếp này sang kiếp khác trong sáu cõi khổ. Cõi khổ thì vô cùng. Trong phạm vi bài viết này tôi xin nêu lên một cảnh khổ vì sự tàn ác không đáng phải có và cần phải chấm dứt ngay tức khắc vì sự vô nhân đạo cùng cực của nó. .......Xem Chi Tiết:Mật Gấu và Sự Tàn Ác Trong Xã Hội Quanh Ta, Tiến Sĩ Võ Thanh Liêm

Một trong những phương pháp nghiên cứu mới nhất do Daniel Overmyer đề xướng (1998) trong lãnh vực khoa học nhân văn hiện đang được các nhà học giả áp dụng được gọi là « THF » (Text, History & Field Work), tức là phối hợp sử dụng các sử liệu và văn bản kèm theo với việc đi khảo sát thực tế. Áp dụng phương pháp này, và xem đó như là một phương cách hữu hiệu trong việc nghiên cứu lịch sử tôn giáo Trung Quốc, GS/TS. Chun Fang Yu (Vu Phương Quân), Khoa Trưởng Phân Khoa Tôn Giáo Ðại Học The State University of New Jersey, HK, trong một tác phẩm mới nhất của bà, nhan đề « Quán Âm » đã cống hiến cho chúng ta một công trình nghiên cứu xuất sắc và đầy đủ nhất từ trước đến nay liên quan đến Bồ Tát Quán Thế Âm.  Ðây là một phần trong chương Hai của tác phẩm nói trên. Sau khi điểm qua những danh hiệu của Bồ Tát và căn cứ vào những sử liệu, kinh điển còn tồn tại, tác giả đã lý giải cho ta biết nguồn gốc, xuất xứ, tiến trình chuyển hóa và ý nghĩa của danh hiệu Quán Thế Âm, một vị Bồ Tát đã chiếm trọn vẹn cảm tình cũng như được sự sùng bái của hàng trăm triệu người trong vùng Tây Á -cả trong lẫn ngoài Phật giáo. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả và qúy đạo hữu, những người yêu thích Bồ Tát Quán Thế Âm, một trích đoạn trong tác phẩm nói trên. Tiêu đề phần này là của người dịch. LCD......Xem Chi Tiết: Những Vấn Ðề Chung Quanh Danh Hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, GS.TS Chun Fang Yu, Tâm Hà Lê Công Ða chuyển ngữ

Giáo lý vô ngã của Phật giáo nguyên thủy đã làm nảy sinh hai cách lý giải chính trong giới học giả hiện nay. Theo quan điểm của khuynh hướng chính, vô ngã (anattà) có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại về một cái ngã bất biến, cả trong cấp độ vi mô lẫn vĩ mô. Tuy nhiên, các nhà học giả với định hướng thuộc truyền thống Vệ-đà cũng như những người tin tưởng triết lý thường hằng lại nghĩ khác. Họ có khuynh hướng tin rằng Phật giáo nguyên thủy là một sự diễn đạt có hệ thống tư tưởng Vệ-đà trước thời Phật giáo. Trong cách nhìn của họ, Phật giáo tin có Ngã (với chữ N viết hoa); cái ngã này không đồng nhất với bất cứ thành phần nào của con người cảm nghiệm, được hiểu một cách riêng rẽ hay tập hợp, mà nó siêu vượt cả hai phạm trù đó. Ðó là nội dung chúng tôi đã giới thiệu trong tiêu đề của bài tiểu luận như là « cái siêu ngã ». Trong bài diễn thuyết này, chúng tôi dự trù thảo luận giáo lý vô ngã (anattà) của Phật giáo và qua ánh sáng của cuộc thảo luận này để khảo sát xem các lý giải về siêu ngã có đứng vững được hay không........Xem Chi Tiết: Giáo Lý Vô Ngã và Vấn Đề Siêu Ngã, Nguyên tác : Y - Karunadasa, Việt dịch: Viên Trí
 

TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap