THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002

 
 
 
c
NEW POSTING THÁNG 7-2004
Trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, có ba dịp lễ lớn. Đó là ngày lễ Magha Puja, Vesakha Puja, và Asalha Puja. "Puja" nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây, Puja còn có nghĩa là ngày lễ lớn. "Magha, Vesakha, Asalha" là tên các tháng trong lịch của Ấn độ. So với âm lịch Việt Nam, "Magha" tương ứng với tháng Giêng, "Vesakha" tương ứng với tháng Tư, và "Asalha" tương ứng với tháng Sáu. 
"Magha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày Đức Phật thuyết kệ "Ovada-Patimokkha", là căn bản cho các giới luật sau này. "Vesakha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Tư, tức là ngày Tam Hợp hay Phật Đản. "Asalha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Sáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân, và sau đó, chư Tăng Nam tông bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.
Ngoài ra, truyền thống Nam tông còn có các ngày lễ khác như ngày Tự Tứ (rằm tháng Chín) -- kết thúc mùa An cư Kiết hạ, và mùa lễ Dâng Y Kathina trong một tháng, từ ngày 16 tháng Chín đến ngày rằm tháng Mười âm lịch..Xem Chi Tiếp:Rằm Tháng Sáu: Ngày Chuyển Pháp Luân, Bình Anson
Trước hết, chúng ta hãy thử tự trả lời câu hỏi: Thiền là gì? Một câu hỏi tuy đơn giản, nhưng có lẽ sẽ có nhiều lối trả lời khác nhau.
Theo ngữ nguyên, Thiền là cách nói tắt của chữ "thiền-na", là lối phiên âm Hán Việt của chữ Phạn Jhana, hay Dhyana trong Sanskrit. Thiền-na, trong kinh điển nguyên thủy, dùng để chỉ mức độ an định đặc biệt khi luyện tâm.
Thiền còn được dùng để dịch chữ Bhàvana và Samadhi. Bhàvana có thể được hiểu như là một sự tiến triển, phát triển tâm linh, sự tu tâm, luyện tâm. Tiếng Anh thường dịch là Mental development. Samadhi thường được dịch là Định, Thiền định, Tâm định. Tiếng Anh thường dịch là Concentration, Meditation. 
Ngay trong ngôn ngữ Thái Lan, họ cũng không có một từ chuyên môn để dịch. Thông thường, để chỉ công phu ngồi hành thiền, họ dùng chữ "Nắng Samadhi" ("nắng" là ngồi), hay "Nắng Bhavana". Thỉnh thoảng, họ dùng chữ "Nắng Thang-nay" nghĩa là "ngồi và quay nhìn vào bên trong".Xem Chi Tiếp: .Về Pháp Tu Thiền, Bình Anson
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.Xem Chi Tiếp: Cương Yếu Giới Luật, HT. Thích Thiện Siêu
Mô tả khái quát tâp tục tín ngưỡng dân gian mang màu sắc và ảnh hưởng Phật giáo của cư dân vùng đồng bằng Nam bộ là mục đích nghiên cứu của chúng tôi . Bài viết chỉ đề cập ảnh hưởng Phật giáo đối với tập tục phong hóa tín ngưỡng. Nếu có điều kiện tiếp tục về sau, chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích cụ thể hơn về ý nghĩa chức năng của từng thể loại tập tục..Xem Chi Tiếp: Phật Giáo với Tập Tục Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Văn Hoá Nam Bộ, Thích Đồng Bổn
Đoản Pháp Thiền Quán và Trì Tụng Quán Thế Âm, Tâm Bảo Đàn Việt dịch (Acrobat .pdf 101 KB)
Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo, Đại Sư Vô Trước - Bảo Thanh Tâm Việt dịch (Acrobat .pdf 67 KB)
Một hiện tượng, tưởng rằng đã chết khi ông Osho tức Bhagwan Shree Rajneesh bị chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ trục xuất về Ấn Độ vào năm 1987, nay đang có những chỉ dấu sống dậy, không phải chỉ trong cộng đồng Oregon, Hoa Kỳ như trước đây mà là trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại và có thể ở cả trong nước qua một số sách do Osho giảng được Sư cô Thích nữ Minh Tâm và hội Osho International Foundation dịch ra Việt ngữ.  Một số sách đó được bầy bán tại các nhà sách ở quận Cam Hoa Kỳ và quảng bá qua liên mạng Internet.  Họ cũng rao quảng cáo trên một vài nhật báo xuất bản ở miền Nam California, kêu gọi đóng góp tiền ấn tống hai quyển sách Bát Nhã Tâm Kinh và Kinh Kim Cương giảng giải.

Nhằm tìm hiểu hiện tượng này, người viết đành phải bỏ thì giờ ra đọc một số tác phẩm của Osho qua các ấn bản giấy và ấn bản điện tử do thân hữu hội Osho gửi đến. Càng đọc, người viết càng cảm thấy có bổn phận phải viết ra đôi lời để những độc giả, hoặc không biết hay đã biết về Osho, có cái nhìn bao quát hơn về những khía cạnh khác của ông này. Mặc dù đã dựa chủ yếu vào các nguồn căn bản cho phần tiểu sử Osho, người viết thấy cần phải đưa thêm vào những tin tức khả tín nhất về ông Osho, nhằm mô tả hình ảnh Osho một cách trung thực. Bài viết được chia làm hai phần, phần đầu viết về con người của Osho và phần sau viết về một vài tác phẩm của ông giảng dạy về đạo Phật, như Kinh Kim Cương và Bát Nhã Tâm Kinh...Xem Chi Tiếp:Hiện Tượng Osho, Hoàng Liên Tâm

Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức 
     Tỳ Kheo Thích Hằng Quang Giảng Giải
Lâm Tế Ngữ Lục, HT. Thích Nhất Hạnh (Adobe pdf 283 KB)
Tinh Yếu Lâm Tế Lục, HT. Thích Nhất Hạnh (Adobe pdf 53 KB)
Giới Bản Tỳ Kheo Tân Tu Nam, HT. Nhất Hạnh (Adobe Acrobat pdf – 334 KB)
Giới Bản Tỳ Kheo Tân Tu Nữ, HT. Nhất Hạnh (Adobe Acrobat pdf – 387 KB)
Thiền là gì?  Đối với pháp tương đối mà nói, Thiền là một tổng danh làm phương pháp đình chỉ vọng tâm; nhưng đình chỉ vọng tâm có hai đường lối:
 -Thiền ngoại đạo và Thiền phàm phu (có tính chất chấp ngã).
-Thiền tiểu thừa,Thiền trung thừa, Thiền đại thừa và Thiền tối thượng thừa (có tính chất phá ngã chấp).
Đối với pháp tuyệt đối, Thiền là tất cả các pháp, các pháp tức là Thiền; cảnh giới  này chỉ có người chứng ngộ triệt để mới thấy rõ. Còn người chưa chứng ngộ, có người không tin hay có tin nhưng còn nghi ngờ.
Bởi vậy, Hòa thượng Duy Lực mang Thiền tối thượng thừa (Tổ sư thiền) gieo duyên những người phương tây và giải đáp thắc mắc cho họ được có niềm tin vững chắc nơi tự tâm mình, rồi thực hành để đạt đến cảnh giới tuyệt đối.
Nay chúng tôi chép lại những cuồn băng đầu của Ngài thuyết giảng tại Hoa Kỳ, việc làm này không khỏi sự sai sót; nếu các vị độc giả phát hiện, xin chỉ giáo cho.
Người thực hiện: Thích Đồng Thường....Xem Chi Tiếp:.Hoà Thượng Duy Lục Khai Thị Ban Đầu tại Hoa Kỳ
Bố Thí là một đức hạnh cao quí thường được đề cập đến trong cuộc sống tu tập của người con Phật, tu sĩ lẫn cư sĩ, trong mọi tông phái Phật Giáo. 
Có lẽ đa số Phật tử chúng ta đều nghe biết nhiều về các lời giảng trong kinh điển Bắc truyền, đều quen thuộc với các khái niệm hành trì như Lục độ Ba-la-mật và Tứ nhiếp pháp của hàng Bồ-Tát. Về lục độ Ba-la-mật thì gồm có 6 đức hạnh: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh Tấn, Thiền định, và Trí tuệ. Về Tứ nhiếp pháp thì gồm có: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, và Đồng sự.
Trong kinh điển nguyên thủy, Bố Thí cũng là một đức hạnh tối quan trọng mà Đức Phật thường giảng dạy và khuyên nhủ chúng ta nên cố gắng tu tập. Trong khi kinh điển Bắc truyền có ghi 6 pháp Ba-la-mật, kinh điển nguyên thủy đề cập đến 10 pháp Ba-la-mật của hàng Bồ Tát, gồm: Bố thí, Trì giới, Xuất gia, Trí tuệ, Tinh tấn, Kiên nhẫn, Chân thật, Chí nguyện, Từ tâm, và Xả ly. Cho nên, khái niệm về các hạnh Ba-la-mật trong tất cả các tông phái đều rất giống nhau, đều đề cao Bố Thí như là đức hạnh đầu tiên cần phải được tu tập...Xem Chi Tiếp:Về Hạnh Bố Thí, Bình Anson
Trong kinh Kim cương, Trưởng lão Tu Bồ Đề hỏi Phật: “Bồ tát phát tâm vô thượng Bồ đề làm thế nào để an trú tâm ấy (luôn luôn giữ vững, không thối thất) và làm thế nào để hàng phục tâm mình”. Nguyên văn bản dịch của ngài La Thập là: Vân hà ưng trú, vân hà hàng phục kỳ tâm. Vân hà ưng trú: là làm sao an trú, giữ vững cái tâm bồ đề đã phát. Tâm Bồ đề là tâm mong cầu giác ngộ, tâm dũng mãnh tinh tiến không ngừng nghỉ trong công việc của Bồ tát là hóa độ chúng sinh để cuối cùng giác ngộ hoàn toàn, thành Phật như Phật...Xem Chi Tiếp: Từ Nguồn Diệu Pháp, Thích Nữ Trí Hải

Trên cơ sở nền tảng, giáo lý của hai trường phái Phật Giáo Nguyên Thuỷ và Phật Giáo Đại Thừa hoàn toàn giống nhau, nhưng trên phương diện hành hoạt có sự khác biệt.  Phật Giáo Nguyên Thuỷ dạy người Phật tử hướng đến con đường giải thoát xuất thế gian, vào Niết bàn .  Ngược lại Phật giáo Đại Thừa dạy người Phật tử hướng về con đường giải thoát nhập thế gian bằng cách đi vào cuộc đời, tu trong cuộc đời và giải thoát ngay trong cuộc đời.  Đối tượng của họ không ai khác hơn là chúng sinh.  Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng quả vị Bồ Đề thuộc về chúng sinh, chúng sinh nghiệp và chúng sinh phiền não.  Từ bỏ ba thứ này không bao giờ thành Vô Thượng Bồ đề được.  Qủa là như vậy, nếu không có chúng sinh thì vĩnh viễn không bao giờ có được sự Giác Ngộ cho mình và cho kẻ khác, cho nên thành Phật chính là vì lợi ích cho chúng sinh...Xem Chi Tiết: Nguyệt San Liên Hoa Số 407 Tháng 7 năm 2004

TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap